Image

Chuyện Kể Đêm Mùa Đông Năm Ấy

 

 

Lại một mùa Giáng sinh đang đến gần, câu chuyện dưới đây là của 4 thuyền nhân sống rải rác trong các barrack tại một trại tị nạn thuộc vùng Đông Nam Á.

Ở đâu cũng vậy, tuy là trại tị nạn nhưng từ hơn cả tuần nay,  không khí Giáng sinh đã rõ nét qua các giai điệu nhạc Noel trong các quán cà phê, trên màn hình ti vi khi chiếu cảnh mùa đông tuyết phủ với lò sưởi ấm cúng bên cạnh cây thông xanh – chùm đèn lấp lánh đặt trang trí ở góc phòng trong các gia đình bên trời Tây. Sẩm tối hôm đó, bốn người họ gặp nhau ở một bàn trong góc quán cà phê. Họ là: ông già nhất, vợ con còn lại bên quê nhà, từng đi dạy học và mua bán sách báo cũ mưu sinh trước khi vượt biên, ông thứ hai, gốc là một quân nhân từng coi tù binh chiến tranh tại Phú Quốc, vợ chết khi vượt biên nhưng hai đứa con đang sống ở Mỹ, anh thứ ba, khoảng ba mươi, bộ đội đào ngũ từ đơn vị ở Campuchia và người cuối cùng là dân mua bán ở chợ trời, trẻ tuổi nhất trong số họ.

Anh bộ đội nói với ông già nhất:

– Năm nào cứ đến những ngày lễ như Giáng sinh này làm cháu nhớ lại những kỷ niệm cũ bên quê nhà. Nhớ và buồn quá bác.

Ông già nhất gật đầu nhè nhẹ để ông quân nhân đáp lời thay:

– Ai mà không cùng tâm trạng như cậu, mình ở đây xa cách quê nhà làm sao mà không nhớ thân nhân cho được. Hồi tôi ở Phú Quốc kìa, ngay trên quê hương mình đấy mà nhớ gia đình vô kể. Vài hôm nữa là Giáng sinh rồi lẩm nhẩm tháng hơn, lại đến tết ta.

Anh trẻ nhất gật đầu:

– Tui cũng vậy. Nhớ gia đình quá mấy ông ơi!

Ông già nhất nói với ba người họ:

– Nghe ai nói cũng buồn và nhớ nhà nên tôi có cái ý này, không biết mấy ông thì sao?

– Ý gì vậy! Nói ra đi… Cả ba người hỏi.

– Ngồi nhớ nhà mãi thêm buồn rồi cứ vậy thì sẽ rất chán nên tôi đề nghị tối hôm nay: mỗi người trong chúng ta hãy kể câu chuyện cũ hoặc một kỷ niệm gì gì đó đã xẩy trong đời mình ở cái đêm Giáng sinh cho cả nhóm biết, xem coi chuyện ai hay nhất, quý vị nghĩ sao?

– Còn nghĩ sao nữa, tui đồng ý với ý kiến của bác. Anh trẻ nhất trả lời rồi sau đó quay qua hỏi ông quân nhân và anh bộ đội: ” Không biết chú và anh đây thế nào? “.

– Tôi là một Phật tử  nên nếu bảo kể chuyện về ngày Giáng sinh đạo Chúa thì chịu chết… Nhưng anh giáo (ông quân nhân thường ngày vẫn gọi ông già nhất là anh giáo) đã nói vậy thì ai có chuyện rồi cứ kể ra trước đi. Có người kể thì cũng cần có người nghe chứ, phải không nào? Nếu đồng ý cả thì xin anh giáo là người đầu tiên vì dầu sao đây cũng là đề nghị của anh và anh cũng thuộc hàng ” trưởng thượng ” trong nhóm mình, tôi nghĩ vậy.

Trưởng thượng ở đây là do sự hiểu biết cùng tuổi tác của ông già nhất mà ba người còn lại trong nhóm đã đồng ý từ khi họ làm bạn cà phê – thuốc lá với nhau.

Anh trẻ nhất tán đồng:

– Đúng quá! Kính lão đắc thọ! Người lớn tuổi kể trước rồi hàng em hàng cháu mới dám theo sau chứ.

Ông già nhất gật gật cái đầu như xác nhận mình ” người lớn tuổi ” ở cái bàn này nhưng lại bảo:

– Đáng lẽ tôi đầu tiên nhưng tuổi trẻ bao giờ cũng là tương lai của dân tộc. Vậy, tôi đề nghị người trẻ nhất kể trước rồi cứ thế dần dần lên cho đến lượt tôi, đi sau cùng. Mình lớn tuổi rồi… lót tót theo sau thanh niên vậy. Đồng ý nha! Không bàn cãi tới lui gì nữa.

Anh trẻ nhất nghe vậy, trả lời liền:

– Không cho bàn cãi tới lui! Vậy nói tui mở màn trước. Được! Nhưng tui có một thắc mắc này xin muốn hỏi bác, chú và anh đây. Mới ban nãy, nghía qua cái ti vi, tui thấy trên đài chiếu quảng cáo về ngày Giáng sinh lúc thì Christmas lúc lại Xmas mà không biết tại sao. Chữ nào đúng, chữ nào sai và có phải chữ X là viết tắt của chữ Christ không?

Anh chàng này người miền Nam nên nhân xưng đại danh từ của anh ta khi nói chuyện với người khác đều một chữ: tui, không biết khi anh nói chuyện với các thân nhân ruột thịt trong nhà thì cách xưng hô ra sao? Câu hỏi coi vậy mà khó trả lời ngay, ông quân nhân và anh bộ đội đều đưa mắt nhìn về ông già nhất, họ cũng chờ câu giải đáp. Ông già nhất nhìn cả ba người họ rồi nhăn nhăn vầng trán như khởi động bộ não của mình:

– À! Christmas là tiếng Anh. Christ là Chúa Cứu Thế còn mas là tiếp vĩ ngữ của chữ Christ. Mas xuất xứ từ chữ cổ Latin Âu châu là Missa mà ra. Missa là thánh lễ… Vậy Christmas là lễ mừng Chúa giáng sinh. Còn Xmas thì tôi đã từng nghe bảo X là một hàm số của mas do đám trí thức trẻ thuộc đạo Thiên Chúa bên trời Tây đặt ra cho money, amusement và self. Xmas coi vậy mà có ý nghĩa ngầm đấy. Cũng hay ra phết.

Thấy ba người họ trơ mắt nhìn vì chưa hiểu ý, ông ta tiếp:

– Trong chữ mas thì các chữ m, a, s được viết tắt từ money tiền bạc, amusement thú vui và self cái tôi hay cái ta. Chúng ta hãy tự xét mình rồi đối chiếu nó với ba chữ này thì sẽ tìm ra đáp số của X. X là ẩn số của ngày Giáng sinh đối với từng người.

Nghe như vậy, ông quân nhân cắt ngang:

– Ý anh giáo nói Xmas là đạo Chúa dạy ta nên sống theo kiểu biết xài đồng tiền cho đúng chỗ, đem niềm vui đến cho người khác và quên cái tôi mình đi, chỉ nên nghĩ cho tha nhân phải không?

– Phải! Đó là thông điệp của mỗi mùa Giáng sinh hàng năm. Ông già nhất gật đầu.

– Lạ nha! Lần đầu cháu mới nghe chuyện này đó. Hay quá bác! Anh bộ đội tán thưởng.

Nghe lời khen, ông già nhất khẽ cười như tự thưởng công cho niềm hãnh diện riêng cá nhân mình và quay qua bảo với anh mua bán chợ trời:

– Giải đáp thắc mắc cho rồi thì kể chuyện của cậu đi.

Lời nhắc của ông già nhất đã kéo anh trẻ nhất trở về ” phận sự ” của mình. Anh ta sửa lại thế ngồi và đằng hẵng ứ ừ ít câu trong cuống họng rồi nói:

– Bảo ai trẻ nhất thì phải kể trước tiên nhưng tui lại không biết chuyện gì về nhà thờ, về ngày lễ Giáng sinh đạo Chúa cả để mà tám ra đây. Gia đình tui theo đạo ông bà, thờ cúng tổ tiên bao đời rồi. Khó à nha. Thôi, có chuyện này gần gần với ngày Giáng sinh trong đời tui, không biết có thể kể ra được không nữa.

– Được! Được!… Kể ra đi! Ba người còn lại nhao nhao miệng.

Anh trẻ nhất bắt đầu:

– OK! Năm đó, đám tổ chức vượt biên dẫn tui xuống một vùng gần biển của tỉnh Trà Vinh để chờ taxi đưa ra cá lớn. Gọi là gần biển nhưng thực sự còn xa lắm vì chỗ họ ém tui ở lại nằm trong một cù lao heo hút không biết có phải thuộc huyện Trà Cú không nữa. Chủ nhà bảo từ đây ra được đến biển phải chạy ghe mất cả hàng giờ đồng hồ mới xong. Ém trong nhà đó vài ngày, tui lại được họ chuyển đến ở chung với ba cô gái khác trong căn chòi nằm giữa khu vườn cây ăn trái. Ở chung với người khác phái cũng đỡ buồn dù chẳng có gì với nhau. Khi đó là tháng 12 gần cuối năm rồi, mùa mưa cũng vừa hết nên đám tổ chức dự định sẽ đánh chuyến ngay trong đêm 22 là ngày kỷ niệm thành lập quân đội Việt Cộng. Đám tổ chức tính trong ngày lễ này, mấy tay bộ đội biên phòng vùng duyên hải Trà Vinh vì mải ăn uống nhậu nhẹt trong ngày lễ, sẽ lơ là việc canh gác nên có thể làm chuyến vượt biên thành công. Tính vậy mà không xong, bộ đội biên phòng tuy ăn nhậu nhưng họ vẫn canh gác chặt chẽ. Tui và ba cổ đã ra bãi ngồi chờ taxi rồi mà không xong. Đám tổ chức không đánh chuyến được nên họ lại tách cả nhóm ra, đưa mình ên tui đến trốn trong một xóm nhà dân rất lạ. Ba cô kia, họ đưa đi đâu thì tui không rõ. Đổi chỗ ẩn náu để an toàn và cũng để chờ chuyến mới thôi. Xóm dân cư đó chỉ độ gần hai chục căn nhà, người không nhiều lắm nhưng cái lạ ở đây là có những gia đình trong xóm, thân thể họ cao lớn hơn người mình, làn da họ đen hơn người Miên, mắt họ có khoen dưới mí và môi thì đỏ chót. Khi cười, hầu như ai trong số họ cũng phô hàm răng rất trắng nên trông giống như dân Phi Châu mà thực ra không phải. Họ nói chuyện với nhau và với cả tui nữa đều bằng tiếng Việt rất rành rẽ. Tụi ba Tàu bán hàng ở chợ trời Tân Thành trong Chợ Lớn tui gặp hàng ngày tuy nói rành tiếng Việt nhưng cái âm còn lơ lớ ngọng nghịu không được như đám dân này đâu. Ở trong nhà họ mà tui chẳng thấy trưng bàn thờ, bàn thiên gì cả. Không biết họ là giống dân gì? Người Chàm hay bà con của dân tộc Phù Nam mà lịch sử mình kể đã từng tồn tại ở vùng Óc Eo ngày xưa?

– Tôi nghĩ họ không phải là người Chàm. Ông già nhất chen vào và nói tiếp: ” Người Chàm mà họ còn có tên khác Chiêm Thành thì chỉ ở ngoài miền Trung là chính vì đây là cố đô của họ. Tỉnh Trà Vinh chỉ có người Khmer tức người Miên, người Việt và dân ba Tàu thôi. Người Chàm ở miền Nam thì ta thấy họ sống ở vùng Châu Đốc mà bây giờ mình gọi là tỉnh An Giang đó. Tôi cũng không nghĩ đám dân đó là người Phù Nam vì theo lịch sử kể, quốc gia này đã biến mất từ thế kỷ thứ 7 rồi. Xa tít mù so với thời đại bây giờ lắm lắm. Óc Eo chỉ là một địa danh trong vùng núi Ba Thê ngày nay mà có lúc dân khảo cổ bảo đấy từng là một hải cảng sầm uất nhưng đối chiếu trên thực địa, hiện nó cách bờ biển rất xa “.

Nghe như thế, anh trẻ nhất hỏi:

– Vậy dân sống ở xóm tui kể đó là người nào hả bác?

– Cậu kể thì tôi nghe vậy chứ khó biết lắm vì tới bây giờ giới khảo cổ vẫn chưa xác định chắc chắn về sắc tộc của dân gọi là Phù Nam xưa. Có thể đám dân này đến nước Việt từ thời xa xưa nào đó… mà cũng có thể chỉ mới khoảng trong một hai trăm năm gần đây thôi. Biết đâu họ gốc gác là dân Ấn hay một sắc tộc Hồi nào đó thuộc vùng Nam Á Châu đã phải bỏ chạy khỏi quê hương họ để tìm nơi trú thân sau một cuộc binh lửa tranh giành ngôi báu, quyền hành. Thời xưa, cách chạy trốn tốt nhất thì cũng chỉ bằng phương tiện ghe thuyền vì nó vừa nhanh vừa mang được nhiều người cùng một lúc. Thời nhà Lý, mấy ông hoàng cũng dùng ghe thuyền chạy trốn thái sư Trần Thủ Độ mà bây giờ, lịch sử bảo còn tung tích ở tận đâu bên nước Đại Hàn. Mấy người đó cũng vậy, họ đi bằng ghe thuyền và khi đến được vùng ven biển nước mình để ẩn náu, bảo tồn tấm thân trước đã, chuyện quay trở về xứ phục hận sẽ tính sau. Cứ vậy rồi dần dà theo thời gian, con cháu họ lần hồi đã quên hết các tập tục ông bà để lại. Và, trong giao tiếp với dân địa phương là người Việt mình ở chung quanh, họ từ từ mất dần luôn ngôn ngữ riêng. Chỉ có hình hài, dòng giống… là tồn tại thôi. “.

Ông quân nhân hỏi:

– Xóm nhà đó ở đâu trong vùng Trà Cú – Trà Vinh vậy cậu?

Anh trẻ nhất lắc đầu, nói:

– Đám tổ chức đưa đón trong đêm trong hôm nên tui không biết. Nghĩ lại lúc đó tui thấy mình cũng dở ẹt ở chỗ không chịu hỏi người ta.

Ông quân nhân tiếp:

– Cuối cùng thì chuyến vượt biên đó ra sao? Cậu bảo cái gì gần gần với ngày Giáng sinh đó mà nghe thấy gì đâu.

Anh trẻ nhất ngồi yên giây lát rồi kể:

– Nấn ná hơn tuần lễ ở đó mà không thành, sau cùng phải quay về nhà thôi chú… Ai từng bị ém kín chờ lúc xuống taxi thì có gì hay ho đâu mà kể. Hồi hộp thấy mẹ. Nghe tiếng chân người đến gần thì cầu mong đó không phải công an, du kích đi tuần. Có một việc mà tui không biết nói như thế nào. Đám tổ chức đưa tui đi ẩn náu trong một căn nhà gần như bỏ hoang không có người ở… căn nhà đó có mấy buồng thì không biết nhưng họ đưa tui vào trong một buồng có cái lẫm chứa lúa khá lớn. Họ bắc cái thang tre sát vách buồng, bảo tui trèo vào lẫm và ngồi im trong đó, chờ họ. Trong cái lẫm đó, lúa cạn gần sát đáy và đã có một ông ngồi thù lù từ trước rồi. Xong, họ lấy tấm nắp đậy kín lẫm lại để không ai biết có tụi tui rồi bỏ đi mất tiêu. Ở chung, hỏi tên nhau thì tui được biết ông đó tên Phi, cũng vượt biên chung chuyến. Ở im trong căn buồng, cứ đến giấc trưa, chiều tối thì có người họ đến đưa đồ ăn và cho hai đứa tui ra ngoài vệ sinh tắm rửa một lát rồi trèo trở lại vào cái lẫm trốn. Cái lẫm chứa lúa làm bằng tấm tre đan nên tuy ngồi bên trong nhưng tụi tui vẫn có thể thấy bên ngoài qua các khe hở của mắt lưới. Có người ở chung thì mình cũng vui nhưng mệt vẫn mệt dù chẳng làm việc gì, có lẽ vì sợ mà ra. Một buổi quá trưa, cơm nước xong xuôi rồi, đang thiu thiu ngủ thì nghe có tiếng chân người bước phía bên ngoài nhà, tui tỉnh giấc ngay. Ông tên Phi đó cũng vậy. Hai đứa tui choàng dậy và qua các mắt lưới tre, một cô gái đẩy cửa vào trong căn buồng. Cô ta nhìn cái lẫm lúa, nhìn chung quanh căn phòng rồi từ từ… cởi quần áo mình ra. Trời! hai đứa tui nín thở luôn nhưng vẫn nhòm. Cô gái thoát y, thay bộ quần áo khác xong rồi nhanh chóng bỏ đi ra ngoài. Hai đứa tui nhìn nhau vì sợ mà cũng thích nữa. Sợ vì rủi cô này biết có tụi tui trong lẫm lúa nhòm lén thay đồ thì mặt mũi mình ra sao. Thích thì bản năng con người, ai mà chẳng thế. Sự việc mới xẩy ra trước mắt nên tuy nằm xuống trở lại khá lâu rồi mà trong trí hai đứa tui vẫn lởn vởn hình ảnh người con gái đó làm không tên nào ngủ được nữa. Cứ như vậy cho đến khi con mắt muốn sụp xuống thì tụi tui lại nghe tiếng động mới nên khẽ nhoài người lên để nhòm ra ngoài. Lần này tới hai cô gái khác theo nhau vào trong buồng và hình ảnh cũ lại tái diễn. Hai cô này là bạn nên họ vừa thay quần áo lại vừa trửng giỡn thân thể nhau nữa, thế mới chết tụi tui. Khi hai cô gái ra khỏi căn buồng rồi thì tui nghĩ, họ vào đây để thay quần áo thì chắc là dân ở thành phố xuống để vượt biên. Hỏi ông Phi, tui mới biết hôm nay là ngày Giáng sinh đạo Chúa và đám tổ chức định đánh chuyến vào dịp này. Đó! Câu chuyện tui nói gần gần với ngày Giáng sinh là vậy.

Tay bộ đội quay qua, đối mặt với anh trẻ nhất và hỏi:

– Chuyến đi không thành thế rồi sau mày có gặp lại mấy cô gái đó không?

– Không! Tui không gặp họ lần nào nữa và ngay cả với cái ông tên Phi. Đám tổ chức đưa từng người tụi tui ra khỏi căn buồng để về lại bến xe, ông Phi đó đi ra trước cả lúc lâu rồi mới tới phiên tui. Tui chẳng biết nhà cửa ông ta ở đâu chỉ nhớ có nói sống đâu đó trong vùng Long Xuyên thôi. Mình nghe thì nghe vậy mà chắc gì thật lòng, vượt biên mà.

– Ba cô này là ba cô gái mà mày kể ở chung chỗ trước đấy đó hả?

– Không phải. Mấy cô này khác, đẹp hơn nhiều.

– Đẹp hơn nhiều. Chu choa! Vượt biên không thành mà được quay phim tới ba cô gái lận. Dễ gì có mày.

– Vậy! Về kể chuyện này cho mấy đứa bạn nghe, tụi nó bảo thấy gái ở truồng xui lắm. Chuyến vượt biên đó, tui đi xa nhà lâu nhứt may mà không bị công an nó tó đó anh.

Ông quân nhân ngồi im hút thuốc, thả ra một luồng khói trắng rồi nhìn anh trẻ nhất và anh chàng bộ đội:

– Kỳ ngộ! Hay đấy. Còn chuyện của cậu, chần chừ gì nữa?

Anh chàng bộ đội nghe vậy liền trả lời:

– Chuyện của cháu xẩy ra ngay đêm Giáng sinh và cũng khá lâu rồi trước ngày cháu đi bộ đội lận. Gia đình cháu là dân Bắc kỳ 9 nút, lại đạo Công giáo, tưởng lý lịch như vậy sẽ thoát cảnh làm lính ông già nhưng đám tuyển quân ở phường vẫn ghi tên nên đành phải tuân lệnh thôi. Rời quân trường Núi Đất rồi nhận đơn vị tận bên Camphuchia mới thấy dân nước họ ghét người Việt Nam quá dù mấy năm trước, bộ đội từng giúp họ thoát tay đám Khmer đỏ. Nghe mấy đứa cùng trung đội bảo đây là mối thù truyền kiếp giữa hai dân tộc đã có lâu rồi, y như mình với bọn ba Tàu Tung Của. Đóng quân ở gần các phum dân Campuchia mà bộ đội đi lạng quạng thì nếu không chết vì bị bắn sẻ thì cũng cụt giò do đạp mìn gài. Ai gài, ai bắn sẻ? Cũng đám dân trong phum, y chang kiểu du kích thời chiến tranh ở nước mình khi trước. Do vậy, có chuyến đi công tác ở gần Tây Ninh thì cháu vọt về nhà liền. Về nhà rồi gia đình sắp xếp cho vượt biên và đi thoát ngay được, gặp đúng chuyến mà… Trở lại chuyện đêm Giáng sinh năm đó, cháu vừa vào khuôn viên giáo đường thì cậu bé giúp lễ đến gần bên bảo cháu vào gặp cha xứ ngay. Khi đó trời mới sâm sẩm tối, giờ lễ đêm còn xa, nhà ở lại gần giáo đường nên mình mới vơ vẩn vào xem hang đá trước. Cháu hỏi cậu bé  lý do tại sao thì cậu trả lời không biết, bảo lệnh cha nói vậy thì nghe vậy. Vào nhà xứ gặp cha rồi chào và ngài hỏi: ” Anh có người bạn học cũ tại trường X tên Cách phải không? “. Đứng yên một lát thì cháu nhớ đã có bạn học tên Cách thật nên gật đầu thì ngài lại tiếp: ” Anh ta mới vào đây gặp cha và đang ngồi chờ anh ở phòng bên cạnh, anh sang gặp đi và liệu chuyện ra sao thì tuỳ ý nhưng phải nhanh vì lát nữa người đi lễ đông lắm sẽ rầy rà nếu giải quyết sự việc chậm, cha chỉ giúp được như vậy “. Cách là bạn học cũ với cháu ở trung học đệ nhị cấp nhưng khi chuyển lên lớp mười, đệ nhất cấp thì đã khác lớp vì nó theo ban B còn cháu chọn ban A… nhưng cũng xa cách cả mười năm rồi còn gì.

Anh trẻ nhất dơ tay làm cử chỉ chận mạch chuyện của anh bộ đội và xen vào:

– Đệ nhị đệ nhất cấp và ban B ba A của trung học thời đó là sao hả anh?

– Đệ nhị cấp là trung học cấp 2 và  đệ nhất cấp là trung học cấp 3 bây giờ. Ban B là ban Toán, ban A là ban Văn chương của thời tao học khi đó.

Ông già nhất góp lời:

– Khi đó là trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 đấy cậu. Việt Cộng chiếm được miền Nam đã thay mới nhiều thứ nhưng tôi nghĩ sau này, họ sẽ đổi lại theo cách sắp xếp cũ.

Anh bộ đội tiếp câu chuyện:

– Theo tay chỉ của cha xứ về hướng một cánh cửa, cháu bước vào phòng đó thì đã thấy một người ngồi chờ sẵn ở bàn. Đó là thằng Cách. Hồi còn học chung lớp, giữa cháu và nó không thân lắm. Gia đình nhà nó khá giả nên ngày nào đi học cũng bằng xe Honda riêng, mấy đứa học sinh có được. Mặt mũi sáng láng trong bộ y phục đúng mốt nên nó rất bảnh khác hẳn bây giờ ở trước mặt cháu, thằng Cách quá sức tồi tàn trong bộ dạng còm cõi với bộ quần áo cũ vừa bẩn vừa hôi. Cháu kéo ghế ngồi đối diện, nhìn chăm chăm vào mặt nó mà nghĩ: Thằng này thay đổi quá, nếu ở ngoài đường sẽ nhận không ra rồi buột miệng lầm thầm, hỏi từng câu: ” Mầy là Cách… Cách dân Tây đây mà… sao mày biết tao ở đây mà tìm… kể ra cũng lâu lắm rồi nhỉ, nay mình mới gặp lại nhau “. thằng Cách có cái biệt danh là Cách dân Tây, vì ba mẹ nó đặt tên con cái trong nhà theo thứ tự Duex, Trois, Quatre trong tiếng Pháp. Nó là con trai thứ ba trong nhà nên tên Cách, hai chị gái nó mang tên Đơ và Thoa. Thấy cháu lẩm bẩm như vậy, thằng Cách run run nắm lấy tay cháu, nói khẽ: ” Vậy là mày nhận ra tao rồi, giúp tao nhen “. Theo lời kể thì mới bốn ngày trước, nó vừa trốn khỏi trại cưỡng bức lao động ở đâu đó trên vùng tỉnh Sông Bé. Nó chạy được vào một cánh rừng rồi lòng vòng lạc đường đến cả hai ngày trời thì mới gặp một căn nhà và vào xin đồ ăn nước uống. Chủ căn nhà là một tay già cán bộ tập kết đã cho nó ăn uống lại che chở và còn giúp nó có phương tiện về lại được Sài Gòn.

Ông quân nhân nghe chuyện kể tới đây liền nói:

– Gặp người tử tế đấy nhưng cũng khó tin ở đoạn kể về tay cán bộ. Cán bộ tập kết là Việt Cộng miền Nam nhưng thường thì đám đó mà gặp tù trốn trại là vây bắt giao cho công an liền một khi.

Anh bộ đội gật đầu, đồng tình:

– Đúng chú! Thằng Cách kể tiếp: ” Tay cán bộ tập kết đó bảo mấy năm trước chú mầy mà ló mặt đến đây thì tao sẽ bắt ngay. Tao đã từng bắt mấy đứa tù trốn trại như vậy rồi nhưng nay thì đã khác “. Tuy gã cán bộ không nói lý do tại sao đã khác nhưng thằng Cách đoán có lẽ bọn Việt Cộng miền Bắc ào ào vô Nam quá đông rồi vì tranh dành địa vị với nhau nên đẩy ra rìa đám miền Nam tập kết năm xưa, nay không cần nữa, cho về vườn hết cả. Thêm vào đó, va chạm với xã hội còn lại của miền Nam trong giao tiếp, tâm tính của rất nhiều tên cán bộ tập kết như trường hợp của gã ân nhân thằng Cách đã thay đổi. Không còn tiếp tay cho bọn Việt Cộng làm điều ác như trước nữa, gã cựu cán bộ đó đã dấu thằng Cách trong nhà khi bọn công an lần theo dấu vết và mò vào tận nơi dò hỏi. Gã bảo không thấy tên tù trốn trại và bọn công an tin ngay lời nói đó do cái quá khứ cộng tác cũ. Đến ngày thứ năm kể từ lúc chạy trốn, chính tay già tập kết đã dùng xe bò chở than, ém thằng Cách nằm ở chính giữa đống hàng để lọc cọc ra được quốc lộ 13 và rồi thẳng tới trạm xe đò chạy tuyến đường Sài Gòn – Sông Bé trong chuyến chót an toàn. Ông ta còn cho nó ít tiền phòng thân dọc đường nữa.

Anh trẻ nhất hỏi vặn anh bộ đội:

– Mấy ngày ở trong rừng, bạn Cách của anh sống bằng cái gì? Nước thì uống nước suối, nước lạch đi… mình không kể nhưng đồ ăn kìa. Chắc chỉ trái cây rừng, mà sao biết thứ nào ăn được?

– Tao cũng hỏi như mày bây giờ và nó kể là trước lúc bỏ trốn thì đã dò dẫm chuyện đó từ một bạn tù trong phòng giam từng sống ở vùng rừng núi. Tổng quát, cứ trái cây rừng nào mà vị ngọt và chua thì ăn được. Với loại trái cây có vị vừa ngọt vừa đắng, ngọt không thôi hoặc ngọt nhưng cái hậu có vị beo béo thì mình phải cẩn thận. Nói là nói vậy nhưng khi đói quá thì cũng phải liều mạng và thằng Cách đã thử ăn  một loại trái cây rừng nó gặp được, trông giống như quả nhãn mình thường trồng ở nhà. Quả nhãn rừng này khác ở chỗ phần cơm bọc chung quanh hạt đen ở giữa thay vì trắng lại có mầu đỏ và cũng có vị ngọt. Không dám ăn nhiều nhưng mới nuốt vài trái thì nó hoa mắt rồi lăn ra xỉu, miệng sùi bọt. Nằm ngay đơ trên đất cho đến khi cơn đau bụng đã đánh thức nó dậy. Nó cố lết đi, may gặp một con suối và đã uống nước cho có cái để ói ra nhằm làm dịu cơn đau đang cồn cào ruột gan. Nó ói ra nước bầy nhầy kèm với chút máu và nhờ vậy mới gượng đi được. Có suối, nó phải quay lại cái nghĩa địa cũ để lấy một bát cắm hương ở một mả hoang mà thủ làm đồ trữ nước uống. Muỗi trong rừng nhiều vô kể, trời bắt đầu sụp tối thì nó phải trèo lên cây cao, kiếm chỗ chạc ba ngồi ngủ để tránh thú dữ và mong gió khuya sẽ xua bớt đàn muỗi rừng lúc nào cũng vo ve điếc cả tai. Cứ lòng vòng lạc lối trong rừng như vậy cho đến khi nó trông thấy căn nhà của tay cán bộ.

Ông già nhất ngồi nghe nãy giờ, thốt lên:

– Nhân chi sơ tính bản thiện, người ở đâu, thời đại nào cũng có kẻ giống nhau. Bạn cậu và ông cha xứ làm tôi nhớ hình ảnh tay tù Jean Valjean và giám mục Myriel trong truyện Les Miserables của nhà văn Victor Hugo đấy. Kể tiếp chuyện đi.

Anh bộ đội nhìn ông già nhất trong giây lát rồi tiếp:

– Khi thấy cha xứ lấp ló ở cửa phòng, chỉ vào đồng hồ trên tay ngài thì cháu liền đứng lên, đi ra cảm ơn cha và bảo với ngài sẽ lo cho thằng Cách ngay. Rồi cháu dẫn nó về nhà, nói sơ với mẹ về hoàn cảnh. Mẹ cháu nói gần tới giờ lễ đêm rồi, trước mắt bảo bạn con tắm rửa, ăn uống và nghỉ ngơi đi, mai sẽ tính sau.  Nó đi tắm, thay quần áo của cháu rồi ra ngồi ăn cơm chung bàn với gia đình. Sau đó cháu hỏi nó: ” Sao mày biết tao ở đây mà tìm? “. Nó bảo hồi còn học chung, nhớ có lần đã nghe cháu nói nhà ở trong xứ đạo này nên khi về được tới Sài Gòn thì liền tìm đến ngay. Cũng từ kinh nghiệm của bạn tù dặn rằng: ” Thời bây giờ, nếu cần tìm chỗ trú thân trong đêm tối, nên đến nhà thờ gặp mấy ông cha cố đạo Chúa thì hy vọng còn có lối thoát, đừng vô Chùa, mấy ông sư giờ không như ngày trước đâu “, tao đâu biết nhà mày và cũng không chắc mày còn ở đây hay đã chuyển đi nơi khác, cả mười năm rồi chứ ít gì nhưng cứ thử xem mới biết.

Ông quân nhân lấy tay khoa khoa trước mặt như không đồng ý với đoạn chuyện anh bộ đội vừa kể:

– Cha hay sư thì cũng tuỳ người tuỳ nơi chứ không phải đều một ruột như nhau hết cả đâu. Mà thôi, cậu cứ kể tiếp đi, tôi sẽ nói sau vậy

Nghe thế, anh bộ đội nói:

– Ăn xong, thằng Cách xin đi ngủ ngay, cháu đưa nó lên gác vào phòng riêng của mình và bảo: ” Mày ngủ đi, lát tan lễ đêm về mình sẽ nói chuyện nhiều hơn “, nhưng nó ngủ một lèo cho tới quá trưa ngày hôm sau mới thức dậy được. Cũng dễ hiểu, nó mệt quá, trốn chạy trong rừng rồi đi cả ngày với tay cán bộ thì có nhắm mắt được là bao. Khi thằng Cách tỉnh ngủ rồi, nhìn mặt mũi nó, cháu phải kêu ông thợ hớt dạo vào nhà, tăm tia cho gọn đầu tóc rồi mới kéo nhau ra quán. Hai đứa ngồi ở cái bàn trong góc vườn cho kín đáo, thằng Cách kể: ” Tao theo chuyến xe cuối về tới bến Miền Đông ở Thủ Đức thì trời đã quá chiều. Ra khỏi bến, đi lòng vòng mà lo tối nay chưa biết sẽ ngủ ở đâu, nhà thì xa, sợ mò về thì có thể sẽ bị bắt trở lại vì chắc chắn công an khu vực đã được tin báo rồi. Tao vào một quán cà phê ngồi nghỉ chân và nhớ đến mày, đến cái địa chỉ đã nghe khi trước. ” Mình không thể lang thang cả đêm ngoài đường được, công an sẽ chận hỏi và rồi rắc rối chứ chẳng chơi “, tao nghĩ vậy nên mới hỏi thăm bà chủ quán nước về đường đi rồi đón xe ôm đến được xứ đạo và xin vào gặp ông cha “.

Anh trẻ nhất hỏi:

– Bạn Cách của anh nhà ở đâu, chắc cũng đâu đó trong Sài Gòn?

Anh bộ đội lắc đầu, đáp lại:

– Không! Nó tận trên vùng Củ Chi-Hậu Nghĩa lận… mày cũng biết chỗ đó mà.

Ông quân nhân nói:

– Củ Chi-Hậu Nghĩa nằm về hướng đi Tây Ninh-Campuchia, cách Sài Gòn cũng cả trăm cây số chứ ít gì. Thời còn chiến tranh, vùng này là địa bàn hoạt động của bọn Việt Cộng đó.

– Đúng chú. Anh bộ đội gật đầu và tiếp: ” thằng Cách kể sau ngày 30 tháng Tư thì bố mẹ nó bán căn nhà ở Sài Gòn và về quê cũ ở trong vùng Củ Chi này. Những năm có chiến tranh với Khmer Đỏ, nhà nước bắt lính dữ lắm nhưng vì là con trai duy nhất trong gia đình nên nó thoát cảnh bộ đội, chỉ lòng vòng ở nhà  phụ cha mẹ làm ruộng thôi. Ngoài ruộng rẫy, nhà nó còn nuôi khá nhiều gà vịt. Đám ấp đội rồi cả bọn công an sống chung trong xóm thường bắt trộm gà vịt nhà nó nên ông bà già mới làm đơn thưa nhưng chính quyền địa phương chẳng xử. Tánh nó nóng, ức lòng cái vụ gà vịt mất trộm nên khi gặp đám công an-ấp đội thì chửi đổng. Dịp lễ 30-4 của năm trước đó, nó đi chơi bài ở mấy nhà gần gần thì bị đám này rình bắt và giải giao cho trại cưỡng bức lao động Bố Lá với tội danh thành phần cờ bạc-quậy phá làng xóm. Trong trại lao động này, có một gã quản giáo là anh ruột của tên ấp đội bắt giữ thằng Cách. Tên quản giáo đó đì nó sát ván, sơ hở một chút là bị phạt và có khi còn không cho gia đình tiếp tế thăm nuôi nữa “.

Ba người ngồi chung bàn nghe anh bộ đội kể, họ im lặng như đang thả hồn về các cảnh sống cũ bên quê nhà và rồi ông già nhất khơi lại câu chuyện:

– Ở nước mình, ai bị tù giam đã khổ mà sống trong trại cưỡng bức lao động thì còn thê thảm hơn vì không rõ ngày nào mới được thả ra. Đã thế, tù nhân lại còn phải đi lao động nặng hàng ngày nữa.

Nghe ông già nhất nói, anh bộ đội gật đầu đồng tình và kết thúc:

– Vậy! Thằng Cách đã quyết định phải trốn trại sau khi dò hỏi từ các người bị giam cùng phòng với nó. Có người đã ba năm, người thì năm năm rồi mà họ không chút hy vọng sẽ bao giờ được thả khỏi trại nên nó phải bùng thôi. Chuyện kể đêm Giáng sinh của cháu là vậy… Bây giờ thì tới phiên người khác.

Anh bộ đội dứt lời, đưa mắt nhìn về phía ông quân nhân nhưng anh trẻ nhất khoát tay:

– Tui thấy chưa xong nhen… anh ngưng ngang xương vậy đâu được. Kể thêm đi huynh, tui muốn biết anh bạn Cách cuối cùng ra sao, không lẽ cứ trốn trong nhà anh?

Nghe anh trẻ nhất hỏi, ông già nhất gật đầu còn ông quân nhân hùa theo:

– Phải đó! Chuyện coi như chưa có hồi kết thúc… rồi anh chàng trốn trại đó đi đâu? Kể tiếp đi mà.

Thấy phản ứng của ba người họ, anh bộ đội khẽ lắc đầu, trả lời:

– Thôi được rồi… mà cũng đúng. Để cháu kể tiếp đây. Anh ta khẽ hắng giọng trước khi nói: ” Ở được vài ngày thì nhân lúc cháu vắng nhà, mẹ cháu hỏi chuyện và thằng Cách đã nói thật hết cả. Khi cháu về, bà cho gọi cả hai xuống nhà và bảo với thằng Cách: ” Dân xứ đạo ở vùng Gò Vấp này, chẳng ai ưa đám công an nên gia đình không lo vụ bị hàng xóm chỉ chọt, mách lẻo gì. Bác nói vậy để cháu an tâm nhưng mình phải tính sao cho gọn chứ cứ trốn tránh mãi thì cũng kẹt “. Nói là tính mà có ai trong nhà nghĩ ra được gì đâu nên cuối cùng, cháu đành phải vào vấn kế với cha xứ. Ngài nghe xong chuyện mới bảo cháu và thằng Cách đi gặp báo Tuổi Trẻ. ” Báo này có nhóm phóng viên chuyên săn tin về các vụ oan sai của dân, hai anh thử đến trình bày với họ, may ra “, cha góp ý như thế nên cháu mới lấy xe chở thằng Cách đến tận toà soạn của báo. Nó vào gặp và được đám phóng viên ở đó chịu  giúp… Chuyện thì dài lắm, không phải một sớm một chiều là xong ngay được đâu. Tóm tắt, đám phóng viên đó đưa thằng Cách quay về trại cưỡng bức lao động và rồi nó đã được thả tự do không lâu sau đó.

– Thế mấy tên công an, ấp đội chơi đểu… tụi nó có bị gì không? Anh trẻ nhất hỏi.

– Thằng Cách không kể thêm gì nữa nhưng tao nghĩ đám lưu manh đó chắc cũng sợ mà bớt tự tung tự tác hại người. Anh bộ đội trả lời.

Ông già nhất gật gù cái đầu, bảo:

– Cậu làm việc lành trong đêm Giáng sinh thật quá hay, coi như món quà dâng lên Chúa vậy. Nhiều người khi gặp nạn, họ chạy cầu cứu bạn bè mà chẳng mấy ai chịu giúp cho.

Ông quân nhân gật đầu, đế vào:

– Giúp người ở bước hoạn nạn là đạo lý trên đời, tôi thật lòng khen cậu đấy. Thời bây giờ, mấy vùng quê hẻo lánh càng xa thành phố chừng nào thì người dân càng khổ chừng nấy với cái bọn công an địa phương lộng quyền.

Anh bộ đội tít mắt hài lòng, quay qua nói với ông quân nhân:

– Bố mẹ cháu vẫn dạy con cái trong nhà phải giúp người hoạn nạn, cơ nhỡ cho dù chẳng phải bà con, bạn bè gì cả. Chính vì vậy mà đêm Giáng sinh năm đó cháu mới dám dẫn thằng Cách về nhà. Chuyện cháu kể xong rồi thì bây giờ đến lượt chú chứ.

Ông quân nhân khẽ lấy tay dúi dúi cán điếu thuốc lá vào cái gạt tàn và ậm ừ:

– Lượt tôi ư! Phải rồi. Nhưng tôi đã nói có biết chuyện gì về đạo Chúa đâu mà kể. Anh giáo ác quá… Hai cậu này kể chuyện thì cũng cần có tôi ngồi nghe chứ. Cho tôi qua phà nha, anh giáo và hai cậu nghĩ sao?

Ông già nhất nghe vậy liền ngồi hẳn lên, lắc đầu:

– Không được! Tôi có bảo anh kể chuyện đạo Chúa đâu mà cứ từ chối mãi… Nhớ được chuyện gì liên quan đến anh trong đêm Giáng sinh là OK. Quân nhân thì chắc anh phải biết chuyện gì hay hay chứ. Anh bảo tôi cho qua phà nhưng còn hai cậu này thì sao?

– Không! Không được. Đã nghe chuyện người khác thì mình cũng phải kể chuyện của mình ra chứ, vậy mới công bằng. Chú phải kể thôi. Hai cậu trẻ tuổi lần lượt nói.

Ông quân nhân gục gặc cái đầu, đảo mắt qua ba người họ rồi chậm rãi từng tiếng:

– Á à! Mấy người nhất định không tha tôi ha. Thôi… để tôi kể vậy. Tôi đã từng là lính gác tù tại đảo Phú Quốc đấy. Tù đây là bọn phiến Cộng bị phe mình bắt được và nhốt chung trong một cái trại giam lớn lắm… lúc đông nhất có tới gần bốn mươi ngàn tù binh lận. Gần bốn mươi ngàn tù binh. Ông quân nhân lập lại câu nói và tiếp: ” Chuyện tôi sắp kể đây, đã xẩy ra trong một đêm Giáng sinh ở đó nhưng khá lâu rồi “.

Nghe đến đây thì ông già nhất cười dòn:

– Thấy chưa, tôi đã bảo anh là quân nhân thì chắc chắn biết nhiều chuyện hay rồi. Giờ lòi ra chuyện ở trại giam tù binh Việt Cộng thì còn gì hơn.

– Tôi khi đó là một hạ sĩ thuộc tiểu đoàn 7 quân cảnh, tòng sự trong ban tiếp liệu.

Ông quân nhân nói tới đây thì ngưng lại trong chốc lát như để hồi tưởng về câu chuyện sắp kể, ba người ngồi chung bàn chăm chăm nhìn ông chờ đợi. Một khoảng khắc trôi qua, ông quân nhân rít một hơi thuốc lá rồi chậm rãi: ” Trại giam tù binh Phú Quốc là cái tên sau này chứ trước kia phe Việt Nam Cộng Hoà mình gọi nó là trại giam phiến Cộng. Mình vẫn coi bọn Việt Cộng là cái đám thổ phỉ, phiến loạn qua các hành động bắt giữ, tra tấn và giết dân lành vô tội ở các vùng nông thôn. Trại giam này nằm ở thung lũng An Thới thuộc ấp 5 của xã Dương Tơ thuộc tỉnh Hà Tiên cũ… bây giờ nó có tên mới là tỉnh Kiên Giang. Như can nãy tôi vừa kể, trại giam từng chứa tới gần bốn mươi ngàn tù binh nên nó rộng tới cả 400 mẫu tây và có tới 4 tiểu đoàn quân cảnh để canh gác bọn tù. Bốn tiểu đoàn quân cảnh đó là tiểu đoàn 7, 8, 9 và 14. Chuyện tôi kể xẩy ra trong đêm 24 tháng 12 của năm 1971 là một cuộc vượt ngục của tù binh Việt Cộng “.

– Anh nói đúng! Trước kia mình vẫn coi bọn Việt Cộng là đám thổ phỉ, phiến loạn. Báo chí đăng tin thời sự cũng gọi bằng cái tên Cộng phỉ hay phiến Cộng. Ông già nhất góp lời:

– Đám tù binh đào một đường hầm từ trong căn phòng giam và trổ lối ra khỏi bên ngoài hàng rào kẽm gai của trại. Tối hôm đó vì là ngày Giáng sinh nên một số lính quân cảnh có đạo Chúa do bận việc đi lễ nủa đêm, đã bỏ việc kiểm danh các phòng giam như thường lệ và vì vậy, đám tù binh đã chui ra khỏi trại giam bằng đường hầm này. Chúng đi thoát hết cả phòng rồi thì mãi đến gần 2 giờ sáng lính gác vào đổi phiên mới phát giác khi họ đi kiểm danh. Khi đó tôi đang ngủ thì nghe còi báo động nên choàng dậy mới biết sự việc vừa xẩy ra.

Anh bộ đội hỏi:

– Chú kể thì đường hầm đã được bọn họ đào từ trước rồi. Đào hầm từ phòng giam ra tới bên ngoài hàng rào thì chắc phải lâu lắm mới xong. Vậy mà mấy chú không biết?

Ông quân nhân gật đầu, tiếp:

– Thế mới nói! Cái này thì mình phải nhận là bọn tù khéo che mắt lính gác bên phe mình. Cái phòng giam đó nằm gần hàng rào nhất nên chúng mới chọn để đào hầm. Sau này khi quân cảnh bắt được lại một số tù thì mới biết cách thức của bọn chúng. Cái đường hầm đó dài trên 70 mét, ngầm sâu dưới đất hơn 1 mét và chạy thẳng ra khỏi hàng rào. Theo lời cung khai thì khi ló đầu lên khỏi cửa hầm ở bên ngoài hàng rào, tên tù ra trước cột sợi dây để những gã theo sau cứ thế lần theo lối mà vào rừng. Sợi dây này dài tới cả hai trăm thước và là cách để bọn tù khỏi bị lạc nhau trong đêm tối. Dây thì bọn chúng bện bằng sợi xé nhỏ từ các bao nylon đựng thực phẩm. Rồi khi tập trung hết cả ở chỗ cuối của đoạn dây, bọn tù vượt ngục kiểm danh thấy đủ người thì mới chẩu. Phòng giam đó có 40 tên và chúng chia làm 3 hướng để thoát.

– Thật không khác trong phim Cuộc Vượt Ngục Vĩ Đại mà năm xưa mấy rạp Rex, Eden từng chiếu. Ở hoàn cảnh giống nhau thì hành sự sẽ tương tự thôi. Ông già nhất buột miệng.

– Nghe hay quá chú. Rồi mình có bắt được tụi nó không? Anh trẻ nhất hỏi:

– Có bắt được. Ông quân nhân gật đầu rồi tiếp: ” Khi phát giác ra vụ đào tẩu, quân cảnh trại giam liền phối hợp với cảnh sát địa phương làm cuộc lục soát liền nhưng mãi bốn ngày sau mới bắt được 8 tên thôi, số còn lại thì thoát hết cả. Từ lời khai của 8 tên tù này thì mình mới biết bọn tù đào đường hầm cả nửa năm trời mới xong. Mỗi lần đào thì đất được chuyển lên mặt phòng, bọn tù cho vào túi nhỏ rồi lén đem đi rải mỏng ở ngoài sân hay đổ xuống mương nước nằm gần các phòng giam “.

Anh trẻ tuổi hỏi ông quân nhân:

– Tụi tù lấy cái gì để đào đất?

– Bằng muỗng ăn cơm thôi. Thấy nó nho nhỏ vậy chứ khoét đất dễ lắm tuy hơi chậm.

Ông già nhất hỏi:

– Tôi nghe bảo có vài vụ thanh toán giữa tụi tù binh với nhau nữa, phải không anh?

Ông quân nhân đáp:

– Nhiều và ghê rợn lắm anh giáo. Thỉnh thoảng lính gác trại giam vẫn bắt gặp một xác người nào đó nằm chết với cây đũa xuyên qua hai tai. Có khi giữa khuya, nghe tiếng hét ở phòng giam, lính gác chạy đến thì lại một người mặt mũi đầy máu đang gào la, quờ quạng trên sàn… Coi lại thì người đó đã bị móc mất hai con ngươi rồi. Có người khi đang tắm, bị đồng bọn xô chúi xuống giếng vỡ đầu mà chết tươi nữa. Tới giờ, nghĩ lại các chuyện bọn tù binh làm, tôi còn rùng mình.

– Sát nhất nhân vạn nhân cụ. Ông già nhất chen vào: ” Đây là cách hành động của bọn Việt Cộng với dân chúng. Cứ làm các sự ác công khai cho dân thấy thì sẽ phải sợ chúng mà im răm rắp vâng lời. Anh tính xem, giết người bằng cách đâm chiếc đũa vào tai thì ít nhất chúng phải có 5, 6 thằng mới làm được nên không thể nói do thù hằn cá nhân gì cả. Một hành động có sắp xếp sẵn từ trước. Này nhé, bốn thằng giữ hai tay hai chân, một thằng giữ chặt cái đầu, một thằng bịt kín miệng không cho la cầu cứu… để cho đứa khác đóng chiếc đũa vào lỗ tai nạn nhân. Còn lấy bóng đèn giữa đêm khuya như anh kể thì chỉ cần một tên có nghề bò đến sát bên nạn nhân đang ngủ say và rồi tung ra như chớp ngón Bạch Cốt Trảo. Ôi thôi! “.

– Đã vào tù rồi, sao họ lại thanh toán nhau khiếp vậy hả chú? Anh trẻ nhất le lưỡi khi hỏi.

– Đám Việt Cộng trong tù vẫn bào chữa cho các vụ thanh toán này bằng điệp khúc: phải giết tên đó vì nó là một gián điệp của CIA gài vào giả làm tù binh ta để theo dõi các hoạt động trong phòng giam mà báo cáo ra ngoài cho bọn Nguỵ. Cậu biết là tuy ở tù nhưng đám Việt Cộng đầu sỏ vẫn tổ chức ngầm các cấp uỷ đảng để chúng kiểm soát và chỉ huy tất cả tù nhân. Những nạn nhân của chúng, đơn thuần chỉ là người đã chán cảnh ở tù, nay muốn ra hồi chánh với chính quyền nên đó là lý do họ bị giết chết. Gián điệp CIA nào mà vô trong mấy phòng giam tù binh đó để kiếm tin tức. Bất cứ tù binh Việt Cộng nào khi bị bắt, phía an ninh quân đội Việt Nam Cộng Hoà đã điều tra tên đó xong hết cả rồi thì mới đưa đi giam ở Phú Quốc.

Anh bộ đội xen vào:

– Hồi còn ở đơn vị bộ đội, cháu nghe mấy ông chính trị viên bảo tù binh ở Phú Quốc bị quân cảnh chế độ cũ cưỡng bức lao động nặng, bị bỏ đói, bị tra tấn dữ lắm đến nỗi Hồng Thập Tự quốc tế phải can thiệp thì mới bớt. Lại có nhà báo đòi phải cải thiện chuyện giam giữ tù binh nữa. Có đúng vậy không?

Ông quân nhân nghe vậy, buột miệng cười khẩy:

– Cậu từng là bộ đội nên mới hồ nghi những việc tôi vừa kể.  Hãy nghe tôi đây. Thứ nhất, bọn chính trị viên đó từng nghe ai đó tuyên truyền như cậu đã nghe và chúng tin nên nói lại như cái loa. Thứ hai, bọn đó biết tất cả sự thật nhưng vẫn phải nói láo vì đây là bổn phận của chúng. Tù binh Việt Cộng trong trại giam Phú Quốc không hề phải lao động gì cả nha cậu. Trong vòng rào kẽm gai thì lao động cái gì đây? Ba cái vụ trồng rau là do tù binh xin tự cải thiện vì xuất thân của chúng hầu như là dân quê. Bọn tù binh muốn siêng thì cũng chẳng có việc để làm. Những khi bị quân cảnh bắt buộc phải nhổ cỏ sân trại giam, gia cố làm lại hàng rào, khơi thông cống rãnh hôi thối cho thoáng thì chúng nghe lệnh rồi ngồi ì ra cả đám trên sân. Hỏi, chúng nại cớ không tiếp tay làm các công việc phục vụ quân sự của phía đối phương. Cậu có biết một lần tù binh Việt Cộng trong trại hè nhau tuyệt thực đến ngất xỉu thì bọn cố vấn Mỹ đến trại buộc tụi tôi phải nấu cháo bồi dưỡng chúng nó nữa đó. Nghe không thể tin được phải không, mà đó là sự thật.

– Sao tụi Mỹ nó biết  mà đến trại làm chuyện ruồi bu vậy. Rồi mình có nấu cháo cho tụi nó ăn không. Anh trẻ tuổi hỏi:

Ông quân nhân gật đầu:

– Có gì lạ! Bọn cố vấn Mỹ sống ở thị trấn Dương Đông, xa xôi gì. Trong trại mà xẩy ra chuyện gì thì đám tay chân báo tin cho biết ngay. Vụ tuyệt thực kỳ đó, tụi tôi nhận lệnh phải nấu cháo mà cháo gà mới tức chứ. Mình sống ở đảo, món ăn mặn quanh năm gần như chỉ là cá với tôm-cua thôi. Thịt heo cũng có mà ít còn gà thì thôi, quá sang dễ gì. Vậy mà bọn cố vấn Mỹ mang gà đến tận trại giam, buộc tụi tôi phải nấu cháo cho bọn tù ăn để mau lại sức sau cú tuyệt thực. Lý do: sợ đám Việt Cộng ngoài Hà Nội sẽ đối xử tệ với bọn tù binh phi công Mỹ đang bị nhốt ở Hoả Lò. Gà bọn cố vấn Mỹ đưa đến nhiều lắm, cả trăm con và đã làm sẵn sạch sẽ hết rồi. Đám cố vấn Mỹ áp lực tụi tôi phải nấu cháo ngay vì muốn tận mắt xem tù binh Việt Cộng ăn nữa. Cháo nấu bằng mấy cái nồi lớn như cái phi đựng xăng và khi chín thì đám nhà bếp hè nhau đứng vạch chim đái thẳng vào cho bõ ghét. Bọn cố vấn Mỹ đến kiểm tra rồi thì bọn tù binh xúm lại ăn cháo vì cho là thắng lợi. Bọn tù binh cũng biết đói chứ bộ, tuyệt thực để làm màu với bọn cố vấn Mỹ thôi. Kể cũng tức cười, mình biết tỏng mà chẳng làm gì được. Còn cái vụ Hồng Thập Tự thì cậu phải biết là tổ chức đó lúc nào cũng thiên Cộng… Bây giờ thì đám này sáng mắt rồi vì Việt Cộng đã lộ bộ mặt thật. Tôi kể đến đâu rồi nhỉ? À! Tụi nhân viên Hồng Thập Tự quốc tế đến Sài Gòn, đề nghị với chính quyền phải cho họ đi thăm trại giam Phú Quốc. Vụ này hình như là giữa năm 1970 gì đó. Thăm rồi, khi trở về Sài Gòn, họ lôi mấy quy ước Geneva ra, cáo buộc chính phủ ngược đãi tù binh Việt Cộng: Nhốt quá nhiều người trong phòng giam và lại không có phương tiện giải trí như phim ảnh, truyền hình nữa. Có bố láo không! Cũng trong thời gian đó, bọn trùm Việt Cộng ở Hà Nội không cho mấy nhân viên Hồng Thập Tự này đi thăm đám tù binh phi công Mỹ và bọn Mặt trận trong Nam thì chối phắt: Cách Mạng không có trại giam như bọn Nguỵ, ở các địa phương giải phóng chỉ có nhốt lẻ tẻ vài người thôi và nếu Hồng Thập Tự đòi đi thì cứ tự tiện, không bảo đảm an ninh. Xong! Vậy mà đám nhân viên Hồng Thập Tự quốc tế im re, chẳng phản đối gì sất. Còn cái vụ đòi cải thiện lao tù cho tù binh trong các trại giam nữa. À ha! Chính mấy ông cha đạo Chúa ở Sài Gòn bày ra nhằm phá thối chính quyền thời đó đấy. Can nãy, tôi đã bảo với  mấy cậu cha hay sư có thực tâm tốt lành không là còn tuỳ từng người.

Ông già nhất, góp lời:

– Mấy ông linh mục đó thiên Cộng anh ơi, giờ họ cũng lộ mặt mo hết cả rồi. Ngẫm lại mấy chuyện anh vừa kể, mình thấy chính quyền Việt Nam Cộng Hoà thời đó gần như một mình mà tứ bề thọ địch. Ngoài Việt Cộng là chính thì còn phải đối phó với bọn cố vấn Mỹ, bọn mang danh tổ chức quốc tế như báo chí và Hồng Thập Tự này… Thêm vào đó là bọn trí thức nằm vùng xưng tên thành phần thứ ba. Nói đến đây ông già nhất lắc đầu: ” Tất cả hè nhau mà phá phe quốc gia mình, hỏi sao mà không mất nước “.

Ông quân nhân hít một hơi thuốc lá, thở ra làn khói trắng rồi đáp:

– Chính xác! Tứ bề thọ địch như vậy, nếu miền Nam Việt Nam Cộng Hoà mình không mất nước thì mới là chuyện lạ. Thôi, chuyện tôi kể đêm Giáng sinh chỉ vậy, coi như xong nhiệm vụ nha anh giáo. Ráng hết sức rồi đó.

Ông già nhất phát một tay lên như chận lời, giọng vui:

– Mới tiết lộ có chút xíu xìu xiu mà nói ráng hết sức… Gác tù Việt Cộng lại để cho chúng vượt ngục chạy thoát được mà nói xong nhiệm vụ. Kể thêm đi… Chuyện tù binh dễ gì có ai biết ngoài mấy ông quân cảnh, tụi này có nghe cũng giữ bí mật cho mà. Bảo đảm.

Hai cậu trẻ tuổi nghe ông già nhất nói vậy, liền a tòng:

– Phải! Phải a! Chú cứ dấu chuyện xưa thì đám hậu sinh làm sao mà biết. Kể thêm đi chú ơi, năn nỉ đó.

– Kể thêm… Ừ thôi cũng được. Nhưng tôi biết kể thêm cái chi đây?  Anh giáo và hai cậu đây thử hỏi cái gì liên can đến tù binh thì may ra nhớ đâu tôi xâu đấy. Ông quân nhân ngập ngừng.

Nghe ông quân nhân nói vậy, ba người còn lại khẽ nhìn nhau bối rối. Chắc trong trí họ cũng không biết phải hỏi cái gì đây? Vừa lúc, một người hầu quán đến bàn, mang thêm cho họ bình trà mới thay cho ấm cũ đã cạn. Anh trẻ nhất với tay lấy bình trà và lần lượt rót đầy cốc của từng người. Trà nóng gặp không khí lạnh của ban đêm nên bốc hơi trắng thơm lừng. Ông già nhất cầm cốc lên, nhấp một ngụm rồi khơi lại chuyện:

– Tôi nghe bảo tù Việt Cộng ở Phú Quốc gồm cả bộ đội chính quy miền Bắc với đám giải phóng miền Nam phải không anh. Mình nhốt tụi nó chung với nhau hết hả.

Ông quân nhân:

– Phải mà cũng không phải anh giáo. Lúc mới đầu mình không phân biệt tù binh miền Bắc miền Nam gì, coi chung là phiến Cộng cả. Cứ bên an ninh quân đội điều tra tên tù nào xong, chuyển sang thì mình giam thôi nhưng sau mình tách ra nhốt riêng hết. Bắc ra Bắc, Nam ra Nam không có chung đụng gì với nhau.

– Sao vậy anh?

– Cũng do tụi nó mà ra. Anh biết bọn tù bộ đội miền Bắc lúc nào cũng coi thường đám tù giải phóng miền Nam. Bề ngoài thì bọn chúng cùng là tù binh Việt Cộng nhưng bề trong, chẳng bên nào ưa bên nào. Chính vì vậy mà xẩy ra những vụ ấu đả giữa tụi nó với nhau nên chính phủ mình phải phân loại Bắc ra Bắc, Nam ra Nam và giam giữ riêng biệt. Bắc đây là bọn bộ đội chính quy như đám cán binh của sư đoàn Sao Vàng, sư đoàn 308 hay trung đoàn Bông lau bông liếc gì gì đó thuộc bên kia cầu Hiền Lương-Bến Hải. Còn Nam là đám tập kết năm xưa giờ vượt Trường Sơn, vượt đường mòn Hồ Chí Minh trở về hay bọn dân sống ở miền quê trong này đi theo mà chúng gọi là thoát ly như tụi trong Công trường 7, Công trường 9 hoặc  trung đoàn Quyết Thắng, tiểu đoàn Tây Đô… Khi trao trả tù binh, chính phủ mình thả đám miền Bắc ở bờ sông Thạch Hãn của tỉnh Quảng Trị còn đám miền Nam thì tại phi trường Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long.

– Họ có bị bỏ đói, tra tấn không chú. Cháu nghe người ta vẫn bảo… Anh bộ đội ngưng ngang câu hỏi.

Ông quân nhân thấy thái độ của anh bộ đội, cười gằn:

– Cậu vẫn còn tin lời của mấy tay chính trị viên kể, tôi biết nhiều người cũng nghĩ như cậu. Với lại, ở thời điểm đó cậu cũng còn nhỏ nên không biết sự thật là phải, chẳng trách. Cả một bộ máy chính quyền đồng thanh nói láo, nói láo mãi về một chuyện thì người dân cũng ít nhiều phải mắc bẫy chứ. Lúc trao trả tù binh cho phe chúng ở Lộc Ninh và ở bờ sông Thạch Hãn, Việt Cộng tên nào tên nấy béo tốt mà đám cán bộ đại diện đi nhận người vẫn lu loa: ” Tù binh ta bị chính quyền Nguỵ bỏ đói, vi phạm công ước Geneva… “. Những ngày trao trả tù binh, đài truyền hình Sài Gòn cử nhân viên đến tận các nơi quay phim về làm phóng sự tình hình. Buổi tối, màn hình ti vi đài số 9 chiếu đi chiếu lại các phóng sự đó nhưng nhiều người xem mà vẫn tin lời chúng nói. Báo chí cũng đăng tin kèm ảnh mà có người vẫn không chịu nghĩ: ” Nếu thực sự bị chính quyền miền Nam VNCH bỏ đói, làm sao bọn tù binh Việt Cộng lại mập mạp hơn cả đám cán bộ đi nhận người “. Còn tra tấn ư! Bắt được mấy thằng tù bỏ trốn như tôi kể 8 thằng vừa rồi, mang về trại, tra hỏi mà cứ im lặng thì tụi an ninh phải đục sặc máu ra thôi. Không khai thì đánh, đánh cho lòi chuyện mới thôi. Trị an thì phải vậy. Ngay cả ở trại Galang này, cậu cũng biết thuyền nhân mình tuy là người của Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thật nhưng ai nhập nha trộm đồ của người khác hay đánh nhau xem thử, police Indo khi bắt được, chúng có dợt người đó cho phù mỏ không?

Nghe đến đây thì ông già nhất gật gù đầu, thẽ thọt:

– Hồi đó xem vô tuyến truyền hình thấy thân thể tù binh Việt Cộng ở địa điểm trao trả thì mới rõ họ chẳng hề bị bỏ đói đâu. Mấy thầy dạy chung trường với tôi cũng bảo chính phủ mình lo cái ăn uống cho tù binh Việt Cộng còn ngon hơn nuôi tù hình sự ở trại giam Chí Hoà. Bằng cớ là thân xác tù binh Việt Cộng, người nào tay cũng có bắp thịt, ngực nở nang và chạy thật nhanh.

– Đấy! đấy… Ông quân nhân đưa mắt nhìn ông già nhất và anh bộ đội như một đồng tình vì lời xác nhận điều ông vừa nói rồi tiếp: ” Khi mình nghe một ai đó nói kiểu tôi bị bỏ đói thì phải nhìn vào thân thể của người ấy xem coi ra sao. Có lòi xương, xanh xao gầy gò hay lại béo đỏ, vạm vỡ. Tù binh Việt Cộng ở Phú Quốc được nhà thầu giao thực phẩm là gạo trắng trong bao bố chỉ xanh mà dân mình thường gọi là gạo Mỹ hạt dài, gạo Thái Lan hạt tròn đó. Rau xanh như bầu bí, su su, cải này… cũng do nhà thầu mua từ nông dân trồng bên ngoài. Còn cá thì mua từ các chủ ghe cào ngoài biển. Trong tuần, bọn tù binh còn có một ngày ăn thịt heo nữa. Tất cả thứ, nhà thầu hàng ngày gom lại mang vào nạp cho quân cảnh rồi quân cảnh giao lại cho bọn tù nhà bếp mà chúng gọi cái tên anh nuôi tự nấu ăn lấy. Cá thì hầu hết là cá biển mà toàn là cá thu, cá ngừ, cá ngân không hà. Chim-Thu-Ngừ-Đé-Hường-Đước-Kìm-Măng… là tên các loại cá biển ngon, có nhiều thịt ai cũng biết. Một lần, nhà thầu giao loại cá chỉ vàng thì bọn nhà bếp tù binh làm reo không nhận. Lý do: cá đó ít thịt nhiều xương. Theo hợp đồng đã ấn định trước, nếu nhà thầu làm ăn không đúng thì sẽ bị ban chỉ huy trại giam huỷ khế ước ngay và thuê người khác thế chỗ liền. Chính vì vậy mà nhà thầu lúc nào cũng phải đàng hoàng khi nhận cung ứng thực phẩm cho tù binh. Họ kiếm ăn được thì tội gì phải lươn lẹo, cắt xén ăn bớt thực phẩm cung cấp cho tù binh làm gì… Ai muốn mất chỗ bở. Cứ nhìn thân thể bọn tù binh thì biết họ được quân cảnh gác tù cho ăn uống đầy đủ hay bị bỏ đói? Cũng từ cái gian xảo của bọn cán bộ Việt Cộng nên mới lộ ra sự thật. Như tôi đã kể can nãy, trước lúc được thả, đại diện bọn Việt Cộng trong uỷ ban quân sự bốn bên khi đến thăm trại tù binh Phú Quốc đã ngầm ra chỉ thị cho bọn tù đảng uỷ rồi nên khi vừa xuống khỏi máy bay C130 hay xe nhà binh GMC ở địa điểm trao trả, bọn tù binh sau tiếng hô của một gã đảng uỷ nào đó đã đồng loạt quẳng đôi dép đi, cởi bỏ bộ quần áo đang mặc trên người cùng vất túi quà tặng phẩm. Thâm ý của chúng muốn dựa vào hình ảnh tù binh Việt Cộng trần xì tà lỏn, đi chân không để vu vạ cho chính phủ miền Nam VNCH đối xử tệ bạc nhưng không ngờ lại để lộ ra hình ảnh thân thể vạm vỡ, mạnh khoẻ của người tù. Ngậm máu phun người trước đỏ miệng mình. Đến nơi trao trả, tên nào tên nấy chạy nhanh như bị ma đuổi “.

– Nghe bảo ở địa điểm trao trả, có tù binh Việt Cộng xin ở lại với chính phủ mình, phải không anh? Trong các chuyến trao trả đó, chắc anh cũng có mặt. Ông già nhất hỏi.

Ông quân nhân gật đầu, trả lời:

– Tôi có tháp tùng theo một chuyến thôi còn sau đó thì đến phiên người khác nhưng những sự việc tôi biết là do các anh em trong đơn vị kể lại. Nói đến đây thì ông quân nhân ngưng lời, hắng giọng như sắp sửa sẽ phải kể một hơi dài và đưa mắt nhìn cả ba người trong bàn, tiếp: ” Riêng anh giáo thì tôi không nói làm gì vì anh đã biết cả nhưng với hai cậu trẻ này thì cần phải nghe để hiểu sự thật. Trong những lần trao trả tù binh ở Lộc Ninh hay ở bờ sông Thạch Hãn. Chuyến nào cũng có tù binh Việt Cộng xin ở lại với chính phủ miền Nam VNCH mình. Ở lại đây là hồi chánh tại chỗ, là không muốn về với phía Việt Cộng nữa. Lúc thì một người, lúc thì vài người hoặc đông nhất cả một tập thể đến hơn trăm tù binh… xin ở lại. Nếu chính phủ mình không đồng ý tiếp nhận họ thì họ tự sát còn hơn là về với Việt Cộng. Họ nói vậy đấy. Có người thủ sẵn giấy xin hồi chánh trong người từ trước và đợi đến lúc đó mới xuỳ ra. Trong khi phía tù binh miền Nam VNCH mình thì không có ai xin ở lại với bọn Việt Cộng mà còn có người bị chúng ỉm đi không trao trả cho nữa. Sau vụ một người xin ở lại thì các chuyến kế tiếp, bọn tù binh Việt Cộng khi vừa đến nơi trao trả, chúng cứ ba người choàng tay với nhau thật chặt tiếng là để dìu nhau đi vì quá yếu sức nhưng thực tế là người này kềm người kia không cho chạy thoát. Vậy mà vẫn có người vùng chạy ra được nhưng phải vọt nhanh đến với phái đoàn kiểm tra quốc tế thì mới ổn. Người lớ ngớ chạy chậm mà đám cán bộ đi nhận người chận được thì sẽ bị đồng bọn xúm lại đánh hội đồng tơi bời, thê thảm máu me đầy mặt rồi bị kéo đi mất trước sự bất lực của đại diện phe bên mình “.

– Bên mình trao trả cho phía Việt Cộng bao nhiêu người và nhận lại bao nhiêu người… Thời gian bao nhiêu lâu mới xong? Còn anh nói có vụ bọn chúng ỉm người đi, không trao trả là sao? Ông giáo cất lời hỏi.

Nghe câu hỏi của ông già nhất, ông quân nhân ngồi yên lặng như đang lục lại ký ức cũ của mình. Một thoáng trôi qua, ông nói:

– Anh giáo hỏi vậy thì tôi chỉ biết thời gian gói gọn trong 60 ngày thôi… Tôi không rõ là ngày đầu tiên khi nào cũng như ngày cuối cùng của việc trao trả. Thật ra thì thời gian và con số bao nhiêu người đã được các bên liên quan thảo luận và chấp nhận ở các buổi họp từ trước rồi. Là một quân nhân coi tù khi đó thì tôi chỉ làm nhiệm vụ đi theo áp tải việc thực hiện trao trả thôi. Con số thì nói gọn là phe mình trao trả cho bọn Việt Cộng gần 27.000 người để nhận lại khoảng 5000 người. Chênh lệch quá mà mình cũng chẳng làm gì hơn được cũng từ sự dối trá lươn lẹo của bọn Việt Cộng và sự phủi tay của người Mỹ. Nói ra điều này thì chắc có người không tin chứ có một lần tại bờ sông Thạch Hãn, phía miền Nam VNCH trao trả 1200 tù binh Việt Cộng để chỉ nhận lại có 3 người tù phe mình mà mấy người này lại phải khiêng bằng cáng băng ca khi đưa xuống ghe.

– Lấy 3 người đổi với 1200 người. Thật tui mới nghe lần đầu. Cậu trẻ nhất thốt lên.

Ông quân nhân gật đầu, tiếp:

– Vậy! Nhưng đó là sự thật. Còn nói người Mỹ phủi tay là vì sau khi họ nhận về gần 600 tù binh ở phi trường Gia Lâm mà đa số là phi công rớt máy bay ngoài miền Bắc thì coi như đã xong chuyện tại Việt Nam nên họ cũng không làm hết trách nhiệm của một đồng minh chủ chốt với phe mình. Những tù binh mình bị bắt bên chiến trường Hạ Lào, ở các trận đánh tại Kampuchia thì phía Việt Cộng ỉm đi đâu có chịu trao trả. Mình phản đối việc đó thì bọn chúng nói để liên lạc với bọn Pathet Lào, Khmer Đỏ và sẽ can thiệp giúp đỡ trong cái tình người Việt giữa người Việt với nhau. Chắc anh giáo còn nhớ vụ ông đại tá Lữ đoàn trưởng dù Nguyễn Văn Thọ bị bắt năm xưa do chính Hà Nội đã rêu rao trên đài phát thanh mà chúng vẫn lì mặt, chối là không biết… Rồi còn cả những tù binh biệt kích Delta, Lôi Vũ nhẩy toán ra Bắc hoạt động thời cụ Ngô Đình Diệm nữa. Chúng bắt được những biệt kích quân này và cũng đưa họ lên báo lên đài phát thanh gọi là tố cáo trước nhân dân bọn Nguỵ xâm nhập, phá hoại mà rồi vẫn chối không có. Thật tội nghiệp cho những người này và cả gia đình họ. Không biết bây giờ số phần họ ra sao? Đã được tha tù chưa hay chết mất xác trong xó xỉnh nào đó ở vùng rừng núi ngoài miền Bắc rồi.

– Anh nói đến số phần làm tôi tự dưng nghĩ không biết đám tù binh Việt Cộng khi được phía mình trao trả thì số phận họ rồi sẽ ra sao? Ông già nhất ưu tư.

– Sẽ khổ lắm anh giáo… Chắc chắn là vậy mà họ chẳng tránh được đâu. Ông quân nhân chắt lưỡi tiếp: ” Trước khi được trao trả, có những tù binh đã kín đáo bộc bạch với cá nhân tôi về việc họ sẽ phải tiếp tục ở tù sau khi được thả từ trại giam Phú Quốc. Lúc đầu tôi không hiểu sau hỏi kỹ lại thì mới rõ chuyện. Những người tù này cho biết phía Việt Cộng đã làm xong một trại tù rất lớn ở vùng Sầm Sơn-Thanh Hoá rồi. Tại sao họ biết tin này? Cũng chính từ những nhân viên phía Việt Cộng trong Uỷ ban quân sự bốn bên khi đi thăm tù nhân đã tiết lộ cho biết trước. Tất  nhiên đám cán bộ này nói đó là trại an dưỡng, tẩm bổ thân xác tù binh khi được đón về từ tay giặc Nguỵ… nhưng mấy tù binh nói chuyện với tôi thì bảo đó chỉ là trại giam trá hình thôi và họ biết khi được nhận về, sẽ phải vào đó để cải tạo tư tưởng mà lần này, bọn coi tù sẽ là các đồng chí phe mình. Thể nào mà chẳng có vụ kiểm thảo, phê bình, tố cáo lẫn nhau để lập công và tránh tội đã có trong thời gian ở tù tại Phú Quốc. Khổ đó nha, chết người chứ chẳng chơi “.

– Chú ơi! Họ biết vậy mà sao lại không xin hồi chánh ngay lại phải đợi đến khi trao trả mới quyết định? Anh bộ đội vọt miệng hỏi.

– Sau này khi trại giam Phú Quốc sạch bóng tù binh rồi thì ngồi kiểm lại sự việc, mấy ông thầy trong đơn vị tôi bảo là đa số tù binh xin hồi chánh đều thuộc dân miền Nam và thật hiếm hoi mới có một cán binh miền Bắc xin ở lại. Tại sao vậy? Không phải đề cao tinh thần chiến đấu của họ đâu nếu như đặt hoàn cảnh mình là họ thì sẽ phải quyết định như thế nào giữa việc chọn ở lại miền Nam hay quay về miền Bắc để gặp mặt thân nhân sau bao ngày tù đày. Cán binh miền Bắc gần như là dân quê thì hỏi ai không nặng tình quê hương, tình gia đình trong lòng. Bị bắt ở mặt trận rồi khi sống tại trại giam Phú Quốc thì ít nhiều họ cũng biết về xã hội của miền Nam VNCH rồi đối chiếu với xã hội miền Bắc, nó kém xa. Muốn ở lại nhưng cũng muốn gặp mặt thân nhân rồi nỗi lo thân nhân nơi quê nhà sẽ gánh hậu quả từ việc hối chánh của mình mà nhiều tù binh đành phải dấu kín các ưu tư của bản thân với bạn đồng tù chung quanh. Được trao trả mà nhiều mặt anh tù binh lộ rõ vẻ buồn lẫn lo lắng thật khác với khuôn mặt rạng rỡ của tù binh miền Nam VNCH khi được phe ta đón về. Ông quân nhân nói.

Ông già nhất thêm lời:

– Như anh kể, thì tôi nghĩ tù binh Việt Cộng trong trại giam Phú Quốc còn thanh toán nhau được thì nếu ở trong cái trại cải tạo của chính bọn chúng, chúng sẽ lần lượt thịt nhau cho đến chết mà thôi. Bọn Việt Cộng ngoài miệng nói chuyện lúc nào cũng một lòng một dạ, cùng đồng tâm chí hướng nhưng trong thực tế chúng nghi ngờ chẳng tin ai hết. Cái tổ tam tam chế ta thường thấy trong các đơn vị của chúng là để tên này kèm hai thằng kia rồi cả ba đứa âm thầm báo cáo cho cán bộ chỉ huy bất cứ cái gì chúng đã nghe được, thấy được của nhau.

– Sống gần tụi tù binh Việt Cộng lâu ngày thì tôi nghiệm ra điều này anh giáo: Khi nào mình nghe tụi nó nói chuyện với nhau bằng câu cậu cậu, tớ tớ là bình yên, không có gì đáng lo. Còn khi ta nghe xưng hô với nhau bằng câu đồng chí, đồng chí thì thôi, cầm chắc chúng chuẩn bị đưa nhau lên bàn mổ đó. Hà hà! Ông quân nhân cười khá to sau câu nói.

– Lúc nãy chú kể là phía miền Nam VNCH trao trả tới gần 27.000 tù binh vậy thì cái trại an dưỡng ở Thanh Hoá, tui nghĩ chỗ đó phải rộng lắm mới chứa hết được bằng đấy người. Cậu trẻ nhất nói.

– Cháu nói đúng. Như chú đã kể rồi, trại giam tù binh ở Phú Quốc thời trước đã rộng tới cả 400 mẫu tây mà nay tất cả tù binh Việt Cộng hoặc tù chính trị Việt Cộng của tất cả các trại giam khắp 44 tỉnh thành ở miền Nam VNCH đem dồn về một chỗ thì nó phải rộng lắm, rộng lắm. Ông quân nhân vừa nói vừa khoa tay qua lại nhau.

Anh bộ đội gật đầu, đồng tình:

– Rộng lắm! Nhớ lần cháu vào thăm thằng bạn đóng quân trong Trung đoàn Gia Định ở trại Quang Trung cũ đã thấy chỉ có vài ngàn bộ đội thôi mà chỗ nó ở đã rộng khiếp. Đây lại tới cả mấy chục ngàn người kể cả quản giáo nữa.

– Nói như bác với chú đây thì sao bọn Việt Cộng lại ác quá vậy. Anh trẻ nhất hỏi.

– Tôi đã nói rồi, đó là sách lược của chúng. Việt Cộng luôn làm điều ác công khai để nhằm doạ dân thấy mà sợ rồi vì sợ nên đành phải im thin thít nghe theo lời chúng. Hai cậu còn trẻ tuổi nên không biết các chuyện ghê rợn Việt Cộng đã làm đâu. Khi Việt Cộng quyết định giết người nào, thay vì bắn người ấy một phát đạn cho xong đời thì không, chúng lại chặt nạn nhân làm ba khúc, để nằm vương vãi trên mặt đất bất kể kẻ đó là đàn ông, đàn bà hay con gái trẻ tuổi. Giữa việc dùng mã tấu chém và cầm súng bắn vào thân người thì việc nào dễ làm hơn và việc nào sẽ tạo ra hình ảnh ghê rợn hơn, hai cậu cứ nghĩ đi. Ba khúc thân người nằm đó, sáng ra người dân đi qua có trông thấy ai mà không khiếp vía. Thân nhân ở gần có trông thấy cũng chẳng dám ra dọn xác nạn nhân về chôn vì bọn nằm vùng chưa cho phép. Có khi, xác rữa nát không ai nhận thì lính miền Nam VNCH phải ra tay mới êm. Miệt vườn, dân quê theo Việt Cộng cũng vì lý do sợ chúng mà phải theo chứ tâm hồn dân quê thường chất phác, bằng lòng với cuộc sống ruộng vườn thì hơi đâu mà họ suy nghĩ đến ba cái vụ như bóc lột, đấu tranh giai cấp, lý tưởng lý tiếc gì… Việt Cộng bịa ra hết và nhồi vào đầu dân quê cả thôi. Ông già nhất nói.

– Anh giáo kể cho hai cậu này mấy chuyện Việt Cộng hành hình dân lành vùng quê đó hả? Ông quân nhân hỏi.

– Đúng! Việt Cộng làm cái gì chúng cũng tính toán với nhau trước kể cả giết người mà chúng gọi là họp đảng uỷ. Một tính toán lạnh lùng, bất nhân, vô cảm của loài thú dữ. Chúng đã từng trói tay bao nhiêu nạn nhân rồi bỏ người đó vào bao bố, rọ lợn và nhét đầy đá xong đem ném xuống sông như đã làm với nhà văn Khái Hưng, Lan Khai nè. Có khi lại mổ bụng nạn nhân còn sống rồi nhét trấu vào trước mặt bao nhiêu người đứng xem chung quanh như lúc hành hình ông cả Điệp, hương quản Bụng… ở dưới miền Tây năm xưa. Việt Cộng không coi người thuộc phía đối phương ra cái đinh gì cả khi đã xác định lập trường là kẻ thù hoặc là bạn mà không đếm xỉa đến tình cảnh của nạn nhân như người đó có một mái ấm gia đình, cha mẹ già phải phụng dưỡng, con cái nhỏ cần nuôi nấng. Chỉ biết có lệnh giết là giết… là giết thôi. Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ. Câu thơ của một thi sĩ Việt Cộng đấy. Có vậy mình mới hiểu tại sao đám cán binh Việt Cộng có thể bình thản bắn thẳng vào dòng người bỏ chạy trên các quốc lộ ở các vùng xẩy ra chiến sự. Chính phủ miền Nam VNCH mình thì lại khác. Người là người chứ không phải con vật mà ngay cả với con vật như chó, mèo thì mình cũng còn đối xử cách nhân ái kia mà. Mạng người là quý nhất nên phải trân trọng dù xuất thân của cá nhân đó không ra gì. Bởi vậy, chính phủ miền Nam VNCH mới lập ra nguyên cả một cái bộ Chiêu hồi dành cho cán binh, bộ đội, tù binh Việt Cộng muốn xin hồi chánh.

Nghe ông già nhất nói thế, ông quân nhân cất lời:

– Ồ! Anh giáo nói ra thì tôi mới nhớ, cái bộ Chiêu Hồi đó đã giúp cho nhiều người làm lại cuộc đời lắm. Nói đâu xa, riêng trại tù binh Phú Quốc không thôi, không kể mấy vụ hồi chánh tại chỗ trong các buổi trao trả, tính ra từ khi lập trại giam cho đến trước ngày thi hành Hiệp định Ba Lê thì đã có trên 10.000 tù binh ở đó xin hồi chánh với chính phủ miền Nam VNCH mình.

– Nhiều người dữ vậy chú, tui thật không ngờ. Anh trẻ nhất nói.

– Con số đó chưa thấm vào đâu so với tổng số tù binh Việt Cộng đã hồi chánh trong thời còn chiến tranh hai miền khi đó đã lên tới trên 200.000 ngàn người lận. Nói thì nói nhưng tôi vẫn thắc mắc không biết sau khi bọn Việt Cộng vào được Sài Gòn rồi thì số phận những người hồi chánh này đã ra sao nữa? Việt Cộng đã làm gì với họ hả anh giáo, anh biết gì không? Ông quân nhân hỏi.

– Có những hồi chánh viên rất nổi tiếng như nhà văn Xuân Vũ, ca sĩ Bùi Thiện, thượng tá Tám Hà… thì những người này kịp thời di tản trong dịp 30 tháng Tư năm đó nên thoát nạn. Hai cậu trẻ này chắc không biết mấy nhân vật tôi vừa nói đâu. Thôi sẵn dịp để tôi nói luôn cho biết. Xuân Vũ là tác giả quyển Đường Đi Không Đến kể chuyện đám Việt Cộng tập kết ra Bắc năm xưa rồi sau này hồi kết về miền Nam bằng cách đi bộ băng qua  vùng rừng núi Trường Sơn. Bùi Thiện là ca sĩ của đoàn văn công trung ương Hà Nội còn thượng tá Tám Hà là phó chính uỷ phân khu 1 dịp tết Mậu Thân năm 1968. Hồi chánh viên ở lại trong nước khi đó thì gần như 100% phải thu xếp hành lý đi tù cải tạo như các sĩ quan, viên chức của chính phủ miền Nam VNCH mình. Ông già nhất nói đến đây thì yên lặng như đang nghĩ về những người cũ trong câu chuyện và rồi tiếp lời ngay: ” Lúc còn bán sách cũ ở phố Calmet, tôi đã nghe mấy người chủ sạp hàng ở đó xì xào về cái tin trung tá hồi chánh viên Huỳnh Cự bị kẹt lại, phải bị tù cải tạo cả 7, 8 năm trời mới được tha về. Về nhà chưa được bao lâu thì ông này lại chết trong một vụ đụng xe mà ai cũng nói do đám thủ ác Việt Cộng dàn dựng sẵn cách nhà không xa. Nghe kể, ông Cự này cũng biết thân biết phận mình nên chẳng dám đi đâu ra ngoài vậy mà, cho đến ngày Tết ta, ông ta tưởng sẽ yên mới dám ló mặt. Nào ngờ, ra được đầu ngõ thì có chiếc ô tô từ xa phóng đến tông thẳng vào làm ông ngã lăn quay ngay trên mặt đường. Gã tài xế chiếc ô tô lui xe lại thật nhanh và chạy tới cán thêm lên người ông ta lần nữa để chắc ăn trước khi y cho xe vọt mất. Công an có đến lập biên bản rồi sau bảo vì không có tung tích chiếc xe gây nạn nên từ từ nội vụ chìm luôn. Ác và thê thảm quá nhưng theo tôi có lẽ phải dành cho số phận của liệt sĩ Nguyễn Văn Bé kìa “.

– Nguyễn Văn Bé! Phải anh nói đến Nguyễn Văn Bé mà Hà Nội từng phong là liệt sĩ trong vụ đập mìn vào thân thiết vận xa M 113 diệt trên 60 lính Mỹ và Nguỵ đứng vây chung quanh đó không? Ông quân nhân  hỏi dồn.

– Đó đa anh! Ông già nhất tiếp thêm: ” Tay Nguyễn Văn Bé này ra hồi chánh rồi mà không hiểu sao bọn Hà Nội lại đưa tin về vụ tự sát đập mìn rồi phong cho anh ta là liệt sĩ. Hà Nội còn cho in một con tem dán thư vẽ cảnh đập mìn bá vơ đó nữa… Hình như có cả vụ dựng tượng cho tay Bé này mà khi ấy ở miền Nam VNCH, anh ta đang làm việc trong bộ Chiêu Hồi. Vài ngày sau khi Việt Cộng chiếm được Sài Gòn, có người kể đã gặp Nguyễn Văn Bé tại bến phà Rạch Miễu trong một chiều sâm sẩm tối mà rồi tay hồi chánh viên này ra sao thì không ai biết. Ngay cả với gia đình anh ta cố công đi tìm mà không ra. Mấy sĩ quan miền Nam VNCH khi ở tù cải tạo kể lại họ đã nghe một quản giáo Việt Cộng nói úp úp mở mở lúc thì đảng và nhà nước ta đã giải quyết xong câu chuyện Nguyễn Văn Bé rồi sau đó lại nói biết chỗ Nguyễn Văn Bé bị giam. Cứ lấy lý mà suy theo cái tin này thì mình nghĩ bọn Việt Cộng bắt được Nguyễn Văn Bé và sau đó đã giết chết anh ta để mất béng đi câu chuyện đã phong liệt sĩ đập mìn giết giặc năm xưa. Kể cũng đáng thương cho số phận của một người tự dưng thành liệt sĩ bất đắc dĩ. Việt Cộng đã tạo ra nhân vật liệt sĩ Nguyễn Văn Bé và rồi cũng chính bọn chúng đã cho bốc hơi người này luôn “.

traotratubinh4_zpsv3mgbmov

Tù binh miền Bắc mặt buồn so, lo lắng ở địa điểm trao trả bên bờ sông Thạch Hãn.

 

– Cháu nghe kể phía chính quyền thời đó định ém một số tù binh nhưng bị phía miền Bắc phản đối quá nên phải trao trả hết. Đúng không chú? Anh bộ đội hỏi ông quân nhân.

– Nãy giờ tôi chờ câu hỏi này của cậu. Ông quân nhân cười và tiếp: ” Tôi đã trả lời câu này nhiều lần rồi cho những người y như cậu đấy. Đây! Chính quyền miền Nam VNCH không muốn duy trì cái trại giam tù binh Phú Quốc đâu. Chẳng qua hoàn cảnh chiến tranh thì phải vậy thôi. Tại sao? Như tôi đã kể rồi. Duy trì một trại giam cả mấy chục ngàn tù binh cộng thêm 4 tiểu đoàn quân cảnh canh gác thì nó sẽ ngốn vào ngân sách của chính quyền bao nhiêu tiền. Dưới sự theo dõi thường xuyên của bọn Mỹ, bọn nhà báo thiên tả nước ngoài, bọn trí thức phá rối ở Sài Gòn còn thêm tổ chức Hồng thập Tự nữa thì làm sao mà có vụ tù binh phải ăn thức ăn tồi tệ, mặc quần áo rách nát, ốm đau không có thuốc chữa bệnh… Riêng gạo không thôi, mức ấn định đầu người 700 gram một ngày thì cậu cứ tính thử sẽ biết số lượng cần dùng. Nói ra thì ít ai tin chứ tù binh có nhiều tên ăn in ít đi vì sợ mập. Ăn ở không, thực phẩm đầy đủ nếu không kiêng khem thì cơ thể béo ra có gì lạ. Nhưng để thân thể mập béo trong trại tù binh Nguỵ là điều tố cáo người cán binh đó đã đầu hàng giặc, chỉ biết ăn và ăn trong khi bao nhiêu đồng chí ngoài mặt trận phải chịu đói khát trong chiến đấu. Bọn đảng uỷ trong nhà giam nói vậy đấy. Rồi vì thức ăn bỏ thừa nhiều, nhà thầu lấy về đem nuôi heo thì chúng vịn vào đó tuyên truyền quân cảnh ăn bớt khẩu phần của tù binh. Có những đợt cấp phát hàng hoá mới cho tù vừa nhập trại như chiếu, mùng, mền đắp… còn tốt hơn cả so với thứ mà lính quân cảnh chúng tôi đang dùng. Nếu không có trại tù này thì chính phù mình thời đó có thêm tiền để chi dùng vào việc khác nên ai thèm ém giữ tù binh lại làm gì. Bọn Việt Cộng cũng biết điều đó nên thực tế chúng cũng không muốn nhận đám tù binh về đâu. Nghe kỳ quá hả. Còn trại tù binh Phú Quốc thì chính phủ mình vừa hao tốn ngân sách, mất 4 tiểu đoàn lính bận việc canh gác tù thay vì chiến đấu ngoài mặt trận mà chúng còn có chỗ để tuyên truyền ngược đãi tù binh, vi phạm công ước Geneva. Bị nhốt tù lâu ngày, tiếp xúc với binh lính miền Nam VNCH thì tinh thần tù binh đã ít nhiều thay đổi vì các sự thật hiển hiện trước mắt khác với những gì họ đã nghe được khi xưa. Nhận trao trả về một lúc cả hàng ngàn tù binh như vậy, nó sẽ gây xáo trộn tinh thần các cán binh khác nếu như bọn Việt Cộng bổ sung họ vào chung hàng ngũ các đơn vị bộ đội. Còn cho giải ngũ tập thể thì cũng kẹt vì những tù binh này về lại quê nhà sẽ gặp gỡ thân nhân, bè bạn cùng hàng xóm trong giao tiếp. Họ sẽ kể chuyện đã thấy khi ở tù trong miền Nam và đó là điều mà Hà Nội đã phải làm cấp tốc cho xong cái trại ở Sầm Sơn-Thanh Hoá để chờ sẵn “.

– Cháu hiểu rồi. Vậy là tù binh được trao trả hết… không có ém giữ ai lại. Anh bộ đội lắp bắp miệng.

– Đúng! Giữ họ lại để làm mắm à! Trại giam trống không, 4 tiểu đoàn quân cảnh tụi tôi phải rời đảo Phú Quốc về lại đất liền và bổ sung cho quân số đang thiếu hụt của các đơn vị bộ binh ở các vùng chiến thuật khi đó. Cũng có người vừa đến hạn giải ngũ thì xin ở lại Phú Quốc luôn. Cậu cứ nghĩ xem, nếu quân cảnh mà xử tệ bạc với đám tù binh như lời tuyên truyền thì mấy người đó phải cao chạy xa bay khỏi hòn đảo chứ. Ông quân nhân dứt lời, với tay lấy ra điếu thuốc mới sau câu nói và mồi lửa hít một hơi ngon lành. Một khoảnh khắc yên lặng trôi qua như chợt nhớ ra điều gì đó, ông quân nhân đưa mắt nhìn ông già nhất, giọng đùa:

– Phần của tôi xong rồi. Bây giờ đến phiên ai kể chuyện đây?

– Anh bảo tôi chứ gì nhưng tự nhiên bây giờ mình lại… quên mất câu chuyện định kể đây. Không biết làm sao nữa. Hay là thế này, cho tôi qua phà nha, được không? Ông già nhất hỏi.

Đâu được! Phải kể chuyện mình chứ… Nghe chuyện người khác thì bác phải kể chuyện mình ra. Hai cậu trẻ tuổi cùng thốt lên.

Ông già nhất nhắm khẽ đôi mắt lại. Anh bộ đội và anh trẻ tuổi nhất nhìn nhau rồi định nói điều gì đó thì ông quân nhân khẽ phát tay ra hiệu cản lại như bảo phải chờ, đừng gấp gáp. Một thoáng qua đi, ông già nhất mở mắt nhìn cả ba người họ, cười:

– Phải kể chuyện mình chứ. Muốn người khác làm điều công bằng với mình thì mình phải đối xử công bằng với họ. Nãy thì tôi quên nhưng bây giờ lại nhớ ra chuyện để kể rồi. Khổ thế đó, dấu hiệu gì đây? Mình đã già rồi, phải không?

Nghe ông già nhất nói vậy, anh trẻ nhất reo lên, vỗ tay khe khẽ vào vai anh bộ đội:

– Bác nhớ ra được là hay quá, kể ngay cho những đứa như tui và anh đây biết chuyện cũ như chú quân cảnh vừa rồi đó. Tui đã là người kể đầu tiên thì bây giờ bác là người bao chót, phải không? Bác kể đi… đặng nhóm mình còn về barrack ngủ chứ, sắp giới nghiêm rồi đó.

Giới nghiêm! Chính là giờ mà phòng an ninh P3V tại trại tị nạn quy định trong mỗi buổi tối. Khi nghe tiếng còi hụ lên từ các loa phóng thanh thì thuyền nhân phải trở về phòng của mình để ngủ, không ai được đi léng phéng hay tiếp tục la cà ngoài đường nữa và thường thì 11 giờ khuya là giới nghiêm nhưng vào những ngày lễ Tết hoặc dịp quốc khánh Indonesia, tiếng còi hụ sẽ trễ hơn vài giờ đồng hồ.

– Tôi biết chứ! Cậu đừng nhắc. Sở dĩ tôi hơi… chậm là vì ban nãy mải nghe bài hát Giáng sinh trên ti vi để nhớ lại chuyện sắp kể ra đây này.

– Bài hát Giáng sinh nào vậy? Anh giáo nói mà tôi không hiểu. Ông quân nhân ngạc nhiên.

– Từ từ! Ông già nhất giơ một cánh tay như muốn chận lời ông quân nhân rồi ông ta khẽ hắng giọng và tiếp: ” Vài hôm nữa sẽ đến ngày lễ Giáng sinh và như khởi đầu của buổi kể chuyện hôm nay, tôi bảo vì mình nhớ nhà nên ai có kỷ niệm hoặc có câu chuyện gì liên quan đến ngày lễ Giáng sinh thì hãy kể ra cho mọi người trong nhóm chúng ta cùng nghe, mong rằng sẽ bớt buồn và thử xem câu chuyện của người nào hay nhất. Phải không nào? “.

– Phải đó! Phải đó đa! Hai cậu trẻ nhất cùng thốt lên một câu còn ông quân nhân thì gật gù cái đầu, khẽ khàng: ” Nhưng anh giáo chưa kể chuyện anh mà “.

Ông già nhất khẽ hít một hơi thuốc lá rồi đảo mắt nhìn cả ba người trước mặt và bắt đầu kể sau làn khói trắng:

– Đúng! Thì đây. Năm nào cũng vậy, cứ đến dịp lễ Giáng sinh đạo Chúa thì dù muốn hay không muốn, trong ký ức của tôi vẫn nhớ lại câu chuyện của ngày hôm đó. Tôi không biết phải khởi đầu câu chuyện từ đoạn nào đây? Thôi thì như vầy. Năm 1971 vào mùa hè, học sinh ở các trường trung-tiểu học đã nghỉ hết cả và đang chờ khai trường cho niên khoá mới. Gần hết mùa nghỉ hè thì tôi và vài thầy cô khác trong trường nhận được lệnh đi dự buổi họp của Sở Giáo Dục tổ chức. Họp cũng chỉ bàn về việc chuẩn bị việc giảng dạy cho niên học mới. Tan họp thì do thấy trời còn sớm, tôi mới chạy vào nội đô Sài Gòn rồi gửi xe đi lòng vòng đây đó. Ghé nhà sách Khai Trí mua được vài quyển rồi lúc quay ra ngoài, tôi định bụng thử đến tiệm Xuân Thu xem coi có kiếm được thêm các sách mới xuất bản không. Khi băng qua ngã tư Nguyễn Huệ-Lê Lợi thì gặp lại cậu em họ của tôi cũng đang từ hướng đường đối diện phía bên kia đi tới. Gọi là anh em bà con trong họ hàng nhưng thực tế thì giữa tôi và cậu em này, ngay từ hồi còn nhỏ xíu ngoài Bắc rồi khi di cư vào Nam có gặp mặt nhau lần nào đâu. Chỉ mới trước đó vài tháng, nhân lần đi ăn cỗ cưới của một gia đình người thân trong họ tận trên vùng Thủ Đức thì mới gặp cậu em này do tình cờ ngồi chung một bàn với nhau và vì vậy mới biết cậu đi làm cho USAID, một cơ quan chuyên về viện trợ của Mỹ tại miền Nam VNCH. Cậu ta lại đi chung với 2 người Mỹ khác nên giới thiệu họ với tôi rồi thấy đứng trò chuyện giữa đường không tiện, mời đi cà phê ở một cái quán gần đó, quán Givral… ai ở Sài Gòn cũng biết chỗ này. Hết chầu nước thì cả nhóm lại thả bộ vào hành lang Eden ghé mắt xem tiệm này, vào thăm quán hàng kia một chút rồi thì chia tay. Lúc đó, một trong hai người Mỹ ngỏ ý muốn chụp vài tấm ảnh làm kỷ niệm cho buổi gặp mặt nên tôi và cậu em đồng ý. Cả bốn người chúng tôi đứng chung với nhau trước cửa ra ở hướng bên đường Tự Do đối diện với rạp cine Rex, ngó xeo xéo qua Toà Đô Chánh và nhờ một tay chụp hình dạo lảng vảng gần đó bấm máy hộ. Cái máy chụp ảnh đó là loại máy chụp hình lấy liền chỉ sau vài phút chờ và là ảnh màu. Thế mới hay! Lý do có vụ chụp ảnh kỷ niệm, tôi nghĩ bởi lúc ngồi trong quán Givral, cậu em đã giới thiệu với 2 người Mỹ tôi là giáo sư dạy các trường đại học tại Sài Gòn. Buổi hôm đó vì tôi vừa đi họp Sở về, quần áo vest bảnh bao, thắt caravat cùng giầy vớ cẩn thận thêm mấy quyển sách cầm trên tay nữa… đã làm mình có cái vẻ giáo sư đại học chứ sự thực, mình chỉ dạy làng nhàng ở các lớp trung học thôi. Trình của mình làm sao với tới bậc đại học được. Không biết tay người Mỹ đó chụp mấy kiểu nhưng khi lấy ra được ảnh thì cho hai anh em tôi mỗi người một tấm. Đưa ảnh xong thì 2 người Mỹ đó bỏ đi. Họ đi rồi, tôi hỏi ra mới biết là nhân viên của thư viện Abraham Licoln nằm ở góc đường Lê Lợi-Nguyễn Huệ cũng gần đó, không xa. Hai anh em tôi hỏi thăm nhau về công việc đang làm, tin tức vài người bà con thân thuộc… rồi thì cũng chia tay, đường ai nấy đi.

– Abrham Lincoln là ông tổng thống Mỹ bị ám sát chết đó phải không bác. Cậu trẻ nhất hỏi.

Ông già nhất gật đầu, nói:

– Đúng vậy! Abraham Lincoln là vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ trong thời nội chiến giữa hai miền Nam-Bắc khi còn vụ nô lệ người da đen gốc Phi châu. Nghe bảo ông ta bị ám sát chết khi đang ngồi xem kịch tại một hí viện. Thư viện Abraham Lincoln này có rất nhiều sách báo Anh ngữ và nơi đây cũng là toà soạn của tạp chí Thế Giới Tự Do nổi tiếng. Cậu em họ của tôi làm việc cho cơ quan USAID mà không hiểu sao lại có bạn Mỹ là nhân viên của thư viện đó vì hai cơ quan này đâu có dính dáng gì đến nhau? Lúc đó tôi thắc mắc như vậy và rồi cũng quên đi ngay. Mãi cho đến những ngày cuối tháng 4 năm 1975 thì tôi mới gặp lại cậu em họ này. Hôm đó, tôi đi dạy học lớp buổi sáng ở trường về nhà thì thấy cậu ta đã ngồi chờ sẵn từ trước. Anh em gặp lại nhau rất mừng, tôi không ngờ lại biết nhà tôi nữa, đang định hỏi thì cậu nói ngay: ” Anh còn tâm trí để dạy học được nữa sao? Phải tìm mọi cách mà dọt ngay vì sớm muộn gì, bọn Việt Cộng cũng sẽ chiếm thủ đô Sài Gòn này “. Tình hình khi đó ở thủ đô Sài Gòn hỗn loạn lắm vì rất đông nạn nhân chiến cuộc từ ngoài miền Trung đổ về sống tạm cư lây lất đầy trong các sân vận động, trong chùa và cả nhà thờ nữa… Rồi còn lính mình nữa… Họ đi nghễu nghện ở ngoài đường với quân phục tơi tả của các binh chủng tan hàng từ các tỉnh đổ về và đang chờ bổ sung quân số cho đơn vị mới. Dù cậu em không nói ra thì bản thân tôi cũng biết phải chạy ra ngoại quốc ngay vì phe ta đã bị người Mỹ bỏ rơi rồi. Mất nước tới nơi nhưng mà xuất cảnh bằng cách nào đây? Bằng đường biển thì con đường duy nhất để ra Vũng Tàu là quốc lộ 51 đã bị Việt Cộng cắt ngang do chúng chiếm được vùng Nhơn Trạch. Đi bằng máy bay thì gia đình tôi không đủ tiền mua vé và cũng chẳng có sổ passport gì cả. Ngay tại Sài Gòn đây, tôi muốn chạy xe vào bến cảng hải quân ở Bạch Đằng để xem coi có thể đi ké được chiếc tàu hàng nào không mà cũng không thể. Lính canh gác đã rào kín hết các cổng trong tình trạng giới nghiêm nội bất xuất-ngoại bất nhập. Tôi nói thật với cậu ta: ” Anh nghe tin, đọc báo biết các việc đó nhưng chẳng thể làm gì được nên cứ đành tiếp tục đến trường dạy học, chờ xem thế sự ra sao. Cậu đến nhà, anh vui quá, giúp cho gia đình anh di tản ra ngoại quốc nha “.

– Cái máy ảnh anh kể đó là loại Polaroid chụp lấy liền hình mầu chỉ trong vài phút. Tôi đã thấy đám phóng viên ngoại quốc dùng loại máy chụp ảnh này khi họ đến trại tù binh Phú Quốc và ở các buổi trao trả tại phi trường Lộc Ninh. Máy này mắc tiền đó đa anh giáo. Hãng Polaroid đánh đúng vào ý thích của khách hàng là khi chụp ảnh xong thì đều muốn coi được ngay tấm hình đó nhưng nó có một bất tiện là không có phim âm bản nên nếu chụp tấm nào, chỉ có tấm đó thôi và không thể rửa thêm lần thứ hai thứ ba được. Ông quân nhân góp lời.

Ông già nhất khẽ gật đầu như thừa nhận lời vừa nói của ông quân nhân và tiếp:

– Như vừa kể tôi rất muốn gặp lại cậu em này mà chẳng biết chỗ cậu sống ở đâu. Sau lần gặp cậu ta với 2 người Mỹ đó đến nay cả mấy năm rồi còn gì. Gặp là để mong cậu từng có thời gian làm việc với họ thì may ra có thể tìm được cách để mình níu theo mà đi nên giờ cậu ta đến nhà thì khác gì một cái phao cứu sinh cho bản thân và gia đình. Nghe tôi nhờ cậy, cậu ta nói: ” Em vừa ở ngoài Trung vào đây, tình hình bây giờ rối mù chẳng biết đường mà liệu nữa, người Mỹ thay đổi kế hoạch liền liền. Giờ phải chờ ngày mai xem có tin gì mới không. Tình hình biến chuyển lẹ quá, càng lúc càng xấu “. Tin gì? Tôi hỏi thêm thì cậu bảo: ” Minh lớn sẽ nhận chức tổng thống ngay tối hôm nay ở dinh Độc Lập. Nội các mới có thể phải chia chung một số ghế với bọn Mặt trận giải phóng nằm vùng ở Sài Gòn. Sứ quán Hoa Kỳ biết hết cả và mong có thể thêm thời gian để họ đưa hết các người cần di tản ra khỏi Sài Gòn trước khi bọn Cộng Sản Bắc Việt chiếm trọn quyền hành, gạt tất cả từ Minh lớn đến đám Mặt trận ra rìa. Em sẽ đưa gia đình anh chị đi chung chuyến bay và chắc chỉ vài ngày nữa mình sẽ lên đường. Hỏi thêm thì cậu ta bảo sẽ đưa cả nhà tôi vào trong sứ quán Mỹ và để lên xe buýt vô phi trường Tân Sơn Nhứt rồi lên máy bay C 130 bay sang Phi Luật Tân. Nghe như vậy, tôi không biết nói gì hơn vì không ngờ cậu ta còn nhớ đến mình nên kêu vợ con ra cảm tạ cái ơn. Vợ tôi cứ lắp lắp: ” Gia đình chị thật có phúc mới gặp được bà con như chú, thôi thì đành trông cậy mọi sự “. Cậu em ở lại ăn qua quýt bữa cơm với gia đình tôi xong thì bỏ đi ngay, nói sẽ quay trở lại và bảo tôi thu xếp ít quần áo phòng sẵn. Chiều tối hôm ấy, vang vang những tiếng nổ rung chuyển cả đường phố Sài Gòn rồi sau mới biết do Việt Cộng ném bom ở phi trường Tân Sơn Nhứt và pháo kích vào các khu dân cư mà ra. Điện bị cúp nữa làm cả khu phố tối hù. Cả đêm hôm đó, tôi gần như thức trắng để chờ cậu em quay lại trong tâm trạng sợ đạn pháo kích rớt xuống nhà mình thì khốn. Có lúc, tôi đi ra ngoài đầu ngõ thấy dòng người ta chạy qua lại trên đường bất chấp cả lệnh giới nghiêm. Tiếng còi hụ của xe cứu hoả, xe cứu thương trong tiếng súng nổ cùng tiếng máy bay ầm ì xa xa trên trời cao càng làm mình thêm lo thêm rối trí. Tôi quay về nhà nằm chờ đợi, lúc ngủ lúc thức vật vờ ở cái ghế dài salon phòng khách cho tới khi trời sáng rõ thì cậu ta lại đến, bảo: ” Vụ di tản bằng phi cơ ở Tân Sơn Nhứt coi như chấm dứt rồi. Bom máy bay và đạn pháo 130 ly của Việt Cộng chiều tối hôm qua đã cày nát bề mặt phi đạo nên chắc người Mỹ phải tính cách khác. Khi nào anh nghe bài hát X này trên băng tầng FM thì phải nhanh chân chạy đến sứ quán Hoa Kỳ ngay… Em ghé báo tin anh biết và bây giờ thì phải đi chút công việc gấp, nếu không thấy em trở lại đây thì cả nhà cố tự thân đến đó, anh em mình sẽ gặp lại nhau thôi. Cậu ta còn dặn nên thủ ít tiền đô trong người phòng có lúc cần dùng đến và nhớ đừng chần chờ, đi càng nhanh càng tốt “. Khi cậu ta ra khỏi nhà rồi, tôi cứ để nguyên radio mở ở cái băng tần FM mà cậu vừa chỉ dẫn và nghĩ đích thực cậu này là nhân viên CIA như người trong họ hàng đã kháo nhau từ trước. Ở thời điểm đó, hỏi có mấy người Việt mình biết đến cái vụ bài hát X hiệu lệnh di tản này của người Mỹ.

– Á à! Thì ra cái bài hát tôi nghe kể người Mỹ đã dùng trong ngày di tản hôm đó đó phải không? Nghe nói máy bay trực thăng Mỹ sẽ đón người ở sứ quán Hoa Kỳ cũng như ở các toà buyn đinh khác nữa mà. Phải không anh giáo? Ông quân nhân chen vào.

Ông già nhất chưa trả lời thì anh chàng bộ đội hỏi:

– Bài hát trên băng tần FM hả bác? Bác còn nhớ nó không?

– Nhớ chứ! Can nãy mấy người có thấy tôi ngóng xem cái ti vi chơi một khúc chung với cảnh Noel đó không. Ông già nhất gật đầu, khẽ huýt gió một đoạn nhạc ngắn rồi khẽ khàng: ” Đó! Đó! Thôi thì nói luôn cho biết. Bài hát X đó có tên là White Christmas và do nam ca sĩ Bing Crosby hát. Cậu em bảo tôi khi nào nghe thấy băng tần FM phát ra bài này thì nó chính là hiệu lệnh để di tản. Tôi chờ thì đến gần trưa mới nghe thấy bài hát này thật… Tôi đang mơ một mùa Giáng sinh tuyết trắng với các tấm thiệp Giáng sinh tôi đã viết… Lời của bài hát X. Tôi và vợ con chuẩn bị sẵn sàng chờ cậu ta đến nhưng rồi một giờ, hai giờ đồng hồ qua đi mà không thấy bóng dáng cậu này đâu cả. Vợ tôi nhớ lời dặn cũ thì lại thúc phải tự đi nhanh kẻo không kịp nên tôi lấy chiếc Honda nữ đèo vợ con chạy ngay đến sứ quán Mỹ. Dọc đường đi, tôi thấy lại cảnh chiến tranh tại Sài Gòn như hồi Tết Mậu Thân năm xưa. Từ Phú Nhuận vào nội đô không xa lắm mà tôi phải nhích từng đoạn từng đoạn trên đường nghẹt cứng người và xe. Mãi rồi khi đến được sứ quán Mỹ thì hỡi ơi… Quá đông con người ta đang xếp hàng dọc trên đường và ngay tại cánh cửa cổng ra vào, tình cảnh trông thật nản. Đám đông người xô lấn chen nhau đông đặc, không ai chịu nhường cho ai cả. Ai cũng muốn vào được bên trong toà nhà nhưng việc đó đâu có dễ dàng gì.

 

MV5BMTI2NDEzODYwNV5BMl5BanBnXkFtZTcwMTg0MjMyMQ._V1__SX1282_SY538__zpsf9ozlr5n

Ông quân nhân lại hỏi:

– Nghe nói khi đó không chỉ một sứ quán Hoa Kỳ mà còn mấy buyn đinh khác nữa chính phủ Mỹ đã chọn ra để máy bay trực thăng đáp xuống đón người. Mấy buyn đinh đó ở chỗ nào trong Sài Gòn hả anh giáo?

– Mấy gì anh! Tới mười ba cái buyn đinh lận. Cái thì ở đường Trương Minh Giảng, cái thì ở đường Tú Xương rồi ở cả đường Gia Long nữa… Tôi chẳng nhớ hết đâu! Ông già nhất đáp lời.

Nói xong thì ông già nhất ngồi thừ người ra như để dòng ký ức quay trở về ngày tháng cũ của năm đó. Ba người còn lại trong bàn yên lặng nhìn ông ta như một thông cảm cho tâm trạng riêng tư. Nhắc lại những kỷ niệm cũ, lòng ai không bồi hồi. Một lát thì ông già nhất lại tiếp:

– Thấy dòng người quá đông, tôi bảo với bà xã phải xếp hàng thôi, không cách nào khác… Trâu chậm phải uống nước đục. Mình tuy chậm nhưng sẽ là kẻ đến sớm so với các người khác còn đang ở nhà. Vất bỏ cái xe Honda nữ đi, tôi bảo vợ con chịu khó đứng trong hàng để giữ chỗ trước còn bản thân thì chạy lòng vòng tới lui chỗ này chỗ kia tìm cậu em họ. Phải có cậu ấy thì cả gia đình tôi mới mong vào bên trong toà đại sứ được. Tôi đi đến từng đám người tụm 5 tụm 3 bên kia đường và ở các con ngõ gần chung quanh sứ quán Mỹ nhưng không thấy cậu ta. Quay trở về dòng người, tôi xếp hàng lại với vợ con mình và cứ nhích từng bước cả tiếng đồng hồ sau thì gia đình cũng lần đến được cánh cửa cổng nhưng rồi lại bị lính thuỷ quân lục chiến Mỹ đẩy ra rìa ngay vì không có giấy tờ gì để vào bên trong sứ quán được. Không vào được bên trong, gia đình tôi cứ đứng ngay tại cánh cửa cổng, nghĩ cậu em tôi sẽ xuất hiện mà mãi chẳng thấy đâu. Sau thì thằng con trai tôi, khi đó nó mới khoảng 6 tuổi, bám theo chân một gia đình khác và nhờ vậy, đã âm thầm lẻn vào được bên trong sứ quán.

– Thằng bé khôn quá! Đúng con anh giáo. Ông quân nhân gật gù cái đầu và nở nụ cười.

Ông già nhất ánh lên ánh mắt tinh quái khi nghe ông quân nhân khen đứa con trai mình và tiếp ngay: ” Đấy! Vào được bên trong rồi thì thằng con tôi lại chạy trở ra phía cánh cửa cổng, lấy tay làm loa khẽ gọi và vẫy vợ chồng tôi nữa. Vợ tôi bập bẹ vài câu Anh ngữ với mấy gã lính thuỷ quân lục chiến Mỹ bảo đó là đứa con trai, nó theo chúng bạn chạy vào trong mà lại không chịu trở ra ngoài với bố mẹ. Mãi thì một gã lính cho phép vợ tôi vào trong để dẫn nó ra nhưng rồi bà ấy và đứa con trai biến mất luôn vào dòng người, chỉ còn lại mình tôi vẫn đứng bên cánh cửa cổng. Đây là một sắp xếp của vợ chồng tôi từ trước, ai cứ vào được thì vào, đi được người nào thì cứ đi còn hơn chết chùm cả đám. Vợ tôi vào được bên trong đó thì cố kiếm cậu em mà chẳng thấy rồi sau tình cờ thì bà lại gặp một cô bé gần nhà nên mới nhờ giúp. Cô bé này, có tên gọi là cô Hai cũng sống trong khu phố không xa và thỉnh thoảng đến nhờ tôi dạy thêm ít câu tiếng Anh đàm thoại. Không biết cô ta làm cái gì mà cũng có mặt trong sân sứ quán và nhận ra vợ con tôi nên mới đến hỏi chuyện. Hỏi rồi biết tôi còn kẹt ở bên ngoài thì cô bảo sẽ nhờ người chồng ra cánh cửa cổng thử gặp, may ra. Trời ơi! Cô bé này lấy chồng Mỹ từ lâu rồi mà thật khéo dấu, hàng xóm chẳng ai biết và cả gia đình tôi nữa. Vợ chồng cô bé Hai đi ra cánh cửa cổng gặp đám lính thuỷ quân lục chiến Mỹ rồi vẫy tôi lại gần hỏi xem có giấy tờ gì liên quan đến chính phủ Hoa Kỳ không. Tôi định lắc đầu thì chợt nhớ đến tấm ảnh Polaroid cũ liền vội lục trong cái túi xách tay PanAm lấy nó cho cả bọn họ xem. Cô bé Hai bảo với người chồng và các gã lính rằng tôi là nhân viên sở Mỹ ở một văn phòng ngoài miền Trung, chạy thoát tay Việt Cộng vào đây và giấy tờ đã mất hết chỉ còn duy nhất tấm ảnh. Mấy gã lính gác cổng chuyền tay nhau xem tấm ảnh và khi hỏi thêm chi tiết thì tôi lấy lý lịch của cậu em điền vào cho bản thân mình nhưng cũng chưa xong việc ngay. Khi một gã lính đòi tôi chi 500 đô thì mới cho vào bên trong thì tôi lấy ra cả một xấp tiền giấy nhưng đếm tất cả chỉ được 310 đô thôi. Lý do: Đô la Mỹ khi đó khan hiếm vô cùng, vợ tôi xoay mãi cũng chỉ đủ tiền mua ngần ấy nhưng lại toàn bạc lẻ. Lúc đầu, gã lính đó không đồng ý cứ khăng khăng phải có đủ 500 đô mới được. Cô bé Hai trổ tài thuyết phục, bảo bọn Việt Cộng mà vào đây thì chúng sẽ giết chết hoặc bỏ tù tôi ngay tức khắc nếu như còn kẹt lại, không chạy kịp. Chồng cô ta cũng nói vào và sau cùng gã lính đó mới chịu nhận xấp tiền và cho tôi đi vào bên trong. Nếu không có vợ chồng cô bé Hai này giúp thì bản thân tôi đành chịu cứ đứng ở cánh cửa cổng mãi vì làm sao mà vào bên trong toà nhà được. Nhưng sau này nghĩ lại, chẳng thà gia đình tôi đừng vào trong sứ quán Mỹ thì biết đâu sẽ hay hơn và sẽ không mất 310 đô mà cả nhà lại có thể đi thoát bằng tàu lớn ở bến Bạch Đằng. Nhiều người ở quận 4 đã di tản thoát thân ngay những phút cuối bằng tàu lớn ở đây mà chẳng mất đồng nào cả. Trở lại chuyện cũ thì vào trong sân sứ quán Mỹ rồi, tôi mới thấy cả ngàn người nam-phụ-lão-ấu đang ngồi, đứng, nằm chen chúc bên nhau trong dòng người xếp hàng rồng rắn để chờ được gọi đến lượt di tản. Hỏi thì mới hay có người đã vào đây từ mấy ngày hôm trước mà tới giờ, họ vẫn chưa nhúc nhích gì cả. Súng ngắn, ai đó vất bỏ vài khẩu nằm im phơi bóng dưới đáy cái hồ nước trong vắt. Bọn lính thuỷ quân lục chiến Mỹ cứ tách dân da trắng hoặc một số người Việt ra trước rồi đưa họ lên sân thượng để theo máy bay trực thăng UH ra hạm đội, người còn lại trong hàng thì phải chờ đi các lượt sau. Thấy cách đưa người di tản như vậy, ai cũng cho là quá chậm vì lâu lâu mới có một chiếc trực thăng đáp xuống mà chỉ chở được độ chục người trong mỗi chuyến. Cuối cùng, nhân viên làm việc ở sứ quán mới hạ lệnh cho cưa đổ cái cây to ở mé sân sau, lấy chỗ trống để trực thăng khổng lồ hạ cánh. Loại trực thăng này to lắm, tôi không biết tên nó… nhưng có thể chở được thêm khá nhiều người so với loại UH nhỏ xíu”.

– Trực thăng vận tải C47 Chinook phải không anh giáo? Ông quân nhân hỏi.

Ông già nhất nghe câu hỏi, lắc đầu:

– Không! Không phải loại Chinook sâu rọm đâu anh. Loại trực thăng này khác anh à. Nó còn to hơn Chinook nữa và cũng vì vậy mà không sử dụng được sau một chuyến bốc người ở sân sứ quán Mỹ. Sức quay từ các cánh quạt của nó đã làm bể cửa kiếng các phòng, thổi muốn bay người đứng ở dưới đất và có thể sẽ làm sập cả những bức tường vây quanh toà nhà nữa nên kế hoạch dùng loại máy bay này để di tản người trong phút cuối đành phải bỏ. Chỉ dùng duy nhất loại trực thăng UH thôi và lính thuỷ quân lục chiến Mỹ cứ lần lượt đưa từng đợt, từng đợt người lên sân thượng. Sân thượng có bãi đáp nhỏ xíu cho trực thăng UH chỉ mỗi lần xuống một chiếc nên mình có muốn nhanh hơn cũng không được. Khi đó sốt ruột lắm.

Anh chàng bộ đội chen vào:

– Nghe bác nói thì rốt cuộc cả gia đình cũng không đi thoát. Vậy mà cháu nghe kể người Mỹ đưa máy bay trực thăng đáp xuống sân thượng sứ quán đón dân Việt di tản ra hạm đội 7 hết cả.

Ông già nhất gật đầu, nhắc lại câu vừa kể:

– Khi đó sốt ruột lắm… Phải! Cứ nghĩ gia đình mình vào được sứ quán Mỹ thì rồi sẽ đi thoát. Có ai ngờ! Cứ nhích từng bước một để theo nhau lên từng tầng của toà nhà. Tầng hai rồi tầng ba, tấng bốn… thật là lâu trong dòng người xếp hàng. Chiều xuống dần và đêm tối ì ạch trôi qua nhưng đám đông người di tản vẫn còn nghẹt cứng cho đến khi cả gia đình tôi đứng được trong dòng người ở cái cầu thang dẫn lên sân thượng, nơi máy bay trực thăng UH đáp xuống đón người. Mừng muốn rớt nước mắt. Nhìn bầu trời chung quanh, Sài Gòn đã bắt đầu hưng hửng sáng, không khí buổi ban mai thổi mát mặt, làm mình tỉnh ngủ sau cả đêm dài thức trắng. Tôi nói lời an ủi khi thấy vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt của vợ mình: Ráng chịu đựng thêm chút nữa đi… Ra được hạm đội 7 thì cả nhà ta sẽ ổn. Tiếng động cơ trực thăng UH từ xa xa vọng lại chung với tiếng gầm rú đinh tai của những khu trục cơ F4 Phantom đảo lộn trên cao để bảo vệ các chuyến bay di tản và rồi một chiếc trực thăng đã xuất hiện ngay ở phía trên đầu mình. Ục… ục… ục! Tôi nhìn lên, chiếc UH đó đang xuống thấp dần để bốc người như các chuyến trước đây. Gia đình tôi rồi sẽ ngồi trên chiếc trực thăng đó chỉ trong vài phút nữa thôi và thoát nạn. Tôi nghĩ vậy thì thấy gã lính thuỷ quân lục chiến Mỹ đứng ngay trước mặt thọc hai ngón tay vào miệng y để phát ra những tiếng tuýt tuýt như một hiệu còi. Sau đó, y ta co tay làm thêm một dấu hiệu mới thì mấy gã lính khác còn lại vội tản ra và đẩy cả đám người chúng tôi đi lùi dần xuống khỏi cái cầu thang. Xuống hết cái thang thì cả dòng người vẫn phải theo lệnh của mấy tay lính thuỷ quân lục chiến Mỹ để tiếp tục đi xuống các tầng dưới toà nhà rồi sau cùng thì đến tầng trệt và ra đứng hẳn ở trên sân sứ quán. Thấy tình hình như vậy, có người hỏi lý do thì một gã lính trả lời tập trung ở sân sứ quán để lên xe buýt chở vào phi trường Tân Sơn Nhứt và máy bay C 130 sẽ đón sau. Gã lính đó nói các tàu chiến của hạm đội 7 đã đầy người, không thể chứa thêm được nên phải chuyển phương cách di tản. Xuống dưới sân của toà nhà thì mới thấy số người chờ di tản vẫn đầy nghẹt tuy không đông như hôm qua. Bây giờ thì chẳng còn hàng ngũ trật tự gì như trước nữa, mạnh ai muốn đứng, ngồi hay nằm vật xuống sàn nhà hoặc bất cứ chỗ nào tuỳ ý nhưng đều giống nhau ở khuôn mặt chung nỗi lo âu cùng mệt mỏi. Vẫn đông người như vậy thì không biết ở cánh cửa cổng có còn ai không? Tôi nghĩ những người ở bên ngoài cánh cửa cổng cố hết sức để vào được bên trong sân toà nhà mà không biết cả đống người vẫn bị dính chặt ở đây chưa di tản và cũng chẳng biết tình hình rồi sẽ ra sao? Bất chợt có tiếng ai đó nói lớn cửa dẫn lên tầng trên đã bị thuỷ quân lục chiến Mỹ khoá chặt rồi. Nghe vậy thì có người nói phải phá ổ khoá cửa. Phá ổ khoá cửa, nhằm có đường để cả bọn mình đi lên trở lại cái sân thượng, chỗ máy bay trực thăng xuống đón người thì mới thoát. Phải làm vậy thôi, bọn mình mà không có mặt ở bãi đáp trên sân thượng, máy bay trực thăng sẽ bay qua luôn và đến các buyn đinh khác. Có người lại nói các xe buýt của sứ quán từ hôm qua đã chở người vào Tân Sơn Nhứt rồi phải quay về đây thì làm gì có vụ tập trung ở đó để lên máy bay C 130 như lời gã lính thuỷ quân lục chiến Mỹ nào đó nói. Mình bị người Mỹ bỏ lại rồi, kết luận là vậy. Những người đang phá ổ khoá cửa thì phải thối lui xuống ngay vì họ chịu không nổi hơi lựu đạn cay do lính thuỷ quân lục chiến Mỹ ném xuống. Hơi khói lựu đạn cay lan dần xuống tới tầng dưới, tôi nắm tay dẫn vợ và đứa con trai theo chân những người khác chạy vội ra chỗ đất trống của toà nhà để bớt ngộp. Ở đây, nhìn ra cánh cửa cổng vẫn còn khoá chặt và vẫn có người đang cố sức trèo qua lớp hàng rào kẽm gai giăng trên cao để nhẩy vào phía bên trong. Không một bóng người lính thuỷ quân lục chiến Mỹ nào cả dù khi đó tiếng máy bay trực thăng trên sân thượng vẫn ục ục vọng xuống đất. Trực thăng đang bốc những người lính thuỷ quân lục chiến Mỹ cuối cùng và bỏ rơi bọn mình cả rồi… tiếng một ai đó thét lớn. Rồi tiếng người khóc rấm rức, tiếng người khác chửi thề chung với lời nguyền rủa bọn Mỹ đểu giả. Trời Sài Gòn khi đó đã sáng rõ mà đám người chúng tôi vẫn không ai dám bỏ ra khỏi toà nhà vì cố nuôi một niềm tin mơ hồ trong lòng: lính thuỷ quân lục chiến Mỹ cùng các trực thăng rồi sẽ quay trở lại đây và sẽ áp tải hết tất cả người Việt đến thẳng hạm đội 7. Họ sẽ giữ lời hứa như một nhân viên sứ quán đã cam kết vào chiều tối ngày hôm qua ” Tất cả các bạn người Việt hiện diện sẽ được bốc ra hạm đội 7 hết cả. Chúng tôi đang thực hiện chiến dịch di tản. Hãy yên tâm và giúp chúng tôi duy trì trật tự, đi theo hàng ngũ “. Ở góc tường sát với toà nhà bên cạnh, chút khói trắng vẫn bốc lên từ mấy thùng phi sắt mà ngày hôm qua, các nhân viên của sứ quán đã đốt rất nhiều chồng hồ sơ cùng  giấy tờ tài liệu mật. Không ai được lại gần mấy thùng phi đó và nhân viên có lúc phải rưới thêm dầu vào để ngọn lửa cháy nhanh hơn. Tình cảnh hiện tại, đám chúng tôi chẳng biết phải làm gì ngoài việc chờ đợi di tản trong vô vọng. Có người suy đoán không chừng công binh đã sửa cấp tốc xong cái phi đạo trong Tân Sơn Nhứt rồi và bọn mình sẽ được di tản bằng máy bay vận tải C 130 như lời gã lính thuỷ quân lục chiến Mỹ đã nói. Bọn mình ở đây cộng thêm số người ở các buyn đinh khác nữa sẽ rất đông, không thể dùng trực thăng di tản hết được và chỉ một cách vào Tân Sơn Nhứt thì mới xong việc. Sau mới biết các tin đó để trấn an tinh thần của nhau. Không thể phá được cái ổ khoá cửa thì vài người lại đi đập bể tấm kiếng của các gian phòng gần đó. Tôi kéo vợ con đến một chỗ kín gần góc nhà và ngồi im để chờ điều chưa biết sắp xẩy đến. Tôi yên lặng khi nghe lời thì thào của bà xã: ” Mình làm gì bây giờ anh? “. Tôi không thấy đói bụng ngoài cái mệt mỏi của thân xác. Lương khô, nước ngọt và những lon đồ hộp từ các thùng Ration C nằm lăn lóc đầy trên sàn nhà mà chẳng có ai màng đến. Tôi rối trí khi vợ tôi nhắc lại câu hỏi cũ và chỉ biết lắc đầu vì phải lo lắng nhiều thứ trong một thời gian quá ngắn ngủi.

 

di tan 29-4-1975

 

– Phải chi lúc đó gia đình anh chạy ngay đến bến Bạch Đằng thì may ra còn kịp chuyến di tản. Sau này, nghe tin trên đài VOA, BBC… tường thuật về buổi trưa hôm 30 tháng 4 năm đó, có mấy chiếc tàu thương mãi chở người vừa rời khỏi bến Bạch Đằng độ mươi mười lăm phút thì xe tăng T 54 Cộng Sản Bắc Việt mới xuất hiện ở khu vực kho 5 Khánh Hội. Mấy thương thuyền đó chạy thoát hết ra biển rồi nhập chung với đoàn tàu hải quân Mỹ luôn. Ngẫm lại, thấy do cái số cả anh giáo à. Ông quân nhân thẽ thọt.

– Vậy! Do cái số cả. Ông già nhất lập lại lời nói của ông quân nhân..

– Cuối cùng thì người di tản ở sứ quán Mỹ ra sao hả bác? Trực thăng không đón, cứ chờ mãi ở đó cho đến khi Việt Cộng vào? Anh trẻ tuổi nhất cất tiếng hỏi.

– Còn sao nữa hả cậu! Khi có tin từ ngoài phía cánh cửa cổng bảo là xe tăng T 54 Cộng Sản Bắc Việt chiếm được Ngã Tư Bẩy Hiền, rồi kế đó lại cái tin bọn chúng đã vào được bên trong bộ Tổng Tham Mưu và hiện có một đoàn xe tải Molotova đang trên đường đi đến sứ quán Mỹ này. Tin đó vừa loan ra thì ôi thôi! Không ai bảo ai đều đồng loạt đứng lên, cùng chạy đến cánh cửa cổng và phá banh nó để tìm đường thoát ra được bên ngoài cho nhanh. Tôi và vợ con ra khỏi sứ quán Mỹ và khi đi vào con hẻm nhỏ của ngày hôm trước, chiếc xe Honda nữ vất bỏ vẫn còn nằm nguyên nơi đó. Không ai thèm đụng đến vì nó cũ mèng và chung quanh, vài chiếc xe hơi, xe Vespa, xe Lambetta, xe Standard, xe Honda nam SS 50…. láng coóng còn nằm đầy ra đấy. Nước mất tới nơi, thân không biết có giữ được không thì mấy của nả này ai cần đến. Tôi lấy xâu chìa khoá còn giữ ở trong túi quần và nổ lại máy chiếc xe. Trên đường chạy xe về lại nhà mình, trước mắt tôi ở từng đoạn đường đi ngang qua là các chiếc xe tăng T 54, xe tải Molotova cắm cành lá giả trang ở các cạnh thùng… chở đầy bộ đội chính quy Cộng Sản Bắc Việt chạy ngược chiều đường để vào bên trong nội đô Sài Gòn. Ở vài giao lộ, xe thiết giáp M 113, xe tăng M 41, xe nhà binh GMC đầy vũ khí mà không một bóng lính mình chung quanh. Những gốc cây, cuối một hẻm đường… quân phục lính mình bỏ nằm gọn ở dưới đất chung với các mũ sắt, súng cùng dây ba chạc còn đầy các băng đạn… thấy mà đau lòng. Còn có cả xác lính mình nằm chết bên lề đường nữa, chẳng biết do người ấy tự sát hay bị trúng đạn khi giao tranh. Thấy một nhóm người vừa đàn ông vừa thanh niên cởi trần, quần cụt đứng lớ ngớ, thất thểu bên cạnh đường, tôi dừng xe lại nhìn họ… đoán là lính mình đây và quả thật là vậy. Tự dưng một nỗi buồn vô hạn dâng trào trong lòng tôi vì chỉ trong một thời gian có vài tháng mà đất nước mất hết vào tay giặc, tan hàng tập thể cùng một ngày. Ông già nhất khẽ chắt lưỡi, lắc đầu.

– Người em bà con cô cậu gì của bác, số phận chú ấy ra sao? Anh bộ đội hỏi.

Ông già nhất khẽ lắc đầu, đáp:

– Cậu em bà con hả? Sau cái hôm đó, tôi chẳng bao giờ gặp lại lần nữa… cho đến tận bây giờ. Không biết cậu ta có kịp di tản hay bị kẹt lại. Cậu ta có đến các buyn đinh khác? Tôi thực chẳng biết nữa. Tôi mà định cư ở  Mỹ rồi nếu có thì giờ rảnh, sẽ thử dò tìm tin tức xem sao. Hy vọng rồi sẽ gặp lại cậu ta.

– Còn cái cô me Mỹ, chắc cũng đi được hả bác? Anh bộ đội hỏi thêm.

– Khi giúp tôi vào bên trong sân rồi thì ít lâu sau, vợ chồng cô bé Hai được nhân viên toà đại sứ tách riêng rồi đưa họ lên sân thượng. Ông già nhất cười và tiếp lời: ” Kể ra thì chua chát thật, me Mỹ lại ưu tiên di tản trước cả những sĩ quan, viên chức cao cấp của chính quyền miền Nam VNCH mình “.

– Anh giáo nói sao, tôi chưa hiểu? Ông quân nhân thắc mắc.

– Thế này! Ừm… Ừm. Ông già nhất khẽ hắng giọng, tiếp: ” Khi đứng hết cả ở sân toà nhà rồi thì chúng tôi mới biết, trong số người bị kẹt lại, có một ông thiếu tướng Nam Hàn, một ông thiếu tướng Đài Loan và cả một số người Âu Châu nữa”.

– Người Âu châu! Ý bác muốn nói là dân da trắng, tóc vàng, mắt xanh lơ. Anh trẻ tuổi nhất bập bẹ lời.

– Phải! Vì có những người Âu châu này nên đã làm cả bọn chúng tôi nghĩ họ là người Mỹ thì trực thăng sẽ quay trở lại đón và mình sẽ theo chân đi cùng. Chừng hỏi ra thì mới biết họ là người Tây Đức, người Ý Đại Lợi và cả dân da đen vùng Bắc Phi, người Á Căn Đình ở Nam Mỹ nữa. Trong số họ, tuy da trắng tóc vàng hoặc tóc nâu, tóc đen… nhưng đều không phải là công dân Mỹ. Thế có bỏ mẹ không. Người Mỹ thực thụ thì đi mất hết cả rồi, đám Âu châu ở đây giờ cũng như dân Việt mình, kẹt giỏ hết cả đám. Tại sao đám người này lại có mặt ở đây? Họ là nhân viên các hãng buôn ngoại quốc, dân du lịch hoặc nhân viên các sứ quán nước khác bị kẹt lại và chạy vào đây để mong được sứ quán Mỹ giúp cho di tản hòng thoát tay bọn Việt Cộng. Mẹ kiếp! Dân Âu châu mà cũng tránh mặt bọn Việt Cộng y như người khoẻ mạnh tránh gặp bệnh nhân phong hủi. Chờ mãi mà không thấy máy bay trực thăng đến thì màn đập phá lại tiếp tục. Có một căn phòng bị đập bể cửa tan hoang và nhờ vậy, vô tình đã giải thoát cho 2 ông bộ trưởng đang bị nhốt trong đó. Thế mới hài hước! Hai ông này, ra được ngoài căn phòng rồi còn tưởng việc di tản vẫn đang tiếp tục. Hỏi, cả hai kể là đã vào sứ quán từ ngày hôm trước lận. Lính thuỷ quân lục chiến Mỹ dẫn cả hai ông vào căn phòng đó bảo ngồi chờ sẽ đến lượt gọi ra để đi và mấy cái samsonite hành lý thì phải tách ra, mang lên tập trung trước ở sân thượng. ” Các ông sẽ nhận lại khi ra tới hạm đội 7 “, một gã lính thuỷ quân lục chiến Mỹ cam đoan và thế là hai ông này tèo hết hành lý. Phòng đó có tường cách âm, có tủ lạnh và đầy đủ các thứ cần dùng không khác gì khách sạn nên hai bộ trưởng nhà ta cứ yên tâm chờ. Ta phải nhớ rằng, trước đó độ hai tuần lễ, sứ quán Mỹ ở Nam Vang bên Kampuchia cũng có cái màn trực thăng bốc người di tản sang Thái Lan rồi và, chắc cũng đã có mấy ông to-bà lớn Kampuchia bị lính thuỷ quân lục chiến Mỹ đỡ nhẹ cặp samsonite, túi xách tay kiểu như vậy. Ông già nhất khẽ cười.

– Hai ông bộ trưởng đó chắc đã mất khá nhiều tiền đô và có thể cả vàng cục, nhẫn hạt xoàn nữa. Tui thấy mấy cha nội thuỷ quân lục chiến Mỹ chơi một cú quá gọn. Cứ tham nhũng cho cố đi rồi thì cũng trắng tay. Anh chàng mua bán chợ trời nói.

Ông già nhất lắc đầu, nói:

– Bên Kampuchia tôi không biết chứ hai ông bộ trưởng đó thì nghĩ tài sản họ mang theo cũng chẳng có là bao. Giỏi lắm là chục ngàn đô, vài lượng vàng lá trong cặp là cùng, vậy thôi. Tôi nói chỉ có như thế là vì một người làm chức bộ trưởng, nếu muốn tham nhũng, người đó cũng phải ngồi ở vị trí có thể kiếm ăn được thì mới có miếng, không gặp chỗ ngon thì cũng đành chịu. Thêm nữa, hai ông này tôi nghe tiếng trên báo là những người có tư cách nên họ mới tin lời nói của mấy tay lính mà giao hành lý mang theo. Bản thân mình thành thực thì cũng nghĩ người khác thành thực như mình. Người khác mà samsonite đựng đầy nhóc tiền đô, vàng lá, nhẫn hạt xoàn thì đời nào chịu đưa cho ai giữ hộ… Đồng tiền liền với khúc ruột mà.

Ông quân nhân lại hỏi:

– Tại sao sứ quán Mỹ lại bỏ rơi không đón hết những người đã được họ chọn cho vào trong toà nhà. Có gì lấn cấn trong nội bộ không hả anh giáo?

– Lúc đầu ai cũng cho là do bộ đội chính quy Cộng Sản Bắc Việt vào tới Sài Gòn quá nhanh nên sứ quán Mỹ đành bỏ rơi người lại, không thể di tản hết cả nhưng tôi thì nghĩ cũng không hẳn là vậy. Ông già nhất ngồi yên trong chốc lát như một cân nhắc điều sẽ nói và sau đó tiếp lời: ” Anh nhớ lại đi, chiều ngày hôm trước… tức ngày 29 đó… Ở hướng Tây Bắc Sài Gòn, Bắc Việt đã chiếm được trại huấn luyện tân binh Quang Trung ở vùng ngã tư An Xương rồi. Từ nơi đó vào tới ngã tư Bẩy Hiền chỉ cách độ 6 hay 7 cây số đường là cùng. Ngã tư Bẩy Hiền thuộc quận Tân Bình và cứ thẳng đường Phạm Hồng Thái thì sẽ đến chợ Bến Thành ngay. Tự dưng bọn chúng dừng chân như cố ý… chờ. Chờ cái gì vậy? Chờ cho xong vụ di tản người từ Sài Gòn ra hạm đội 7. Tại sao có vụ chờ này? Phải chăng có một thoả thuận ngầm nào đó giữa người Mỹ và tụi Cộng Sản Bắc Việt hay không thì chẳng ai biết nhưng mình có thể dự đoán theo chiều hướng đó. Phía Cộng Sản Bắc Việt sẽ ngưng bắn từ giờ X đến giờ Y để các trực thăng Mỹ an toàn khi chở người di tản ra hạm đội 7. Các trực thăng đón người hầu như bay rất thấp về hướng Đông để ra biển và trực chỉ thẳng đến hạm đội 7. Đây quả là miếng mồi ngon cho loại hoả tiễn tầm nhiệt SA 7 của bọn Việt Cộng ở vùng Rừng Sát, sông Lòng Tàu nếu như chúng muốn nhắm bắn vào phi cơ. Hoả tiền tầm nhiệt SA 7 là loại súng cá nhân, vác trên vai khi khai hoả. Sáng sớm ngày 29 khi trời chưa rõ hẳn, bằng loại hoả tiễn tầm nhiệt SA 7 này, bọn Việt Cộng đã bắn rớt một máy bay C 119 ngay trên bầu trời Sài Gòn. Thử nghĩ chỉ cần vài máy bay trực thăng UH ăn phải hoả tiễn tầm nhiệt SA 7và bị rớt thì vụ di tản chắc chắn sẽ phải ngưng lại ngay. Ngưng lại có thể một ngày, hai ngày và sẽ kéo dài thêm nữa. Thuỷ quân lục chiến Mỹ buộc phải nhập cuộc rồi sẽ có lính chết, máy bay bị rớt thêm và làm dân Hoa Kỳ bên chính quốc nổi nóng. Biết đâu khi các sự việc đó xẩy ra dồn dập khiến người Mỹ phải thay đổi sách lược và đòi các phe liên quan ở Việt Nam phải tuân theo hiệp định Ba Lê 1973. Rồi máy bay B52 lại được lệnh cất cánh trở lại chung với việc thuỷ quân lục chiến Mỹ đổ bộ để tham chiến. Ta biết người Mỹ đã ép chính quyền miền Nam VNCH mình khi ký hiệp định Ba Lê 1973 mà rồi họ có tuân thủ theo đâu nên bọn Cộng Sản Bắc Việt nó mới lấn tới, lấn tới mãi. Mình thử nghĩ như vậy đi. Thực ra bọn Cộng Sản Bắc Việt rất sợ người Mỹ nên chúng gần như án binh bất động cả bao nhiêu tiếng đồng hồ cho đến khi giờ Y tới, các phi vụ di tản phải chấm dứt theo thoả thuận ngầm này dù vẫn còn rất đông người đang chờ ở sân sứ quán cũng như ở các buyn đinh khác. Nghĩ được như vậy thì mình mới thông cảm người Mỹ đã cố hết sức để đưa dân Việt di tản mà không xuể. Nghĩ được như vậy thì mới thấy chuyện có mặt của nhóm mình tối hôm nay trong trại tị nạn này cũng có phần lớn trách nhiệm của người Mỹ. Như A là nguyên nhân của B và B là đầu mối của C… vậy. Câu chuyện của tôi tới đây là hết. Ông già nhất lấy tay phất ngang như một dấu hiệu kết thúc một sự việc.

Thoáng yên lặng trôi qua với bốn người họ. Ông quân nhân rít tiếp hơi thuốc lá đang cháy dở trên tay còn ông già nhất cầm cái ấm trà định rót uống thì thấy đã nó cạn nên bỏ xuống trở lại. Hai cậu trẻ tuổi ngồi yên, trơ mắt nhìn. Bất chợt tiếng còi hụ vang lên từ cái loa phóng thanh trên cột đèn đường gần đó khiến cả bốn người họ đồng loạt đứng lên và lục tục theo chân những người khách khác để ra khỏi quán. Giờ giới nghiêm đến rồi, không ai có thể nán lại thêm chút nào được nữa, sẽ rất phiền nếu bị police trong trại bắt gặp.

Đi sát bên nhau trong một hướng khác để về lại barrack, anh bộ đội nói với anh trẻ tuổi nhất:

– Bây giờ thì đến phiên nhóm mình tan hàng. Thôi về ngủ ngon nha mày, mình sẽ gặp lại nhau tối mai. OK!

Không biết khi gặp lại nhau trong chầu cà phê lần tới thì bốn thuyền nhân này sẽ chọn câu chuyện của ai đã kể đêm hôm đó là hay nhất. Còn các bạn đã đọc đến dòng chữ này, sẽ nghĩ sao?

 

Phạm Thắng Vũ

April 2017.

 

 

 

 

 

Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương

Tags

 

tram-hoa-3_zpsn501tb5o

tram-hoa-4_zps2edeufl9

Bìa trước và sau của tác phẩm Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương.

Lời nói đầu của nhà xuất bản

Đặt tựa đề ” Trăm Hoa Vẫn Nở…” cho tuyển tập này, chúng tôi có ý làm một việc tương tự công trình sưu tập văn liệu mà cụ Hoàng Văn Chí đã làm vào thập niên ’50 với cuốn: ” Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc “. Chúng tôi cũng muốn ghi lại những chứng tích của một cuộc đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền khởi đi từ những người trong nước hiện nay. Trước đây cụ Hoàng đã viết:

” Bốn mươi năm một thuở ” (nhân dịp hạ bệ Stalin), họ (nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm) đều đứng dậy đấu tranh chống đảng, đòi phục hồi quyền tự do tư tưởng… Trí thức ở miền Bắc đã sản xuất được trên một trăm bản văn có giá trị. Cộng Sản coi những bản văn ấy là những “cỏ độc”, nhưng chúng tôicoi những tác phẩm của họ như một ” trăm hoa thực sự “.

Hôm nay, lại có những người cầm bút nổi dậy đòi phục hồi quyền tự do bất tử ấy:

” Hoa Vẫn Nở…”

Ở chủ đề này, chúng tôi nhận định rằng:

” Hiện có cao trào phản kháng ở trong nước “.

Đây không chỉ là một ” phong trào văn nghệ ” mà còn xuất hiện đồng thời một cao trào quần chúng đón nhận, thôi thúc và cổ võ dòng văn chương thịnh nộ trong nước. Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt giữa ” trăm hoa ” bây giờ với ” trăm hoa… trên đất Bắc “. Nhân Văn-Giai Phẩm trước kia chưa ai có thể đặt thẳng các câu hỏi như bây giờ:

– ” Có hay không một khuynh hướng phủ nhận 40 năm văn học Xã hội Chủ nghĩa “.

– Có hay không ” cái tâm lý muốn phủ nhận, xóa sạch “.

Hồi đó cũng chưa có ai dám nói toạc ra trước mặt giới lãnh đạo Đảng và lãnh đạo văn nghệ rằng đời Lê, đời Trần đánh thắng ngoại xâm đâu cần đến sự hổ trợ của phe Xã hội Chủ nghĩa; họ chưa dám công khai phán xét công tội của giới lãnh đạo, của đảng! ” Trăm Hoa Trên Đất Bắc ” là một thiểu số văn nghệ sĩ làm một hành động bất khuất. Thiểu số ấy đã sớm phản tỉnh vì thấy cái tệ hại của chế độ chuyên chính, trong khi hầu hết dân miền Bắc lúc ấy chưa ” mở mắt ” hoặc còn sợ sệt. Bây giờ, thế giới ai cũng đã ” sáng mắt ” cả rồi.

Chúng tôi tin rằng các văn bản xuất hiện ở Việt Nam trong giai đoạn 1986-1989 sẽ là những ” sử liệu quý báu cho các sử gia mai sau viết về một thời đại đen tối của dân tộc mang tên Thời đại Xã hội Chủ nghĩa “.

Đi vào việc hình thành Tuyển Tập, chúng tôi đã không tránh khỏi một vài điểm chưa thỏa đáng:

Vấn đề tuyển chọn tác giả, tác phẩm, văn liệu và dữ kiện thông tin trong nước: Số lượng tài liệu chúng tôi thu lượm được so với khối lượng sáng tác trong giai đoạn phản kháng vẫn còn quá ít ỏi. Có tác giả được nhận định là tiêu biểu cho dòng văn chương phản kháng thì chúng tôi lại không tìm được tác phẩm của họ. Lại có những tác phẩm rất căn bản đã được nhiều tác giả khác trích dẫn như rường cột tư tưởng phản kháng nhưng không chuyển được ra nước ngoài. Dẫu sao tài liệu hiện có ở đây cũng đã thể hiện rõ nét đa diện và đa nguyên bởi sự khác biệt về động lực phản kháng, đối tượng phản kháng và cường độ phản kháng.

Chúng tôi cũng tin rằng các văn bản (tài liệu báo chí, các tác phẩm văn, thơ, ký, kịch, điện ảnh…) trong Tuyển Tập này sẽ đóng góp một số dữ kiện cần thiết cho các cuộc thảo luận giữa những người Việt trong khuôn khổ đấu tranh cho Tự do-Dân chủ và Nhân quyền tại Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi đã gom góp và lựa chọn một số sáng tác, tham luận có hệ thống cũng như cảm nghĩ tản mạn của những người đang thao thức vì vận mệnh tổ quốc trong thập niên giao thừa này.

Về số lượng các bài viết xuất hiện trên nhiều tạp chí hải ngoại, chúng tôi chỉ xin trích đăng một ít vì sách đã quá dầy.

Lời cuối, xin để tỏ lòng thành thật cám ơn bằng hữu gần xa đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp chúng tôi từ bước khởi đầu cho đến ngày ra mắt Tuyển Tập này.

Kính chào
Nhà Xuất Bản Lê Trần
California, USA
Tháng Bảy năm 1990

Phần Một:

Bối cảnh và diễn tiến

Từ Nhân Văn-Giai Phẩm đến cao trào văn nghệ phản kháng 1986-1989

Bài viết của tác giả Thân Trọng Mẫn (từ trang 15 đến trang 48)

Sau đại hội lần thứ 20 của đảng Cộng Sản Liên Xô phê bình tệ sùng bái cá nhân, các đảng cộng sản trong phe xã hội chủ nghĩa đều tiến hành phê bình và đã phát hiện ra một số khuyết điểm và sai lầm trong công tác lãnh đạo của mình bên cạnh những ưu điểm và thành công to lớn và là căn bản. Bọn đế quốc đã nhân cơ hội đó gây ra được vụ lộn xộn ở Po-dơ-nan.

Trong nước, Trung ương đảng Lao động Việt Nam cũng tự phê bình và phát hiện được những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.

Nhân cơ hội đó tất cả các lực lượng… đối lập với chủ nghĩa xã hội đều ngóc đầu dậy chống lại sự lãnh đạo của đảng và chính phủ. Bọn phản động trong Công giáo hành động phá rối trật tự ở Nghệ An, Nam Định. Bọn phản động trong các dân tộc thiểu số ” xưng vua ” ở một vài miền rẻo cao… Một số địa chủ vừa bị đánh đổ liền ngóc đầu dậy, cấu kết với bọn phản động trong tôn giáo và bọn lưu manh, bọn tề ngụy cũ, đánh chửi nông dân để báo thù. Những phần tử khiêu khích phá hoại xúi dục một số thương binh làm mất trật tự ở một vài địa phương…
Từ Nhân Văn số 4 trở đi, tức là sau khi bọn phản cách mạng ở Hung-Ga-Ri được bọn đế quốc giúp đỡ, đã thực hiện được vụ bạo động phản cách mạng ở Bu-đa-pét, thì chúng đã chuyển hẳn sang chống đối về chính trị, kích động quần chúng biểu tình chống lại đảng và chính phủ ta nhân lúc Quốc hội ta đang họp…

Đoạn văn chúng tôi vừa trích dẫn hơi dài dòng, nhưng đó chỉ là phần dẫn nhập cho một bản cáo trạng dài gần 400 trang, mang tựa đề ” Bọn Nhân Văn-Giai Phẩm trước tòa án dư luận ” do nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội phát hành gồm bài Viết của 84 tác giả, trong đó đủ các khuôn mặt ” lãnh đạo văn nghệ ” đương thời như Trường Chinh, Tố Hữu, Trần Độ, Hà Xuân Trường, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Như Phong, Chính Hữu, Bùi Hiển… Đối chiếu với hoàn cảnh hiện tại, cả trên mặt trận quốc tế lẫn quốc nội, những điều vừa trích dẫn từ bản cáo trạng xem ra khá tương đồng với những gì đang xẩy ra trong nước hiện nay, chỉ khác chút ít về mức độ và tầm ảnh hưởng. Nếu trước đây bước chuyển động bắt đầu từ bản báo cáo chính trị của Kroustchev tại đại hội đảng Cộng Sản Liên Xô lần 20, tố cáo tội ác của Stalin và khởi đầu chính sách ” xét lại ” thì nay cũng từ Mạc Tư Khoa, ảnh hưởng của chính sách Glasnost (cởi mở) và Perestroika (tái cấu trúc) do Gorbachev chủ trương đã đánh động một sự chuyển hóa trọn khối xã hội chủ nghĩa; nếu trước đây cuộc phản kháng bắt đầu từ công nhân và nghiệp đoàn Đông Đức (ở Podzan) và làm rung chuyển toàn khối Đông Âu trong cuộc cách mạng của Hungary thì nay cũng chính giai cấp công nhân (đội ngũ tiên tiến và cách mạng nhất của xã hội chủ nghĩa!) đã bắn phát súng lệnh tại Ba Lan và đưa đến cuộc cách mạng vĩ đại 1989 trên toàn khối cộng sản thế giới, giải thể chế độ Cộng Sản tại bảy nước Đông Âu, Nicaragua và Mông Cổ.

Tại Việt Nam, nếu trước đây là cuộc nổi dậy của giáo dân tại Nghệ An, Nam Định, cuộc chiến du kích của các dân tộc thiểu số miền ” rẻo cao “, cuộc đề kháng âm ỉ tại nông thôn sau cải cách ruộng đất, sự bất mãn của thương binh và cựu kháng chiến… thì nay là một phong trào quần chúng rộng lớn và liên tục của các lực lượng tôn giáo, các lực lượng dân tộc thiểu số tại cao nguyên, các phong trào kháng chiến toàn dân, cuộc đấu tranh trực diện của thương bệnh binh, bộ đội phục viên và hàng ngũ cựu kháng chiến… Nếu trước đây là cuộc phản kháng của văn nghệ sĩ và trí thức của phong trào ” Trăm hoa đua nở ” mà cao điểm đã thu hút được 304 người tham dự, thì nay là một cuộc bừng nở của một cao trào văn nghệ phản kháng trên quy mô toàn quốc với sự dính dự của bốn thế hệ văn nghệ sĩ và trí thức trong cả nước.

Sau 30 năm, lịch sử lại tái diễn gần như trùng hợp, nhưng xét về kích thước, những vận động đang xảy ra trong nước, và nói riêng cao trào văn nghệ phản kháng của văn nghệ sĩ và trí thức, đã có những bước tiến rất căn bản về số lượng lẫn chất lượng. Về phía nhà cầm quyền, những người lãnh đạo chính trị cũng như những người lãnh đạo văn nghệ của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam hiện nay, xét về mặt lý luận văn học cũng như về ngôn ngữ phê phán, ta thấy ” một sợi chỉ đỏ xuyên suốt ” trong lập trường và phản ứng của họ. So sánh những bài phát biểu của Trường Chinh, Tố Hữu… của thời Nhân Văn-Giai Phẩm với bài nói chuyện của Nguyễn Văn Linh tại hội nghị Trung Ương đảng kỳ 7 (khóa VI) và kết luận của bộ chính trị BCH đảng CS Việt Nam ” về công tác văn hóa và tư tưởng “, cũng như các bài diễn văn của Đỗ Mười tại đại hội nhà báo, đại hội nhà văn lần IV năm 1989, rõ ràng lập luận và từ ngữ vẫn y khuôn, cũng ” cuộc đảo chính phản cách mạng “, ” âm mưu xảo quyệt của bọn đế quốc và các loại phản động “, ” dân chủ xã hội chủ nghĩa, về bản chất, như Lenin nói, gấp triệu lần dân chủ tư sản… “, sự sáo mòn về từ ngữ, sự hóa thạch của tư duy, và sự lão suy về tư tưởng của các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam càng khiến họ trở thành thù địch với nhân dân, cô với toàn thế đang sôi sục chuyển mình.

Và hiện nay, dù các biện pháp công an tư tưởng và trấn áp văn hóa được đảng thi hành dưới những hình thức ” quy chụp chính trị “, ” chỉ điểm văn nghệ “, ” uốn nắn những lệch lạc “, ” báo động giả “… thậm chí cả sự đích thân hiện diện nhằm hăm dọa của Cố vấn đảng Lê Đức Thọ, và Trung tướng Cục An ninh Dương Thông tại đại hội nhà văn lần IV, phong trào văn nghệ đối kháng của giới văn nghệ sĩ và trí thức trong nước cũng không bị dập tắt, điều này chứng tỏ, vào đầu thập niên 90, do xu thế thời đại, do sự liên đới của giới cầm bút và do sự hổ trợ của đại khối dân tộc, công cuộc vận động tự do dân chủ và thịnh vượng cho đất nước, mà cao trào văn nghệ phản kháng là một bộ phận, đang dành được ưu thế, có đủ tiềm năng và khả năng vượt thắng guồng máy kềm kẹp của đảng.

Để nhìn rõ các kết quả đấu tranh của giới văn nghệ sĩ và trí thức, bài này sẽ phác lược diễn tiến của trọn phong trào phản kháng kể từ thời kỳ Nhân Văn-Giai Phẩm đến nay, mà trong đó giai đoạn 1986-1989 chỉ là một cao điểm, một thành quả vận động khi công khai khi âm thầm, mà giới cầm bút, giới làm văn hóa đã thực hiện suốt 35 năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Do sự nghèo nàn về tài liệu cũng như khả năng vô cùng giới hạn của người viết, bài viết này không có tham vọng phân tích và tổng kết cả một thời kỳ văn học mà chỉ nhấn mạnh những khuynh hướng phản kháng trong giai đoạn đó.

I. Từ Trăm Hoa Đua Nở:

Đúng như lời cụ Nguyễn Mạnh Tường trả lời ông Phạm Trần trên báo Độc Lập (Tây Đức) tháng 11 năm 1989, phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm: ” không hề chống đối đảng “.

Thực vậy, căn cứ trên nội dung ghi lại trong tuyển tập ” Trăm hoa đua nở trên đất Bắc ” do cụ Hoàng Văn Chí giới thiệu, nhóm văn nghệ sĩ tập họp trên các tạp chí Giai Phẩm, Nhân Văn và Văn (1956-1958), có đòi quyền tự do sáng tác trong một giới hạn nào đó nhưng không hề phủ nhận quyền lãnh đạo của đảng, những bài thơ ” chống tham ô lãng phí ” hay ” cùng những ***** nịnh hót ” quả có quyết liệt, nhưng cũng chỉ trong khuôn khổ chống tiêu cực mà trên hình thức, đảng vẫn cho phép phát biểu trong những buổi phê bình và tự phê nội bộ, ” Ông Bình vôi ” của Phan Khôi hay ” Con ngựa già của chúa Trịnh ” của Phùng Cung có ” phạm thượng ” thật nhưng đâu có phạm thượng bằng Trạng Quỳnh hay Cao Bá Quát thời phong kiến!. Có vấn đề nhất là những bài thơ ” Hãy đi mãi ” hay ” Nhất định thắng ” quả thật có thể làm người ta hiểu ” bóng gió “, nhưng tác giả vẫn kêu gọi ” hãy đi mãi như những người cộng sản “, hoặc sát thời cuộc như bài tham luận của cụ Nguyễn Mạnh Tường đề cập trực tiếp đến những sai lầm trong cải cách ruộng đất, thì lập luận của cụ nào khác gì lập trường đảng trong việc tự phê bình về những sai lầm do chính Hồ Chí Minh nhận lỗi trước nhân dân.

Thơ văn của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm chỉ nhằm vào những một mục đích khá giới hạn: kêu gọi một sự độc lập tương đối trong sáng tạo, phản ứng những mặt tiêu cực của chính quyền, họ chưa dám (hay vì bước đầu dọ dẫm nên chưa muốn) đề cập đến những vấn đề CĂN NGUYÊN của chế độ như bản chất của chủ nghĩa xã hội, sự hình thành giai cấp mới, tính lão suy của bộ máy nhà nước và đảng, quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, quan điểm về nhân bản và tự do… là những vấn đề được trực tiếp nêu lên 30 năm sau (1986-1989).

Dù với mục đích hạn chế như vậy, phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm đã chịu những hậu quả thảm khốc, bằng thủ đoạn vu khống chính trị, đảng đã thổi phồng vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm như một âm mưu khuynh đảo quốc tế với sự tham dự trực tiếp của Mỹ và miền Nam, tất cả những từ ngữ thô bỉ nhất, hằn học nhất đều được sử dụng nhằm bôi nhọ các nhà văn của phong trào: Thụy An bị gọi là ” con phù thủy xảo quyệt “, Nguyễn Hữu Đang bị coi là ” quân sư quạt mo “, Trần Đức Thảo bị mỉa mai là ” triết gia phản bội chân lý “, Trần Dần là ” một tâm hồn đồi trụy “, Hoàng Cầm là một ” tên bội bạc “… (Bọn Nhân Văn-Giai Phẩm trước tòa án dư luận , từ trang 42-104).

Cả một phong trào quần chúng, mít tinh, biểu tình, học tập… được bộ máy đảng huy động để áp đảo nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, tất cả những ngôn ngữ bôi bẩn đầu đường xó chợ nhất đả được sử dụng trong suốt gần hai năm (1958-1959) để đấu tranh chống Nhân Văn-Giai Phẩm, điểm làm cho hậu sinh chúng ta tê tái (chữ của Hoàng Ngọc Hiến khi phê bình truyện Nguyễn Huy Thiệp) là những lời chửi rủa độc ác xách mé nhât lại là do những nhà văn, nhà thơ mà chúng ta vẫn kính trọng tài năng từ thời tiền chiến và kháng chiến như Tế Hanh, Hoài Thanh, Phạm Huy Thông, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu…

Tại sao cả guồng máy đảng, chánh quyền phải huy động toàn lực để chỉ đối với 34 văn nghệ sĩ của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải nhìn lại bối cảnh chính trị của chế độ CS vào thời điểm 1956-1958… Vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp, để huy động toàn lực quốc dân, đảng cộng sản phải dương lá cờ dân tộc làm bình phong vận động quần chúng, đảng phải tự giải tán và lui vào bóng tối để củng cố lực lượng và đào tạo đội ngũ cán bộ trung kiên (mà tên gọi phổ cập là Việt Minh: chính phủ Việt Minh, mặt trận Việt Minh, bộ đội Việt Minh) nếu đại đa số là nông dân thì thành phần lãnh đạo trung cao (cả trong bỗ đội lẫn ủy ban kháng chiến) đa số là tiểu tư sản (trí thức, tiểu thương, tiểu chủ, phú nông…), số lượng cán bộ cộng sản, dù nắm những chức vụ quyết định, vẫn còn là thiểu số.

Khi tiếp thu miền Bắc, guồng máy kháng chiến trở về thành cũng với cơ cấu nhân sự như vậy. Trong mục tiêu ” dọn sân để xây dựng chủ nghĩa xã hội “, đảng đã vội vã phát động chiến dịch ” cải cách ruộng đất ” nhằm triệt tiêu thành phần tiểu nông, trung nông, phú nông và địa chủ tại nông thôn, mặc dù các thành phần này, tự thân họ, hoặc con em họ, lại là thành phần lãnh đạo hoặc tham gia tích cự kháng chiến. Nhằm đánh gục các thành phần này, đảng đã huy động một thiểu số đảng viên và thổi phồng một số vô lại tại địa phương được mệnh danh là ” bần cố nông cốt cán ” để thành lập những đội cải cách với toàn quyền sinh sát trên nông thôn. Hậu quả là, do cuồng tín, vô học và thù hận, chính sách này đã gây những bất mãn, căm phẫn của đại khối nhân dân, và đặc biệt, của chính các thành phần cán bộ có công với kháng chiến, chính họ đã chống đối đảng mãnh liệt nhất, họ đã cầm đầu các cuộc nổi loạn vũ lực khắp miền Bắc mà đảng không thể bưng bít và đành thú nhận qua phần trích dẫn đầu bài.

Sự thất bại của chính sách cải cách ruộng đất khiến đảng phải thay đổi chiến lược, lùi một bước tại nông thôn và nắm vững lại hệ thống đảng bằng một cuộc tổng thanh lọc các tầng lớp tiểu tư sản trong guồng máy đảng và chính quyền, mà đặc biệt hai thành phần trí thức tiều tư sản và văn nghệ sĩ đã được ưu tiên chiếu cố. Cuộc đàn áp phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm nằm trong chiều hướng đó.

Trong màn cuối của cuộc đàn áp, hai hội nghị của văn nghệ sĩ, thực chất là hai phiên tòa án nhân dân đã được tổ chức để chứng kiến 34 thành viên của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, sau khi làm việc với công an văn hóa, phải ra trình diện nhận tội – họ và những người liên hệ ” đã tự giác, tự phê bình ” trước đại hội.

Ngoài 34 nhân vật được nêu tên, bản cáo trạng còn dành một án treo cho tất cả giới văn nghệ sĩ bằng một câu thòng: ” nhưng đó không phải là tất cả (còn những tên chưa ra mặt) “. (Bọn Nhân Văn-Giai Phẩm trước tòa án dư luận, trang 309-310, nhấn mạnh của người viết).

Bản án treo này mới thực sự tàn nhẫn, tất cả những nhà văn nhà thơ nào tỏ ra còn chút bất khuất, không tự nép mình trong khuôn khổ đảng, đều bị ghép vào tội ” liên hệ với Nhân Văn-Giai Phẩm ” hoặc ” ủng hộ bọn Nhân Văn-Giai Phẩm “, như nhà thơ, kịch tác gia Đoàn Phú Tứ bị đấu tố đến mắc bệnh tâm thần, như nhà thơ Nguyễn Bính bị bao vây kinh tế đến nỗi chết lạnh giữa đêm giao thừa, miệng còn chóp chép thèm cơm (thơ Trần Mạnh Hảo), hoặc suốt đời sẽ là kẻ ” có vấn đề ” như Trương Chính tự thuật trong bài ” Mấy ý kiến chung quanh việc đảng lãnh đạo văn nghệ “.

Hiển nhiên tất cả các biện pháp trấn áp không phải chỉ nhằm vào cá nhân các thành viên trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, bản án 15 năm tù đối với Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Thiếu Bảo (chúng ta tự hỏi bây giờ đã 32 năm sau, không biết các vị này đã được phóng thích chưa?), hoặc là truất hết quyền cầm bút, quyền công dân, bao vây kinh tế và cô lập về tinh thần khiến tất cả các nạn nhân đều trở nên các công dân mạt hạng trong đáy tầng xã hội. Biện pháp trấn áp này nhằm khủng bố tinh thần đối với mọi văn nghệ sĩ khác, gây cho họ một tình trạng lo âu thường trực, sợ hãi thường xuyên, để biến họ thành một đám cừu non dễ bảo.

Sợ hãi trở thành một bản tính thứ hai của văn nghệ sĩ dưới chế độ cộng sản. Ta hãy nghe Nguyễn Minh Châu mô tả một hoạt cảnh về nhà văn Nguyễn Tuân: ” một nhà văn đàn anh nâng chén rượu lên giữa đám đàn em: Tao còn sống đến bây giờ là nhờ biết sợ! “. Nói rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt tuôn lả chả, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào lòng “. (Hãy đọc ” Lời ai điếu cho một thời văn học minh họa “).

Nỗi sợ hãi một cách bi phẫn như vậy là số phận chung của cả một thế hệ nhà văn cuối thập niên 50 và kéo dài cho mãi tới gần đây. Nguyễn Tuân dù sao cũng còn được xưng tụng là cương trực, thẳng thắn, và khi mất đi còn được hậu thế ” ca tụng cái đức ” không chịu hèn ” của một người cầm bút trung thành với chính mình ” (Phạm Xuân Nguyên – Cái hèn của người cầm bút, Sông Hương số 31), còn những nhà văn khác, không có tài năng và thành tích như ông, tình trạng còn bi thảm đến chừng nào.

Như vậy xét về măt Văn học sử, qua vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, không phải đảng chỉ triệt tiêu sự cống hiến cho văn học của 34 nhà văn thành viên của phong trào và chừng 70 nhà văn nhà thơ bị quy kết là liên hệ với họ, mà đảng đã hủy hoại một thế hệ văn nghệ sĩ đã thành danh từ thời tiền chiến. Giờ đây (1990) nhắc đến các nhà văn tiền chiến, ta vẫn nghĩ đến một thế hệ vang bóng một thời, nhưng vào cuối thập niên 50, tất cả họ chỉ mới trên dưới 40, cái tuổi sung sức nhất của sáng tạo. Quả thật, dù khe khắt đến đâu, chúng ta cũng phải xác nhận những Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyên Hồng, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Thanh Tịnh… là những tài năng xuất chúng, ở lứa tuổi 20, họ đã có những tác phẩm rực rỡ trên văn đàn như Thơ Thơ, Lửa Thiêng, Bỉ Vỏ, Điêu Tàn, Mấy Vần Thơ, Quê Ngoại…

Vậy mà kể từ khi họ chịu khuất phục, gậm nhấm ” cái hèn ” trong thân phận cầm bút, văn phong họ cũng trở thành ” hèn ” luôn, họ chỉ có thể sáng tác được những bài vè tuyên truyền, những bài văn nhạt nhẽo, phần nhiều họ kéo dài kiếp sống thêm 30 năm nữa, nhưng sự nghiệp văn học của họ coi như chấm dứt từ ngày đầu của chế độ cộng sản.

(còn tiếp)

Nhuốm Màu Quan San

Tags

Cứ mỗi lần mùa thu đến thì ở những vùng lạnh (ôn đới), cây cối đổi màu lá trước khi rụng sạch để chờ mùa đông đổ tuyết sắp đến. Cây mà lá đổi màu thì có nhiều loại và cho ra sắc màu khác nhau. Có cây đổi từ lá xanh sang màu vàng, màu đỏ, màu tím, tím phơn phớt hoặc tím sậm, màu nâu, màu vàng lợt, màu nửa vàng nửa xanh… trước khi rụng (xem hình kèm theo). Tuy nhiều loại cây đổi màu lá nhưng hầu như khi nói về cây đổi màu vào mùa thu thì người ta đếu nói đến cây phong và dẫn câu thơ: [I]Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san[/I]. Cây phong theo Phạm Thắng Vũ (PTV) biết thì chính là cây Mapple mà ở các tiểu bang (ở Hoa Kỳ) giáp với nước CANADA thấy trồng rất nhiều. Màu đỏ là màu nóng và nổi nhất trên nền của phong cảnh cây cối và có lẽ vì thế mà người CANADA đã chọn lá phong màu đỏ làm nền quốc kỳ của họ. Có người mỗi khi mùa thu về, thấy lá phong đổi màu liền nhớ đến câu thơ kể trên và thắc mắc câu thơ đó ở đâu ra? Thực ra nó là câu tám dưới câu sáu (thể thơ lục bát) trong tập thơ Kim Vân Kiều của thi hào Nguyễn Du (1766-1820). Hai câu này (1519-1520) kể về sự chia tay giữa chàng họ Thúc (Thúc Kỳ Tâm) và nàng Kiều (Vương Thuý Kiều) trong cảnh rừng phong thay lá vào mùa thu.

14192521_10210934993111692_3992245715145953597_n14963339_10210934798706832_4813936243700613500_n14958605_10210934786386524_2019799389_n

Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

Đọc hai câu thơ này, ai cũng biết tác giả (Nguyễn Du) mượn cảnh thật bên ngoài (rừng phong thay màu lá) để tả tâm tình của hai người trong truyện. Cảnh rừng phong thay lá vào thu tuy đẹp nhưng buồn, ảm đạm (nhuốm màu quan san) vì sự chia ly trước mắt. Quan san ở đây coi vậy mà khó để ta tìm ra nghĩa cho đúng. Các tự điển tiếng Việt thường giải thích hai chữ quan san (關 山) là cửa ải và núi non, đồng mang nghĩa bóng là nơi xa xôi cách trở (quan san muôn dặm…). Cảnh mùa thu là cảnh buồn và sự chia lìa thường được thi sĩ lồng nó trong cảnh mùa thu (người biệt ly nhau bên hàng cây rụng lá, trơ cành khô  cạnh vệ đường…).

Trở lại hai câu thơ trên thì ta biết ngay bối cảnh của việc chia tay đã xẩy ra ở nơi nào đó không phải trong nước Việt. Cây phong không phải là cây được mọc tự nhiên trong nước (kể cả miền Bắc ở những vùng cao). Nó ở bên Tàu, đúng như nguyên tác của truyện gốc (Thanh Tâm Tài Nhân) nhưng dù vậy, ngắm cảnh rừng phong thay màu lá rồi rụng lả tả thì tâm hồn con người ai nấy đều cảm nhận giống nhau. Một cảnh đẹp nhưng buồn.

 

Nhân nói đến mùa thu thì PTV vẫn nhớ lời của những người bạn thường bảo: Mùa thu là mùa của chia ly, của sầu buồn… Cách mạng tháng Tám năm 1945 lại rớt ngay vào mùa thu nên đất nước mình không khá được. Bởi vậy! Mùa thu trong thi ca thì cây đổi màu lá và rụng. Bọn người của cách mạng mùa thu năm xưa đã đổi lốt người (khi thành công, có quyền lực trong tay) thành kẻ độc ác, bất nhân, bất nghĩa (còn hơn cả bọn thực dân Pháp khi cai trị dù chúng khác chủng tộc) với chính người dân chung dòng giống của mình (kể cả ân nhân của họ). Tâm hồn của bọn người này (nay có tên gọi chung là băng đảng Việt Cộng) đã nhuốm đẫm màu Đỏ như màu quốc kỳ, đảng kỳ đang sử dụng.

Phạm Thắng Vũ

Nov 06, 2016.

Sống ở Hoa Kỳ, bạn có bao giờ thấy loại trái cây này: Pawpaw?

Tags

Rất đông người sống ở Hoa Kỳ (kể cả người sinh ra tại đây) biết về một loại trái cây có tên là Pawpaw. Phạm Thắng Vũ (PTV) tình cờ được một bạn quen người Mỹ làm chung sở cho vài quả Pawpaw này cách đây vài năm nên mới biết đến nó. Các bạn trong fb xem hình quả Pawpaw bên dưới đây. Đây là một loại cây ăn quả vùng nhiệt đới nhưng lại có thể trồng trong vùng lạnh đổ tuyết được. Cây cao khoảng 10 hay 11 m và vào mùa Đông thì rụng hết lá để mùa Xuân hồi phục lại (tương tự cây Phong-Mapple mà nước CANADA lấy hình lá làm quốc kỳ). Nở hoa vào mùa Xuân, có mầu đỏ tím trông khá đẹp. Đậu quả nhưng chỉ cần thời tiết nóng đột ngột thì quả sẽ rụng gần hết. Có lẽ đây là lý do khiến nhà vườn trồng cây ăn quả ngần ngại không dám trồng loại cây ăn trái này như trồng cây Táo, Lê, Cherry…. Khi quả lớn (hết cỡ từ 15 cm dài và 5 cm rộng) thì sẽ chín. Trông bề ngoài quả Pawpaw thì khá giống quả Xoài bên Việt Nam mình. Ruột nên trong có mầu vàng nhạt. Bửa trái ra làm hai, cơm rất mềm (có thể lấy muỗng múc ăn được), cho mùi thơm pha lẫn giữa chuối-xoài và có vị ngọt nhẹ. Thông thường, quả mọc thành chùm 3 cho đến 6 quả liền với nhau bằng 1 cuống nhỏ. Một bất lợi cho trái Pawpaw là khi hái xuống thì chỉ độ vài ngày là đã quá chín (sờ mềm phải ăn ngay không thì rữa). Trữ trong tủ lạnh có thể được lâu hơn nhưng vỏ sẽ sậm đen đi. Một trái có khoảng chục cái hột, vỏ cứng mầu đen nâu đậm.

 

14628297_10210632292064355_1706569234_n14657702_10210632326985228_668670944_n14610747_10210632315864950_2017563038_n14625295_10210632330505316_767358652_n-1800px-still-life_with_paw_paws_edward_edmondson_jr-_dayton_art_institute

Người bạn Mỹ cho PTV trái Pawpaw này lần đầu đó cho đến năm nay (2016) cách nhau cả 4 năm trời mới có lại. Từ năm ngoái trở về trước thì cây Pawpaw ở nhà họ đều bị rụng sạch trong mùa Hè. Năm nay có trái Pawpaw là do thời tiết mùa Hè không gặp những ngày quá nóng.

Tuy vậy, lá và vỏ cây Pawpaw chứa chất Acetogenins là một chất có thể dùng để diệt côn trùng nên ta cẩn thận khi trồng cây Pawpaw này.

Chưa bao giờ PTV thấy ở chợ Mỹ bán loại trái cây Pawpaw. Các bạn sống ở Mỹ có ai thấy quả Pawpaw này chưa? PTV để dành hột, định có dịp về VN sẽ mang cho gia đình bên đó trồng thử xem sao?

Phạm Thắng Vũ

Oct 09, 2016.

Về Một Bài Thơ: ” Lời Mẹ Dặn ” Có Phải Là Bài Thơ Chân Thật? Chống Lại Thi Sĩ Phùng Quán

Tags

Thi sĩ Phùng Quán (PQ) có 2 bài thơ nổi tiếng tên là Lời Mẹ Dặn và Chống Tham Ô Lãng Phí trong thời kỳ Nhân Văn-Giai Phẩm (NV-GP) tại miền Bắc Việt Nam (thời còn nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) thì ai cũng biết cả rồi. Các lý do để hình thành lên phong trào NV-GP (những năm ngay sau 1954 khi chính quyền Việt Cộng tiếp thu Hà Nội) và các cá nhân văn-nghệ sĩ cùng trí thức tham gia phong trào NV-GP cùng các biện pháp mà nhà cầm quyền đối phó lại (bao gồm cả giới văn-nghệ sĩ đứng về phe chế độ) thì ta cũng đã biết cả rồi, nên PTV cũng không nhắc lại nữa.

Lời Mẹ Dặn (LMD) ngay sau khi đăng trên báo Văn (số 21 ra ngày 27 tháng 9 năm 1957) thì không lâu sau đó trên báo Nhân Dân xuất hiện một bài thơ với tựa là: ” Lời Mẹ Dặn ” Có Phải Là Bài Thơ Chân Thật? (LMDCPLBTCT?) với từng câu dựa vào từng câu của bài thơ LMD để đánh trả lại cá nhân nhà thơ PQ.

 

12540871_765878706852001_8130003940724818539_n

 

Thực ra thì trên hết, nhà cầm quyền Hà Nội khi đó đàn áp phong trào NV-GP là đã ra mặt chống lại các đòi hỏi tự do về văn hóa, báo chí cùng tư tưởng mà các văn-nghệ sĩ chỉ muốn dùng ngọn bút để báo động, phê phán nền hành chánh quan liêu, tình trạng xã hội tệ hại sau vụ cải cách ruộng đất… Các tác phẩm của giới văn-nghệ sĩ trong phong trào NV-GP có gay gắt có dữ dội nhưng hoàn toàn không có ý muốn bạo loạn (lật đổ) chế độ. Văn-nghệ sĩ vẫn tin vào lãnh đạo (những người mới ngày nào đây còn chỉ đạo họ trong sáng tác) và lý thuyết Cộng Sản (là chính quyền mà họ đã đi theo từ khởi đầu cuộc chiến Việt-Pháp 1945-1954), một lý thuyết vẽ ra cảnh bình đẳng, không bất công, người bóc lột người… Nhưng tất cả họ đã lầm.

 

Dưới đây là bài thơ Lời Mẹ Dặn của thi sĩ Phùng Quán:

 

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn.
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc

– Con ơi
trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.

– Mẹ ơi, chân thật là gì?

Mẹ tôi hôn lên đôi mắt

– Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu

Từ đấy người lớn hỏi tôi:

– Bé ơi, Bé yêu ai nhất?

Nhớ lời mẹ tôi trả lời:

– Bé yêu những người chân thật.

Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vời.
In lên vết son đỏ chói.

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ

Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

1957
Phùng Quán

 

Và đây là bài thơ: ” Lời Mẹ Dặn ” Có Phải Là Bài Thơ Chân Thật?

 

Có bạn đọc xong thơ ” Lời Mẹ Dặn “,
Nghĩ không thông tìm đến hỏi tôi.
Rằng tác giả mượn lời thơ tuyên bố:
” Làm nhà văn chân thật trọn đời,
” Từ thuở nhỏ từng nghe mẹ dặn,
” In tấc son không dám trái lời:
” Yêu ai cứ bảo là yêu,
” Ghét ai cứ bảo là ghét,
” Thấy buồn muốn khóc là khóc
” Thấy vui muốn cười cứ cười “.
Vậy tác giả phải là người chân thật,
Xin cho nghe, cho biết rõ đầu đuôi?

Lời bạn hỏi không làm tôi đột ngột,
Bài thơ kia tôi đã đọc qua rồi.
Trước hãy nói đến tình yêu ghét,
Ghét với yêu là lẽ sống con người.
Mẹ muốn con thành người chân thật,
Cần khuyên con biết ghét yêu ai:
Phải yêu kẻ lòng ngay dạ thẳng,
Phải ghét quân bán nước buôn nòi.
Lòng yêu ghét phải như gương sáng,
Ví bằng không, bia miệng muôn đời.

Con bất hiếu thường trái lời mẹ dặn,
Rằng ghét yêu là quyền ở lòng tôi.
Nó ghét kẻ thầy hiền bạn tốt,
Nó yêu quân gái điếm cao bồi,
Ghét những người đáng yêu của thiên hạ,
Yêu những người đáng ghét của muôn người.
Quen học thói gà đồng mèo mả,
Hóa ra thân chó mái chim mồi.
Con hư hỏng, khuyên răn chẳng được,
Mẹ ê chề đau khổ khuôn nguôi.
Nên từ lúc con còn bé nhỏ,
Mẹ phải lo dạy dỗ cho rồi.
Dạy cho biết điều hay lẽ phải,
Ngay cả trong tiếng khóc câu cười.
Có lúc con tủi buồn khóc lóc,
Mẹ phải ru rát cổ khàn hơi.
Có lúc con reo cười đùa nghịch,
Bảo không nghe phải mượn đòn roi.
Kẻo rồi nữa tre già măng mọc,
Mẹ hiền đâu dám để buông trôi.

Trên thực tế người trong cuộc sống,
Nào mấy ai tùy tiện khóc cười:
Biết bao kẻ khi vui muốn khóc,
Lúc buồn tanh thì lại muốn cười.
Ngẫm mình thấy khóc cười vô lý,
Muốn reo như thông đứng giữa giời.
Biết bao kẻ cười ra nước mắt,
Buồn lại e rằng khóc hổ ngươi.
Cười khóc một khi không thực tế,
Thà cắn răng, mím miệng, dằn hơi.
Có những kẻ âu sầu khóc tủi,
Lệ chưa khô bỗng đã cười vui.
Khóc tủi những mong người tội nghiệp.
Cười vui cho được khách mê tơi.
Mục đích cốt tiền nhiều nặng túi,
Phương châm theo mật ngọt chết ruồi.
Ngoài miệng vẫn nói cười thơn thớt,
Mà không dao, nham hiểm giết người.
Ấy là bọn quen nghề bịp bợm,
Kiếm ăn trên tiếng khóc nụ cười.

Đoàn vệ quốc phất cao cờ quyết chiến,
Liều tử sinh nơi khói lửa tơi bời.
Họ chặt tay để xông lên mặt trận,
Họ đem mình ra lấp lỗ châu mai.
Khi chôn cất những người đồng đội,
Trong phút giây họ cũng ngậm ngùi.
Nhưng quyết không dừng chân sùi sụt.
Tiến lên theo nhịp hát vang trời.
Ai dám bảo họ thiếu chân thật?
Họ là người chân thật nhất đời!
Ai dám bảo họ là đất sét?
Họ là ” người ” hơn cả mọi người!
Họ đáp lời kêu gọi của Tổ quốc,
Vì nhân dân đổi khóc ra cười.
Cười với khóc muôn màu muôn vẻ,
Ghét hay yêu tùy việc tùy người.
Đâu có phải
” Yêu ai cứ bảo là yêu,
” Ghét ai cứ bảo là ghét.
” Thấy buồn muốn khóc là khóc,
” Thấy vui muốn cười cứ cười “.
Lời mẹ dặn chắc không ngớ ngẩn,
Từ nghìn xưa ai cũng thế thôi.
Nhưng có lẽ dặn khi còn nhỏ,
Nên nhà văn nay đã quên rồi;
Cũng có lẽ nhà văn xiên xỏ,
Viết văn ra cốt để bịp đời!

Nói đã hết, bạn tôi chưa thỏa mãn,
Còn mấy câu xin hỏi nốt mới thôi:
Câu:
” Sét đánh trên đầu không ngã,
” Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi,
” Bút giấy tôi đã bị người cướp giật,
” Tôi dùng dao mài đá viết văn chơi “.
Câu nói ấy có phải là chân thật,
Xin cho nghe cho biết rõ đầu đuôi?

Mấy câu nầy có phần lắt léo,
Chữ trong văn mà nghĩa xa xôi.
Nghĩa xa quá thành văn khó hiểu,
Nhưng ích chi mà nặn óc tìm tòi.
Theo lẽ thường: thì sét đánh không ngã,
Chắc trên đầu có cắm thu lôi;
Nếm đường mật lưỡi không biết ngọt,
Chắc ăn tham vị giác hỏng rồi.
Nghề bút giấy đã làm không trọn vẹn,
Thì dùng dao khắc đá cũng xoàng thôi!
Ý kiến tôi thế thì nói thế,
Đúng hay không xin bạn tự trả lời.

Trúc Chi

 

Tác giả bài thơ là Trúc Chi mà ở thời điểm đó (phong trào NV-GP) thì có nhà thơ Trúc Chi đang cư trú tại thành phố Hải Phòng. Ông nhà thơ nầy gốc dân miền Nam tập kết và cũng từng tiếp xúc với nhà thơ PQ mỗi khi có dịp ra Hà Nội. Khi đọc được bài thơ LMDCPLBTCT? trên báo Nhân Dân thì nhà thơ PQ đã xuống thành phố Hải Phòng để gặp và hỏi nhà thơ Trúc Chi cho ra nhẽ nhưng khi gặp hỏi thì không phải. Nhà thơ Trúc Chi nói với nhà thơ PQ: ” Ông nghĩ tôi là cái hạng người nào mà đi làm mấy chuyện khốn nạn đó “. Nhà thơ PQ tìm mãi mà không biết ai là Trúc Chi của bài thơ LMDCPLBTCT? đến độ ông thuộc lòng tất cả bài thơ nầy, nói là quyết tìm cho ra tác giả là ai vì, ông cho là đời ông tan nát cũng vì cái ông Trúc Chi nầy chứ không ai khác. Tìm cho ra để biết thôi chứ cũng chẳng có ý gì.

Thực ra thì đọc 2 bài thơ ta dễ dàng thấy ở bài LMD mang tâm tình của một người mới lớn, vẫn còn là một cậu bé nhớ lời mẹ dặn khi xưa. Còn ở bài LMDCPLBTCT? thì rõ ràng là của một người có tuổi, từng trải việc đời qua các câu:

… Biết bao kẻ cười ra nước mắt,
Buồn lại e rằng khóc hổ ngươi.
Cười khóc một khi không thực tế,
Thà cắn răng, mím miệng, dằn hơi…

Nhà thơ PQ cũng đoán như vậy nhưng đành chịu vì một khi họ đã dấu tên thật của mình lại còn dùng bút hiệu của một nhà thơ khác khi đăng bài viết nầy trên tờ Nhân Dân. Chắc chắn cá nhân người có tên Trúc Chi nầy phải là một đảng viên Cộng Sản vì cứ lấy câu thơ: ” Cười với khóc muôn mầu muôn vẻ… Vì nhân dân đổi khóc ra cười … ” Nhưng tại sao người nầy lại dấu tên thật? Họ không dám để tên thật chắc là vì bài thơ LMD của nhà thơ PQ quá đúng và bài thơ họ phản bác chỉ rặt điều quy kết tàn ác, triệt tiêu ý tưởng của bài thơ LMD ngay từ khi nó mới xuất hiện trên trang báo Văn ở miền Bắc khi đó.

Nhà thơ PQ chịu chết, tìm không ra. Mãi cho đến năm 1989 thì chuyện ông tìm mới thỏa khi nhân được đọc tập thơ Một Đôi Vần (MDV) của Hoàng Văn Hoan (HVH) do nhà xuất bản Việt Bắc ấn hành (trong đó có bài thơ LMDCPLBTCT?) và ở trang đầu của tập thơ MDV có lời giới thiệu HVH chính là Trúc Chi. Trong thời kỳ NV-GP xẩy ra thi ông HVH là Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng Lao Động Việt Nam. Biết được Trúc Chi là HVH rồi thì nhà thơ PQ vuốt râu ngâm nga (lúc nầy nhà thơ đã để râu dài và ông HVH đang sống tại Trung Quốc): ” Anh Hoan ơi… Ai quen học thói gà đồng mèo mả. Ai hóa ra thân chó mái chim mồi… “.

 

12509407_765879253518613_6494915972390399759_n

 

Hoàng Văn Hoan (1905-1991) dân Nghệ An, là một nhà hoạt động chính trị từ thời Pháp thuộc, đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam từ những buổi còn sơ khai cho đến khi đảng nầy đoạt được chính quyền hoàn toàn trong các giai đoạn 1945-1954 rồi từ 1954 cho đến 1975. Từng giữ các chức vụ Thứ trưởng Quốc Phòng (năm 1945), Đại biểu Chính Phủ tại Liên Khu 4 (năm 1946), Đại sứ Việt Cộng tại Trung Cộng (từ năm 1950-1957), Bí thư Thành Ủy Hà Nội (năm 1961) và Phó Chủ Tịch Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Việt Cộng (từ năm 1958 đến 1979). Nhân trong 1 chuyến bay sang Đông Đức chữa bệnh, khi máy bay quá cảnh tại thành phố Karachi (thuộc nước Pakistan) ngày 11 tháng 6 năm 1979 thì HVH đã đào thoát sang Trung Quốc và chết tại đó năm 1991.

Dưới đây là hình ảnh bài thơ “Lời Mẹ Dặn” Có Phải Là Bài Thơ Chân Thật? (các trang 77, 78, 79, 80, 81 và 82) đăng trong tập thơ Một Đôi Vần của Hoàng Văn Hoan do nhà xuất bản Việt Bắc in năm 1989 và phần mộ của nhà thơ Trúc Chi (Hoàng Văn Hoan) tại Trung Quốc.

 

12417971_765878993518639_3446257547660010912_n

12548844_765879093518629_3034646450135605673_n

12565564_765879136851958_6955390660938940093_n

5405_765879203518618_7536230806764336198_n

 

Phạm Thắng Vũ

Sept 25, 2016.

 

Chuyện Ngày Thơ Ấu

Tags

 

Ở tuổi nào thì ký ức con người ta mới bắt đầu giữ lại được các hình ảnh cũ? Còn tuổi sơ sinh phải có người bồng bế trên tay thì chắc chắn sẽ không nhớ gì cả. Vậy từ tuổi lên ba hay lên năm, lên sáu… thì mới có thể nhớ chút chút về cái ngày còn bé của mình? Ai cũng có một tuổi thơ còn bé và nó bắt đầu từ tuổi nào? Cái tuổi thơ đó tất nhiên nó đã là một ngày xưa lắm của cuộc đời mình. Nhà văn Duyên Anh thì gọi cái thời tuổi thơ đó là Ngày Xưa Còn Bé trong một tác phẩm của ông. Điều đó đúng nhưng theo Phạm Thắng Vũ (PTV) là phải nhớ được cái tuổi thơ này thì mới thú. Với PTV thì ngày xưa còn bé bắt đầu ở tuổi lên bẩy vì bản thân chỉ nhớ được ít chuyện xẩy ra trong thời kỳ này, xa hơn nữa thì chịu. Để tránh sự trùng lập đề bài, PTV xin sửa cái tựa là Chuyện Ngày Thơ Ấu.

Không biết bố gặp mẹ ở đâu từ ngoài Bắc mà khi PTV có các ký ức về thời xưa của mình thì gia đình đã cư trú tại vùng Ngã Tư Bẩy Hiền (NTBH) rồi. Đây là một xóm nhà của dân di cư từ miền Bắc vào Nam dịp 1954. Bố PTV là một quân nhân nên ông theo đơn vị di chuyển nhiều nơi rồi sau đó, thấy mang theo gia đình (gồm mẹ, anh trai, bản thân PTV và mấy đứa em gái) sẽ rất bất tiện và nguy hiểm (bố kể có một lần Việt Cộng tấn công vào một cái đồn lính làm chết lây khá nhiều thân nhân của các binh sĩ) nên bố mua căn nhà nhỏ ở vùng NTBH này để cho gia đình tạm sống. Bố cứ đi theo đơn vị và hàng năm, ông chỉ có vài lần về phép thăm nhà rồi sau đó lại đi ngay. Tuổi lên bẩy, không hiểu do đâu mà PTV bị bịnh cứ nghe tiếng động lớn là sợ là khóc nên mẹ mới dắt ra tiệm thuốc Bắc của ông người Tàu gần nhà để khám lấy thuốc uống. Cái tiệm thuốc Bắc đó có tên là Anh Sanh Đường. Đến tiệm cũng chưa được ông thầy thuốc khám ngay cho vì phải chờ đến lượt nên PTV mới đi đến chỗ có cái bàn nhỏ ngay góc nhà để xem người ta làm thuốc. Cái bàn nhỏ đó, gắn chặt một con dao to tướng được một anh lớn tuổi hơn đang dơ tay nâng cán lên xuống nhịp nhàng để cắt từng nhúm thuốc thành các sợi nhỏ. Mùi hăng hắc thơm thơm bốc lên làm PTV ngạc nhiên vì thấy nó rất quen mũi nên lấy tay cầm một miếng thuốc mỏng đưa lên ngửi rồi xem kỹ. Thì ra chỉ là các vỏ cam, vỏ quýt đã ỉu khô, đen sậm. Mẹ thấy PTV đứng gần chỗ làm việc của người nhà thuốc sợ phiền nên bước đến kéo tay dẫn về chỗ ngồi. Vừa ngồi vào chỗ, PTV khoe với bà  nho nhỏ:

– Vỏ cam vỏ quýt mẹ à. Con dao to quá.

Không nhớ ông thầy thuốc người Tàu đã chẩn bịnh ra sao mà chỉ biết từ hôm đấy, cứ vài ngày thì PTV được mẹ bắt ăn nguyên một quả tim heo nấu chín đựng trong một cái chén nhỏ. Chỉ tim heo thôi chứ chẳng có thuốc uống nào khác. Buổi trưa, sau khi tan học về nhà, PTV phải ngồi ăn từng lát thịt từ quả tim heo do mẹ sắt thành miếng còn âm ấm trước khi ăn cơm. Có một chút nước đỏ hồng từ trong lòng quả tim mà PTV cứ nghĩ là chất lỏng tiết ra từ thịt nhưng sau này mới biết do bột thuốc Thần Sa phôi ra thành. PTV có một anh trai hơn mình năm tuổi và mỗi khi thấy mẹ ngồi cắt thịt thì anh lại gần ngồi xem rồi xin mẹ cho anh ăn chung nữa. Nhưng mẹ chỉ cho anh trai các chỗ có phần dính thịt mỡ và những chỗ có gân trắng mà PTV lừa ra ngoài, không ăn. Ăn mãi món tim heo này nên PTV chán miệng muốn bỏ cho anh trai ăn dùm thì mẹ cứ ép phải ăn. Con phải ăn, ăn để hết bịnh, mẹ bảo vậy và còn nói với anh trai là phải biết thương em mà đừng đòi.

 

Vùng NTBH khi đó còn hoang vắng lắm. Tầm mắt còn nhìn thấy vòng đai của phi trường Tân Sơn Nhứt xa xa. Gần hơn thì nghĩa địa từ thời Pháp còn đầy những bia mộ trắng nằm đều đặn bên nhau. Hướng đi về Chợ Lớn còn nhiều  hàng cây cao su đều đặn, thẳng tắp mà có người nói đi vào trong sâu hơn, sẽ thấy có cả một kho chứa đạn của lính Nhật bỏ lại. Chung quanh xóm nhà của PTV ở vẫn còn là các đám ruộng ngập nước, đầy rau muống mọc hoang, chính là chỗ mà buổi chiều lôi cuốn nhiều người đến câu cá. Chợ là hai bên vệ đường chính ở gần ngã tư đi vào nội đô Sài Gòn mà sau này có tên là NTBH.

Mẹ PTV có một người em họ xa tên là Dậu, mồ côi cha mẹ từ năm mới sinh ra. Anh em PTV trong nhà, được mẹ dặn gọi dì là dì Dậu. Tên của dì là do người trong họ đặt cho như một kỷ niệm về cái chết của cha mẹ dì trong cái năm có nạn đói ở miền Bắc. PTV cũng không biết nhờ đâu mà dì sống được trong cái thảm nạn năm đó và cũng do ai đưa dẫn mà dì di cư vào miền Nam dịp 1954 để rồi bây giờ đến trú tại nhà. Chỉ biết là dì da dẻ trắng trẻo, tướng người thon thả và khuôn mặt khá đẹp. Hôm đó, một buổi chiều sau khi chạy chơi trong xóm với đám bạn cùng tuổi đến chán, PTV về nhà định đi tắm trước khi trời tối thì gặp mẹ đang ngồi tiếp hai người khách. Khách đây là dì Dậu và người chồng của dì. Tính ra thì khi đó dì ở tuổi mới mười chín, đôi mươi mà sao PTV thấy dì chững chạc như là mẹ vậy. Cậu Luận, chồng của dì là người miền Nam và điều đó cũng là cái lạ cho người trong họ hàng. Lấy ai không lấy lại đi lấy dân Nam Kỳ! Mẹ PTV lúc đầu cũng nói riêng vậy với dì nhưng sau một thời gian sống trong nhà thì mới biết cậu Luận là người rất hiền, tính ít nói và rất chịu khó làm lụng để nuôi dì Dậu ở không nên ai cũng thương cả. Thực ra thì cũng không hẳn là dì Dậu chỉ ngồi không cho chồng nuôi mà dì đi chợ mỗi buổi sáng để mua thịt heo, củ sắn trắng… về làm các đồ nhồi cho cậu Luận đi bán bánh mì mỗi buổi chiều tối. Cậu Luận có một chiếc xe đạp gắn cái thùng nhôm nắp tròn to tướng ở yên sau. Trong thùng nhôm đó có hai ngăn, một bên là các ổ bánh mì khá dài được ủ trong một bao vải kín. Ngăn bên kia có một khay nhỏ để ít than nóng dưới đáy thùng dùng làm nóng bánh mì trước khi bán cho khách. Giữa hai ngăn là chỗ cậu Luận để thịt heo luộc chín bôi phẩm đỏ ngoài phần da chung với chả lụa, thịt xíu mại cùng đồ chua là củ sắn trắng sắt thành sợi ngâm dấm, lọ ớt băm, chai nước tương. Bánh mì, cậu Luận lấy từ một cái lò tuốt gần trường đua ngựa Phú Thọ về hướng Chợ Lớn. Ở ghi đông xe có gắn cái kèn tay nhỏ. Cứ chập tối thì cậu Luận bắt đầu đạp xe bánh mì đó đi bán cho tới quá khuya thì về nghỉ. Đắt hàng, hết bánh bán thì về sớm nhưng cũng có hôm phải đến gần sáng mà trong thùng vẫn còn dư bánh chưa bán hết. Cả nhà PTV phải bữa ăn bánh mì giúp cậu. Như đã kể, nhà dân di cư từ miền Bắc vào cất nhà gần bên đường chính. Đi vô hơi sâu thì nhà cửa rất thưa thớt dần, gần như đất bỏ hoang đầy mồ mả cùng cây thưa và lau sậy. Vẫn có người thỉnh thoảng còn bắt được chồn, trút, rùa… nữa.  Mỗi tối, cậu Luận đạp xe đi bán bánh mì thì phải đảo cả một vùng rất rộng để tìm khách ăn đêm. Cậu đạp xe, thỉnh thoảng bóp kèn báo hiệu cho người ta biết có xe bán bánh mì. Xe chạy trong đêm được là nhờ có bóng đèn chiếu sáng dùng một cục dinamo nhỏ gắn bám vào niền xe. Ở thùng nhôm đằng sau còn treo một cái đèn bão nhỏ giúp cậu thấy đường mà làm bánh khi bán hàng.

Đến ở chung, mẹ PTV cho vợ chồng dì Dậu cất thêm một cái chái nhỏ bên cạnh nhà còn bếp, giếng nước… vẫn xài với gia đình. Có một buổi khuya, cậu Luận đạp xe về giao tiền cho dì Luận rồi đi ngủ ngay. Ngày nào cũng vậy, đạp xe bán hàng cả mấy giờ đồng hồ như cậu Luận rất mệt nên về nhà thì cậu ngủ vùi, mặc trời sáng cho dì Dậu tự lo sắp sẵn hàng để bán cho buổi chiều. Như thường ngày, dì Dậu lấy túi vải đựng tiền bán hàng trong đêm ra đếm, tính lời lỗ thì thấy chỉ có ít tiền cắc tiền giấy chung với lá, giấy vụn. Dì nghĩ tiền để trong thùng nhôm nên lục tìm mà không thấy, đành phải gọi cậu dậy. Cậu Luận nói tiền để trong giỏ nhưng dì coi lại vẫn không có. Xem kỹ các mảnh lá thì thấy lá cắt thành hình vuông, chữ nhật và giấy là các mảnh vàng mã, tiền âm phủ. Người trong xóm nghe chuyện cậu Luận bán bánh mì cho ma nên mới chạy đến xem tiền. Các mảnh tiền vàng mã thì không ai lạ nhưng tiền lá cây đều một màu tái như bị luộc chín nhưng ở phần rìa lại có màu vàng đậm hơn. Người xem bảo đây là lá chuối nhưng người khác bảo lá củ rong hoặc lá cây nghệ… mà sau cùng thì là lá cây gì thì ai cũng không chắc. Hỏi, cậu Luận trả lời hồi khuya rõ ràng đã gặp người mua bánh trả bằng tiền mà bây giờ chỉ là giấy và lá thì cũng chẳng biết do đâu ra? Ai cũng bảo là đây là tiền của ma không nên giữ nó trong nhà. Dì Dậu sợ và nghe lời người ta khuyên, đã đốt bỏ các tờ tiền giấy,  lá đó. Sau, dì còn xin nước thánh từ nhà thờ đạo Thiên Chúa về, đem vẩy vào cái xe đạp cùng thùng nhôm bánh mì đó.

Sống chung trong nhà được khoảng hai năm thì cậu Luận đăng lính rồi sau đó đưa dì đi theo đơn vị quân đội xuống tuốt dưới miền Tây và gia đình PTV cũng ít liên lạc với vợ chồng dì nữa. Sau này PTV mới biết cậu Luận cũng hoàn cảnh mồ côi cha mẹ từ nhỏ y như dì Dậu. Cùng hoàn cảnh nên khiến cả hai người họ dễ dàng đến với nhau hơn, bất kể gốc gác miền Bắc miền Nam.

 

Vợ chồng dì Dậu ra khỏi rồi mẹ PTV lại cho một người cô khác về ở ngay trong căn phòng trống đó. Cô này tên Chi và là bà con phía bên bố PTV. Bằng vai với mẹ nhưng cô Chi chỉ hơn PTV khoảng bẩy tuổi, tám tuổi gì đó. Do đó có khi PTV vẫn lẫn lộn khi gọi cô bằng chị. Cô Chi cũng thế, hay gọi không cái tên Vũ hay em thay vì cháu, nhất là khi có chuyện đi ra ngoài. Bố mất từ khi còn ngoài Bắc, cô Chi theo mẹ vào Nam năm 1954 rồi sống trên trại di cư ở Tân Phú Trung gần vùng Củ Chi-Hậu Nghĩa. Được vài năm thì mẹ cô bị bịnh chết nên người trong họ ba PTV thay phiên luân chuyển từng gia đình nuôi cô cứ vài năm một. Vì PTV không có chị ruột, giờ có cô Chi sống trong nhà nên rất thích mà cô Chi cũng không có em thành ra đi đâu bên ngoài cũng rủ nhau. Thời gian này, trên con đường chính dẫn về hướng ngã ba Bà Quẹo đã có thêm nhiều căn nhà mới. Chủ những căn nhà lợp lá, lợp tôn này là dân từ miền Trung vào hay là dân chạy loạn từ sau trận đánh ở Bình Giã tràn về. Hai bên đường, nhờ có thêm người ở cùng trại lính dù mở rộng nên đã bớt vắng vẻ hơn trước. Có nhà buổi tối còn bày hàng chè, hàng cháo bán trước sân để kiếm thêm nữa. Một buổi tối mùa hè trời rất nóng, cô Chi kéo PTV đi dọc theo con đường chính thì bị một người đàn ông lạ mặt chạy xe hai bánh ngang qua, vỗ tay vào mông cô một cái thật mạnh. Người đó bỏ chạy xa rồi mà hai cô cháu vẫn chưa hoàn hồn.  Chẳng rõ người chạy xe đó mặt mũi ra  sao? Trẻ, già, lính lác hay dân thường? Cái vỗ mông làm cô Chi đau đến phát khóc, chảy nước mắt cho đến khi về tới nhà báo cho mẹ PTV hay. Vết bàn tay năm ngón còn in đỏ trên phần da mông khi cô trật quần xuống cho mẹ PTV thoa dầu nóng để làm dịu cái đau. Cô khóc vì đau làm mẹ PTV cũng khóc theo nữa.

Cũng vì mất cha mẹ khi còn nhỏ nên phải nương nhờ vào các gia đình họ hàng mà sống và cũng vì cảnh luân chuyển vài năm ở nhà này nhà khác nên cô Chi bỏ học sớm. Sống chung trong nhà, cô theo mẹ PTV phụ bán hàng sáo ở chợ rồi có khi lại đi theo mấy người chị họ khác lên vùng Thủ Đức để dệt vải mướn cho các gia đình có máy khung trên đó. Mẹ PTV vai chị của cô, vẫn dặn cô là con gái mới lớn, đi làm xa gia đình thì phải tự phòng thân, ráng tiết kiệm tiền bạc làm được để thành nếp sống sau này. Đi đi, về về thăm gia đình từng tháng một rồi đánh đùng cô Chi nói cho mẹ PTV biết có người theo cô, nói thương cô lắm mà người đó cũng dân miền Nam. Mẹ PTV nghe vậy, lo lắng:

– Trước đã gặp con Dậu, bây giờ lại đến em… Sao lại quen với cái người Nam Kỳ này. Không biết rồi ra có được như thằng Luận?

Không phải mẹ PTV kỳ thị dân Nam gì, chính là muốn cô Chi khi lớn lấy chồng thì phải cùng dân Bắc sẽ hay hơn. Mẹ nói vậy. Bố PTV đóng lính xa nhà biết tin về cô Chi, viết thư về bảo mình vào miền Nam sống rồi lấy dân Nam Kỳ là chuyện thường. Phu đồn điền cao su từ miền Bắc vào Nam thời trước cũng thế, rồi cũng yên ấm cả. Đừng cấm đoán, chỉ nên khuyên cô Chi phải cẩn thận, dò xét người đó cho kỹ.

 

hinh change

 

Hình chụp PTV, đứng giữa anh trai và mẹ (mẹ tay bế em gái) của ngày xưa. Ảnh do bố chụp ở Tân Hương-Kon Tum.

 

Chính vậy mà cô Chi ngần ngừ chưa dám để người đó tiến gấp, nói cần thời gian để suy nghĩ cho chín. Cô đưa người đó về nhà ra mắt mẹ PTV rồi mà vẫn dùng dằng mãi. Người đàn ông miền Nam đó tên là Bạch, hơn cô cả chục tuổi nhưng được cái cũng hiền lành, thành thật như cậu Luận. Cậu Bạch là lính đóng đồn trên vùng Thủ Đức, thân quen với gia đình mà cô Chi đến làm thuê nghề dệt. Tới lui với gia đình PTV vài lần, mẹ bảo cô Chi quyết định dứt khoát nhưng cô lại nói để xem đã. Cái để xem đã đó, cô muốn biết gia đình cậu Bạch như thế nào và dịp đó đến khi xin phép mẹ để đi theo cậu Bạch trong một chuyến thăm nhà. PTV không biết có sự sắp xếp giữa mẹ và cô Chi hay không mà lại được đi theo với cô và cậu Bạch. Sau này nghĩ lại đó là sự phòng xa, tránh những bất trắc có thể có với cô, một người con gái mới lớn phải đi xa cùng một đàn ông lạ nếu không có mặt PTV gần bên. Nhưng cũng có thể thực lòng cô Chi muốn có người thân trong nhà đi cùng cho vui, chỉ biết khi đó PTV rất thích.

Nhà  hay quê của cậu Bạch ở tuốt tận cái vùng gọi là Thủ Dầu Một tức tỉnh Bình Dương bây giờ. Sống ở Sài Gòn, nơi đến xa nhất trước giờ với PTV mới chỉ là trại di cư Tân Phú Trung hoặc vùng Hốc Môn-Bà Điểm. Khi được gia đình cho đi xa như vậy nên háo hức lắm nhưng cũng sờ sợ khi nghe mẹ nói trước chuyến đi với cô Chi là chỗ cậu Bạch có Việt Cộng hoạt động, phải cẩn thận. Sợ rồi quên ngay vì tuổi còn bé cái sợ cái nhớ cái lo… có đến rồi cũng tan biến chóng vánh.

 

Ngày lên đường là buổi sáng Chủ Nhật của mùa hè trời nắng ráo. Cậu Bạch mặc quần áo dân sự còn cô Chi thì áo dài trắng, quần satanh đen, nón lá, chân guốc cao gót. Không hiểu tại sao ngày xưa phái nữ đi đâu bên ngoài hầu như họ chỉ mặc bộ quần áo dài kiều như vậy. PTV mặc bộ đồng phục học sinh áo trắng, quần dài xanh, dép da như ngày đi học. Bình Dương cách Sài Gòn khoảng năm sáu chục cây số mà phải đi nhiều chặng đường thì mới đến được nhà cậu Bạch vào lúc xế chiều. Ngồi xe lam, xe đò và cả xe ngựa lẫn đò chèo tay nữa rồi khi qua được bến đò còn phải đi bộ một quãng đường khá xa mới đến được nhà cậu Bạch nằm trong một khu vườn đầy những cây cao lớn xum xuê. Những cây ăn trái, những bụi tre bao chung quanh căn nhà vách gỗ mái ngói của gia đình cậu Bạch trông cũng không khác gì mấy với các căn nhà dân khá giả ở gần khu NTBH. Mẹ cậu Bạch là một bà cụ già miệng móm, ngồi nhai trầu trên tấm phản gỗ và dù cô Chi đã nói khi ở nhà là cậu Bạch con trai út trong gia đình nhưng khi đối diện, cô cũng không ngờ bà cụ già quá. Cái già lộ ra từ mái tóc bạc trắng, các nếp nhăn nằm đầy trên cánh tay, khuôn mặt cùng vẻ run rẩy trong khi bà nói chuyện với cô Chi. Có mấy đứa trẻ trai, gái trạc tuổi ra chào rồi sau đó đám này dẫn PTV ra các cây gần nhà hái ổi, hái khế ăn chung trước khi trời tối hẳn. Bữa ăn hôm đó gồm các món lạ, lần đầu PTV biết đến như cá rô chiên dòn dầm nước mắm gừng, canh khổ qua nhồi cá xay, thịt kho tàu, dưa mắm… nên ăn rất ngon.

Khi còn ở nhà, cô Chi đã nói cho mẹ là không biết nhiều về gia đình cậu Bạch nên giờ đây, có đến mới biết bà cụ đang ở chung trong nhà với gia đình một người đàn bà lớn tuổi hơn tuổi mẹ nữa. Bà đó là chị dâu của cậu Bạch, cô Chi dặn PTV phải gọi là bác Ba. Dưới bà Ba, còn vài người nữa mới đến cậu Bạch. Người thân thuộc trong gia đình cậu Bạch khi nghe tin cậu về và có đưa mợ tương lai tức cô Chi nên họ cũng đến thăm. Rồi cả hàng xóm ở gần bên nữa làm bác Ba phải đốt thêm cây đèn dầu lớn cho sáng và vì vậy, PTV thấy khách là các phụ nữ cùng trẻ nhóc nhơ nhỡ trạc tuổi mình mà không thấy các người đàn ông đâu cả.

Đêm về tuy mệt vì cả ngày đi đường nhưng PTV vẫn chưa ngủ ngay, chính vậy mới thấy cảnh vùng quê thật im ắng không một tiếng còi xe máy, không cả tiếng chó sủa chỉ thuần tiếng côn trùng rả rích, tiếng ếch nhái kêu đêm… Thật khác hẳn với lúc còn ở nhà tại Sài Gòn. Ngày hôm sau, cậu Bạch đưa cô Chi cùng PTV đi lòng vòng lối xóm chung quanh, ghé nhà người này người kia trong chốc lát như để cảm ơn việc họ đến thăm lúc chiều tối hôm qua. Đến một bãi đất khá rộng trên một vùng đất cao trồng đầy khoai lang trong các luống dài thẳng tắp, cậu Bạch lấy tay chỉ cho cô Chi cùng PTV thấy một vùng đất khuất sau các rặng cây của một con kênh cùng những ruộng lúa xa xa. Cậu nói:

– Chỗ đó khi trước là nhà của gia đình qua, phải dỡ vào đây ở tạm vì lý do an ninh. Hết chiến tranh sẽ về lại đẳng đặng cất nhà ở cho thoáng.

Lẽ ra cậu Bạch sẽ ở thăm nhà lâu hơn như dự tính nhưng không hiểu sao chỉ mới quá trưa vừa xong bữa cơm thì đã vội vã thu xếp để về trở lại Sài Gòn. Thay đổi chương trình đột ngột nên chuyến trở về Sài Gòn không kịp, đành phải ngủ lại ở một nhà trọ trong bến xe đò vùng Hốc Môn để chờ trời sáng. Gọi bến xe đò nhưng ở đó chỉ có vài chiếc xe chở khách đi các đoạn đường xa thôi, còn nơi gần thì hầu như phương tiện di chuyển chính là các xe ngựa và xe lam ba bánh. Ở bến xe ngựa nào cũng chung một cảnh khách đi phải ngồi bó gối bên nhau trên tấm chiếu cói trong cái thùng xe nhỏ. Xe ngựa còn có cái tên gọi là xe thổ mộ. Khách còn phải máng dép guốc của mình vào cái móc trước khi bước lên thùng xe ngồi. Quang gánh của khách cũng phải treo vào hai cánh tay bằng đồng ở hai bên phía sau thùng xe ngựa.

Buổi sáng đến, sau bữa ăn điểm tâm thì cậu Bạch cùng cô Chi và PTV ngồi trên chiếc xe đò tài nhất đang chờ thêm khách để chạy vào Sài Gòn. Phải về nhà sớm làm PTV tiếc vì không được đi tắm kênh như lời hẹn của mấy đứa trẻ mới quen trên nhà cậu Bạch. Bến xe đò Hóc Môn như một cái chợ bán hàng ăn thu nhỏ. Xe hủ tiếu, sập cháo lòng, hàng cơm tấm, tiệm cà phê… trải đều dọc theo các phía của bến xe. Mùi xăng dầu của khói xe lam cũng không át mất mùi hôi từ phân, nước tiểu ngựa nồng nặc trong buổi sớm mai. Xe lam chạy về hướng Lái Thiêu hoặc Củ Chi còn xe ngựa chạy về Bà Điểm, Thành Ông Năm hay Gò Vấp. Chỉ có xe đò mới chạy tuyến Sài Gòn mà tuyến đường này ít khách nên phải chờ cho đủ số. Những tiếng huyên náo, la hét ở bến xe làm PTV quay người ra ngoài nhìn. Gần cái sập bán cháo lòng, bốn người phụ nữ thay nhau đánh tới tấp một cô gái trẻ mà không có ai đến can thiệp. Bốn phụ nữ hung dữ đó đã xé tan y phục của cô gái và mỗi người một góc, khiêng ngửa cô đi rảo qua dãy xe lam, xe ngựa cùng hàng quán trong bến xe. Khi họ đến gần chiếc xe đò PTV đang ngồi, cô Chi lấy tay nắm vai PTV xoay vào trong xe và ra lệnh:

– Vũ! Không được nhìn… Kệ người ta.

Dù vậy, PTV cũng thấy mặt cô gái đó còn trẻ trạc tuổi với cô Chi. Một bên gò má của cô ửng đỏ dấu răng cắn hay vết đánh còn rướm máu. Khi về tới nhà, kể lại chuyện cho mẹ nghe về cảnh vừa thấy ở bến xe khi sáng, cô Chi bảo mãi cho đến khi có cảnh sát đến thì bốn người phụ nữ đó mới tha cô gái nạn nhân. Cô Chi nói:

– Phải lấy bao bố chỉ xanh che đỡ… rồi em cũng không biết họ lấy đâu ra quần áo cho chị đó thay. Mấy bà đánh ghen đó xé tan hết cả.

– Khổ thân chưa! Em thấy, cứ hay nghe lời dụ ngọt của đàn ông mà có ngày… Rồi cái ông đó đâu mà không can ra? Mẹ hỏi lại.

– Có thấy ông ta đâu! Chắc chạy mất rồi. Ngồi ăn cháo lòng chung một chỗ với tụi em nè.

 

Sau lần đi thăm gia đình cậu Bạch thì cô Chi và cả gia đình cùng họ hàng phía bên bố PTV đều đồng ý chuyện đám cưới của cô. Con gái lớn lên ai cũng phải lấy chồng, đó là lẽ thường, gia đình đó kể như vậy cũng được, giàu út ăn, nghèo út chịu… Mẹ nói vậy với cô Chi nhưng không ngờ có một trở ngại nẩy sinh, đã làm chuyện hôn nhân của hai người không thành. Đó là việc cậu Bạch khác với tôn giáo của cô Chi. Cậu thì đạo Phật còn cô Chi lại đạo Thiên Chúa Giáo. Bên phía bố thì PTV còn có một người bác sống ở vùng Hóc Môn-Gia Định và một người chú sống ở vùng Tam Hà-Thủ Đức cùng số đông họ hàng sống ở trại di cư Tân Phú Trung thuộc Củ Chi-Hậu Nghĩa nữa. Họ đã đem việc của cô Chi và cậu Bạch vào trình cho các cha đạo của các xứ đạo Thiên Chúa giáo đó biết.

– Nếu muốn lấy em làm vợ thì cậu Bạch phải theo đạo Thiên Chúa, đó là luật đạo. Mình là tín đồ thì phải tuân theo lề luật đạo, ai cũng thế cả. Mẹ bảo với cô Chi.

– Các anh chị dạy sao thì em nghe vậy. Chuyện của em với anh Bạch thì em sẽ liệu. Cô Chi trả lời mẹ cũng giống như với các bác, chú cùng những người trong họ của PTV.

Việc thấy vậy mà không đơn giản để tính cho xong. Cậu Bạch thì không thể theo đạo mới còn cô Chi lại không dám trái lời đã nghe từ cha đạo cũng như từ các người trong họ. Mẹ cũng hiểu chuyện buồn của cô Chi khi bảo cứ để yên chuyện, may ra sẽ có cách giải quyết hay hơn. Cậu Bạch cũng biết chuyện ngăn trở mối duyên của hai người nhưng cậu vẫn đến nhà thăm cô Chi như thường lệ. Có lúc, cô Chi lánh mặt khi thấy bóng cậu Bạch xuất hiện ở đầu ngõ hẻm hoặc cô như từ chợ về nhà, thấy cậu ngồi chờ ở phòng khách mà cô vẫn không ra tiếp. Đã có lần, PTV từng giúp cậu chuyển thư dùm đến tay cô Chi. Xem lá thư rồi cô khóc và dặn PTV đừng nói cho ai trong nhà biết vụ cậu Bạch gửi.

Anh trai ruột của PTV tên Trung được mẹ mua cho cái xe đạp để đi học hàng ngày. Khi mới có xe đạp thì PTV phải giúp anh tập chạy bằng cách giữ yên xe sau cho thăng bằng, cho đến khi anh tự chạy một mình được. Có xe đạp rồi, nhiều hôm anh Trung đã chở PTV đi tuốt đến chỗ sau này được gọi là Ngã Ba Bà Quẹo. Lý do có đến đây thì hai anh em mới thấy rõ máy bay bay lên hay đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt trong tầm mắt nhìn thật gần. Chỗ này khi đó còn là bãi hoang đổ rác từ nội đô Sài Gòn ra. Bãi rác rộng, có chỗ âm ỉ cháy suốt ngày đêm dù trời mưa hay nắng. Có hôm đi ngang qua, hai anh em còn thấy xe máy đẩy đang đủn gom rác gọn vào một chỗ. Bãi rác chỉ toàn rác mà không thấy người nhặt phế liệu như thời sau này. Từ bãi rác, đi theo đường đất đỏ về hướng Chợ Lớn, hai anh em đã gặp cả một nghĩa địa rất rộng mà có những ngôi mộ được xây lớn như căn nhà. PTV hỏi có phải đây là mả của vua, anh Trung bảo đó là của một ông quan thời xưa, giàu có lắm mới được chôn như vậy. Anh còn nói mộ vua chỉ có ở ngoài Huế thôi. Anh Trung rất thương PTV, có gì cũng nhường cho xài riêng. Có lần, cả hai anh em đi dọc theo con kênh Nhiêu Lộc chơi rồi men theo đó đến một xóm nhà cũng dân Bắc di cư ở gần Ngã Ba Ông Tạ thì gặp một bọn con trai ba đứa choai choai ra gây sự. Kênh Nhiêu Lộc khi đó là một con rạch nhỏ chảy từ hướng Bàu Cát băng qua đường lộ chính rồi chạy ngoằn nghèo vào tuốt nội đô Sài Gòn. Ba đứa trai choai choai đó thấy hai anh em PTV là người lạ, đi vào xóm này nên chúng tiến lại kiếm chuyện. Khi thấy không tránh được xô xát, anh Trung đã bảo PTV chạy về nhà ngay, để anh một mình ở lại tính chuyện với họ. PTV nghe lời anh, chạy ngay về nhà và may vừa lúc đó gặp mẹ ở chợ về. PTV kể lại cho mẹ nghe và cùng bà đi ngay ra chỗ cũ thì gặp anh Trung đang trên đường chạy về. Thấy anh bị đánh, mẹ đã dắt cả hai anh em PTV đến tận xóm nhà di cư đó để hỏi thăm rồi tìm được đúng nhà của ba đứa trai gây sự này mà mách tội chúng. Khi về nhà mẹ bảo hai anh em đừng có đi chơi quá xa nhà không tốt.

Thương em mình rất nhiều nhưng anh Trung lại không giống như cô Chi, anh rất ít khi nói chuyện riêng tư với PTV. Có thể vì khi đó anh hơn PTV tới năm tuổi nên không cùng sàn sàn đồng trang lứa mà tâm sự chuyện riêng cho nghe hay vì vai là anh trai trong nhà nên anh phải hành xử như vậy. Anh Trung lúc nào cũng ít nói, mặt luôn có vẻ buồn buồn và đó cũng là lý do khiến PTV thắc mắc về anh. Khi tuổi lớn hơn thì PTV mới biết lý do tại sao anh lại như vậy. Anh không có bạn thân nên sau này khi đi lính rồi những lần về phép thăm nhà thì anh dẫn PTV đi chơi đây đó trong nội đô Sài Gòn. Có khi ghé quán Mai Hương ăn kem hoặc vào rạp chiếu bóng xem phim. Có bữa phim chiếu thì vẫn chiếu mà anh cứ ngủ vùi trong ghế. Hỏi thì anh trả lời ngủ để bù cho những đêm thức trắng ở đơn vị. Những lần đi chơi như vậy, hễ PTV thích món gì thì anh liệu đủ tiền sẽ mua ngay mà không hề hỏi lý do tại sao. Đòi cây bút máy Pilot ngòi vàng, anh cũng mua cho lại còn dẫn đến chỗ người khắc, khắc tên PTV vào thân bút nữa.

 

Trong xóm có nhà anh Hành là gia đình đáng cho PTV để ý hơn cả các gia đình khác vì có các sự khác biệt. Thứ nhất, nhà anh Hành tuy là một căn nhà lợp tranh vách đất trông bình thường như các căn nhà khác chung quanh nhưng lại có rất nhiều sách tiếng Pháp bên trong. Thêm vào đó nhà anh Hành còn có cả một khu vườn rộng trồng đủ loại cây ăn trái từ khế ngọt, ổi, na, hồng quân, mít, xoài, chuối… Mẹ anh Hành cứ lâu lâu hái một số trái cây nhà rồi mang ra bán ở chợ. Cũng vì bán trái cây nhà mà mẹ anh Hành với mẹ PTV gặp mặt nhau ở chợ rồi quen biết nhau. Từ các người mẹ mà PTV và anh Hành làm bạn với nhau lúc nào cũng không nhớ. Chỉ nhớ nhất là những khi đến chơi trong khu vườn của gia đình anh, một khu vườn lúc nào cũng mát rượi kể cả những buổi trưa hè và đầy trái cây chín. Muốn ăn trái gì thì tự ý hái lấy nhưng phải cẩn thận khi trèo cây. Hầu như PTV chỉ ăn ổi và hồng quân thôi. Ổi nhà anh Hành có loại ruột hồng, ruột trắng và đều rất ngọt. Anh Hành chỉ ăn những trái ổi nào bị giống dơi nhấm dở. Lúc đầu khi thấy anh Hành hái trái ổi bị dơi nhấm rồi dùng dao gọt bỏ phần thừa đi trước khi ăn thì PTV nghĩ do anh tiếc mới làm vậy nhưng sau nghe anh bảo là những trái cây do dơi nhấm, ăn rất ngon. Anh nói khi đưa cho PTV một nửa quả ổi đã gọt bỏ phần thừa.

– Dơi đánh hơi biết trái nào đã thật chín nó mới ăn. Đêm tối giống dơi có thấy gì đâu, nó phân biệt được trái ngon là nhờ cái mũi. Vũ cứ ăn thử đi sẽ thấy lời mình nói.

Trái hồng quân nhỏ như hòn bi thủy tinh mà lại mọc ở một cái cây thật to. Muốn hái phải có sào lồng luồn vào chùm quả mà rứt. Trước khi ăn còn phải dùng tay mà vò cho mềm nữa. Anh Hành bảo có vò trước khi ăn thì mới ngọt chứ không sẽ chát lừ, hết ngon. Lần đầu tiên khi theo anh Hành vào nhà để anh giới thiệu với ba của anh, PTV đã ngạc nhiên vì ông trông rất già. Về hỏi chuyện với mẹ thì bà bảo mẹ anh Hành là người vợ lẽ của ba anh, nguyên là một nhân viên thời còn thực dân Pháp. Đó cũng là lý do người trong xóm gọi ba anh Hành là ông Phán. Thứ hai, ông Phán tuy người Việt rõ ràng nhưng lại có Pháp tịch và hiện tuy ông không còn sức làm việc được nhưng cứ vài tháng, mẹ anh Hành lại đến bưu điện trung tâm Sài Gòn gần nhà thờ Vương Cung Thánh Đường để lãnh chi phiếu tiền hưu từ bên Pháp quốc gửi sang cho. Nhờ vậy, tại sao gia đình ba mẹ của anh Hành không cần phải làm lụng gì mà cũng sống an nhàn.

Hai điều trên trong nhà anh Hành đã là một việc lạ cho dân trong xóm nhà thời đó của PTV. Nhưng đó cũng chưa hết khi sau này làm bạn khá thân với anh thì PTV còn biết thêm một điều nữa là ba anh Hành còn hút thuốc phiện. Cái điều này mới khiến cho dân trong xóm xầm xì nói nhà anh Hành tuy mái tranh vách đất nhưng là dân giàu ngầm. Chưa bao giờ PTV thấy ba anh Hành hút thuốc phiện cả nhưng đã được ngửi mùi thuốc từ trong nhà bay ra sân. Cái mùi hay nói đúng hơn là khói thuốc phiện đó nó rất ngọt mũi và không lẫn với bất kỳ mùi khói hay mùi hương nào nếu như ai đã từng có lúc ngửi được. Mẹ PTV thì nói nghe người ta bảo dân nghiện thuốc phiện sẽ có làn da bủng, môi thâm xì và không dám tắm thường xuyên vì sợ nước. Đến nhà anh Hành chơi, PTV thấy ba anh đang đọc một quyển sách tiếng Pháp nên lân la đến xem và nhờ vậy mới thấy ông cụ có nước da trắng như người bình thường và làn môi không thâm như lời người ta truyền khẩu. Mẹ PTV nghe kể thì bảo có lẽ do ba anh Hành giàu, hút thuốc phiện loại nguyên chất, không phải hút thuốc sái rẻ tiền nên hình hài ông mới được như vậy. Có một dịp đến chơi nhà anh Hành vào buổi cuối năm thì thấy mẹ anh pha chậu nước nóng cho ba anh tắm dưới gốc cây xoài gần cái bể cạn chứa nước tưới cây. Gọi là tắm nhưng ông cụ chỉ lấy tấm khăn lông nhúng nước trong chậu rồi cứ thế mà lau qua loa khắp người là xong việc.

Ông Phán tắm giống như kiểu người ốm dở lâu ngày, chỉ lau sơ sài mà không chút xà phòng làm sạch thân. Sau này lớn hơn một chút thì PTV còn nghe người khác nói dân nghiện thuốc phiện sợ nước nên ít tắm lắm.

Trong vườn nhà anh Hành, gần bụi tre tàu nơi góc vườn có một mái nhà lợp tranh nho nhỏ gần như bỏ hoang, PTV có lần bước chân vào mái nhà đó thì thấy hai bên vách là hai dãy lồng thấp bằng cây giống như kiểu chuồng nuôi gà. Lại gần xem kỹ thì không phải vì có những ngăn nhỏ ở trong hai dãy lồng này. Nếu để nuôi gà thì mỗi ngăn chỉ vừa chỗ cho một con là cùng. Những ngăn đó lại có các hộc bé hơn treo ở phía trước nằm lồi ra bên ngoài và cũng chẳng thấy có máng đựng cám hay cóng chứa nước như trong chuồng nuôi gà. Trước đây chắc các lồng này đã từng nuôi giống vật nào đó vì vẫn còn dấu vết  là các viên phân nhỏ, rau cỏ khô quắt… nằm sót trên nền đất của phòng. Hỏi thì anh Hành bảo đây là chỗ gia đình để nuôi thỏ nhưng giờ thì bỏ không. Nghe anh Hành nói thì PTV nghĩ đến hình ảnh con thỏ rừng lông trắng có hai cái tai dài cùng đôi mắt bi đỏ long lanh hiền khô đang nhấm mẩu cà rốt trong cái chuồng sắt ở Thảo Cầm Viên của một chuyến đi chơi từ trước nên hỏi:

– Sao nhà Hành không nuôi thỏ nữa… Hồi đó mình mà biết sẽ bảo mẹ cho tiền mua một con mang về nuôi. Mình thích thỏ lắm.

Anh Hành bảo nhà không nuôi thỏ nữa vì ít người Việt chịu ăn thịt thỏ. Làm thịt thỏ phải lột da, tránh không ướt nước… đã thế lại còn nấu bằng rượu vang hoặc bằng bia la de nên phiền phức lắm. Anh còn bảo những cái hộc treo lồi ra bên ngoài chuồng là để cho thỏ mẹ khi đẻ sẽ nhẩy vào đấy mà sinh con. Chuồng thỏ do ông Phán xem kiểu chỉ dẫn trong sách chăn nuôi của Pháp rồi gọi thợ đến nhà đóng cho. Căn nhà tranh nhỏ đó bỏ không cả bao lâu cho đến những năm về sau thì được gia đình anh Hành sửa lại để nuôi chim cút nhưng cũng chỉ trong một thời gian ngắn lại phải ngưng vì lỗ do chim cút bị xuống giá, không thấy ai nuôi nữa

 

Mùa hè được nghỉ học thì có năm mẹ cho phép PTV theo cô Chi xuống nhà người bác ruột ở vùng Hóc Môn-Gia Định có tên là Thành Ông Năm. Cái thành này do người Pháp, bọn Tây đen xây từ trước và thời kỳ PTV có mặt thì không còn người lính ngoại quốc nào đóng trong đó nữa. Ở Ngã Ba Bà Quẹo thì PTV đã quen mắt vì anh Trung vẫn thường đèo xe đạp chở PTV đến đây để xem máy bay trong phi trường Tân Sơn Nhứt bay lên hoặc bay xuống như kể trên. Phi trường có hàng rào kẽm gai tới cả chục lớp chung với các lô cốt nơi này nơi kia và một cái cổng khá rộng nằm ngay bên sát vệ đường mà lúc nào cũng đóng kín. Cái cổng này chỉ những năm sau mới mở để những đoàn xe nhà binh chở đầy lính Mỹ từ trong phi trường chạy ra. Có khi hai anh em PTV thấy những chiếc máy bay hai đầu là hai chong chóng như hình chữ V trông rất lạ hoặc máy bay trực thăng bay xa xa y hệt một con chuồn chuồn. Về nhà bác Cả thì phải bằng xe đò mà lần đi nào về Hóc Môn thì PTV cũng thích ngồi gần bên cửa sổ để ngắm cảnh vật hai bên đường. Xe đò thời đó chạy rất chậm chứ không nhanh như thời sau này. Bên đường cứ có chỗ nhà dân ở thì sau đó lại là những cánh đồng lúa hoặc rừng thưa, bãi tha ma và rồi là các đồn bót, trại lính. Ở Thành Ông Năm có mấy xứ đạo Thiên Chúa của người miền Bắc di cư vào từ hồi 1954. Các xứ đạo Thiên Chúa ở đây lấy tên ghép của quê gốc ngoài Bắc chung với địa danh tại đây mà thành như Bùi Môn, Phát Môn, Bắc Đoàn, Sơn Lộc, Châu Nam, Nam Hưng…

Bác ruột của PTV tên là Phong nhưng người trong họ hàng lại gọi là bác Cả.  Không hiểu do đâu mà những người làm nghề may quần áo, hớt tóc, xây cất… đều được dân di cư miền Bắc gọi chung cái tên là Phó. Bác Cả làm nghề may quần áo và người bên ngoài gọi là bác Phó giống y như ông Tuất làm nghề hớt tóc trong khu phố gia đình PTV ở, cũng được người trong xóm gọi giống như vậy. Bác Phó Tuất. Hai chị gái con bác Cả cũng biết nghề may quần áo như bố mình. Nghề bác làm thì chắc đã từ lâu lắm vì ba người con của bác đều sinh từ ngoài Bắc cả. Anh lớn nhất tên là Phú còn hai chị có tên là Nụ và Ti. Cũng có người thì lại gọi bác Cả là bác Phú, cái tên của con trai bác. Nhà bác cũng có một cái vườn nhưng không rộng như vườn của nhà anh Hành. Trong vườn chỉ có vài cây mít, ổi, na, chuối… được trồng ở sát cạnh vườn và phần đất lớn nhất ở chính giữa thì để cho bác Cả gái cùng hai chị trồng rau mang đi bán ở cái chợ gần nhà. Sau này bác Cả gái còn nuôi thêm cả lợn, gà nữa. Mẹ vẫn bảo trong họ hàng ruột thịt của ba PTV thì chỉ có gia đình nhà bác Cả là khá giả nhất. Anh Phú lớn tuổi hơn cả tuổi anh Trung của PTV và anh học nội trú trong nội đô Sài Gòn. Thỉnh thoảng hoặc đến mùa nghỉ Hè thì anh Phú mới về nhà và vì vậy mỗi khi có PTV lên chơi, anh rất vui, thường kéo vào cái phòng của riêng anh ở mé sau nhà và mở máy hát dĩa cho nghe. Loại máy hát dĩa của anh thì PTV chẳng còn nhớ nó chạy được bằng cách lên dây thiều hay bằng pin nữa vì thời kỳ đó vùng dân cư Thành Ông Năm này chưa có điện. Điện chỉ có ở trong trại lính Thành Ông Năm thôi nhưng cũng chỉ đến 11 giờ khuya thì lính cúp điện làm cảnh vật tối thui một mầu đen. Dân có công việc đi ra ngoài đường giữa đêm khuya thì trong tay phải cầm đèn dầu soi đường. Dĩa hát cái mầu đỏ mầu đen làm bằng nhựa mỏng dính và đều là dĩa nhạc. Mỗi khi anh Phú muốn nghe thì phải lấy cái chổi lông nhỏ quét sơ bề mặt dĩa trước khi gắn nó vào máy. Anh Phú cũng chẳng có nhiều dĩa nhạc nên PTV vẫn còn nhớ ít lời ca sĩ hát trong các dĩa này như: ”  Người từ là từ phương Bắc, ghé qua giòng sông, sông dài tìm đến nơi này một nhà thân ái… Từng đêm lại từng đêm, tâm sự em gói trọn mấu áo trận của người miền xa nặng ba lô bóng hình em nhỏ. Để tìm vui giữa núi rừng sương lạnh chưa tan. Thư mấy hàng mà không dám đọc để cho giờ tóc liễu còn giận… Đêm nay xa lộ không đèn, dạy em tập lái Vespa một mình…”. Cũng có lúc máy hát lại đoạn cũ làm anh Phú phải lấy tay nhấc cần kim quay trên dĩa cho nó qua tua. Không nhấc kim lên thì máy cứ hát đi hát lại đoạn này mãi.

Thường thì PTV chỉ đến nhà bác Cả một hai tuần lễ nhưng có năm lại ở nguyên cả mùa Hè cho tới ngày gần khai trường mới quay trở lại nhà. Cô Chi thì học cắt quần áo do hai chị Nụ, Ti chỉ dẫn. Những buổi chiều rảnh rỗi thì cô Chi và PTV ra vườn phụ gia đình bác Cả trồng rau. Phụ đây là ngồi nhặt cỏ, tỉa bỏ rau thừa, múc hộ nước từ cái ao xi măng cạn đến các luống rau để cho hai chị tưới ướt hoặc bó rau cho gọn để sáng gánh ra chợ bán. Bữa cơm nào thì hai chị Nụ, Ti vẫn hối PTV và cô Chi ăn thêm thức ăn. Sở dĩ gia đình bác Cả chăm sóc chu đáo cho PTV và cô Chi là do tình thân ruột thịt của họ hàng. Nhà bác Cả chỉ có mình anh Phú là con trai nên rất thương PTV khi đến ở. Hai chị Nụ, Ti hợp với cô Chi thành một nhóm ba người đi đâu cũng có mặt chung cùng những chị khác của các gia đình quen biết trong xứ đạo. Anh Phú thương PTV y như anh Trung vậy. Có những quyển truyện hình, các hòn bi ve nhỏ, cái dàn ná thun bắn chim… của anh chơi từ mấy năm trước cũng mang ra cho PTV làm quà. Có những buổi chiều trời mát, anh lấy chiếc xe đạp khung ngang ra khỏi nhà, đèo PTV đi gần như khắp cả vùng Thành Ông Năm. Anh bảo Ông Năm là tên gọi cấp bậc của người chỉ huy cái thành lính ở đây mà nên địa danh cho cả vùng. Thành lính này rất rộng, chỉ có mặt trước của thành giáp với khu chợ, các xứ đạo Thiên Chúa là còn thấy nhà cửa, vườn tược của dân chúng chứ ở mặt sau thì hầu như vẫn là rừng hoang. Có một ngôi chùa tên Hoàng Pháp do phật tử di cư từ miền Bắc lập nên ở mé bên cạnh của thành lính. Chỉ có con đường mòn từ cổng chùa hướng ra đường đất đỏ nối với quốc lộ mới có gia đình phật tử ở chứ xung quanh chùa vẫn còn là rừng hoang. Con đường đất đỏ này nối với quốc lộ trải nhựa về hướng Củ Chi-Hậu Nghĩa thì thành một cái ngã ba khá rộng đầy những cây sao đen cổ thụ như một khu rừng nhỏ. Gần chỗ những cây sao đen có một cái cân bằng xi măng thật lớn dành để cân các xe vận tải khi lưu thông qua. Phía bên kia con đường nhựa là một tiệm ăn khá lớn gần hàng cây trôm cao to, xanh rì lá. Cây trôm có chất nhựa trắng đóng thành cục bên thân mà người ta thường lấy nó ngâm vào nước để khi nở thành các cục trong suốt, pha uống chung với nước đá hòa đường cát cho mát. Người ta gọi ngã ba này là Hồng Châu, cái tên của tiệm ăn ở đây. Anh Phú còn chở PTV đến gần bên các bờ đất khá cao trồng đầy tre tầm vông mà anh bảo hồi trước là vòng rào bao quanh của ấp chiến lược cũ nhưng giờ đã bị dỡ bỏ. Dưới những hào nước bên ngoài bờ rào, vẫn còn lởm chởm một ít các ngọn chông tre nhọn hoắt. Qua khỏi bờ hào là các mảnh ruộng trồng đậu, dưa leo, khổ qua… và xa hơn là cánh đồng lúa trải dài tít tắp. Anh Phú bảo bên ngoài đồng lúa là các cánh rừng thưa đầy cây hoang không một bóng người ở và cũng chẳng ai dám héo lánh đến đó. Ngã ba Hồng Châu có hai ấp chiến lược, ngăn cách bởi quốc lộ trải nhựa. Chiến lược là tên người ta gọi nhưng thực tế thì PTV thấy vẫn cổng vào ấp ghi hàng chữ Ấp Tân Sinh. Lính trong Thành Ông Năm thường đóng chốt canh gác ở dưới gốc những cây sao ở ngã ba Hồng Châu này cả ban ngày lẫn ban đêm.

– Dân sống trong ấp chiến lược hầu như là người địa phương trong này mà dân Bắc mình gọi là làng Nam. Người Bắc di cư lại ở khu chợ gần thành lính hoặc trong các xứ đạo thôi. Hồi trước hai ấp chiến lược đều có trạm gác nhưng từ khi bị phá bỏ, dân làng Nam ra vào tự do thì thỉnh thoảng Việt Cộng lại mò về. Anh Phú bảo.

– Việt Cộng ở đâu ra hả anh? PTV hỏi.

– Anh không biết… Người ta bảo họ ở trong chỗ rừng tận tuốt đàng xa kia.

Nhà thờ, nhà dân ở xứ đạo chỉ làm gần mặt đường thôi… còn đi vô hơi sâu bên trong thì vẫn nguyên những hàng cây cao su thẳng tắp. Chỗ nào không có những hàng cao su thì là những đoạn rừng um tùm cùng các lùm bụi, bãi lầy đầy cỏ hoang hoặc mồ mả từ xa xưa.

 

Có một đêm khuya, đột nhiên vang nhiều tiếng súng nổ làm trong nhà ai cũng sợ. Sáng ra thì hai chị Nụ, Ti và cô Chi rủ  PTV đi xem Việt Cộng cho biết. Việt Cộng là xác của một người đàn ông nằm gần bên chỗ cân xe dưới gốc một cây sao lớn ngay tại ngã ba Hồng Châu này. Người chết chỉ mặc một quần đùi, tóc cắt ngắn và đi chân không. Một vết thương lớn ở trên đầu cùng những lỗ nhỏ đây đó trên thân ông ta mà những người đứng xem cạnh PTV nói do vết đạn bắn vào. Nhìn xác người chết đó ghê lắm vì các vết thương bầm máu, ruồi vo ve đậu vào ở các phần thịt đỏ. Xác nằm mãi mà không thân nhân đến nhận thì sau cùng, các người lính mới bó chặt vào trong một cái chiếu cói rồi đem chôn ở một bãi đất trống gần các thửa ruộng sát bên ngã ba. Chôn rồi nhưng chỉ mấy bữa sau, vào buổi sáng dân báo cho lính gác biết mộ này đã bị quật lén giữa khuya và bây giờ không còn xác chết trong đó nữa.

Anh Phú còn đèo xe chở PTV đến một hãng thuốc lá ở sau xứ đạo Châu Nam. Xung quanh hãng là vùng đất rất rộng trồng đầy cây thuốc lá trong các luống thẳng tắp. Anh Phú bảo hãng thuốc lá có chủ là người Pháp nhưng khi họ về nước đã nhượng lại cho người Việt Nam. Giáo dân xứ đạo thành công nhân của hãng thuốc lá. Dân làng Nam vẫn là chủ các thửa ruộng trồng thuốc lá, anh nói:

– Vũ biết lá thuốc lớn vậy nên khi mang về người ta phải cắt bỏ cọng cứng rồi cuộn tròn đem ủ. Ủ rồi lại cắt chỉ thành các sợi nhỏ xong đem tẩm thêm các thứ khác nữa thì công nhân mới vấn thành các điếu thuốc như trong các gói giấy bán ở tiệm nước. Công phu lắm mà hút có chốc lát thì điếu thuốc thành khói thành tro hết cả.

Bố mẹ của anh Phú đều có hàm răng nhuộm đen trong khi bố mẹ của PTV lại răng trằng. Sau này hỏi thì mẹ mới cho biết là cả bố lẫn mẹ đã đến tiệm răng trong vùng Chợ Lớn để thuê nha sĩ mài bỏ lớp nhuộm đó đi. Mẹ có lần kể với PTV cùng cô Chi là khi nhuộm răng đen cực lắm. Nhuộm đi nhuộm lại thì răng mới có màu đen hạt na, miệng mồm sưng hết cả… chỉ húp cháo thôi. ” Con gái không nhuộm răng, để răng trắng thì người ta bảo là răng chó… ai mà lấy “, mẹ kể vậy. Cũng vì cạo đi lớp bọc mầu đen mà sau này răng của bố mẹ PTV bị hư sớm phải làm răng mới. Hai bác Cả đến tận khi chết vẫn còn nguyên hàm răng đen nhánh trong miệng.

Có buổi trưa trong nhà ít việc thì anh Phú chạy xe đạp đi gọi cho bố những người khách đến chơi đánh Chắn trong nhà. Chắn đây là Tổ Tôm, một loại bài mà bây giờ PTV thấy hầu như không còn mấy ai biết chơi nữa. Mỗi lần có vụ đánh Chắn đó thì PTV làm nhiệm vụ chia bài sẵn vì nhà bác Cả có hai bộ bài. Cứ xong mỗi ván bài Chắn thì PTV đẩy cái dĩa có năm tụ bài đã chia rồi vào giữa chiếu ngồi của hội Tổ Tôm. Các lá bài của ván vừa xong thì PTV gom gọn, xốc đều rồi chia dành sẵn cho ván mới. PTV vẫn còn nhớ những lá bài đó có hình con cá, trái cây, phụ nữ, đàn ông, thuyền… cùng chữ Tàu hay chữ Nhật ở trên. Chơi ăn tiền nên cứ dứt mỗi ván thì người thắng thưởng cho PTV một đồng bạc kim loại nhỏ mà tới bây giờ thì thực sự không còn nhớ rõ giá trị. Bài chia làm năm cho mỗi người chơi một tụ, còn lại tụ cuối để rút từng lá bài khi đến lượt. Ù, chạy, phỗng…  là những tiếng PTV nghe trong các lần chia bài đó nhưng chẳng hiểu nghĩa. Chỉ biết là bản thân PTV được tiền nhờ ngồi chia bài là thích thôi. Khách chơi đánh Chắn với bác Cả đều là dân Bắc di cư sống trong vùng như ông lang Diễn bốc thuốc Bắc, ông Phó Thịnh làm nghề chụp hình, thầy Suy dạy học, cụ Giang và ông trùm Tuấn trong xứ đạo Thiên Chúa. Ông lang Diễn, cụ Giang và ông trùm Tuấn cũng có hàm răng đen như bố mẹ của anh Phú, còn ông Phó Thịnh và thầy Suy thì để răng trắng.

 

Có lần PTV theo chân anh Phú đến tiệm nhà của cụ Giang ở dưới phố chợ để xem khách chơi thục bi da. Thực ra thì tiệm bi da này là của người con trai cụ Giang. Trong tiệm chỉ có hai bàn bi da thôi nhưng lúc nào cũng đông khách là các người lính trong Thành Ông Năm. Tiệm bi da thì PTV không lạ vì trong khu phố nhà của PTV ở trên Sài Gòn cũng có một tiệm như ở đây. Buổi chiều nào khi trời chập choạng thì nhà cụ Giang đã phải đốt hai cây đèn Măng sông để có ánh sáng cho tiệm rồi. Chơi bi da là dùng một thanh gỗ khá dài gọi tên cây cơ để thục quả bi trên bàn bọc vải cho chúng đụng vào nhau nên còn gọi là thục bi da. Chơi bi da thường là kiểu có ba quả bi nhưng cũng có khi PTV thấy khách chơi loại bi da có các cây ky, cây dù bằng gỗ nhỏ dựng đứng cố định ở trên bàn bọc vải nữa. Đây là thục bi da dù và khách chơi phải móc lấy số riêng cho mình. Số là điểm của người khách đó. Khách khi thục quả bi da lỡ làm đổ cây dù hay chơi vượt quá số điểm mình cầm trong tay thì coi như thua. Tường chung quanh căn phòng có đặt hai bàn bi da của nhà cụ Giang được dán nhiều tờ giấy viết chữ Tàu. Một trong các tờ giấy đó làm PTV nhớ cho tới bây giờ vì ở dưới mỗi chữ Tàu có chú thích bằng chữ Việt. Các chữ Việt đó là Tửu Trung Bất Ngữ Chân Quân Tử-Hà Thượng Thanh Minh Thị Trượng Phu.

 

 

Bài Thơ Hồ Trường và tác giả Nguyễn Bá Trác

Tags

Có người nói: Nếu nữ giới xính thơ (thích thơ) ưa bài Hai Sắc Hoa Ti-gôn của T.T.KH, có tính cách than phiền vì chưa được (chồng) đối xử đúng mức như trong câu: “… Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời, Ái ân lạt lẽo của chồng tôi… “, thì nam giới lại ưa bài Hồ Trường và trong các chiếu rượu, đã không ít người ngâm nga: “… Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu… Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường… ”

Một thực tế là bài thơ Hồ được nhiều người biết nhưng lại không… thuộc cả bài lẫn thân thế tác giả cùng lý do ra đời của nó. Có người khi ngâm nga nó, đã đọc… sai, thiếu hoặc lẫn lộn vị trí các câu thơ trong bài.

Hồ Trường, chữ Hồ 壺 thuộc bộ Sĩ mang nghĩa cái bầu hay cái bình dùng để chứa chất lỏng và chữ Trường 觴  (hay còn đọc là Thương trong tiếng Tàu) thuộc bộ Giác mang nghĩa chén đựng rượu. Nguyễn Bá Trác, tác giả Hồ Trường sinh năm Tân Tị (1881) và bị giết chết vào năm Ất Dậu (1945), có hiệu là Tiêu Đẩu, người làng Bảo An huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Năm Bính Ngọ (1906), ông thi đậu Cử Nhân và sau đó hưởng ứng phong trào Duy Tân, Đông Du nên đã sang Nhật Bản du học. Khi chính quyền Nhật Bản thỏa hiệp được với thực dân Pháp, ông đã bị trục xuất và phải đào tị sang nước Tàu (Trung Hoa). Chính trong thời gian bôn ba bên Tàu, ông đã sáng tác ra bài thơ Hồ Trường.
465825cb-34ab-4ca8-837c-37fe34cf471e_zpswxcd6alj

Có là người phải sống trong cảnh bôn ba nơi xứ người, chúng ta mới thấu nỗi vô định của những chàng trai mưu cầu việc lớn nhưng việc lớn lại cứ xa vời nên đành mượn rượu mà gửi lời tâm sự. Chính Nguyễn Bá Trác đã viết trong Hạn Mạn Du Ký: ” Loanh quanh trong nước một năm, rồi tạm trọ ở Xiêm La (Thái Lan) hơn 10 ngày, khách (tác giả Nguyễn Bá Trác) qua Nhật Bản một tháng rồi lại quay về Trung Hoa, bao nhiêu thương phụ to, tỉnh thành lớn như Ba Thục (miền Tây), U Uyên (đất Bắc), Quế Việt (cõi Nam)… đều là chỗ mình có để ít nhiều vết xe dấu ngựa “.

Tình cảnh Nguyễn Bá Trác tương tự hoàn cảnh các thanh niên yêu nước của thế hệ ông và cả các thế đi sau. Chí cao vời vợi, nhiệt huyết sôi sục vì công cuộc cứu nước nhưng để sau cùng: Kẻ trôi nổi phiêu bạt hoặc bỏ xác nơi xứ người, người sống thì như một kẻ lưu vong (quê hương còn đó nhưng đâu về được) hoặc đau đớn thay, có người lại trở về nước hợp tác với chính quyền là thực dân Pháp.

Tình cảnh đó đã tạo ra tâm trạng buông trôi sống trong men rượu, khói thuốc và chí lớn đổ vào… hồ trường.

Tuy là tác giả bài thơ (hay bài ca) nổi tiếng như vậy nhưng hầu như không ai xếp Nguyễn Bá Trác là nhà thơ mà coi ông như một nhà văn qua những bài báo ông viết trên tờ Nam Phong Tạp Chí (từ năm 1917-1932) cùng các tác phẩm: Hoàng Việt Giáp Tí Niên Biểu, Hán Học Văn Học Khảo và nhất là một thiên ký sự có tên Hạn Mạn Du Ký được độc giả khi đó hết sức tán thưởng. Một tập du ký kể chuyện xuất dương qua Nhật Bản, Tàu cầu học nhưng sự học chưa có kết quả mà cái hy vọng cứu quốc cũng thành chuyện viển vông.

Khi về nước, Nguyễn Bá Trác đảm nhiệm chức vụ chủ bút về Hán Văn trong Nam Phong Tạp Chí rồi sau đó vào Huế làm Tá Lí Bộ Học, ít lâu ông được thăng chức Tuần Phủ Quảng Ngãi rồi Tổng Đốc Thanh Hóa, Bình Định.

Cũng có người lại nói nhân trong một chiếu rượu, khi nghe một người bạn Tàu (Nguyên Quân) hát nghêu ngao mấy câu thơ Cổ Phong mà Nguyễn Bá Trác đã cầm bút lên dịch và thành bài Hồ Trường.
Hồ Trường được đăng đầu tiên trên tờ Nam Phong Tạp Chí rồi sau đó đã được nhiều thế hệ thanh niên sao đi chép lại nên đã không tránh khỏi chuyện dị biệt. Dưới đây là 4 bản Hồ Trường mà tác giả bài viết này (PTV) sao lục để quý bạn đọc so sánh.

 

nam-phong-tap-chi1_zpscy0lnjbc

 

7b0ed7013abf43eea7dc47ec74bbb12c_zpsfe2ivhkx

1. Bản in trong trang 327, quyển VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ GIẢN ƯỚC TÂN BIÊN (NXB Anh Phương, Sài Gòn năm 1965) của giáo sư Phạm Thế Ngũ.

Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương.
Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương.
Học chẳng thành công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.
Rót về Tây phương, mưa Tây rơi từng trận chứa chạn
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nào ai tỉnh, nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

2. Bản đăng trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật (trong nước) số… năm 1998.

Trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường.
Hà tất tiêu dao bốn bể, xuân lạc tha hương.
Trời Nam nghìn dặm thẳm, mây nước một màu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn
Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta at hay
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây?

3. Bản in trong báo Thế Kỷ 21 (Hoa Kỳ), trang 8, số 115 ra tháng 11 năm 1998.

Trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường,
Hà tất tiêu dao bốn bể, lưu lạc tha phương.
Trời Nam nghìn dặm thẳm, non nước một màu sương
Chí chưa thành, danh chưa đạt, trai trẻ bao lăm mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang ai người tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn.
Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan.
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát giương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

4. Bản in trong quyển Chơi Chữ của tác giả Lãng Nhân-Phùng Tất Đắc, trang 75 (Sài Gòn-1970)

Trượng phu đã không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
Sao lại tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương?
Trời Nam nghìn dặm thẳm; mây nước một màu sương.
Học không thành, công chẳng lập, Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc; trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi: Trời đất mang mang, ai là tri kỷ? Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng-lạn.
Rót về Tây phương, mưa Tây-sơn từng trận chứa chan;
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút, đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say?
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nào ai tỉnh , nào ai say?
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây!

Ngồi ghế Tổng Đốc Bình Định, Nguyễn Bá Trác bị Cộng Sản bắt và xử bắn công khai tại Qui Nhơn trong giai đoạn Cách Mạng Tháng Tám năm 1945.

Văn nghệ sĩ miền Bắc trong chế độ Cộng Sản hầu như không biết đến bài Hồ Trường chỉ đến khi nó xuất hiện trên trang báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật. Họ đọc, thích và học thuộc rồi từ đó, trong các bữa nhậu bên quê nhà, ta mới thấy cái hơi… hồ trường khè ra trong men bia, rượu. Theo một nữ độc giả cho người viết bài này (PTV) biết tại sao nam giới lại thích bài Hồ Trường khi ngâm nga nó trong các… chiếu rượu? ” Ông mãnh nào lại vừa ý với những gì mình có, mình đạt được “, người này nói vậy.

ai la tri ky

Bài thơ (hay bài ca) Hồ Trường rất hay nhưng có người lại cho PTV chớ nên học thuộc, ngâm nga vì cái tư tưởng yếm thế và sợ nó… vận vào số phận của mình.

Phạm Thắng Vũ

Last edited by Pham Thang Vu on August 07, 2016.

 

Thi Sĩ Vũ Anh Khanh Và Bài Thơ Hận Tha La.

Tags

(Bài viết này thì Phạm Thắng Vũ (PTV) viết từ tháng 12 năm 2010 nhân nay nghe lại bài hát Hận Tha La nên mới lục trên Net và post nó trở lại trong trang fb của mình).

Bạn thân mến;

Nếu bạn từng sống ở Sài Gòn và thường có lúc đi rảo mua sách thì chắc phải biết đến con phố sách báo cũ mang tên Đặng Thị Nhu thuộc phường Nguyễn Thái Bình, quận 1-Saigon. Lòng con phố hơi chật vì các quầy kiosk sách báo nằm đối diện, kề sát nhau và chỉ để một lối đi ở chính giữa cho khách (có khi dẫn xe máy đi cùng) ra vào. Một đầu con phố tiếp với đường Ký Con và đầu phố còn lại thông ra đường Calmette. Anh Hữu, một người bạn lớn hơn PTV cả chục tuổi mà nhân trong một lần đi vượt biên chung, đã quen nhau, có một kiosk bán sách ở con phố này và cả nhà dùng nó như một phương tiện mưu sinh sau cuộc đổi đời tháng 4 năm 1975. Nghề mua bán sách báo cũ, coi lèng xèng vậy mà kiếm ăn rất ngon chỉ kẹt cái là đọng vốn nhưng khi có khách cần đến thì cầm chắc có lời. Sách báo cũ được mua đi rồi bán lại ngay tại chỗ và chủ kiosk nào cũng có những mối quen trong nghề. Mối đây là người đến tìm mua sách về để họ bán lại và thường họ ở xa đâu đó ngoài miền Trung, thậm chí có mối ở tít tận Hà Nội. Mối cũng là những người có sách do họ lùng mua được rồi mang bán lại cho chủ kiosk. Thỉnh thoảng gặp khách cho địa chỉ mời đến tận nhà để xem sách họ có và muốn bán. Các dịp như vậy, chủ kiosk thường mua được một lúc khá nhiều sách giá trị và tất nhiên, sẽ là một món lời. Anh Hữu vẫn từng đến những chỗ mà khách cho địa chỉ nằm trong nội đô Sài Gòn hay ở Chợ Lớn, vùng Bình Thạnh hoặc khu dân Bắc di cư Gò Vấp. Ngoài những tựa sách quen có tiếng hoặc vì đã từng được khách lùng mua nên biết, còn thường thì anh Hữu vẫn lúng túng mỗi khi cầm quyển sách lạ trong tay. Đó là lý do mà anh hay rủ tôi đi chung cho vui, để có người góp ý với anh về các tựa sách lạ. Có lần, anh rủ tôi cùng đi Tha La.
Tha La, cái tên tôi thường nghe qua các bài hát như Tha La Xóm Đạo, Hận Tha La… và cũng biết nó nằm đâu đó trong vùng Trảng Bàng-Tây Ninh nhưng chưa lần nào có dịp đặt chân đến. Nhiều vùng quê miền Nam có các địa danh thật lạ như Hóc Bà Tó, Chắc Cà Đao, Muồng Luông, Soài Cả Nãi và Tha La… dường như từ gốc Khmer mà ra. Theo địa chỉ đã có, tôi và anh Hữu trực chỉ hướng Tây Bắc đi Hốc Môn rồi vượt qua Củ Chi và đến thành phố Trảng Bàng lúc gần trưa. Từ Trảng Bàng, theo một con đường đất đỏ (cũng về hướng Tây) mà hai bên là các thửa ruộng, rẫy chung với nhà dân hoặc các đám rừng cây lưa thưa, chúng tôi đi về một xã có tên là An Hòa khoảng 6, 7 cây số gì đó thì gặp Tha La. Đây là một xóm nhỏ với những nhà lợp tranh, mái ngói và cả nhà tôn nằm thấp thoáng sau hàng cây ăn trái như mít, xoài, ổi và dừa. Tha La, một miền quê do khung cảnh và cũng vì con đường chính cùng các ngõ nhỏ đều là đường đất đỏ. Mùi rạ, mùi đất bùn cùng mùi lá tre và cả mùi mít chín thơm thoang thoảng trong gió. Có những ngõ nhỏ đan chặt các hàng tầm vông, tre hoặc trúc trông thật mát mắt. Loanh quanh một hồi, chúng tôi tìm được nhà của người có sách muốn bán nằm riêng một ngõ với hai hàng trúc bao thành lối đi mát rượi dẫn vào bên trong. Chúng tôi chạy xe thẳng vào sân của một căn nhà vách ván gỗ xập xệ lợp ngói có chỗ đã bong mất hở cả mè cây đỡ mái. Căn nhà có một bàn thiên chính giữa mặt tiền cùng những cây cúc ngày tím sẫm, hoa vạn thọ vàng chóe chung với bụi mẫu đơn đỏ thắm. Chủ nhà ở phía sau nghe tiếng động liền ra xem rồi nhận ra anh Hữu, ông mời chúng tôi vào trong và lấy các sách muốn bán ra bày trên bộ ván ngựa xưa cũ. Mới trông qua thấy toàn sách xưa, những quyển mà dân bán sách cũ đang kiếm, anh Hữu chộp ngay các quyển: Kim Cổ Kỳ Quan, Châu Về Hợp Phố, Mai Hoa Dịch Tân Biên, Vạn Huê Lầu, Đông Chu Liệt Quốc, Long Trùng Quyết Sách… và số còn lại (khoảng hai chục quyển) là loại thường nhưng anh Hữu cũng mua hết nói dùng làm sách bày cho có trong kiosk. Theo lời gia chủ, sách vừa bán là do từ gia đình (ông ngoại) để lại từ lâu, nay vì cần tiền đành phải bán. Đồ đạc bài trí trong nhà ngoài các trang thờ bằng gỗ, tủ cẩn ốc xà cừ chưng hình ảnh ông bà, bộ ván ngựa thì còn có các tủ danh mộc đã cũ. Một nếp nhà khá giả xưa còn sót lại đang trong cảnh sa sút. Tôi hỏi thăm gia chủ ít điều về Tha La thì được biết nguyên thủy Tha La tên gốc từ chữ Schla của Khmer có nghĩa là trại hoặc nơi nghỉ mát rồi không biết từ khi nào, người Việt đọc Schla thành Tha La và địa danh này tồn tại cho tới bây giờ. Tha La hiện thuộc ấp An Hội của xã An Hòa (có 8 ấp) thuộc Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và là một xứ đạo Thiên Chúa. Theo ông, từ thời vua Minh Mạng, dân theo đạo trốn chạy, lánh nạn vào đây (khi đó còn là rừng) rồi khai hoang lập ấp, xây dựng cuộc sống để bảo tồn nền đạo cùng niềm tin tâm linh. Ông cũng cho biết, trong Tha La nơi nhộn nhịp-trù phú nhất chính là khu vực dân cư sống chung quanh họ đạo gần ngôi thánh đường Thiên Chúa giáo. Cũng có một số người theo các tôn giáo khác như đạo Phật, thờ cúng ông bà… sống ở Tha La. Tôi hỏi thêm về bài hát mang tên Tha La Xóm Đạo, ông liền gật đầu rồi hát vài đoạn ngắn cho tôi cùng anh Hữu nghe như để khắng định và chỉ biết vậy, không hơn.

 

13495025_850420108397860_1726068069953970236_n

Chia tay với ông, chúng tôi chạy xe lòng vòng trong Tha La để biết thêm. Đến khu xóm đạo nơi đông dân cư nhất rồi vòng qua thánh đường là một nhà thờ vừa phải với tháp chuông cùng hang đá nằm êm ả dưới các bóng cây mát. Sau đó, tôi và anh Hữu dừng xe, nghỉ chân ở một quán nhỏ bán dừa tươi. Chị bán quán khi nghe tôi hỏi chuyện về Tha La Xóm Đạo, đã mau mắn lấy ra một băng cassette rồi dò tìm mở đúng bài hát đó. Vài khách đang ngồi uống nước trong quán cũng hát theo rành rẽ. Họ là dân ở đây, chắc vậy và họ đang hãnh diện vì có bài hát hát về địa phương mình. Ngay sau ngày 30-4, nhạc của miền Nam VNCH được chính quyền mới gọi bằng cái tên chung là Nhạc Vàng bất kể thể loại nào. Thực ra nhạc vàng (chiếm đa số) là các bài hát về tình yêu đôi lứa, về quê hương hoặc về nỗi niềm riêng tư nào đó… không thôi. Mà nếu vậy, các bài hát thời bây giờ như Lá Diêu Bông, Chị Tôi, Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa, Phượng Hồng, Tình Thôi Xót Xa… cũng là nhạc vàng và đó là lý do tại sao công chúng lại yêu thích loại nhạc này! Một khi bạn đã yêu đã thích nhạc vàng thì mỗi lần nghe nó, bạn sẽ nhớ đến quê hương nếu như bạn đang sống ở nước ngoài. Còn nếu bạn đang ở trong nước, hồi tưởng về tháng ngày hoa mộng cũ, những kỷ niệm (tùy từng người) sẽ lại về trong tâm tưởng bạn. Ngày hôm đó tôi cũng vậy, những lời hát tai đang nghe đã dẫn tôi về khung cảnh xa xưa của Tha La và tự dưng lòng tôi se sắt buồn. Tôi đã là người dân của Tha La xóm đạo.

… Tha La ơi! Xóm Đạo ơi! Còn đâu nữa chiếc áo ngày xưa
đành khép kín khoác vào bộ chinh y. Lòng hờn căm một chiều
xưa lửa dậy, nghe não nùng chưa? Tha La sầu quốc biến
Xóm Đạo chất hận thù!
… Đây Tha La đây Xóm Đạo hoang tàn
Mây trời vây quanh mầu tang khói lửa,
Bao năm qua Tha La còn trơ đó, đoàn người
đi giết thù đã hẹn thề từ dạo ấy, Long viễn
khách bồi hồi như thương tiếc mùa thu
nắng hanh vàng …
Trên đường về, tôi gặp một cụ già cởi trần gầy gò đang gánh một gánh dừa đi về phía quán nước. Cụ già với hàm râu trắng như hình ảnh trong bài thơ. Không biết thời bài thơ Hận Tha La ra đời, khung cảnh khi đó có giống như hiện tại? Vài bụi tre bị chặt trụi lũi bên đường trơ gốc cây mốc trắng và tất cả những mụt măng đã bị chủ gia cắt sớm để bán. Họ cần tiền cho một nhu cầu gấp rút nên không thể chờ măng thành tre được, y như chủ nhân căn nhà mà tôi và anh Hữu vừa ghé vào mua sách cũ gia đình để lại. Tha La là vùng đất lành, mầu mỡ do nguồn nước từ kinh Vàm Trảng dẫn từ sông Vàm Cỏ về tưới mát đất đai ở đây nhưng sao dân cư trong vùng vẫn mang vẻ buồn, hiu quạnh. Tôi cảm thấy… hay Tha La tự nó là như vậy.
Như nhiều bài hát nổi tiếng khác, Tha La Xóm Đạo được phổ từ một bài thơ của một thi sĩ và cũng là một người lính chiến thời chiến tranh Việt-Pháp. Đó là bài thơ Hận Tha La và tác giả là Vũ Anh Khanh. Tới tận bây giờ vẫn ít người biết về thân thế cùng số phận của nhà thơ Vũ Anh Khanh dù có thể họ vẫn hát bài hát Tha La Xóm Đạo. Vũ Anh Khanh có tên là Võ Anh Khanh nhưng cũng có người nói ông tên thật là Nguyễn Năm, sinh năm 1926 quê quán ở Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận. Ông sống ở Sài Gòn, có thơ-văn đăng trên các trang báo từ những năm cuối thập niên 1940. Nước Việt trong giai đoạn này, bị xáo trộn bởi các ảnh hưởng chính trị, thời thế quốc tế và từ các vận động của các tổ chức-đoàn thể trong các địa phương. Giai đoạn này cũng là sự thức tỉnh tự thân của giới thanh niên-trí thức trẻ (trong đó có các văn nghệ sĩ), đưa đến cuộc đấu tranh chống Pháp năm 1945. Người ra chiến khu, vô bưng hoặc về lại thành phố trong tinh thần ái quốc chống ngoại xâm và được một làn sương lãng mạn-thi vị nhưng hào hùng phủ lên. Người yêu nước, khởi đầu gia nhập hàng ngũ kháng chiến chỉ một ý nghĩ là giặc Pháp tiếp tục muốn đặt lại ách thống trị thì phải chống chứ chẳng hề vì lý tưởng đại đồng, CS gì và Vũ Anh Khanh là một người trong số họ. Là một chiến sĩ, đi qua nhiều vùng đất nước, mắt ông đã thấy nhiều cảnh chết chóc, nhà cháy, tang thương của xóm làng sau một trận chiến. Và, không biết trong một lần nào đó, ông đã có dịp dừng chân tại Tha La rồi khung cảnh của một xóm đạo thời ly loạn… đã gây một xúc động ghê gớm nơi ông, khiến ông sáng tác ra bài thơ (chúng ta hãy nghĩ vậy).

Hận Tha La là một bài thơ dài kiểu hợp thể. Đoạn mở đầu là Ngũ Ngôn rồi chuyển sang Tám Chữ, sau đó thành Kịch Thơ (đoạn giữa) và kết thúc bằng hai câu Thất Ngôn. Một bài thơ hay, có hồi có cảnh. Tiết tấu thay đổi với khung cảnh và khung cảnh thay đổi với các nhân vật trong bài thơ.
Xin mời quý bạn đọc, đọc bài thơ Hận Tha La

HẬN THA LA

Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh.
Ngậm ngùi Tha La bảo:
– Đây rừng xanh rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh.
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
– Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón?
– Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi:
– Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
Khách rùng mình, ngẩn ngơ lòng hiu quạnh.
– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.
– Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng:
” Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi đau đất nước lầm than. “
Trời xa xanh, mây trắng ngoẹn ngàn hàng,
Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.
Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La giận mùa thu,
Tha La hận quốc thù,
Tha La hờn quốc biến,
Tha La buồn tiếng kiếm,
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh.
Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thánh Cha!
Lạy Đức Thánh Mẹ!
Lạy Đức Thánh Thần!
Chúng con xin về cõi tục để làm dân…
Rồi… cởi trả áo tu.
Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
Rồi… nhẹ bước trở về trần…
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy dừng chân.
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi mà bẽ bàng?
Ơ… ơ… hơ… ờ… ơ… hơ… tiếng hát
Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc.
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ,
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay…
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
– Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
Và suối mát rừng xanh.
Xem đám chiên lành thương áo trắng.
Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh.

Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950, Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông gồm truyện dài như Nửa Bồ Xương Khô, Bạc Xíu Lìn, Cây Ná Trắc và truyện ngắn như Ngũ Tử Tư, Đầm Ô Rô, Sông Máu, Bên Kia Sông, Một Đêm Trăng… Các tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị, tiêu biểu cho dòng văn chương thời kỳ kháng chiến chống Thực dân Pháp ở Nam Bộ. Tuy vậy, hầu như nhiều người chỉ biết chỉ nhớ đến Vũ Anh Khanh với bài thơ Hận Tha La.

 

13427935_850419908397880_7970536679815729006_n

Năm 1954, Hiệp Định Geneva về ngưng chiến được thực hiện, chia cắt nước Việt làm hai, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Người dân miền Bắc (khoảng gần 1 triệu người) ồ ạt di cư vô miền Nam thì đổi lại cán bộ-chiến sĩ thuộc phe CS ở trong miền Nam được chuyển ra miền Bắc (gọi tên chung là tập kết). Có 3 khu vực tập kết là Hàm Tân-Xuyên Mộc, Đồng Tháp Mười, Cà Mau và không biết Vũ Anh Khanh tập kết tại địa điểm nào kể trên. Ông ra Bắc rồi đi dự Hội Nghị Các Nhà Văn Á Châu (HNCNVAC) tại New Dehli (Tân Đề Li-Ấn Độ) tháng 12 năm 1956. Tham dự hội nghị là phái đoàn của 16 quốc gia (gồm 14 quốc gia CS và chỉ 2 quốc gia tự do là Ấn Độ và miền Nam VNCH). Vũ Anh Khanh có mặt trong phái đoàn miền Bắc VNDCCH chung với nhà văn Nguyễn Công Hoan (tác giả Bước Đường Cùng, Đống Rác Cũ…). Lý do Vũ Anh Khanh được nhà cầm quyền miền Bắc khi đó cử đi dự đại hội HNCNVAC là vì công an không thấy ông trong cuộc tụ tập ở khu Trường Tiền-Hà Nội để phản đối sự chỉ huy văn nghệ của Đảng (nhân có phong trào Trăm Hoa Đua Nở-Trăm Nhà Đua Tiếng). Cuộc tụ tập đó do nhóm tập kết miền Nam phản đối các lãnh đạo CS Hà Nội. Sau khi dự đại hội HNCNVAC về, có lẽ đã thấy bộ mặt thật của chế độ CS tại miền Bắc nên khi Vũ Anh Khanh có giấy đi công tác (cách vài tháng sau) ở tỉnh lỵ Vĩnh Yên (phía Bắc Hà Nội) và thi sĩ đã sửa giấy công tác đó từ Vĩnh Yên thành Vĩnh Linh (một đặc khu tương đương cấp tỉnh), địa danh gần sông Bến Hải. Vũ Anh Khanh đến Vĩnh Linh và ông đã mạo hiểm vượt tuyến bằng cách bơi qua sông Bến Hải nhưng không thoát. Một mũi tên độc đã cắm vào người ông, lôi ông chìm xuống đáy và chết mất xác.
Sông Bến Hải (giới tuyến chia cắt hai miền Nam-Bắc) thuộc thôn Hiền Lương (cầu trên sông mang cùng tên) xã Vĩnh Thành huyện Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị. Giai đoạn Vũ Anh Khanh đến Vĩnh Linh thì ở phía bờ Bắc (do chính quyền miền Bắc VNDCCH kiểm soát) có 2 đồn công an đóng tại Hiền Lương và Cửa Tùng. Đồn Hiền Lương nằm sát bên cầu, đồn Cửa Tùng đóng ở bãi biển xã Vĩnh Quang. Đồn nào (theo quy định của bản Hiệp Định Geneva) chỉ có 16 nhân viên nhưng con số thực tế nhiều hơn. Vả lại, vì là giới tuyến trực diện với vùng đất phía Nam của chính quyền miền Nam VNCH nên dân chúng sinh sống sát bờ sông Bến Hải thực tế là các gia đình công an giả trang. Vũ Anh Khanh đến đây nhằm tìm dịp để vượt tuyến đào thoát vào miền Nam VNCH nhưng ông không ngờ trước đó (ngày 4 tháng 10 năm 1956), đã có 3 người dân miền Bắc liều mạng bơi qua sông và họ thành công. Chính quyền miền Nam VNCH đã không giữ kín việc này khi họ tổ chức họp báo để thông tin và miền Bắc VNDCCH biết được. Công an CS tại Vĩnh Linh đã họp và quyết không để trường hợp tương tự tái diễn. Họ đã kín đáo canh phòng nghiêm nhặt dù bên ngoài vẫn để các sinh hoạt dân dã bình thường và Vũ Anh Khanh đã mắc bẫy. Có lẽ vào ban ngày ông đã tìm cách bơi sang sông (chỉ rộng hơn 100 m) rồi bị công an phát giác và các mũi tên độc (được bắn ra từ nỏ lớn) của công an đã kết liễu đời ông. Việc dùng tên tẩm thuốc độc (thay cho súng) là cách mà công an CS muốn tránh bị Ban Liên Hợp Quốc Tế Giám Sát-Kiểm Soát việc áp dụng Hiệp Định (có mặt tại đây) phát giác việc họ truy sát dân lành vượt tuyến (Có tiếng súng nổ thì họ sẽ cho điều tra). Cái chết của Vũ Anh Khanh, có thể do công an CS đã thông báo cho dân chúng biết như một răn đe nên kể từ sau đó (tháng 4 năm 1957), không còn người vượt tuyến vào miền Nam bằng cách bơi sang sông Bến Hải nữa.

 

13510800_850420101731194_5257537987095032620_n

 

Là một người yêu nước tuy có lúc sai lầm khi đứng bên phía CS, sau cùng Vũ Anh Khanh đã đào tị nhưng không gặp may. Chính quyền CS đã cố tình gạt bỏ tên ông trong văn học sử mà ngay cả chính quyền miền Nam VNCH cũng đối xử tương tự với ông khi gạt bỏ tên trong chương trình giáo dục phổ thông cùng cấm lưu hành các sách in của ông. Họ xếp ông là văn-thi sĩ CS (do đã tập kết ra miền Bắc năm 1954 và dự đại hội HNCNVAC tháng 12 năm 1956) và đó là một đối xử bất công.
Bài thơ Hận Tha La được các nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ thành bài hát (năm 1964) mang tên Tha La Xóm Đạo, nhạc sĩ Sơn Thảo’S phổ thành bài hát (năm 1965) mang tên Hận Tha La và nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành bài hát (năm 1965) mang tên Vĩnh Biệt Tha La.

 

 

Phạm Thắng Vũ
(repost on August 01, 2016.)

 

Hồ Con Rùa

Tags

Giới trẻ thời bây giờ (người sinh và trưởng thành sau ngày 30-4-1975) ở Sài Gòn chỉ biết Hồ Con Rùa là 1 bùng binh (vòng xoay giao thông) có đài phun nước, nối 3 con đường Võ Văn Tần, Trần Cao Vân và Phạm Ngọc Thạch (thuộc quận 1) và là một trong các khu vực náo nhiệt (vì các hoạt động ẩm thực với các tiệm cà phê, hàng quán chung quanh. Hồ Con Rùa trong quá khứ từng có tên là Đài Phun Nước, Công Trường Ba Hình, Công Trường Chiến Sĩ Trận Vong, Công Trường Quốc Tế, Công Trường Duy Tân… và nếu muốn kể đầy đủ thì Phạm Thắng Vũ (PTV) quay trở về thời khởi điểm của các vị trí Hồ Con Rùa bây giờ từ thời xa xưa (1790) nguyên là vị trí cổng thành tên là Khảm Khuyết (của Quy Thành (Bát Quái Thành). Sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (dưỡng tử của quan Tổng trấn Gia Định Thành-Lê Văn Duyệt) thì vua Minh Mạng cho phá bỏ Quy Thành này (1837) và xây một thành mới thay thế nhưng quy mô nhỏ hơn (gọi là Phụng Thành). Do đó cổng thành Khảm Khuyết lại ở ngoài cái Phụng Thành (mới) này và tự nhiên trở thành con đường chạy thằng xuống sông (Bạch Đằng bây giờ). Phụng Thành cũng không bền vì sau khi người Pháp chiếm được thì họ lại phá hủy tan tành (ngày 8 tháng 3 năm 1859). Người Pháp (sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ) thì bắt đầu quy hoạch để xây khu đô thị mới (tiền thân của Sài Gòn) bằng cách dựa trên các trục lộ của (Quy Thành cùng các vị trí cũ) và một tháp nước được xây ngay (năm 1878) tại vị trí Hồ Con Rùa dùng để cung cấp nước sinh hoạt cho cư dân trong vùng. Cái tháp nước này cũng nhỏ, do vậy khi lượng dân cư tăng lên thì người Pháp dựng các tháp nước khác thay thế (do tháp nước cũ không cung ứng đủ và bị phá bỏ vào năm 1921). Vị trí phá bỏ này, người Pháp đã cho xây dựng một tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng với hồ nước nhỏ, để đánh dấu cuộc xâm chiếm và biểu tượng của việc người Pháp làm chủ Đông Dương và vì vậy, dân trong vùng thường gọi nó là Công Trường Ba Hình.

5838439596_fe8d592e10_b_zps7e962a95 (1) Chiensitranvong-1950-HoConRuasaunay_zps294c37d3

Daichiensitranvong_zpsd0bbe0bc

LeChateaudeau_zpsf215a604

Tượng đài (Ba Hình) này, người Pháp xây để tưởng nhớ đến các binh sĩ Pháp (bỏ mình trong trận Đệ Nhất Thế Chiến tận bên trời Âu) và hằng năm cứ đến ngày 14 tháng 7 (Quốc Khánh Pháp) thì quan chức Pháp (chính quyền thuộc địa) kéo về đây để làm lễ tưởng niệm chiến sĩ trận vong. Tượng các người lính chiến ở đài (Ba Hình ) này không có tên (vô danh), hình dáng mặc quần áo trận, mũ sắt, tay cầm khẩu súng Mút (dưới chân tượng là bệ đá hoa cương có khắc hàng chữ Le Soldat Inconnu) và nơi này (tượng đài Ba Hình) còn có tên gọi là Công Trường Chiến Sĩ. Gọi tên là Ba Hình vì có 1 tượng trên đỉnh và 2 tượng ở dưới chân.

Khi cầm quyền (tư cách là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia của miền Nam VNCH), Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã cho phá hủy tượng đài Ba Hình này (quãng tháng 6 năm 1965) và thay thế bằng hồ nước (hình ảnh hiện như bây giờ). Có tin là ông (tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) tin vào lời của một thầy địa lý xây Hồ Con Rùa để làm một trấn yểm. Trên mặt hồ là từng dãy lối đi được xây cách điệu hình hoa sen đang nở. Giữa hồ là 5 trụ bê tông sừng sững vươn lên cao, tượng trưng cho năm cánh tay của cộng đồng quốc tế công nhận miền Nam VNCH. Dưới chân trụ này là một đài tưởng niệm hình bầu dục, trên có một đỉnh đồng (đồng đỏ) chỉ được đốt hương trầm vào ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong của miền Nam VNCH.

hoconrua-1_zpsaf8d9df5

HoconRua1969_zps7590b3b1

Hình tượng chính của việc trấn yểm là một hình tròn đường kính khoảng gần 2m xây đối diện 5 trụ bê tông nói trên. Trên hình tròn này là một tấm bia khoảng 5m, cẩn đá cẩm thạch trắng. Đỉnh bia có một phù điêu bằng đồng thau khắc nổi hình một bầu rượu (không hiểu nghĩa gì), dưới phù điêu ấy là tên các quốc gia (hình như là 44 quốc gia trong khối tự do và trung lập) đã công nhận miền Nam VNCH và có viện trợ kinh tế cũng như tinh thần (cho miền Nam VNCH khi đó), được khắc chìm vào mặt đá và mạ vàng. Ngay dưới chân bia là một con Rùa (Quy) tạo hình bằng những phiến đồng đỏ kích thước khoảng 40×40 cm/tấm, được ghép lại với nhau theo lối tán rivet (cũng bằng đồng). Nhìn sơ qua, hình dáng con Rùa đội tấm bia này cũng giống như các con rùa đá đội bia khắc tên các ông Nghè ở Văn Miếu ngoài Hà Nội.

Cái gì hiện hữu đều có lý do hiện hữu. Vụ nổ mìn làm tan hình Con Rùa (cùng tấm bia trên lưng) ở Hồ Con Rùa cũng có lý do của nó. Chúng ta phải quay trở lại thời điểm bắt đầu sau ngày 30-4-1975. Khi đó, cùng với đoàn quân mới (Việt Cộng) chiếm đóng thì một tâm trạng bất an của dân đọc sách và các nhà sách mà tự dưng sách vở bày bán tràn lan lề đường. Rẻ, nhiều, mua bán chớp nhoáng không cò kè như trước. Có chỗ còn rao kiểu bán đổ đồng, đồng giá… nhanh tay thì còn-chậm tay thì hết. Cũng có những người còn nặng lòng với văn hóa miền Nam VNCH (khi đó) nên khi thấy sách báo, tạp chí bày bán quá nhiều và rẻ (đặc biệt có cả những bộ Văn, Bách Khoa… đóng bộ-bìa da hẳn hoi) thì họ vội mua về đem cất. Khách mua chợt tăng lên vì đã có những người thuộc chế độ mới tìm mua (trong số họ có cả Dương Thu Hương nữa khi nữ văn sĩ này vừa vào được Sài Gòn) để đọc (những cái, những điều lạ trong các sách lạ mà họ lần đầu tiên được thấy). Các hiệu cho mướn sách cũ vẫn lén lút cho thuê sách (để họ tiếp tục sống) và bây giờ thì họ lại có thêm một số khách hàng mới là các bộ đội đóng quân đâu đó (trong các doanh trại lính chế độ cũ) trong vùng. Những truyện từ Chưởng, Kiếm Hiệp, Trinh Thám, Truyện Dịch, Chính Trị, Tình Dục… của miền Nam VNCH được họ đọc rồi mê mẩn và tìm đọc tiếp rồi ra chợ trời tìm mua nguyên cả quyển để mang về quê cất (khi họ phục viên về quê, rời khỏi quân ngũ). Cùng lúc đó thì từ miền Bắc CS lại cho chở cả hàng đống (trên từng các chuyến xe tải) sách báo xuất bản ở ngoài đó (thu thập từ trong nhà dân chúng trong các phong trào quyên góp gửi sách cho đồng bào miền Nam ruột thịt) nói là để cho dân vùng bị địch (chế độ miền Nam VNCH) tạm chiếm trước đây có món ăn tinh thần để biết về văn hóa miền Bắc và Xã Hội Chủ Nghĩa.

Nhưng sách báo của miền Bắc chở vào các đô thị cũ của miền Nam VNCH thì lại không được đồng bào (nhất là ở Sài Gòn) đón nhận như ý các cán bộ văn hóa đã nghĩ. Kể cả  các sách báo mới vừa được in ra (tái bản vội vã từ các bản gốc ở ngoài Bắc mang vào), phát hành từ các nhà in do họ vừa mới tiếp thu được. Người ta vẫn cứ tìm đọc các sách báo cũ và vì vậy đã có các vụ tịch thu sách báo miền Nam VNCH (được cán bộ văn hóa gom chung một giỏ là đồi trụy) để đem thiêu hủy (đốt, xé hoặc cá biệt do cán bộ văn hóa đem cất riêng, nói là để nghiên cứu). Làm thế, nhưng văn hóa miền Nam VNCH đã truyền về miền Bắc rồi (do các anh bộ đội, người vào trong Nam ngay sau ngày 30-4-1975 mang về). Tiểu thuyết, truyện Chưởng, Kiếm Hiệp, Trinh Thám, truyện dịch, tạp chí… của miền Nam VNCH đã đánh bại sách báo miền Bắc (PTV không kể các tác phẩm xuất bản tại miền Bắc trước thời điểm 1954 như của Tự Lực Văn Đoàn cùng các ấn phẩm, tạp chí khác…) và ở ngoài đó người ta đọc, kể cho nhau nghe rồi cứ vậy mà nó lấn át, đánh bại các sách báo của nền văn học nghệ thuật khô cằn, nói một chiều. Dù chỉ có ít tháng kể sau ngày 30-4-1975, thơ ca của văn hóa miền Nam VNCH làm người dân miền Bắc quên mất cả những chân dung như Tố Hữu, HCM… Văn thì làm người đọc thấy hơn hẳn các khuôn mặt cũ như Chu Văn, Anh Đức, Nguyên Ngọc, Hữu Mai… Và vì vậy cán bộ văn hóa phải vào cuộc. Tháng 9- 1975, chính quyền ra thông cáo cấm phổ biến, lưu hành, tàng trữ toàn bộ tác phẩm của ngót 50 văn, thi sĩ, nhà nghiên cứu… của chế độ cũ (miền Nam VNCH). Thông cáo này được đọc ở trường học, các cơ quan nhà nước (Phường, Khóm, Ấp), trên vô tuyến TH, Radio truyền thanh… Các nhà văn, nhà báo, thi sĩ chế độ cũ (miền Nam VNCVH) tự dưng trở thành tay sai của USA hết (nhân viên CIA). Có thông báo đó, có các vụ bêu riếu các cá nhân văn, thi sĩ miền Nam VNCH thì vô tình càng làm sách báo chế độ cũ có cái gì hấp dẫn đối với dân chế độ mới. Nên, một vụ bắt các văn, thi sĩ miền Nam VNCH cần phải có để dập tắt hoàn toàn nền văn hóa của chế độ này (dù khi đó chế độ đó đã chấm hết).

Buổi tối (quãng 7 hay 8 giờ) ngày 1 tháng 4 năm 1976, phát một tiếng nổ ầm ngay tại con Rùa đồng (hình con rùa này, có người cho là làm bằng đồng đen nhưng người khác bảo là đồng đỏ và mầu đen là do đồng bị oxy hóa khi tiếp xúc với không khí lâu ngày) dưới chân bia kỷ niệm các nước (hình như là 44 nước) đồng minh, viện trợ cho miền Nam VNCH ở công trường Duy Tân (tên mới) trước học viện ĐH Sài Gòn. Tiếng nổ khá lớn và ngay ngày hôm sau thì báo Tin Sáng đã tường thuật đầy đủ chi tiết vụ nổ này (họ gọi là phá hoại) và cho biết thủ phạm đã bị bắt nhưng không đăng hình người đó mà chỉ đăng hình người chết (để gây xúc động trong quần chúng). Ngay ngày hôm đó (sau 12 giờ đồng hồ khi có vụ nổ xẩy ra) một số các nhà văn, thi sĩ, trí thức lần lượt bị bắt (chiến dịch này kéo dài từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 8 tháng 4 thì tạm ngưng) để sau đó công an bắt tiếp một số người phát hành sách báo (ngày 28 tháng 4). Khi đó không ai (các người bị bắt) biết được về cái kế hoạch bắt giữ này vì kể từ sau ngày 30-4-1975 thì các văn, thi sĩ, trí thức miền Nam VNCH vẫn linh cảm sẽ có ngày họ bị bắt nên tâm trạng họ gần như là chờ đợi cái ngày xui xẻo đến với mình (trừ nhà văn Mai Thảo thì sống cuộc đời nay đây mai đó, không ở một chỗ nhất định cho đến ngày ông vượt biên thành công). Cho đến tận năm 1982 (6 năm sau vụ nổ Hồ Con Rùa) thì độc giả mới biết đến kế hoạch (lý do) bắt này qua quyển truyện tên là Vụ Án Hồ Con Rùa (do NXB Tuổi Trẻ-Thành phố HCM xuất bản) do tác giả tên là Huỳnh Bá Thành viết ra.

Huỳnh Bá Thành (HBT) dân gốc miền Trung, vẽ hí họa (với bút hiệu là Ớt) cho tờ nhật báo Điện Tín (của Thượng nghị sĩ Quốc Hội VNCH Hồng Sơn Đông) có ai ngờ lại là tay Việt Cộng nằm vùng (cũng giống trường hợp của Vũ Hạnh (tác giả của Người Việt Cao Quý, Cô Gái Xà Niêng, Tiếng Hú Trên Đỉnh Non Chà Hóc…), Thái Bạch (tác giả của Thi Văn Quốc Cấm Thời Pháp Thuộc) và bản thân HBT cũng không lạ các khuôn mặt văn, thi sĩ miền Nam VNCH. Vậy mà y có thể viết một quyển sách về họ theo kiểu như vậy. Việt Cộng vẫn luôn rêu rao là chúng luôn luôn quý trọng con người và tài năng con người. Việt Cộng không bao giờ bắt các nhà văn, thi sĩ vì các tài năng mà họ bị công an bắt là vì đây là bọn gài mìn sát hại lương dân và phá hoại kiến trúc công cộng. Trong quyển Vụ Án Hồ Con Rùa (VAHCR), Huỳnh Bá Thành khẳng định các văn, thi sĩ miền Nam VNCH bị bắt như: Đỗ Gia (Đằng Giao), Chu Nữ (Chu Vị Thủy), vợ chồng Lê Dạ-Thu Dung (Trần Dạ Từ-Nhã Ca), Nguyễn Côn (Nguyễn Mạnh Côn), Vũ Long (Duyên Anh-Vũ Mộng Long), Hoàng Hà Đặng (Đặng Hoàng Hà)… đều là tay sai USA, nhân viên CIA gài nằm lại (không di tản dịp 30-4-1975). Cho các văn, thi sĩ này thảo luận chiến lược với các cố vấn Mỹ (trước 30-4-1975), nhận mìn và làm cái vụ nổ Hồ Con Rùa. Danh sách các văn, thi sĩ, nghệ sĩ… miền Nam VNCH bị bắt trong đợt này rất nhiều. PTV xin kể tên ra sau đây: Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Lê Xuyên, Nguyễn Mạnh Côn, Thế Viên, Thái Thủy, Mặc Thu, Vũ Hoàng Chương, Duyên Anh, Đằng Giao (con rể nhà văn Chu Tử), Chu Vị Thủy (con gái nhà văn Chu Tử), Hồng Dương, Thanh Thương Hoàng, Văn Kha, Hồ Nam, Như Phong, Trịnh Viết Thành, Anh Quân, Xuyên Sơn, Cao Sơn, Đặng Hải Sơn, Đặng Hoàng Hà, Lê Văn-Vũ Bắc Tiến, Sao Biển, Hồ Văn Đồng, Lê Hiền, Sơn Điền-Nguyễn Viết Khánh, Tô Ngọc, Uyên Thao,Lý Đại Nguyên, Tô Kiều Phương, Hoàng Vĩnh Lộc, Hoàng Anh Tuấn, Thân Trọng Kỳ, Minh Đăng Khánh, Nguyễn Hải Chí (họa sĩ Chóe), Nguyễn Hữu Hiệu…

20131227_200053_zpsa4a13158

Trở lại câu chuyện Vụ Án Hồ Con Rùa thì trong truyện này (độc giả trong nước nếu chịu khó đi lục tìm ở các hiệu bán sách cũ thì cũng có thể tìm lại được), HBT đã dựng lên một câu chuyện là khi vào ngồi trong Dinh Độc Lập rồi (Dinh này nguyên là dinh Norodom rồi đổi thành tên là dinh Thống Đốc (vì là nơi làm việc của Thống Đốc Nam Kỳ), rồi lại thành dinh Toàn Quyền (cho viên Toàn Quyền Pháp (cai trị cả 3 nước Việt-Miên-Lào)). Khi Nhật lật Pháp (biến cố ngày 9 tháng 3 năm 1945) thì Nhật làm chủ cái dinh này và khi Nhật thất trận, Pháp quay lại Việt Nam và làm chủ trở lại dinh cho đến khi Pháp bàn giao lại cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm (ngày 7 tháng 9 năm 1954) và ông Diệm cải tên là dinh Độc Lập. Sau vụ thả bom của 2 phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử (ngày 27 tháng 2 năm 1962) thì do dinh bị hư hại nặng nên Tổng thống Ngô Đình Diệm đã quyết định xây dinh mới (san bằng dinh cũ) theo đồ án của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (ông này cũng vẽ đồ án của bệnh viện Vì Dân (tên là Thống Nhất hiện thời)) nhưng ông Diệm lại chưa lần nào được đặt chân lên thềm cái dinh mới này (do vụ đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 xẩy ra). Dinh Độc Lập được khánh thành vào ngày 31 tháng 10 năm 1966 và người chủ tọa buổi lễ không ai khác chính là đương kim Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu (NVT)) thì cho mời một thầy phong thủy Tàu (năm 1967) vào dinh để xem thế đất. Thầy phong thủy cho rằng vị trí của dinh Độc Lập thuộc dạng long mạch mà đầu nằm tại dinh, đuôi nằm tại vị trí của Hồ Con Rùa. Ta thấy những con vật có đuôi (như chó, mèo, cọp, cá sấu, ngựa, bò…) thì chúng thường hay vẫy cái đuôi (để đuổi ruồi, biểu lộ cảm xúc của chúng hay cái gì khác nữa thì PTV không biết) và có lẽ vậy mà trong truyện VAHCR, gã Ba Trung (bí danh của HBT) cho là nếu rồng (1 con vật thần thoại cả bên trời Đông lẫn trời Tây) mà vẫy đuôi thì ngôi vị của thế đất (tức sự nghiệp của Tổng thống NVT sẽ không được yên ổn) sẽ đảo. Để tránh các sự việc này (rồng vẫy đuôi) thì Tổng thống NVT nên yểm. Yếm bằng cách dựng 1 con rùa để trấn cho thế đất vững bền (tức ngôi vị của Tổng thống NVT sẽ vững như bàn thạch) và kết quả là có hình con rùa đội bia tại khu vực công trường Duy Tân này.

Trong quyển VAHCR, Ba Trung còn cho các văn, thi sĩ miền Nam VNCH mà ai cũng biết thuộc loại người trói gà không chặt thành các gián điệp-tình báo lão luyện, mưu mô, xảo trá. Các văn, thi sĩ này đều là chuyên viên chất nổ được USA huấn luyện kỹ lưỡng, thành thục. Ba Trung gán tội các văn, thi sĩ miền Nam VNCH đều là tay sai của CIA cài lại (không chịu di tản hoặc di tản không kịp trong thời điểm 30-4-1975), do mê tín dị đoan, do ngu muội và tàn ác nên đã cho đặt mìn phá hoại con Rùa (tức đuôi rồng) để mong chính quyền Cách Mạng (Việt Cộng) vì thế sẽ bị sụp đổ. Nhưng cuối cùng bọn chúng (tức các văn, thi sĩ miền Nam VNCH có trong truyện VAHCR) đều bị các lực lượng an ninh của ta (Việt Cộng) phát hiện và tóm gọn.

Thực ra văn, thi sĩ miền Nam VNCH (kể cả các quân nhân, công-viên chức hành chánh…) đã mắc lừa chính quyền mới khi họ ngoan ngoãn khăn gói quả mướp để đến nơi ghi danh xin học tập cải tạo (theo thông báo học 10 ngày, 1 tháng) để mong học sớm sẽ về sớm (trình diện trong tháng 6 năm 1975) mà yên ổn làm lại cuộc đời mới trong 1 đất nước vừa qua khỏi chiến tranh, không còn bóng kẻ thù (chỉ có bọn USA thua chứ người Việt Nam bên nào cũng thắng, luận điệu của cán bộ CS trong thời điểm đó) và kết quả là tự mình xin được đi tù (với mỹ danh là cải tạo). Những văn, thi sĩ đó là: Thanh Tâm Tuyền, Mai Trung Tĩnh, Dương Hùng Cường, Hà Thượng Nhân, Phan Lạc Phúc, Tô Thùy Yên, Văn Quang,Thảo Trường, Duy Lam, Phan Nhật Nam, Huy Vân, Đặng Trần Huân, Diên Nghị, Phan Lạc Giang Đông,Thục Vũ, Minh Kỳ, Thế Uyên, Vũ Thành An, Dương Kiền, Đinh Tiến Luyện, Nhật Bằng… và trong số người này thì đã có người phải bỏ mạng trong trại tù (Minh Kỳ, Thục Vũ, Nguyễn Mạnh Côn) hoặc được tha để về tới nhà thì chết (Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Minh Đăng Khánh, Trần Việt Sơn)… Những văn, thi sĩ không thuộc diện trình diện vì liên quan đến công việc với chế độ cũ (công chức, sĩ quan, trưởng phòng…) như Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Duyên Anh, Đằng Giao, Chu Vị Thủy (được đổi tên khác giông giống trong VAHCR), Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên, Nguyễn Mạnh Côn, Thế Viên, Mặc Thu, Vũ Hoàng Chương… thì cán bộ văn hóa (chính quyền) dùng cái vụ nổ này để danh chính ngôn thuận lùa tất cả họ (văn, thi sĩ miền Nam VNCH còn sót bên ngoài) vào tù.

Cũng có các văn, thi sĩ miền Nam VNCH lại được chính quyền mới (Việt Cộng) để yên (không hề bị bắt) như: Thanh Lãng, Phạm Việt Tuyền, Vũ Bằng, Tam Lang, Trần Lê Nguyễn, Thượng Sĩ, Toan Ánh, Nguyễn Hiến Lê, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác… Tại sao lại có vụ người thì bị chính quyền tìm mọi cách để bắt, người thì họ lại tha (như những người kể trên đây)? Sau này (cả hàng chục năm sau ngày 30-4-1975) thì một số bí ẩn đã được thỏa (có đáp án). Thanh Lãng (tên thật là Đinh Xuân Nguyên), gốc là linh mục đạo Thiên Chúa, từng dạy tại ĐH Văn Khoa (Huế và Sài Gòn) từ năm 1957 đến 1975, tuy từng là Chủ tịch Văn Bút Miền Nam VNCH nhưng có khuynh hướng gần như thiên tả (từng bảo lãnh cho Vũ Hạnh khi nhà văn này bị cảnh sát miền Nam VNCH bắt). Vũ Bằng (tên thật là Vũ Đăng Bằng), từ năm 1948 từng hoạt động trong màng lưới tình báo cách mạng (Việt Minh) và năm 1954 di cư vào Nam (theo lệnh của tổ chức dù phải bỏ lại vợ và con trai tại Hà Nội) hoạt động cho đến ngày 30-4-1975 (tháng 3 năm 2000, Cục Chính trị thuộc Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng CS Việt Nam đã có văn bản xác nhận nhà văn Vũ Bằng là chiến sĩ quân báo). Nguyễn Hiến Lê tuy từng nói bản thân không làm chính trị chỉ chú tâm vào trước tác nhưng thái độ thiên cộng trong ông thì ai cũng rõ (từng 2 lần từ chối lời mời của chính quyền miền Nam VNCH để làm giám khảo giải Văn chương toàn quốc) và có lẽ vậy mà Việt Cộng để ông ta yên. Còn các nhà văn khác như: Bình Nguyên Lộc, Toan Ánh, Nguyễn Mộng Giác… Thật không biết lý do.

Ngoài truyện VAHCR đổ cho lý do phá vỡ long mạch (không còn rùa yểm) thì lý do thực của vụ nổ hồ con rùa là gì khi mà các văn, thi sĩ (có tên trong VAHCR, dù đã đổi nhưng vẫn giông giống bút hiệu, tên thật) khi vào trại giam lại bị quản giáo cho biết là chính quyền (Việt Cộng) phải làm một mẻ lưới lớn để tó hết tất cả văn, thi sĩ còn sót bên ngoài xã hội là vì: Chúng tôi sợ các anh, chị (văn, thi sĩ miền Nam VNCVH) phá hoại bầu cử (Quốc Hội của cả nước). Nhà văn Duyên Anh (DA) khi được biết lý do mình bị bắt như vậy (từ miệng gã cán bộ khi tháo còng tay ông) đã tự vấn: Chúng tôi phá bầu hoại bầu cử. Tại sao người ta (Việt Cộng) lại sợ chúng tôi như vậy dù đã phát thẻ cử tri rồi. Phát thẻ cử tri thì có nghĩa họ (Việt Cộng) không tước đoạt quyền công dân của chúng tôi. Chúng tôi được tham gia bầu cử Quốc Hội cả nước mà. Ông DA lại cho biết: Mấy hôm trước, đọc mục xã luận của tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng, biết chắc rằng, chúng tôi rất thiếu vinh dự bỏ phiếu (…những tên tướng, những tên đại tá ác ôn, buông súng là chúng hết ngóc đầu dậy, nhưng bọn nhà văn nô dịch phản động, buông bút xuống, ảnh hưởng của chúng vẫn còn nguy hiểm cho nhiều thế hệ. Những tên nhà văn đã phục vụ guồng máy chiến tranh bẩn thỉu của Mỹ Ngụy không được phép tới gần các thùng phiếu của chúng ta). Người ta (Việt Cộng) không thích chúng tôi tới gần các thùng phiếu. Người ta (Việt Cộng) cứ tưởng chúng tôi thèm bỏ phiếu lắm. Tôi đã từ khước quyền công dân của tôi từ lâu! Tôi chưa bao giờ biết bỏ phiếu. Tôi không khoái trò bầu cử gian lận ở nước tôi. Điều tôi cảm thấy hãnh diện thêm về nhà văn của chúng tôi là, cấm bỏ phiếu, Cộng Sản vẫn chưa yên tâm, phải bắt chúng tôi nhốt kỹ, họ mới tin tưởng bầu cử Quốc Hội cả nước thành công. Tuy bắt các văn, thi sĩ miền Nam VNCH rành rành rồi sau đó tống tất cả vào các nhà giam, trại… (Chí Hòa, số 4 Phan Đăng Lưu, Bù Gia Mập, Xuyên Mộc…) nhưng khi tháo còng số 8 (ở tay các văn, thi sĩ), các cán bộ phụ trách đều nói: Thật tiếc khi thấy anh, chị bị còng như vậy. Em, cháu (công an đi bắt) đã làm bậy. Nhà nước chỉ mời các anh, chị đi nghỉ ngơi ít bữa (qua bầu cử) chứ không hề muốn giam cầm các anh, chị. Hiện tượng, hiện tượng… Luôn luôn là hiện tượng. Hiện tượng không bao giờ là bản chất. Chính sách đúng mà thi hành sai. Anh, chị đừng buồn nhé.

Con rùa (hay Quy) đối với văn hóa Việt là một trong tứ Linh (Lân, Ly, Quy, Phụng) và có mặt trong tín ngưỡng như là linh vật (dù thực tế thì không có rồng, lân, phụng). Rùa gắn liền với truyền thuyết nỏ thần của An Dương Vương, nhận lại gươm báu từ tay vua Lê Lợi (trong truyền thuyết về hồ Gươm-Hoàn Kiếm…), rùa đội bia ( tượng đá trong Văn Miếu-Hà Nội), rùa đội hạc (tượng đồng, gỗ, đất… trong các Chùa). Chính vậy mà khi tạo dựng công trường Duy Tân mà chính quyền miền Nam VNCH đã làm tượng con rùa trên lưng đội tấm bia ghi tên (theo trật tự ABC) các quốc gia đã viện trợ (hoặc là đồng minh thiết yếu) cho chế độ của mình như là một cử chỉ trân trọng, biết ơn (đến các quốc gia đó). Có lẽ vậy mà công trường Duy Tân này còn có tên là công trường Quốc Tế Viện Trợ. Ngoài hình ảnh là một địa điểm (như công viên, đài…) đẹp, tô vẽ thêm cho cảnh quan Sài Gòn (từng được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông khi đó) thì hình ảnh rùa đội bia (tại Hồ Con Rùa) này cũng ít nhiều gây cho khách nước ngoài biết về nét văn hóa (qua hình ảnh con rùa đội bia) Việt. Gần như là chắc chắn, con rùa đội bia tại Hồ Con Rùa là tượng rùa đội bia lớn nhất (từ trước tới nay) ở trong nước.

Biến cố 30-4-1975 đến, chính quyền mới âm thầm để các vụ đập phá công khai các tượng đài trong khu vực nội đô Sài Gòn. Tượng 2 quân nhân Thủy Quân Lục Chiến trước tòa nhà Hạ Nghị Viện (nhà hát thành phố bây giờ) bị kéo đổ. Tượng Biệt Động Quân tại trung tâm giao lộ Ngã 7 cũng bị đập tan tành. Tượng người lính ngồi nghỉ chân (có tên là Thương Tiếc) bên cạnh đường vào nghĩa trang quân đội miền Nam VNCH ở Biên Hòa cũng bị lật đổ cắm đầu và kéo bỏ mất tiêu. Bào chữa cho các vụ đập phá này thì vì đây là các hình ảnh của quân đội phía thua cuộc nên không thể để tồn tại. Cũng được đi… nhưng còn tượng của các danh nhân Việt như tượng Petrus Ký (Trương Chánh Ký, Trương Vĩnh Ký), người được xếp vào danh sách toàn cầu thập bát quân tử trong thế kỷ 19 (do tự điển bách khoa LaRousse định hạng) nằm ở khu vực gần nhà thờ Đức Bà (công viên Kennedy) cũng bị kéo xếp bỏ nhà kho và chỉ mới không lâu, tượng này được đem về chưng trong viện Bảo tàng Mỹ Thuật. Tượng thương gia Quách Đàm (người xây cái chợ Bình Tây to đùng, góp phần làm phát đạt vùng Chợ Lớn bây giờ) dựng trong chợ cũng bị kéo bỏ (bây giờ thấy tượng ông cũng chưng trong viện bảo tàng Mỹ Thuật). Còn các tượng danh nhân lịch sử khác như Hưng Đạo Vương (ở bến Bạch Đằng), tượng Trần Nguyên Hãn (giữa bùng binh trước chợ Bến Thành nay viện lý do xây nhà ga điện ngầm, băng đảng Việt Cộng đã cho dời tượng đi mất), tượng Phan Đình Phùng (tại giao lộ tròn, trước bưu điện Chợ Lớn)… thì đã bị gỡ bỏ hàng chữ, tấm chữ ghi tên là thánh tổ của 1 quân binh chủng thời miền Nam VNCH. Làm vậy cũng được vì giang sơn giờ đã đổi chủ, có làm điều đó thì cũng không lạ và cũng chẳng ai chê trách nhưng lại có tin là (thoang thoảng trên báo trong thời gian gần đây) có các giới chức (lãnh đạo và trong ngành mỹ thuật) chê các tượng đài cũ thời xưa (không nói rõ là miền Nam VNCH) dựng đều cũ (đúng, vì cả mấy chục năm rồi) và không đẹp (có lẽ theo cảm quan) nên nếu có thể thì sẽ thay thế (bằng các tượng đài nào khác thì chưa biết).

Khi các cán bộ văn hóa dừng chân tại Hồ Con Rùa ngay sau biến cố 30-4-1975. Tất nhiên là họ đã phải thấy tượng con rùa đội bia này và theo PTV thì đây chính là lý do mà phải có vụ nổ cho banh con Rùa Đội Bia rồi nhân đó mà thành lý do để tó các văn, thi sĩ miền Nam VNCH vào cũi luôn. Từng rêu rao (ở ngoài miền Bắc và trong các vùng xôi đậu do họ chiếm đóng) là chính quyền miền Nam VNCH bị cả thế giới loài người lên án, bị cô lập trên chính trường quốc tế vì độc ác, phi nhân, không có chính nghĩa… Mà nay, sao lại có tấm bia ghi ơn tới 44 quốc gia viện trợ (cùng giao hảo vì có viện trợ là đã có mối giao hảo rồi) cho chính thể này? Sự thật này, sẽ không thể để tồn tại được (vì những người không biết sẽ biết khi có lúc nào họ đó ghé chân đến đây), nhưng cũng không thể tay quai búa, xà beng… để phá bỏ công khai. Thôi thì chỉ có một quả mìn là tiện nhất. Vả lại, cái tên Hồ Con Rùa chỉ nên để riêng cho có một cái hồ có rùa ngoài Hà Nội thôi (tức hồ Gươm, hồ Hoàn Kiếm, hồ Con Rùa), hiển hiện trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không thể có hai Hồ Con Rùa được.

Phạm Thắng Vũ

Truyện Đọc Lúc 0 Giờ

Tags

 

Trưc khi vào truyn

Đây là một truyện dài được Phạm Thắng Vũ (PTV) viết lại từ các truyện ngắn (có đánh số thứ tự) và hình thì copy trên Net dùng để minh họa theo truyện (chỉ những hình của riêng truyện đó thì PTV sẽ ghi chú thích ở dưới).

Người ta nói câu: ” Đi Đêm Có Ngày Gặp Ma “. Vậy thì ma có thật hay không? Người bảo có, người nói không… biết tin ai nhưng có điều người sợ ma thì rất thích nghe kể chuyện ma. PTV xin hầu các bạn trong trang diễn đàn nhavanphamthangvu.wordpress.com này ít câu chuyện ma quỷ mà bản thân biết hoặc kể lại (cũng copy từ các diễn đàn khác về). Mong các bạn đọc cho vui thôi còn tin hay không thì lại y như kết luận ở trên. Có ma, vì để camera quay lại được ảnh Ma. Không có ma, vì chỉ là ảo ảnh thần hồn nát thần tính và ảnh chính là kỹ thuật photoshop của thời bây giờ.

Đó là chuyện ma quỷ, còn chuyện huyền bí hay siêu hình thì như quý bạn đã biết, thế giới chúng ta đang sống thì chỉ có 3 chiều là rộng, dài và sâu (hay chiều cao). Vật chất hiển hiện trước mặt chúng ta chỉ ở 3 dạng (hay trạng thái) là đặc (hay rắn), lỏng và khí. Con người cũng đã lên được mặt trăng và chế tạo được các ống kính thiên văn để có thể biết được hàng tỉ tỉ hành tinh khác trong cõi vũ trụ bao la. Rồi những hình ảnh về dĩa bay (UFO) của người ngoài trái đất (Alien) xuất hiện nơi này nơi kia (hàng trăm ngàn báo cáo từ khắp nơi trên thế giới)… mà nay mình còn kể (hay nói) về chuyện ma quỷ, siêu hình, huyền bí liệu có thuyết phục để người ta tin là có. Nhưng cũng có người bảo là người ta đã biết có thêm các dạng vật chất khác như plasma (nóng hoặc nguội), hạt (Sigma, Higgs…) rồi phản vật chất nữa. Ta cũng có định luật bảo toàn năng lượng (chi phối cho tất cả các lý thuyết vật lý, cơ học, điện từ, hạt nhân…) nhưng biết đâu (một ngày nào đó) người ta sẽ khám phá ra thêm các định luật khác để giúp chúng ta biết được tường tận các chiều không gian khác (thứ 4, thứ 5… ) mà người ta cho là UFO đến được trái đất bằng các chiều không gian này. Và những chuyện ma quỷ, đầu thai, luân hồi… có thể thấy họ hiển hiện trong các không gian thứ 6, thứ 7 (như dạng hình lập phương nhiều chiều) sẽ không bị cho là nhảm nhí, mê tín, phản khoa học nữa.

 

1.Kho Vàng Trong Núi.

Mẹ của PTV người gốc tỉnh Hà Đông ngoài miền Bắc. Tỉnh này có tên cũ là tỉnh Cầu Đơ chung quanh giáp với các tỉnh Sơn Tây, Hòa Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Bắc Ninh, Phúc Yên. Là một tỉnh đồng bằng, thế đất thấp thường bị lụt nhưng ở vùng giáp với tỉnh Hòa Bình (phía Tây Nam của tỉnh) thì có đồi núi và câu chuyện mà PTV kể ở đây xẩy ra ở vùng đất có đồi núi này. Quê ngoại của mẹ PTV ở vùng Hương Sơn (huyện Mỹ Đức bây giờ), là vùng có đồi núi hoang vu (các thập niên 1920, 1930, 1940…). Quãng tuổi của mẹ PTV lên 7, 8 tuổi (mẹ PTV sinh năm 1925) thì trong làng có một cậu thiếu niên tên là Ư mồ côi, không thân nhân. Tên Ư là do người làng đặt cho vì cậu này (khi tuổi khoảng lên 10, theo mẹ đến làng (dạng tha phương cầu thực) sống chỉ ít ngày thì mẹ cậu chết. Mẹ chết, không người nương tựa (họ hàng trong làng) rồi cậu cứ khóc rấm rức hoài mà thành tên. Thời đó vì mẹ con cậu Ư không có giấy tờ mà cũng chẳng ai biết lai lịch nên cậu sống lang thang (làng nghèo nên không ai nhận nuôi cậu), người làng cho gì thì cậu ăn nấy hoặc đi theo người khác làm việc lặt vặt… kiếm bữa cơm qua ngày.

Cứ như vậy cho đến khi cậu được khoảng 14, 15 tuổi thì thường mò vào vào trong các vùng đồi núi cả nhiều ngày trời rồi lại về làng mà chẳng ai biết cậu ăn uống bằng gì? Có người bảo là cậu Ư chỉ ăn ổi thôi vì trong vùng đồi núi đó có những cây ổi hoang và thỉnh thoảng dân làng khi có dịp đi vào các vùng đó, họ hái quả mang về ăn cho vui miệng (bán thì rất ít vì hầu như nhà nào cũng trồng ổi). Một lần thấy cậu Ư trở về từ vùng đồi núi đó, có người hỏi chuyện thì cậu kể là gặp được chị gái rồi, cậu than đói bụng đòi ăn thì người chị gái đó bảo là không có gì cho cậu ăn cả. Ai nghe cậu kể vậy cũng cười vì biết lai lịch của cậu (đến làng với mẹ khi còn trẻ nít và mẹ cậu đã chết ngay sau đó không lâu). Cậu Ư này tâm tính hiền lành nhưng bất thường (người làng bảo là cậu dở khùng dở điên) nên khi nghe cậu nói chuyện thì cũng chẳng ai để ý đến. Vài lần như vậy thì có hôm cậu Ư về gặp mấy người trong làng và kể là chị gái cho cậu thức ăn mà cậu không thể ăn được. Hỏi đến thức ăn của người chị gái đó thì cậu mở tay ra cho thấy là một đoạn xà tích (dây chuyền) vàng. Xem kỹ đoạn xà tích thì đó là vàng 24 thật và họ liền gạ cậu đổi lấy thức ăn. Ăn xong rồi thì mấy người biết chuyện này hỏi cậu về người chị gái đó cùng nơi mà cậu đã đến (chỗ người chị gái cho vàng). Mấy người này bảo nhau giữ kín không cho người ngoài biết chuyện cậu Ư kể. Họ biết người chị gái của cậu Ư chính là thần giữ của kho vàng (một trinh nữ) mà người Tàu yểm từ xưa còn lại và bảo cậu dẫn đường cho họ đi tìm. Cậu đi (họ ngầm đi theo phía sau) nhưng quanh quẩn mãi hết đồi, rừng rồi lại suối… mà chẳng ai thấy cậu dẫn đến hang động hay hầm hố (những cái bọn họ nghĩ là kho báu) gì cả. Vài lần đi tìm như vậy mà không ra rồi thì đám người này chán đành phải ngưng, bảo phải là thân nhân của chủ kho vàng thì thần mới cho thấy chỗ chôn dấu và mới lấy được của. Họ không giữ kín chuyện nữa thì cả làng mới biết chuyện của cậu Ư. Cậu Ư kể là đã được chị gái (thần giữ của) cho đoạn xà tích đó ngắt ra từ một dây nguyên trong đống vàng ở góc xó của một hang núi.

gold_2539426b_zpsa9e9owtk

images451976_12012008561_zpsd1yxdzlo

Mẹ PTV kể là do chủ kho vàng (người Tàu) quá lâu (chắc cả trên 100 năm rồi) không đến nhận (có thể do loạn lạc bên nước Tàu hay thân nhân biết tông tích kho vàng đã chết hoặc gia phả dẫn đường bị mất) nên kho vàng thành vô chủ. Thần giữ của muốn cho ai thì người đó sẽ được hoặc ai có phúc (có số hưởng) thì sẽ tình cờ tìm thấy (như đào đất hay thám hiểm vào trúng hang núi dấu của). Từ xưa, bọn Tàu khi cai trị nước Việt thì chúng vơ vét được nhiều vàng (gồm vòng, cà rá, tiền, ngọc quý hoặc vàng thỏi) thì chúng tìm một nơi kín đáo (thường là hang động ở vùng rừng núi) để dấu. Chúng rất ác khi còn bắt một trinh nữ người nước Việt (dưới 18 tuổi) chôn sống trong chỗ dấu vàng này (yểm làm thần giữ của). Sau lần có đoạn xà tích vàng thì cậu Ư không bao giờ gặp lại người chị gái (thần giữ của) đó nữa nhưng nhờ vậy mà có lúc, cậu Ư vẫn được người trong làng (có khi là các người khách từ làng khác tìm đến) nuôi ăn… với hy vọng giúp họ tìm được kho vàng bí mật trong vùng đồi núi này.

Mẹ PTV còn kể thêm là có thể do người chị gái (thần giữ của) khi còn sống cũng có người em trai như cậu Ư nên khi gặp cậu lang thang (trong vùng đồi núi gần kho vàng) khóc lóc vì đói, mới nẩy lòng thương mà cho cậu đoạn xà tích vàng. Cho cậu Ư vàng vì thời hạn giữ kho báu đã hết trước khi thần giữ của hóa thân sang kiếp khác và kho vàng đó nhập thành đất của đất đồi núi rừng hoang. Còn cậu Ư! Khi di cư vào miền Nam (dịp năm 1954), tại trại tiếp cư ở vùng Phú Thọ gần trường đua ngựa ở Sài Gòn, mẹ PTV gặp một người làng kể là (người đó) đã gặp cậu Ư tại một khu phố ở Hà Nội và không biết cậu ta có di cư vào miền Nam hay không?
2. Tiền Của Ma.

Chuyện này xẩy ra lâu lắm rồi trong quãng năm 1963 hay 1964 gì đó (khi PTV mới khoảng 6, 7 tuổi thôi). Mẹ PTV có một người em họ xa tên là Dậu, mồ côi cha mẹ từ năm mới sinh ra. Anh em PTV trong nhà, được mẹ dặn gọi dì là dì Dậu. Tên của dì là do người trong họ đặt cho như một kỷ niệm về cái chết của cha mẹ dì trong cái năm có nạn đói ở miền Bắc. PTV cũng không biết nhờ đâu mà dì sống được trong cái thảm nạn năm đó và cũng do ai đưa dẫn mà dì di cư vào miền Nam dịp 1954 để rồi bây giờ đến trú tại nhà. Chỉ biết là dì da dẻ trắng trẻo, tướng người thon thả và khuôn mặt khá đẹp. Hôm đó, một buổi chiều sau khi chạy chơi trong xóm với đám bạn cùng tuổi đến chán, PTV về nhà định đi tắm trước khi trời tối thì gặp mẹ đang ngồi tiếp hai người khách. Khách đây là dì Dậu và người chồng của dì. Tính ra thì khi đó dì ở tuổi mới mười chín, đôi mươi mà sao PTV thấy dì chững chạc như là mẹ vậy. Cậu Luận, chồng của dì là người miền Nam và điều đó cũng là cái lạ cho người trong họ hàng. Lấy ai không lấy lại đi lấy dân Nam Kỳ! Mẹ PTV lúc đầu cũng nói riêng vậy với dì nhưng sau một thời gian sống trong nhà thì mới biết cậu Luận là người rất hiền, tính ít nói và rất chịu khó làm lụng để nuôi dì Dậu ở không nên ai cũng thương cả. Thực ra thì cũng không hẳn là dì Dậu chỉ ngồi không cho chồng nuôi mà dì đi chợ mỗi buổi sáng để mua thịt heo, củ sắn trắng… về làm các đồ nhồi cho cậu Luận đi bán bánh mì mỗi buổi chiều tối. Cậu Luận có một chiếc xe đạp gắn cái thùng nhôm nắp tròn to tướng ở yên sau. Trong thùng nhôm đó có hai ngăn, một bên là các ổ bánh mì khá dài được ủ trong một bao vải kín. Ngăn bên kia có một khay nhỏ để ít than nóng dưới đáy thùng dùng làm nóng bánh mì trước khi bán cho khách. Giữa hai ngăn là chỗ cậu Luận để thịt heo luộc chín bôi phẩm đỏ ngoài phần da chung với chả lụa, thịt xíu mại cùng đồ chua là củ sắn trắng sắt thành sợi ngâm dấm, lọ ớt băm, chai nước tương. Bánh mì, cậu Luận lấy từ một cái lò tuốt gần trường đua ngựa Phú Thọ về hướng Chợ Lớn. Ở ghi đông xe có gắn cái kèn tay nhỏ. Cứ chập tối thì cậu Luận bắt đầu đạp xe bánh mì đó đi bán cho tới quá khuya thì về nghỉ. Đắt hàng, hết bánh bán thì về sớm nhưng cũng có hôm phải đến gần sáng mà trong thùng vẫn còn dư bánh chưa bán hết. Cả nhà PTV phải bữa ăn bánh mì giúp cậu. Như đã kể, nhà dân di cư từ miền Bắc vào cất nhà gần bên đường chính. Đi vô hơi sâu thì nhà cửa rất thưa thớt dần, gần như đất bỏ hoang đầy mồ mả cùng cây thưa và lau sậy. Vẫn có người thỉnh thoảng còn bắt được chồn, trút, rùa… nữa. Mỗi tối, cậu Luận đạp xe đi bán bánh mì thì phải đảo cả một vùng rất rộng để tìm khách ăn đêm. Cậu đạp xe, thỉnh thoảng bóp kèn báo hiệu cho người ta biết có xe bán bánh mì. Xe chạy trong đêm được là nhờ có bóng đèn chiếu sáng dùng một cục dinamo nhỏ gắn bám vào niền xe. Ở thùng nhôm đằng sau còn treo một cái đèn bão nhỏ giúp cậu thấy đường mà làm bánh khi bán hàng.

nganhangdiaphu_zpsv09bj6pl

Đến ở chung, mẹ PTV cho vợ chồng dì Dậu cất thêm một cái chái nhỏ bên cạnh nhà còn bếp, giếng nước… vẫn xài với gia đình. Có một buổi khuya, cậu Luận đạp xe về giao tiền cho dì Luận rồi đi ngủ ngay. Ngày nào cũng vậy, đạp xe bán hàng cả mấy giờ đồng hồ như cậu Luận rất mệt nên về nhà thì cậu ngủ vùi, mặc trời sáng cho dì Dậu tự lo sắp sẵn hàng để bán cho buổi chiều. Như thường ngày, dì Dậu lấy túi vải đựng tiền bán hàng trong đêm ra đếm, tính lời lỗ thì thấy chỉ có ít tiền cắc tiền giấy chung với lá, giấy vụn. Dì nghĩ tiền để trong thùng nhôm nên lục tìm mà không thấy, đành phải gọi cậu dậy. Cậu Luận nói tiền để trong giỏ nhưng dì coi lại vẫn không có. Xem kỹ các mảnh lá thì thấy lá cắt thành hình vuông, chữ nhật và giấy là các mảnh vàng mã, tiền âm phủ. Người trong xóm nghe chuyện cậu Luận bán bánh mì cho ma nên mới chạy đến xem tiền. Các mảnh tiền vàng mã thì không ai lạ nhưng tiền lá cây đều một màu tái như bị luộc chín nhưng ở phần rìa lại có màu vàng đậm hơn. Người xem bảo đây là lá chuối nhưng người khác bảo lá củ rong hoặc lá cây nghệ… mà sau cùng thì là lá cây gì thì ai cũng không chắc. Hỏi, cậu Luận trả lời hồi khuya rõ ràng đã gặp người mua bánh trả bằng tiền mà bây giờ chỉ là giấy và lá thì cũng chẳng biết do đâu ra? Ai cũng bảo là đây là tiền của ma không nên giữ nó trong nhà. Dì Dậu sợ và nghe lời người ta khuyên, đã đốt bỏ các tờ tiền giấy, lá đó. Sau, dì còn xin nước thánh từ nhà thờ đạo Thiên Chúa về, đem vẩy vào cái xe đạp cùng thùng nhôm bánh mì đó.

3. Người Không Đầu Đứng Giữa Đường Lộ.

Ngày 29 tháng 4 năm 1975, lúc đó khoảng 1 giờ trưa ngay tại chợ Thành Quan Năm (đây là trại lính công binh của 2 Liên Đoàn 30 Công Binh Chiến Đấu và Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo VNCH) khi đoàn xe của Việt Cộng (gồm xe Tăng T54, Molotova, Gaz…) vượt Cầu Bông (ranh giới giữa quân Hốc Môn- tỉnh Gia Định và quận Củ Chi-tỉnh Hậu Nghĩa) và đang tiến lên tới Ngã Ba Hồng Châu thì có hai xe GMC của công binh (không rõ thuộc đơn vị nào) chạy từ trong Thành Quan Năm ra. Hai chiếc xe nhà binh này nhận công tác đậu giữa đường lộ (quốc lộ 22 từ hướng Sài Gòn đi lên Tây Ninh) để cản đường tiến quân của đoàn xe Việt Cộng. Chiếc GMC đi đầu vừa chạy qua khỏi chợ Thành Quan Năm (có tên là chợ Nam Hưng) thì bị Việt Cộng (ở các chiếc đi đầu) bắn xối xả. Người lính trên chiếc xe đó vội thắng gấp xe lại (đầu xe đâm vào lề đường) và ông ta nhẩy ra khỏi cabin chiếc xe. Ông chạy được vài bước chân thì trúng đạn nên nằm lăn trên đường gần giữa lộ. Ông ta nằm đó chỉ bị thương ở chân, bụng nhưng vẫn còn sống. Chiếc xe GMC chạy sau thì cũng đâm vào lề đường y như vậy nhưng người lính trên chiếc xe này chạy thoát thân. Đoàn xe Việt Cộng chạy tới và chúng đã cán qua đầu người lính này dẹp lép. Xe Việt Cộng qua lại cán mãi cho đến khi không còn cái đầu của người lính đó nữa. Chiều ngày hôm 29 năm đó, dân lành đã đem chôn người lính trong nghĩa địa chùa Hoằng Pháp.

12107072_10207709011144159_4373181604792669933_n_zpsvyickyad

Mấy năm sau, có một bà tuổi tầm gần 60 thường gánh một gánh cháo lòng để bán buổi sớm cho dân lao động thường tụ họp chờ xe khách tại chợ Thành Quan Năm. Một lần, bà này gánh hàng đến ngay đoạn đường chỗ người lính chết trước kia thì thấy một bóng người đứng giữa lộ. Tưởng người đứng chơi khuya, bà gánh hàng đến gần nhòm cho kỹ và định chào thì thấy bóng người này rất lạ. Nhòm kỹ người đó thì bà thất kinh đến độ quăng bỏ cả gánh cháo mà chạy. Chạy đến tiệm cà phê mở sớm gần Ngã Ba Hồng Châu (cũng bán cho khách lao động đi làm ăn sớm), gặp khách uống cà phê ở đó thì bà này dần dần hoàn hồn, kể lại chuyện mình vừa gặp. Vài người khách giúp bà đi đến nơi đó để thu dọn gánh hàng thì thấy nó vẫn còn nguyên nằm trên mặt lộ. Đòn gánh nằm yên trên quai gánh, cháo trong nồi, tô chén, muỗng… vẫn còn nguyên.
Hỏi chuyện vừa gặp thì bà bảo là bóng người đứng giữa đường lộ đó không có cái đầu.

4. Lời Thề Ứng Nghiệm.

Chuyện ông lính thuộc quân lực VNCH bị chết khi nhận lệnh của cấp chỉ huy năm đó (ngày 29-4-1975) nhằm cản bước tiến quân của đoàn xe Việt Cộng (sau khi chúng vượt qua căn cứ Hoàng Diệu (phe Việt Cộng gọi là căn cứ Đồng Dù) của Sư đoàn 25 Bộ Binh trước đó 1 vài giờ đồng hồ) để tiến về thủ đô Sài Gòn. Có thể khi nhận lệnh thì hai người lính này cũng biết việc mình làm sẽ chỉ 1 phần sống tới 9 phần chết nhưng quân lệnh thì phải thi hành. Kết quả là ông ta đã chết vì lái chiếc xe nhà binh GMC đi đầu. Xe của đồng đội ông chạy sau và nhờ vậy mà thoát nạn. Cho đến tận chiều ngày hôm đó thì ông lính thoát nạn này mới quay trở lại chỗ bạn mình bị tử nạn và tìm cách để đem an táng bạn mình (như đã nói ở trên). Khi đó thì phe Việt Cộng đã chiếm hoàn toàn khu vực Hốc Môn này rồi và xác của ông lính bị chết đó, dân lành đã kéo vào nằm sát bên lộ để tránh dòng xe của phe Việt Cộng vẫn tiếp tục chạy trên đường. Ông lính sống sót này (bây giờ đã mặc bộ đồ dân sự) chứng minh mình là bạn của người chết nên nói tên của ông lính chết ra và sau đó có người (đứng chung quanh) mới moi túi quần trận của ông lính bị chết thì thấy cái bóp. Mở cái bóp đó ra thì thấy có giấy tờ lính mang đúng tên như vậy (ông lính này tên là Nguyễn Ngọc Thao)

12144916_10207720701316406_1119550487751583032_n_zpskkewipq9

Khoảng thập niên 1990 thì ngay tại chợ Thành Quan Năm có nhiều gia đình mà nhà sát mặt đường làm nghề say sát gạo gia công. Có một gia đình người Hoa (Việt gốc Tàu), nhà ngay tại chỗ người lính bị chết đó cũng hành nghề say sát gạo gia công này (có khi chủ nhà mua lúa của lái buôn lúa về say sát xong xuôi thì bán lại cho dân buôn gạo). Gia đình này có một chị mà PTV gọi tên là chị X. Chị X này không có chồng con gì hết. Khách (bạn hàng) mang lúa đến nhà chị X để xay gia công thì có một ông mà PTV gọi là ông Y. Ông Y là người lớn tuổi dân Sài Gòn, một người buôn gạo để xuất cảng. Một lần ông Y đến mua gạo với gia đình chị X rồi ông đã trả tiền xong xuôi (trả tiền trước, lấy hàng sau) nhưng hôm đến lấy hàng (gạo) thì chị X bảo là ông ta chưa đưa tiền. Ông Y nói đã đưa rồi còn chị X thì bảo là chưa. Cãi nhau qua lại một chập thì ông Y bảo chị X dám thề là chưa lấy tiền không? Chị X thề là nếu mà chị đã nhận tiền của ông Y rồi mà ăn gian thì xe hơi sẽ ăn chị. Ông Y nghe vậy đành phải trả tiền gạo này. Chuyện chỉ có vậy thôi và vài ngày sau giữa buổi trưa thì tự nhiên chị X lái xe máy (loại xe Honda cắm chìa khóa vào và mở khóa thì máy xe tự nổ không cần đạp) lao từ trong nhà ra đường và bị chiếc xe đò đang trớn chạy tới nên đụng chị X chết ngay tại chỗ. Người ta bảo là do chị X ngồi lên xe mà xe còn gài số nên khi chị xoay chìa khóa làm máy xe nổ và nó vọt thẳng tới trước (lao ra đường lộ) nên gặp tai nạn (vì xe đò đang chạy tới, tài xế thắng không kịp). Khi sự việc xẩy ra thì ông Y cũng có mặt gần đó (ông này đến các tiệm xay sát gạo khác) nên ông ta lại xem rồi than thở : ” Cô X ơi, nếu biết cớ sự xẩy ra như vầy thì thôi, tôi không buộc cô phải thề độc làm chi “.

5. Làm Ngay Nhà Mới Cho Cố Ngay Đi.  

Một người định cư bên Đức kể rằng hồi còn ở Việt Nam, nhà anh ta ở Sài Gòn gần nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, bà Cố anh ấy mất đã lâu và yên nghỉ tại nghĩa trang này. Năm 1982, chính quyền Việt Cộng ra lệnh giải tỏa các nghĩa trang trong thành phố Sài Gòn (Mạc Đĩnh Chi, Nhị Tì Quảng Đông, Chí Hòa, Nhân Hòa..) để họ lấy đất làm việc khác (nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi sau này thành công viên Lê Văn Tám, nghĩa trang Đô Thành trở thành công viên Lê Thị Riêng…). Chính quyền Việt Cộng thông báo trên TV, báo chí, đài phát thanh cho các thân nhân của người quá cố (có mộ phần trong nghĩa địa) biết để đến tự giải toả lấy (bốc cốt). Thời điểm đấy có rất nhiều người, cả những người nước ngoài từ Pháp, vì nghĩa trang có khá nhiều người Pháp được chôn tại đây đến nhận hài cốt. (Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi di dời đến hết ngày 30 tháng 8 năm 1983).

12112153_10207720773278205_7548117540934198312_n_zpsjlnipizv

Anh bạn này (PTV tạm gọi là anh A) chưa từng gặp bà Cố ngoài đời, chỉ biết qua ảnh mà cha mẹ anh thờ tại nhà. Cha mẹ anh A nhận được thư từ chú bác bên Pháp, cùng gửi tiền về để di dời hài cốt bà Cố. Cha mẹ anh A cũng chuẩn bị xong cả nhưng có ý nán lại vài tuần sau vì nghĩa trang hiện quá đông (thời gian chính quyền Việt Cộng cho quá gấp, đám âm công làm không xuể).

Một đêm anh A đang ngủ thì chợt một dải vải trắng quệt vào mặt làm anh ta bừng tỉnh (sau này anh A kể lại là không hẳn là tỉnh cũng chẳng phải là thức). Anh nhìn chằm chằm ra thì thấy vạt mùng mình bị kéo tung, gió thổi phất phơ, một bà lão lặng nhìn anh rồi nói: ” Con ơi! Con nói cha mẹ làm ngay nhà mới cho Cố đi, nước tràn vào làm Cố lạnh lắm “. Nói xong bóng trắng biến mất và anh A choàng tỉnh hẳn, nhìn đồng hồ đã là 3 giờ sáng. Quá sợ, anh A vội đánh thức cha mẹ dậy và thuật lại câu chuyện.

Sáng ra, cả nhà vội chạy vào nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi xem sự thể. Hai bên mộ cụ Cố là hai ngôi mộ đã được bốc đi (vừa xong trong tuần lễ trước) và bây giờ đã đầy nước lấp xấp (do mấy hôm trước trời mưa). Thế là trong ngày cả nhà anh ấy vội vã lo chuyện di dời cụ đi nơi khác.

Sau này anh A nói: ” Mình là dân kỹ thuật, được học và hấp thụ khoa học chính thống từ nhỏ, thường vẫn không tin những chuyện như vậy, nhưng nay thì phải thay đổi quan điểm về cõi âm “.

6. Tiếng Gọi Trên Biển Trong Cơn Giông Bão.

Hồi còn tạm dung tại đảo tị nạn Galang thì PTV có nghe anh Đinh V (một bạn làm thiện nguyện chung trong phòng) kể là anh ta có một người bạn. Bạn anh tên là Long. Anh Long khi sang định cư nước ngoài (hình như là CANADA) có viết thư về kể chuyện như sau: Anh Long đi vượt biên trên một chiếc ghe nhỏ chứa khoảng 50 hay 60 thuyền nhân gì đó. Ghe thoát ra khỏi nước rồi thì một chiều tối gặp cơn mưa. Mưa mạnh đến thành các cơn dông lớn làm ai cũng nghĩ là ghe sẽ chìm đến nơi. Mưa và dông kéo dài cho đến khuya mà vẫn không ngớt. Trong tiếng gió thì đột nhiên người trên ghe nghe có tiếng kêu Long… Long ơi! rất rõ. Tiếng kêu lập đi lập lại theo từng cơn dông. Anh Long rất sợ vì rõ ràng tiếng gió gọi tên anh. Dông càng mạnh, gió càng to thì tiếng kêu tên Long càng lớn làm ai cũng sợ. Rồi người trên ghe mới hỏi nhau có ai tên là Long không? Anh Long im lặng, không nhận. Dù anh có chối thì sau cùng người đi trong ghe cũng có người biết tên anh nên họ nói ra (sống chung trong khu phố). Cả ghe bàn nhau rồi nói với anh là thần gió hay Hà Bá gọi tên mày là họ muốn lấy mạng mày đó. Thôi thì mày hy sinh nhẩy xuống biển đi để cho cả ghe được sống. Chứ cứ mãi như vầy thì rồi ghe sẽ chìm thôi. Tất nhiên anh Long không chịu (ai muốn mình chết), anh nói là nhẩy xuống nước sẽ chết vì bản thân không biết bơi và nhất là mặt biển đang cơn dông bão.

Đám người trên ghe mới trấn an anh, họ lấy mấy cái can nhựa rỗng (trước đó chứa dầu chạy máy ghe) cột chặt chung quanh người anh Long và sau đó, dù anh không chịu, vẫn bị họ vất xuống biển. Khi bị vất xuống biển, vì quá kinh sợ nên anh ngất đi cho mãi đến khi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trên một chiếc ghe đánh cá của ngư dân Mã Lai. Sau đó anh Long được chuyển vào trại tị nạn và đến ngày có list thì rời trại đi định cư.

12107110_10207723064735490_187030277490513887_n_zps6z2edjqi

Riêng chiếc ghe đó thì anh Long không hề nghe tin tức gì qua thăm hỏi thư từ với thân nhân bên quê nhà khi biết những người đi chung với anh (trong cùng khu phố) trên chiếc ghe vẫn bặt tin tức.

7. Ma Áo Đỏ Đứng Bên Vệ Đường.  

Ở Việt Nam, khi ta chạy xe trên đường (nhất là ở các đoạn xa lộ nối từ vùng này sang vùng khác) thì thỉnh thoảng sẽ bắt gặp những cái miếu nhỏ nằm ngay bên vệ đường. Những cái miếu đó ai lập ra và lập cho ai? Nếu khách du có thắc mắc hỏi thăm thì thường khi được dân địa phương kể về lai lịch của cái miếu mà khi xong chuyện, người nghe bắt phải rùng mình vì liên can đến những cái chết oan khuất, thảm khốc ngay tại nơi lập miếu. Thường thì các miếu đó có tên chung là miếu oan hồn (hoặc cô hồn) và không cho biết tên của người tử nạn. Bên Hoa Kỳ thì PTV cũng thường thấy có những khúc đường hay ngay tại giao lộ (ngã tư) có một bia mộ nhỏ hoặc cây thập giá và thỉnh thoảng thấy ai đó đặt các vòng hoa, bó bông… ở ngay bia mộ, cây thập giá này. Hỏi thăm thì đúng y như PTV đoán, đó là chỗ có một tai nạn (thường là tai nạn xe hơi) và làm chết người rồi thân nhân đã dựng các bia mộ nhỏ, cây thập giá… như một nhắc nhở về cá nhân người quá cố đó (một cô gái hay một chàng trai hoặc một người con trong nhà) với người lập ra nó (tình cảm với nhau khi còn sống).Các bia mộ nhỏ, thập giá mà PTV vừa nói cũng tương tự như một cái miếu nhang đèn cho nạn nhân bên Việt Nam. Ý nghĩa thì không khác nhưng hình ảnh giữa cái miếu bên Việt Nam với bia mộ nhỏ hoặc cây thập giá ở Hoa Kỳ nó lại khác. Miếu oan hồn (hay cô hồn) bên Việt Nam tạo cho người đi đường một cảm giác sờ sợ như là mình đang ở một nơi đã (và có thể sẽ) xẩy ra tai nạn thảm khốc… khiến phải cẩn thận chú ý khi lái xe hoặc đi ngang ngay chỗ có miếu thờ. Còn bên Hoa Kỳ thì không có cái cảm giác này khi ta lái xe (hay đi ngang) qua chỗ có để bó bông, cây thập giá… tưởng niệm người quá cố đó. Bên Việt Nam có nhiều khúc đường mà tai nạn giao thông xẩy ra thường xuyên thì ngoài cái miểu oan hồn, có khi nhà nước còn phải làm các tấm bảng lớn (pannel) với hàng chữ: Đoạn Đường Thường Xẩy Ra Tai Nạn Xin Đề Phòng… Tuy nhiên, vẫn không hiệu quả bằng những ngôi miếu oan hồn ven đường. Bất chợt gặp cái miễu oan hồn bên vệ đường, các tài xế chạy xe đường dài đều phải tự nhiên lái xe cẩn thận lại như một bài học thuộc lòng.

16196492173_ffc046f6b7_o_zps3ef3cgah

Ven đường xuyên Á, từ cầu vượt An Sương đến huyện Củ Chi (về hướng tỉnh Tây Ninh), người ta đếm được có 25 cái miếu mọc ven đường. Từ Bình Chánh đến thị xã Tân An, Long An có 16 cái miếu. Miếu ven đường nhiều nhất có lẽ thuộc đoạn đường từ Ngã ba Trung Lương đến Vĩnh Long. Cứ vài km đường là có một ngôi miếu. Khi giải tỏa mở rộng đường một số ngôi miếu đã bị phá bỏ dẹp đi, nhưng sau đó xảy ra liên tiếp những vụ tai nạn giao thông, thế là người ta lại xây cái mới.

Thông thường, một ngôi miếu oan hồn “ cất ” theo kiểu nhà ngói ba gian có diện tích khoảng 160 cm vuông. Nhưng tại Bến Lức có một ngôi miếu lớn hơn gấp 10 lần ngôi miếu thông thường. Một người dân sống lâu năm gần đó nhẩm tính theo trí nhớ cho biết, từ khoảng năm 1975 trở lại đây có hơn 100 vụ tai nạn giao thông xảy ra tại nơi đây, trong đó có ít nhất 30 người tử vong. Đặc biệt có vụ tai nạn rất thảm khốc. Một người phụ nữ dắt bò đi trên đường. Do con bò thấy xe thường nhảy hoảng, bà ta cuộn tròn dây mũi bò vào bàn tay để tránh tuột tay khi bò nhảy. Bất ngờ một chiếc xe tải chạy ngang qua bóp kèn. Con bò hoảng hốt lồng lên chạy băng qua đường. Sợi dây mũi xiết chặt bàn tay người phụ nữ kéo bà ngã xoãi xuống đất rồi lê ra giữa đường vào ngay đầu xe tải. Tài xế bị bất ngờ đã đạp xiết thắng. Bánh xe bị thắng bắt dừng quay nhưng quán tính đẩy toàn thân chiếc xe lao tới. Vì vậy, thân hình người phụ nữ bị bánh xe nghiến dài dưới mặt đường hơn 10 mét. Từ đó, cứ đến đoạn đường này, những tài xế hành nghề lâu năm đều giảm tốc độ, chạy xe hết sức thận trọng và không quên bóp 3 tiếng còi “ xin ” oan hồn đừng xô tay lái. Tuy vậy, thỉnh thoảng một vài chiếc xe gắn máy vẫn cứ đâm vào nhau.

Chết trong tai nạn giao thông xe cộ là cái chết dữ vì có khi đầu nơi này mà thân hoặc chân tay nơi kia (như bị phanh thây) cùng máu me bê bết trên đường hoặc thấm đỏ vào quần áo rách nát… làm ai trông thấy (dân địa phương) cũng phải kinh hãi. Chính vì mục kích thấy thi thể nạn nhân ở nơi có tai nạn mà dân địa phương mỗi khi có công việc phải đi ngang qua chỗ có miếu thờ đó (đi ban đêm) họ đều sợ… nhất là ở những chỗ miếu đã từng có hiện tượng ma, quỷ hiện ra nhát người.

Tai nạn giao thông làm nhiều người chết như các vụ xe đò (chở đông hàng khách) đụng đầu nhau. Có nạn nhân hôn mê cả một hai ngày nằm trong bệnh viện thì họ mới tỉnh lại. Tỉnh rồi, khi hoàn hồn, họ kể trong lúc tai nạn xẩy ra, tai nghe rõ tiếng người gọi nhau… xô ngã xe để dẫn đến tai nạn. Người nghe thì bảo là chuyện hoang đường, mất vía nên ám ảnh mà nghĩ ra như vậy.

Cũng anh Đinh V, người kể câu chuyện trên đây cho PTV nghe thì anh còn cho biết hồi còn ở trong nước, có lần tham dự một chuyến vượt biên mà không thành. Giữa khuya, anh phải rời khỏi căn nhà trọ (của đám tổ chức) để ra đường cái chờ trời sáng mà đón xe về lại Sài Gòn. Đoạn đường cái anh đi gần Bà Rịa nhưng anh không dám vào bến xe vì sợ bị bắt (kinh nghiệm dân vượt biên thường bị bắt ngay vì bộ dạng thành phố không qua mắt công an trong bến xe). Anh cứ đi bộ như vậy cho đến khi vừa đi ngang qua một cái miếu nhỏ (nằm sát cạnh bên vệ đường) thì chợt nghe có tiếng máy xe chạy đến. Anh đứng ngay lại (bên vệ đường) hướng mặt về chỗ có tiếng xe, mong đó là chiếc xe đò chuyến sớm nhất để đón nó. Xe chạy đến nhưng không phải là xe đò mà là một chiếc xe hai bánh. Anh Đinh V chưa kịp định làm gì thì chiếc xe chợt thắng gấp cùng với tiếng hét của tài xế. Rồi người chạy xe hai bánh đó vất ngay cái xe và bỏ chạy về hướng cũ. Anh Đinh V ngạc nhiên không hiểu hành động của người đó. Rồi khi nhớ lại bản thân đang mặc trên người cái áo cũ có mầu đỏ thì biết là người lái xe hai bánh đã nghĩ anh là oan hồn của người được thờ trong cái miếu mà anh vừa đi ngang qua.

– Mình không phải là ma rồi… nhưng chắc chắn sáng ngày hôm sau thì cái người chạy xe hai bánh đó (có lẽ là đàn bà qua âm thanh của tiếng hét) sẽ quả quyết đã gặp ma áo đỏ đứng bên vệ đường cho các người khác nghe. Anh Đinh V kết thúc lời kể.

8. Lời Tiên Tri Của Người Dở Khùng Dở Điên.

Chuyện này có từ trước ngày Việt Cộng chiếm miền Nam VNCH (30-4-1975), xẩy ra tại khu vực Thành Quan Năm-Hốc Môn. Có một anh chàng tướng người nhỏ con, tính khí điên điên, khùng khùng (khi đó anh ta tuổi chắc trên 20, 30…) thường đi đây đó trong khu vực. Người sống ở đia phương gọi tên anh ta là Tân Khùng. Anh là dân tị nạn chiến tranh từ quận Đồng Xoài-Phước Long về đây (chung với đám nạn nhân chiến cuộc) và sống trong chùa Hoằng Pháp. Sư cụ chùa Hoằng Pháp khi đó cho xây một loạt những dãy nhà nhỏ lợp tôn để làm chỗ ở cho dân tản cư chiến cuộc này. Anh Tân Khùng đến ở một thời gian ngắn thì bỏ ra bên ngoài chùa, sống lang thang ngoài đường và tối thì mò vào trong chợ Thành Quan Năm ngủ. Cũng giống như các người dở khùng dở điên khác, anh cứ đi lang thang trên đường kể cả khi trời đang mưa hay nắng nóng, ai cho gì thì anh ăn nấy… có khi còn phải nhịn đói nhịn khát nữa (vì chẳng ai biết mà anh cũng không nói ra). Tóc tai, y phục thì thôi, anh chẳng màng tới (người dở khùng mà). Ai thấy quần áo anh Tân Khùng mặc quá rách nát thì kéo vào nhà và thay cho anh bộ cánh khác. Tóc anh dài thì có người kêu ông thợ hớt tóc dạo cắt dùm cho. Thấy anh hôi hám, bẩn thỉu thì gọi anh vào giếng sau nhà rồi tắm cho hoặc để anh tự dội nước lên người và quần áo mặc ướt đến khô dần dần. Được cái là anh biết nghe lời, ai bảo gì thì anh làm theo (như thay quần áo, tắm rửa, ngồi yên cho thợ ngôi hớt tóc… thôi nhưng nếu nhờ anh ta làm phụ việc gì đó thì không được, vì anh bỏ đi ngay). Lúc đầu thì cảnh sát VNCH ở vùng Hốc Môn nghĩ anh Tân Khùng có thể là Việt Cộng giả dạng nên có bắt nhốt để kiểm tra. Sau dò hỏi từ những người tản cư từ Đồng Xoài về thì biết anh chàng này là người dở khùng dở điên thật nên họ thả. Cảnh sát có làm cho anh một thẻ căn cước bọc nhựa và đưa anh về lại trong chùa Hoằng Pháp ở thì chỉ ngày hôm sau là anh lại bỏ đi lang thang bên ngoài đường như cũ. Cái thẻ căn cước đó (ở phần ghi tên tuổi) thì chỉ vọn vẹn hai chữ Tân Khùng thôi mà anh cứ vất bỏ mãi nên sư cụ phải nhờ người khác giữ giùm.

Ở gần chợ Thành Quan Năm có một tiệm bán nước đá cây, bia lade con cọp, bia 33 và nước ngọt thì có lần anh Tân Khùng này đến ngay trước tiệm rồi ngồi ở gần bên hồ xi măng (chỗ chủ tiệm để đá cây lẫn trong đống vỏ trấu giữ lạnh cho đá) và bốc các mảnh đá vụn để ăn. Do anh khát nước nên mới làm vậy và rồi thì có một người lính nhẩy dù đến mua nguyên một két bia 33 mang về. Anh lính này là người có nhà gần đó và thân quen với bà chủ tiệm nên mua thiếu để nhậu tiếp với bạn bè (vì hết tiền lương) và hứa lần về phép tới sẽ đến tận tiệm hoàn tiền mua chịu này. Khi anh lính vác két bia 33 đi rồi thì tự dưng anh Tân Khùng nói với chủ tiệm: ” Má bán cho nó lần tới về phép, nó không lại đây đâu “. Chỉ trong tháng sau thì có tin anh chàng lính nhẩy dù đó tử trận và xe đơn vị mang xác về nhà để thân nhân mai táng. Bà chủ tiệm nhớ lời nói của anh Tân Khùng nên đâm sợ và không dám đến nói với chủ nhà hiếu (của anh lính nhẩy dù) về số tiền bia 33, coi như bỏ.

Vài người cả nam lẫn nữ biết chuyện anh Tân Khùng tiên tri (trong vụ anh lính nhẩy dù) nên kéo anh về nhà cho ăn cơm (có cả bà chủ tiệm kể trên) rồi hỏi anh xem coi thấy họ (và cả chồng, con nữa) có… bị gì không? Nói cho họ biết để họ phòng ngừa. Lần nào thì anh Tân Khùng chỉ ăn no rồi đứng dậy bỏ đi ngay hoặc nằm lăn ra ngủ tại chỗ mà chẳng tiên tri điều gì cả. Hỏi anh, lay vai lay tay anh để dục anh nói thì anh chỉ nhăn miệng cười. Những người đó lúc đầu thì cũng bực mình vì cho anh ta ăn mà không chịu nói (tiên tri). Sau, có một ông già nghe chuyện mới bảo họ:

– Nó không nói gì thì mấy người phải mừng chứ… lại còn đi trách móc nó hoài. Cứ ăn ở hiền lành đi thì sẽ tránh được tai nạn.

Nghe ông già này nói vậy thì những người đó mới thôi. Có lẽ họ cũng đồng ý với lời của ông già vì cho chắc bản thân họ và người thân không bị chuyện gì nên anh Tân Khùng mới yên lặng.

Có lẽ chỉ có ai sắp sửa bị tai ương gì đó mà gặp anh Tân Khùng thì anh mới nói ra nhưng cũng chính vì vậy mà có khi anh ta bị đòn oan như lần anh đến ngay bên nhà ông X ở vùng Đồng Mả (gọi như vậy do khu vực này thời trước nguyên là mồ mả hoang vu sau vì dân tị nạn chiến tranh từ vùng Đồng Xoài, miền Trung tản cư đến cất nhà ở) có xe tải chạy chở hàng chuyến đường dài. Hôm đó ông X đang đốt bỏ ít rác rưởi trong sân nhà (lá cây, gốc củi mục , các mảnh vỏ xe hơi hư…) thì anh Tân Khùng đi ngang qua rồi anh nhìn vào nhà ông X, vỗ tay nói lớn: ” Nhà cháy… nhà cháy to quá “. Ông X nghe vậy liền nổi xung thiên mới chạy ra, đấm đá anh Tân Khùng nhưng may có người đi ngang cản lại. Anh Tân Khùng đi rồi thì có người biết chuyện (tiên tri về anh lính nhẩy dù) đến bảo cho ông X biết thì ông đâm sợ và vào chùa Giác Nguyên gần đó xin gặp sư trụ trì để trình sự việc. Không biết sư trụ trì giảng giải làm sao mà ông X này khi về liền mua đồ bày thành mâm cúng trong sân nhà. Thực ra thì mỗi dịp lễ Tết hay có chuyến chạy hàng xa (ra tận miền Trung, xuống miền Tây) thì ông X này đều lập bàn cúng kiến trước cái xe vận tải của mình. Ông X cúng trong sân nhà có lẽ để mong tránh được tai nạn cháy nhà (nghe thấy anh Tân Khùng nói) nhưng rồi dù đề phòng thì một buổi tối, nhà ông bị cháy thật. Do bị cúp điện đột ngột nên mấy đứa con ông X thắp đèn dầu ăn cơm và vì thấy bầu đèn cạn dầu cần châm thêm nhưng lại lấy lộn bình xăng mà mang họa. May là nhà có phòng bị trước, do ông X thủ được cái bình đỏ chữa cháy nên dập tắt ngay được ngọn lửa. Chỉ có đứa con gái châm thêm dầu hôm đó bị phỏng thôi, nhưng nhẹ.

Mấy người ở chợ Thành Quan Năm biết chuyện anh Tân Khùng tiên tri nhưng họ bảo hễ anh có nói thì họ mới biết mà tránh như vụ của ông Tư Tê, chủ lò đường Thuận Hiệp. Còn không thì đành chịu. Ông Tư Tê mỗi lần thấy anh Tân Khùng đi ngang qua lò đường thì lại gọi anh vào cho ăn cơm. Anh ăn no bụng rồi thì muốn lấy mía, lấy đường để ăn thêm cho vui thì tùy ý. Ông Tư Tê kể có lần nó thấy tui dắt xe Honda ra định đi Sài Gòn thì một hai cản lại, bảo là: ” Tía ở nhà, không đi hôm nay được “. Mấy lần gặng hỏi tại sao thì nó bảo thêm: ” Có đứa nó đang rình xô Tía đó “. Tui nghe mà nghĩ là bọn giang hồ nó chận, xô ngã xe để cướp bọc tiền nên cũng sợ không dám đi. Anh Tân Khùng này chuyện với ai cũng chỉ kiểu nói trống không và có người thì anh gọi là Tía, Má hoặc con đó thằng đó mà bất kể tuổi tác của họ. Ông Tư Tê kể thêm chỉ khoảng nửa giờ đồng hồ sau đó thì cô con gái ông chạy xe về tới lò đường, gặp ông và kể là mới có một vụ đụng xe chết người gần ngả tư giếng nước (cách lò đường trên 1 km) mà nạn nhân từ vóc dáng cho đến bộ y phục (áo sọc ca rô, quần xanh đen) trông giống hệt ông Tư Tê. Ông nghe cô con gái nói mà hết hồn vía. Ông liền đi vòng vô bên trong lò đường định tìm anh Tân Khùng để hỏi thêm cho biết nhưng lại không thấy anh ta đâu (lò đường không có bờ tường bao chung quanh).

Cũng có người đã hỏi anh Tân Khùng buổi tối ngủ ở sạp bán hàng trong chợ (không có mùng) bộ không sợ muối cắn sao (cống rãnh, hố chứa nước nhỏ trong chợ đầy bọ lăng quăng nổi đen ngòm). Anh Tân Khùng bảo là đêm nào cũng có người đứng hầu bên và quạt cho anh ngủ nữa. Nghe anh nói vậy, họ cười thầm nhưng khi nhìn trên tay chân và cả mặt anh ta nữa đều không có dấu muỗi đốt nên chẳng biết anh nói thật hay không?

Khi đám Việt Cộng chiếm được miền Nam VNCH rồi thì anh Tân Khùng vẫn còn lang thang sống như vậy. Không hiểu chính sách Hộ Khẩu của đám Việt Cộng có để ý đến những người hành khất, vô gia cư… như dạng của anh Tân Khùng (vì thời gian này và ngay cả ở thành phố Sài Gòn, người dân từ vùng kinh tế mới trốn về sống đầy ở các chợ, nghĩa địa, vỉa hè cùng trong các bãi đất trống). Anh Tân Khùng bây giờ cũng đã bước vào tuổi già nên người ta có gặp, đã gọi bằng ông Tân Khùng (hay ông khùng, ông già điên). Ông Tân Khùng nói năng càng tệ hơn trước. Mỗi khi ông nói, âm thanh cứ va vấp vào nhau không thành chữ nên có người lại gọi ông là Già Khùng Cà Lăm.

Hết chiến tranh thì những vùng đất hoang ở ngoại thành (như vùng Nhị Xuân, Tam Tân, Thái Mỹ, Lê Minh Xuân, Đồng Chó Ngáp…) cần bàn tay người canh tác nên một lãnh tụ Việt Cộng tên là Võ Văn Kiệt cho thành lập lực lượng Thanh Niên Xung Phong cùng các nông trường ở những vùng đất hoang đó. Có người thì bảo do muốn tranh dành ảnh hưởng trong nội bộ đảng mà gã Võ Văn Kiệt lập ra lực lượng này để hậu thuẫn cho bản thân y. Con em chế độ cũ miền Nam VNCH bị đưa gia nhập vào Thanh Niên Xung Phong rất nhiều. Chỉ có người thuộc chế độ Việt Cộng mới được làm cán bộ trong lực lượng này.

Một ngày cuối năm 1977 có một chiếc xe Jeep của Thanh Niên Xung Phong ghé lại bên một quán nước mía bên vệ đường gần ngã ba Lam Sơn (cũng thuộc khu vực Thành Quan Năm). Chiếc xe Jeep này là xe chở hàng tiếp liệu của Thanh niên Xung Phong cho nông trường Thống Nhất ở huyện Củ Chi trên hướng đi lên Tây Ninh. Xe Jeep này có kéo theo cái rờ moọc đằng sau chất đầy gạo, rau trái, thịt, đường, bột… cung cấp cho đơn vị (thuộc tổng đội 4 Thanh Niên Xung Phong). Đi trong xe là 4 cán bộ Thanh Niên Xung Phong còn trẻ. Họ ghé quán uống nước mía giải khát và nghỉ ngơi chốc lát. Khi họ đang uống nước mía thì ông Tân Khùng ở đâu tà tà đi tới và ông ngừng lại ngay bên chiếc xe Jeep rồi đi vòng quanh nó. Ông ngó kỹ chiếc xe rồi có lúc còn ngồi xuống nhìn vào gầm xe cùng cái rờ moọc kéo đằng sau nữa. Một gã cán bộ Thanh Niên Xung Phong ngồi trong quán nước thấy hành động cùng bộ dạng của ông Tân Khùng thì nói vọng ra: ” Ê! Ông già kia! Làm cái gì mà xớ rớ đứng bên xe vậy. Định lấy cái gì đó? Cút đi đi “. Không biết ông Tân Khùng có nghe thấy những lời nói đó không mà ông ta lại còn lấy tay nắm vào thành cái rờ moọc lắc qua lắc lại và miệng thì lẩm bẩm độc thoại. Mấy cán bộ Thanh Niên Xung Phong thấy vậy liền kéo nhau ra vây chung quanh ông Tân Khùng rồi sừng sộ: ” Bỏ tay ra ngay. Ông mà cầm cái gì ở trong xe là tụi này chơi đẹp đó. Không tha ông đâu… Đi đi… “. Ông Tân Khùng bỏ tay ra khỏi thành cái rờ moọc và lắp bắp từng chữ: ” Cứng… cứng… chắc… vầy… mà… lật…. được… Ha ha “. Ông còn nói tiếp vài câu gì nữa rồi mới lừ đừ đi mất. Bà chủ tiệm nước mía biết chuyện của ông Tân Khùng nên thấy vậy, mới chạy ra hỏi các tay cán bộ Thanh Niên Xung Phong:

– Ông già nói cái gì với mấy chú vậy? Ông điên nhưng miệng ổng linh lắm đó.

– Ông ta nói cái gì xe lật rồi ai chết đó mà… tụi tui chả hiểu. Còn đứng đây lải nhải tụi tui oánh thấy bà… Điên hả? Điên thì oánh theo điên. Một người trong số họ trả lời.

Bà chủ tiệm nước mía há hốc mồm chưa kịp nói thì gã cán bộ chỉ huy bảo:

– Thôi mình lên xe đi các đồng chí… Tới giờ rồi, đừng chần chừ nữa.

Bốn cán bộ Thanh Niên Xung Phong trèo ngồi gọn trong lòng chiếc xe Jeep. Hàng hóa quá nhiều nên họ còn phải ôm trên người mới gọn. Xe chạy nhưng chỉ một lát sau thì bà chủ tiệm nước mía nghe tin một chiếc xe Jeep lùn có kéo theo cái rờ moọc bị lật úp ở gần chợ Thành Quan Năm. Chiếc xe bị lật vì thắng gấp để tránh một con bò chạy băng ngang đường lộ và vì chở nặng, cái rờ moọc đằng sau đã quay ngang, kéo lật chiếc Jeep chổng bốn bánh lên trời rồi bốc cháy dữ dội (do các can xăng để trong lòng xe đổ ra gặp lửa từ ma sát của sắt thành xe với mặt đường lộ). Bốn người bị mắc kẹt trong lòng xe Jeep nên không thể bò ra ngay được. Họ cố sức thoát thân và người dân hai bên đường nhào đến, chung sức lật ngửa chiếc xe Jeep lại (để cứu 4 người này) nhưng đành phải bỏ cuộc vì đuôi xe còn vướng nguyên cả cái rờ moọc đầy ắp hàng hóa. Rồi ngọn lửa bùng lên dữ dội làm người dân phải chạy ra xa khỏi xe. Những người chứng kiến thấy cảnh các nạn nhân vùng vẫy thê thảm trong ngọn lửa mà đành bất lực. Khi ngọn lửa tàn, 4 thi thể người (có chỗ cháy đến tận xương như sọ, cùi chỏ, đầu gối) trơ ra chung với chiếc khung xe Jeep. Chiếc rờ moọc kéo đằng sau xe Jeep cũng bị lật úp. Gạo, rau, thịt… vương vãi đầy trên đường.

Vài năm sau thì không ai thấy ông Tân Khùng ở khu vực chợ Thành Quan Năm nữa. Có người bảo là bà con ông ta ở vùng Đồng Xoài đã tìm đến và đưa ông về sống chung tại một khu giãn dân hoặc vùng kinh tế mới nào đó ở Lộc Ninh.

Khi ta thấy những người có vẻ khùng khùng điên điên thì đừng coi thường họ. Không nên đánh giá con người ở bộ dạng bên ngoài dù người đó ăn mặc bẩn thỉu hoặc sạch sẽ thơm tho.

Ông Tân Khùng (cũng như cậu Ư trong câu chuyện Kho Vàng Trong Núi mà PTV kể ở trên) là dạng người có vẻ bề ngoài khờ khạo, chậm hiểu tuy hiền lành và ta vẫn thường thấy ở bất cứ quốc gia nào, thời nào… cũng có những người như vậy. Có người khi mẹ sinh ra đã bị tình trạng này rồi và họ cứ sống vật vờ như vậy cho đến chết (người ta bảo là họ gánh nghiệp từ kiếp trước). Khi còn thân nhân (cha mẹ, anh chị) thì còn có người chăm sóc cho chứ rủi nếu họ mồ côi (hay với thời gian mà các thân nhân khuất bóng trước cả rồi) thì cuộc mưu sinh của họ sẽ vất vả lắm. Nhưng có người lại bảo với PTV là những người khùng khùng-điên điên này chẳng biết đau khổ (hay lục dục)… gì đâu. Chỉ có thân nhân của họ thôi (đau khổ giùm). Nghe mà chỉ biết chép miệng.

Như ông Tân Khùng, cũng có những người trong số dở khùng dở điên này tự dưng trời ban cho họ có khả năng tiên tri và điều họ buột miệng nói ra thì lại trúng phóc sau đó không lâu. Họ bình thường lò dò sống gần bên ta trong khu phố, gặp ta ở trên đường… Có khi họ cười, hét hoặc lẩm bẩm nói ra vài câu mà chẳng ai hiểu. Nhưng khi họ nói với cá nhân nào đó một câu gì thật rõ ràng thì là một điều tiên tri về một việc sắp xẩy ra (cho người được họ nói đến đó). Nếu ai mà nghe được từ miệng người dở khùng dở điên nói về điều sắp xẩy ra cho bản thân (tiên tri) và nhờ vậy mà người đấy tránh được (tai nạn) thì chắc chắn người thoát nạn này sẽ mang ơn người dở khùng dở điên đó suốt đời.

Những người dở khùng mà có tài tiên tri như vậy thì có bao giờ họ… tiên tri việc đời của họ cho người khác biết không? Có người đã hỏi như vậy và thực sự là có như ở trường hợp anh chàng tên Robert Nixon (sinh năm 1467) bên làng quê Cheshire của nước Anh.

Anh Nixon này cũng có vẻ bề ngoài khờ khạo, tưng tửng, ít nói, chăm chỉ làm việc (do người ta thuê) để kiếm miếng ăn hàng ngày. Có những lúc đi lang thang trên đường thì người dân làng Cheshire thấy anh lẩm bẩm độc thoại mà chẳng câu nào ra đầu ra đuôi. Cho đến một hôm khi đang cày ruộng thì đột nhiên anh Nixon ngừng lại, nhìn chung quanh rồi kêu lớn: ” Ê! Dick… Ê! Harry… Tụi mày đánh nhau nữa ha! Ô kìa! Dick mày đánh dở quá. Thôi rồi! Harry thắng rồi, thắng rồi… Ha ha “.

Những người nông dân làm việc gần sát bên anh ta, nghe rõ lời nhưng chẳng ai hiểu. Ai cũng nghĩ như mọi bận, người dở khùng dở điên khi lên cơn, nói năng tầm bậy vô nghĩa (thực sự là bố ai hiểu họ nói gì). Qua ngày hôm sau thì có chuyện là vua nước Anh (khi đó) là Richard III bị giết tại chiến trường Bosworth và người chiến thắng trong trận đánh đó là Henry Tudor. Cái chết đó xẩy ra cùng thời gian mà anh chàng Nixon buột miệng tiên tri (ngày 22 tháng 8 năm 1485). Henry Tudor lên ngôi và thành vua Henry VII của nước Anh. Ta biết trong Anh ngữ, Dick, Harry là tên gọi thân mật của Richard và Henry (cũng như Ben-Benjamin, Bob-Robert, Kathy-Kathleen…).

Chuyện tiên tri của anh Nixon thì sau đó đến tai ông vua Henry VII này (có người gọi là vua Henry Đệ Thất). Vua cho cận thần đến tận làng Cheshire đón anh về London (để hầu vua) nhưng trước khi đám cận thần này đến nơi thì anh chàng Nixon đó đã biết trước và sợ hãi chạy lung tung khắp nơi trong làng, kêu khóc… nói là vua bắt anh ta về triều đình sẽ bỏ đói cho chết. Anh không muốn đi gặp vua nhưng bảo là không tránh được… chỉ biết kêu khóc thôi. Rồi anh theo đám cận thần về London, khi vừa đến nơi thì vua Henry VII mới thử tài (tiên tri) của anh Nixon bằng cách lộ vẻ mặt lo lắng và nói là mình mới làm mất một viên kim cương. Vua muốn anh Nixon tìm giúp xem nó đang ở đâu. Anh Nixon trả lời: ” Tâu bệ hạ. Bệ hạ cần chi phải tìm cho mất công vì đã biết chỗ của nó “. Vua Henry VII thán phục vì chính ông đã dấu viên kim cương này. Từ đó vua giữ anh Nixon trong triều, chăm sóc anh ta chu đáo và cắt người (lúc nào cũng theo sát bên cạnh) ghi chép những lời anh nói. Những điều anh tiên tri đều đúng và vua rất yêu mến anh ta, lo cho anh ta thật chu đáo. Chính vì vậy mà điều anh tiên tri cho bản thân trước lúc rời khỏi ngôi làng Cheshire (vua bắt anh mang về triều để bỏ đói cho chết) coi bộ khó xẩy ra. Vua Henry VII cũng biết điều tiên tri về cái chết của anh Nixon đó nên ra lệnh cho đầu bếp trong cung điện phải cho anh ta ăn uống bất cứ lúc nào, bất cứ món ăn gì anh thích. Vô tình, lệnh của vua đã làm những người phục dịch trong cung rất thù ghét anh Nixon.

Henry VII king.

Cho đến một ngày khi vì công vụ quốc gia, vua Henry VII phải rời khỏi kinh thành London thì trước khi lên đường, đã bí mật giao anh Nixon cho một viên quan săn sóc riêng. Lý do là vì anh Nixon khóc lóc nói là khi vua về lại kinh thành thì anh ta đã chết vì bị bỏ đói. Anh xin vua đừng đi nhưng không thể được. Khi vua Henry VII lên đường rồi thì viên quan này lại sợ có lúc nào do vắng mặt mình mà bọn phục dịch sẽ làm hại, chọc phá anh Nixon nên mới đem nhốt anh ta vào một phòng riêng trong cung điện (không cho ai biết chỗ) và tự giữ lấy chìa khóa cửa. Hàng ngày đích thân viên quan đó lo việc cơm nước cho anh Nixon và rồi do bị chết đột ngột (ngã ngựa) nên không ai biết gì về căn phòng có anh Nixon. Khi vua Henry VII hồi loan thì biết tin viên quan chết, ông cho lệnh lục soát kiếm anh Nixon và khi tìm ra căn phòng đó thì anh ta đã chết vì bị bỏ đói.

9. Xóm Nhà Giữa Rừng Hoang.   

Câu chuyện này xẩy ra vào quãng tháng 7, 8 năm 1978 tại một vùng rừng thuộc chiến khu D căn cứ cũ của Việt Cộng. Đầu năm 1977 thì gia đình PTV phải đi vùng kinh tế mới ở Rừng Lá (căn cứ 3-căn cứ 4) gần núi Mây Tàu thuộc tỉnh Bình Tuy cũ. Mùa mưa xuống (tháng 4, 5) rồi vì việc trồng trỉa xong xuôi thì do rảnh rỗi nên bản thân mới đi lên vùng rừng huyện Vĩnh Cửu (nơi sau này là khu vực thủy điện Trị An) chung với gia đình các thân nhân tại khu kinh tế mới ở đây để theo họ vào rừng kiếm mủ cây Trai về bán kiếm tiền. Kinh tế mới là tên gọi chung của một chương trình mà nhà nước Cộng Sản buộc dân thuộc chế độ cũ (miền Nam VNCH) phải bỏ nhà cửa (hiến không cho cán bộ hay bán rẻ) ở Sài Gòn để đến các vùng rừng núi (căn cứ địa cũ của Việt Cộng) để sống (tự phá đất, cất nhà, trồng trỉa lấy…). Mủ cây Trai là nhựa lỏng chảy ra từ cây này khi cây bị thương (do dao chặt, vết bom… ) mà thành. Nhựa mầu vàng óng, nhểu xuống đất đóng vón thành từng cục rồi lâu ngày đổi sang mầu vôi trắng, mốc xanh bên ngoài và người đi thu nhặt mang về bán cho dân buôn dùng để trét vỏ ghe, thuyền (nấu chảy lỏng ra) cùng các vật dụng đan lát khác…

Nhóm của PTV nhập chung băng với dân vùng kinh tế mới ở huyện Vĩnh Cửu này (đa số họ gốc là binh sĩ thuộc sư đoàn 25 Bộ binh VNCH), vượt qua sông Đồng Nai rồi đi theo con đường lộ đất đỏ giữa chiến khu D cho đến chỗ đóng trại (sát bên rừng và gần một con suối). Cứ 2, 3 người (hoặc 1 gia đình) thì ở trong một căn lều. Bếp thì nhóm nào tự thân làm và nấu lấy thức ăn mang theo khi đi vào rừng nhặt mủ cây Trai. Lúc nào cũng có vài nhóm người kiếm mủ cây Trai ở đây. Cứ sáng sớm, mỗi nhóm (do 1 người dẫn đường gốc lính chiến biết cách dùng địa bàn) theo nhau dàn hàng ngang vào rừng, nhắm các thân cây lớn trước mặt để kiếm mủ cây Trai (còn vón cục trên thân, cành hay nằm sẵn dưới đất) còn trại thì do ít thân nhân ở lại để trông chừng đồ đạc. Ai kiếm được mủ nhiều ít thì hưởng nấy (không chia) và đi chung cho đến trưa thì nghỉ tạm một chỗ để ăn uống rồi tiếp tục công việc cho đến xế chiều thì quay về. Thông thường cứ một lần đóng trại như vậy là một tuần lễ rồi sau đó về nhà nghỉ vài ngày (đưa tiền cho thân nhân và chuẩn bị thực phẩm) rồi lại đi tiếp chuyến mới. Mủ cây Trai kiếm được, dân buôn mua ngay tại chỗ (dân buôn có lều gom hàng ở gần bên) và tùy người kiếm được nhiều hoặc ít hoặc mủ tốt (ròng) hay xấu (lẫn đất, lá…) mà thu nhập có khác. Cứ hôm nay đi kiếm ở cánh rừng hướng này thì ngày mai lại phải đi xa hơn hoặc đổi sang hướng mới khác.

Roots and Trunk of Sloanea Tree

Một lần, cả nhóm mới vào rừng được khoảng nửa tiếng đồng hồ thì ông Lý và đứa con trai (khoảng 12, 13 tuổi) bắt gặp cả một đống mủ dưới một gốc cây Trai cổ thụ. Đống mủ này, có những cục khá lớn và ước lượng tất cả trên 50 kg. Hai cha con ông chia nhau mỗi người một nửa (bỏ trong bao nylon đeo trên lưng) và vì thấy mới vào rừng không lâu nên ngỏ ý với cả nhóm xin được về trại trước. Anh Q là người dẫn đường mới chỉ hướng đi cho hai cha con ông Lý rồi cả nhóm tiếp tục đi kiếm mủ cây Trai (sau khi chia tay với cha con ông) như thường ngày. Buổi chiều hôm đó, khi cả nhóm quay về chỗ đóng trại, gặp cô con gái của ông Lý (gia đình ông gồm ba cha con) thì mới biết hai cha con ông vẫn chưa về. Không thấy anh trai và bố mình, cô bé gái này (khoảng 8, 9 tuổi) lo lắm… rồi theo hỏi từng người mà cả nhóm chẳng biết lý do tại sao? Đêm trôi qua rồi ngày mới bắt đầu, cả nhóm lại tiếp tục đi kiếm mủ cây Trai và cho đến buổi chiều khi quay về chỗ trại lại nghe tin hai cha con ông Lý vẫn chưa về. Thêm một ngày trôi qua, buổi chiều khi về lại chỗ đóng trại, cả nhóm vẫn chưa thấy bóng dáng hai cha con ông Lý. Giờ đây, cô bé gái con ông Lý khóc vùi, van nài cả nhóm đi kiếm cha con ông Lý… nhưng không thể (ai biết chỗ nào trong rừng). Tuy không nói ra nhưng ai nấy đều mong hai cha con ông đừng gặp cọp hay thú dữ. Anh Q bảo là nếu ngày mai mà vẫn chưa thấy hai cha con ông Lý thì cả nhóm sẽ nhổ trại, kéo về để cấp báo cho gia đình ông biết tin.

d5489a9f-995d-46c8-bc38-5dad02de194b_zps1tefilno
Ngày hôm sau nữa, cả nhóm lại tiếp tục công việc như thường lệ và cho đến buổi chiều khi quay về chỗ đóng trại thì biết tin hai cha con ông Lý đã về lúc quá trưa rồi. Và, gia đình ông thu dọn đồ lề, kéo về nhà ngay lập tức. Về nhà rồi những ngày sau đó thì hai cha con ông Lý bỏ ngang không đi nhặt mủ cây Trai như trước nữa. Hỏi nguyên do thì ông Lý chỉ ậm ừ bảo vì không có địa bàn sợ sẽ đi lạc và thấy nghề lần mò trong rừng kiếm mủ cây Trai vất vả quá nên đã bỏ. Riêng thằng con trai ông (tên Thuyết) thì lần lần nó kể.

Sau khi vừa chia tay cả nhóm thì tưởng chỉ độ non một tiếng đồng hồ là cả hai cha con ông Lý sẽ ra khỏi rừng. Nào ngờ cứ đi rồi chẳng biết đâu là phương hướng cho đến khi trời tối thì phải trèo lên cây để ngủ (phòng thú dữ). Đêm đầu tiên phải ngủ giữa rừng thì cha con ông Lý chưa thấy gì. Suốt cả ngày hôm sau thì cả hai cha con ông Lý vẫn loay hoay mà không tìm được dấu vết (đường mòn cũ) để có thể lần theo đó mà ra được rừng. Đêm thứ hai thì giữa khuya, cả hai cha con ông Lý chợt tỉnh giấc khi nghe có tiếng hú, tiếng gọi tên mình nữa. Ngày hôm sau, hai cha con ông Lý quyết định vất bỏ hết tất cả số mủ cây Trai kiếm được (có lẽ do không thể mang nặng được nữa) rồi cứ lầm lũi đi như vậy cho đến tối lại phải ngủ trên cây như hai đêm trước. Giữa khuya thì hai cha con ông Lý nghe tiếng người lao xao vọng đến từ một chỗ nào đó. Trong tiếng nói có nghe cả tiếng đàn vọng cổ nữa. Rồi khi trời có trăng, hai cha con ông Lý thấy ánh đèn dầu lấp lánh xa xa nên vội trèo xuống và lần mò đi đến. Thấy rõ ràng vài căn nhà tranh với ánh đèn vàng vọt trước mắt nhưng cứ vậy mà họ vẫn không thể đến tận bên được. Biết gặp ma rừng nên hai cha con ông Lý bỏ đi ra hướng khác rồi ôm nhau ngủ giữa một bãi đất trống cho đến khi trời sáng. Sáng hôm sau, tiếp tục đi nữa thì hai cha con ông Lý nghe được tiếng cưa cây rồi theo đó, gặp được nhóm thợ rừng. Gặp thợ rừng và quá giang theo xe ben của họ mà ra tới được con đường lộ đất đỏ. Theo chỉ dẫn của các người thợ rừng, hai cha con ông Lý cách chỗ đóng trại cả gần chục cây số đường tuốt về hướng đi lên tỉnh Phước Long.

Nghe chuyện thằng Thuyết kể thì có người sống tại vùng kinh tế mới huyện Vĩnh Cửu bảo xóm nhà đó là một trong các mật khu của bọn Việt Cộng ngày trước ở vùng chiến khu D này. Người sống lâu hơn (dân kỳ cựu), cho xóm nhà đó có thật. Nguyên là sào huyệt của nhóm thảo khấu từ thời còn thực dân Pháp cai trị. Bọn thảo khấu sau các chuyến ăn hàng (cướp của) ở Biên Hòa, Sài Gòn-Chợ Lớn…thì chúng về đây ẩn náu cho đến khi bị lộ và bị cảnh sát thời đó truy lùng đến tận nơi rồi giết sạch.

Có người thợ rừng thì nói đã từng gặp xóm nhà trong chuyện kể của hai cha con ông Lý và thêm, chỗ đó nay chỉ còn các cột gỗ chung với các cây rừng mọc lấn ngay trên nền nhà cũ.

10. Thần Vòng.   

Vòng đây là tên gọi sợi dây thừng mà người ta dùng để xử tử tội nhân (giảo hình). Đó là những người phạm tội và theo luật (xã hội, thời điểm) thì phải bị thắt cổ chết. Thường thì người ta làm một cái giá hay một cái sàn cao bằng gỗ trên có treo một sợi dây đã nút sẵn thòng lọng. Khi thụ hình, tội nhân bị tròng đầu vào thòng lọng và đao phủ (người thực hành vụ án) sẽ kéo một cái chốt để sàn gỗ dưới chân tử tội sụp xuống, làm tội nhân phải treo lơ lửng rồi sẽ chết vì ngạt thở (thòng lọng xiết chặt vào cổ). Đó là những người phạm tội và phải chết vì giảo hình (gần đây thì có vụ xử treo cổ nhà độc tài nước Iraq là Sadam Husein). Cũng có những người tự mình tìm đến cái chết ghê rợn này mà dân gian thường bảo do nghiệp bị thần vòng ám khiến cho phải chết. Mỗi khi nói đến thần vòng thì ai cũng nghĩ đến hình ảnh một sợi dây thòng lọng treo lủng lẳng một thân người ở cành cây nào đó ở cạnh đường đi, trong rừng…

1419562_zpsxxhxcsig

hanging_noose_4_zpsqkpowq3v

Khoảng tuổi thiếu niên, một buổi trưa thì PTV nghe dân trong khu phố gọi nhau đi xem người thắt cổ chết. PTV theo chân họ đến một căn nhà có rất đông người vây chung quanh (trước cửa chính, cửa sổ). PTV chen mãi mới vào phía bên trong vòng người được thì thấy một người đàn ông treo đứng bằng sợi dây thừng giữa căn phòng khách. Hai ngón cái bàn chân ông này chạm đất và do quay mặt vào phía trong nên không rõ khuôn mặt ông ta như thể nào? Người người cứ chen nhau vào xem như vậy (chỉ thấy phía lưng người chết) và chẳng có ai dám vào trong căn phòng đó. Khi hai người cảnh sát (nhân viên công lực) xuất hiện thì họ vào trong căn phòng, đến bên cạnh người chết (rồi chắc do kiểm tra xem người này có thật đã chết hay chưa) và xoay cái thân ông ta ra phía bên ngoài. Vừa thấy mặt người chết đó thì gần như tất cả người đang đứng xem đều kêu thét lên một tiếng thật lớn rồi tranh nhau mà chạy ra ngoài. PTV cũng chạy y như họ (có những người ngồi bệt tại chỗ vì quá sợ mà cuồng cả chân). Chạy ra xa rồi (vẫn không chịu về nhà ngay) PTV còn nán lại xem cho đến khi cảnh sát hạ xác người này xuống rồi khiêng ông ta (trên cáng) lên xe để chở đi khám nghiệm mà vẫn chưa hoàn hồn. Khuôn mặt người thắt cổ này phù to, nghiêng đầu một bên và tuy nhắm mắt nhưng cái lưỡi ông ta (có mầu tái xanh) thè dài ra ngoài… thật khiếp.

Căn nhà có người thắt cổ đó không ai dám ở cho mãi đến sau ngày 30-4-1975 thì chủ gia trước khi hồi hương (vì là dân tản cư chiến cuộc ) đã bán rẻ cho dân buôn để gỡ tole, gỗ, ván mang đi. Chỉ còn trơ lại cái nền xi măng bỏ hoang như vậy mãi. Sau, người ta mua đi bán lại miếng nền nhà này rồi làm vườn rau cho đến khi nhà nước Việt Cộng mở rộng đường thì thành một phần của quốc lộ 22 bây giờ.

Ở tuổi thiếu niên, PTV vẫn nhớ ở gần nhà có gia đình bán thuốc tây (dược phẩm) có mấy người con trai gái trạc bằng tuổi mình. Một buổi, bà vợ ông chủ hiệu thuốc tây này nọc đánh hai cậu con trai trong nhà một trận vì lý do (cả hai) đã chơi trò… làm người thắt cổ chết. Hỏi thì hai cậu con trai đã lấy một sợi dây rồi làm cái thòng lọng để đứa này thắt cổ cho đứa kia giả chết. PTV có hỏi mấy người lớn (cô, chị họ…) thì ai cũng bảo chớ có làm trò đùa giỡn như vậy vì sẽ bị thần vòng… ám. Mấy người bà con này bảo là những ai có chuyện buồn riêng mà thốt ra lời kiểu thắt cổ chết cho rồi thì cũng sẽ có ngày người đó bị thần vòng khiến cho phải chết thảm.

Cũng từ vụ có người thắt cổ mà PTV kể ở trên thì dân trong khu phố kể về một căn nhà có người thắt cổ khác. Từ chợ Thành Quan Năm khi đi ngược về hướng Sài Gòn thời trước khi gia đình PTV về vùng này cư trú thì có một khu nghĩa địa rất rộng mà người ta gọi là cánh đồng mả. Ở đây, từ xa xưa thì có những ngôi mộ cũ là các tảng đá ong đỏ và gần hơn là mộ xây bằng xi măng (lớn nhỏ) hay đơn giản chỉ còn là gò đất u cao… trải dài từ đường lộ cho đến các vạt rừng hoang, rừng cao su (dấu vết cũ của các công ty canh nông thời thực dân Pháp) rồi là ruộng, vườn của dân địa phương. Thời điểm dân di cư 1954, có một gia đình từ phương xa đến cất nhà gần rìa cánh đồng mả này (do đất trống vô chủ) để ở. Cũng chỉ là nếp nhà nhỏ lợp lá, vách ván gỗ thông thường. Hai vợ chồng này chưa có con cái gì. Người chồng làm tài xế cho một hãng xe đò tư chạy đường Sài Gòn-Hóc Môn, còn người vợ trồng rau (dọn đất chung quanh nhà) để mưu sinh qua ngày. Ở đây được độ gần năm thì người chồng bỏ nhà đi biệt tích (có người nói ông theo Việt Cộng, người thì bảo ông đã có gia đình mới), rồi không lâu sau đó thì người vợ thắt cổ chết trong nhà. Khi người dân sống trong khu vực phát giác thì xác người phụ nữ đó đã rữa hủy. Vì không có thân nhân nên sau cùng nhà chức trách cho chôn bà trong khu vực đồng mả. Căn nhà đó bỏ không vài năm đâm hư hỏng (xuống cấp) rồi bị người khác (dân tị nạn chiến cuộc) đến chiếm. Họ sửa lại căn nhà (lợp tole thay cho mái lá cùng sửa lại vách) nhưng cũng không ở lâu được đến phải bán rẻ. Người mua nhà cũng chẳng ở được bền (bảo nhà có ma) nên họ muốn bán mà không có khách rồi sau cùng đành để bảng cho thuê. Người thuê căn nhà này là một thày giáo dạy bậc tiểu học (cấp 1) của một trường tư nhân trong vùng Hóc Môn. Đến thời gian đó thì khu vực Thành Quan Năm cũng đã thay đổi khác xưa. Dân di cư kéo đến ở trong 3 xứ đạo Thiên Chúa rồi lập chợ (đặt tên là Nam Hưng). Rừng hoang, rừng cao su năm xưa bị dân di cư miền Bắc vào hợp với người Nam Bộ địa phương phá bỏ để thành các ấp chiến lược Nhị Tân, Tân Hiệp… nhưng ở khu vực đồng mả, đất vẫn còn hoang vắng. Căn nhà ông thày giáo đó thuê vẫn là nơi biệt lập, xa cách với các nhà dân khác (chung quanh nhà ngoài mồ mả thì là cây rừng, tre bụi cùng gò bãi nhấp nhô…).

Ông thày giáo đó (tên X) kể lại vì có chuyện buồn riêng nên tự nhiên có ý nghĩ… thắt cổ chết cho rồi. Ông ta lấy sợi dây thừng từ cái gầu kéo nước giếng bên cạnh nhà vào rồi làm thành một cái thòng lọng. Ông ta treo sợi dây thừng đó lên một cây rui (đòn tay nối với các cây cột cái) mái nhà rồi đi nấu cơm để ăn trước khi chết (không muốn thành ma đói). Đang nấu cơm ở bếp phía sau nhà thì vì vô tình khi nhìn lên đằng trước (căn nhà) mà ông ta thấy sợi dây thừng… rục rịch. Sợi dây thừng do ông thày giáo treo khá cao (ông để bên cạnh là cái ghế đẩu, định bụng sẽ trèo lên ghế rồi đút đầu vào) đã có lúc… thòng thấp xuống để nhìn. Quá sợ nên ông thày giáo tỉnh hồn, vội bỏ ra khỏi căn nhà (đi bằng cửa sau) và gọi hàng xóm đến giúp. Có khá đông người rồi thì họ vào căn phòng để gỡ bỏ sợi dây thừng đó xuống và đem đốt hủy đi. Ai nghe chuyện kể đều bảo vì ông thày giáo đó nấu bữa ăn quá lâu mà thoát nạn hoặc do phần số của ông không chết về tay thần vòng.

Căn nhà đó sau cũng bỏ hoang và hư hỏng dần cho đến dịp tết Mậu Thân 1968 thì tan hoang vì các lần giao tranh giữa binh sĩ miền Nam VNCH với đám du kích địa phương Việt Cộng.

Đầu thập niên 1980 thì PTV có một người bạn (lớn hơn mình cả gần chục tuổi) cũng là thày giáo bậc tiểu học (trước 30-4-1975) do buồn chán chuyện gia đình nên đã thắt cổ chết tại nhà. Ông này (tên là M) bị chính quyền Việt Cộng sa thải (làm thày giáo… mất dạy) mà cũng không kiếm ra được việc làm nào khác. Một buổi tối đi uống cà phê chung với bè bạn (có mặt cả PTV trong nhóm), ông than gia đình vợ con nheo nhóc mà bản thân như sống dựa vào vô ích (ăn bám) chắc phải thắt cổ chết cho rồi. Tưởng ông thày M này nói như để than thở với các bạn bè (hoàn cảnh khi đó ai cũng khổ sở không kém) trong tối uống cà phê hôm đó thôi. Nào ngờ, ít tháng sau thì PTV nghe tin ông ta thắt cổ chết trong phòng vệ sinh của nhà. Mấy đầu ngón chân của cái xác cũng vừa đụng đất thôi (như xác người thắt cổ năm xưa kể trên) mà vẫn làm ông thày M này chết thật.

Bên nước Nhật Bản, gần Phú Sĩ Sơn (núi Fuji), có một khu rừng tên là Aokigahara rất nổi tiếng (từ thập niên 1950 cho đến nay) vì quá nhiều người vào đó để tìm… chết. Khu rừng này rộng khoảng 14, 15 dặm (mile) vuông, đầy cây cối rậm rạp cùng hang động hoang vu. Những báo cáo như năm 2002 có 78 nạn nhân, năm 2003, cảnh sát đếm được 105 thi thể, năm 2004 thì 108 mạng. Đa số nạn nhân chọn cách chết bằng thòng lọng (thắt cổ) hoặc dùng thuốc quá liều. Cảnh sát đã đặt các biển chữ: Cuộc đời bạn là món quà quý của cha mẹ ban cho… Hãy tham khảo ý kiến với cảnh sát trước khi chọn cái chết… đây đó trong rừng Aokigahara này như một cách ngăn chận bớt người dân Nhật chán đời.
Aokigahara-Victim-2_zpsalnpdqke

Dân Nhật thì bảo là khu rừng này đầy các oan hồn còn vất vưởng ở trần gian nên đã ám những người đặt chân vào và chọn cái chết (tự vẫn).

Hồi năm 1993 khi còn tạm dung tại trại tị nạn Galang bên nước Indonesia, PTV đã từng nghe một người bạn kể là ông ta có một cô em gái họ, cô em gái ông này khi mẹ sinh ra, trên cổ cô ta có một vệt da khác mầu… y như dấu vết của một sợi dây in vào (hoặc như người đeo một vòng nhỏ trên cổ khi đi tắm biển, phơi nắng mà thành dấu). Lớn lên thì vệt da này trên cổ cô em họ đó mờ dần nhưng để ý kỹ thì vẫn nhận ra được. Ông bạn đó cho cô em gái họ chắc từ kiếp trước đã từng là người thắt cổ (bị người ta thắt hay tự ý làm thì không ai trong gia đình biết). Cùng thời gian đó, trong trại tị nạn Galang có một thuyền nhân cựu quân nhân miền Nam VNCH thắt cổ tự vẫn chết trong rừng (do người này bị Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Người Tị Nạn đánh rớt thanh lọc, sẽ phải bị cưỡng bức hồi hương về lại Việt Nam) mà PTV có hỏi một ông cụ rất giỏi về khoa tử vi thì ông cụ bảo người đó chắc mang số chết về tay thần vòng khi đọc câu: ” Liêm, Hỏa (mà gặp) Không, Kiếp, Phá Quân-Hãm cung, thắt cổ nợ trần hết duyên .

11. Thày Mo Hết Thiêng.  

Thời còn chế độ miền Nam Việt Nam Cộng Hòa thì mẹ của PTV có một số bà bạn buôn bán chung và hầu hết đều là dân di cư dịp 1954 từ miền Bắc vào. Có những lúc rảnh rỗi trong việc buôn bán thì các bà thường ngồi kể chuyện ngày xưa khi họ còn nhỏ. Một bà tên T kể câu chuyện đấu phép giữa một thày mo với một cha cố đạo Thiên Chúa ở trong làng của bà. Làng của bà thuộc vùng trung du miền Bắc thuộc tỉnh Quảng Yên. Lâu quá nên PTV cũng không nhớ chính xác tên địa phương của làng bà T kể… Chỉ biết bà bảo rất nhỏ, có núi đồi và sát cạnh biển. Truy trên bản đồ thì thấy Quảng Yên là tên cũ của tỉnh Quảng Ninh bây giờ và các làng gần biển thì thôi, nhiều vô số nên PTV tạm đặt tên là làng X.

Làng X gồm phần lớn là người Việt (bây giờ gọi là dân Kinh) sinh sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi và dân gần biển thì làm nghề đánh cá. Thiểu số còn lại là dân Tày, Nùng, Mường, Dao… sống trong các vùng rừng, núi. Làng X có một nhà thờ đạo Thiên Chúa giáo từ lâu đời và bà T này là một giáo dân. Nhà thờ do một cha cố đã lớn tuổi coi xứ đạo. Chợ làng thường họp 2 lần vào ngày đầu tháng và giữa tháng (gọi là chợ phiên). Chợ phiên là dịp để dân làng mua bán các sản phẩm như gạo, khoai, vải vóc, trâu bò và cũng là dịp để dân thiểu số (từ các bản sâu trong rừng) ra mua các vật dụng như kim chỉ, vải, muối, dao rựa… là những thứ họ rất cần (không làm ra được). Cũng là dịp để họ mang bán các thú rừng như cheo, trút hoặc mật ong, nấm khô, măng tươi… sản vật mà họ kiếm được trong rừng.

Sống trong làng X có một ông thày cúng gốc người Mường. Ông thày cúng này thường làm lễ giải hạn, cúng đàn chay phá ngục (cho những nhà chết trùng tang), làm bùa ghét, bùa yêu… hay giải bùa chú (bị người khác thư, ếm) cho hầu hết người dân thiểu số trong vùng (có cả người Kinh nữa) khi họ đến cầu ông làm. Ông thày cúng này cũng biết các bài thuốc bí hiểm gần như là bùa (người ta gọi là nèm) để chữa bệnh cho người như bị nhọt sâu quảng, trật chân tay, đau mắt… và cả gia súc cùng mùa màng khi bị sâu bọ ăn phá hư hại (thời đó chưa có thuốc trừ sâu-rầy). Bà T bảo người trong làng gọi ông thày cúng đó là thày Mo còn trong miền Nam thì cái danh xưng của nghề này là thày Pháp. Đáng kể nhất là ông thày Mo này còn có thể làm được các việc thần kỳ như tát cạn một cái ao hay làm đầy nước cho một mảnh ruộng hạn nào đó hoặc gặt xong cả thửa ruộng lúa bị ngập nước chỉ trong một đêm theo lời gia chủ cầu khẩn. Những việc thần kỳ này do âm binh của ông thày Mo làm. Bà T kể âm binh chính là các vong hồn người chết chưa siêu thoát đã được ông thày Mo thu phục làm tay chân (để sai khiến) và không biết bằng cách nào (do ông cầu đảo, thỉnh, luyện…?) mà thày thu phục các vong hồn này được. Chỉ biết là thày Mo càng có nhiều âm binh thì tài nghệ của thày càng cao. Trong tỉnh Quảng Yên khi đó, còn có các ông thày Mo ở các địa phương khác nữa.

Dân làng X có đạo Thiên Chúa có lần đã kể lại các việc làm của thày Mo cho cha cố nghe (sau buổi lễ ngày Chủ Nhật) thì cha cố bảo thày Mo làm được các việc thần kỳ đó là do năng lực của ma quỷ. Không có bọn ma quỷ thì thày Mo chẳng làm được các việc kể trên (tát nước ruộng, diệt sâu bọ, bùa yêu, ngải buôn may-bán đắt, ếm, thư…). Không biết do đâu mà lời của cha cố đã đến tai ông thày Mo và một việc lạ xẩy ra ở trong làng chỉ ít lâu sau đó.

Dở lại các trang sử thì ta thấy trước khi thực dân Pháp chiếm miền Bắc Việt Nam (hòa ước Patenotre 1884) thì các nhà truyền giáo ngoại quốc (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp…) đã có mặt ở vùng Đông Bắc miền Bắc Việt Nam (giáo phận Hải Phòng) từ thế kỷ 17 rồi (kể từ những năm 1660 trở đi). Các nhà truyền giáo này đến những làng mạc xa xôi hẻo lánh để khai đạo Thiên Chúa và thành lập các xứ đạo nhỏ. Làng X này là một trong số các xứ đạo đó và cha cố trong truyện là một người Pháp nhưng nói rất sõi tiếng Việt. Cha cố ngoài việc làm lễ ở nhà thờ (cùng các việc đạo khác mà giáo dân gọi là phụng vụ) thì còn thêm việc đồng áng trên các mảnh đất chung quanh nhà thờ. Cha cố làm ruộng lấy gạo ăn cùng trồng rau trái tùy theo thời vụ (sống y như đời sống của một người dân trong làng X). Lần đó thì cha cố có trồng một mảnh vườn cà pháo để khi thu hái sẽ ướp muối ăn dần dần. Cà pháo là một quả cà nhỏ lớn cỡ trái quất (tắc, hạnh), vỏ mầu trắng mà ta thấy bán ở các chợ. Vườn cà đó rất tốt nhưng đến kỳ thu hái thì gần như bị… mất sạch (hái trộm ban đêm). Đợi khoảng một tuần lễ khi thấy có thể thu hái cà nữa thì cha cố mới lấy tro bếp (từ rơm rạ, củi) đem rắc lên các lối đi giữa các luống cây cà cùng chung quanh khu vườn (nhằm xem dấu chân của kẻ trộm). Vài ngày như vậy thì một buổi sáng cha cố ra xem vườn cà, thấy đã bị mất gần sạch quả. Nhìn các bệt tro trên mặt đường mà không có bất kỳ dấu chân người, cha cố đã biết thủ phạm.

Cũng như lần trước, khi gần đến ngày trẩy quả cà thì kỳ này, cứ mỗi buổi chiều trời bắt đầu sụp tối, cha cố đem các cỗ tràng hạt (dây kết các hạt cùng tượng chúa Jesus và Đức Mẹ Maria để giáo dân lần chuỗi trên tay khi đọc kinh) và treo trên một số cây cà cùng ở các luống cà, chung quanh vườn. Một buổi sáng khi thức dậy sớm, cha cố ra thăm vườn cà thì thấy dưới một số cây cà cùng ở các luống đi, trên một chục hình nhân bằng giấy (có vẽ chữ ngoằn ngoèo bằng mực tàu) nằm ngay trên mặt đất. Ở mỗi hình nhân bằng giấy này đều có hai quả cà nằm chung với một cọng rơm hoặc một cành cây nhỏ. Cha cố đã thu hết các hình nhân bằng giấy đó và rồi đem đốt bỏ hết cả.

am binh_zpseypiie9l

Hình nhân bằng giấy (với 2 quả cà, đòn gánh) nằm dưới một gốc cây có treo cỗ tràng hạt đạo Thiên Chúa.

Thời gian sau thì thày Mo trong làng X đó phải ngưng việc làm của mình cả hàng mấy năm trời. Bà T bảo là phép thầy hết thiêng vì đám âm binh đó đã bị cha cố làm tiêu mất (đốt tan thành tro) và thày Mo phải làm lại từ đầu (thu phục âm binh mới) mất cả bao nhiêu công sức và thời gian.

Người ta kể là đối với những vị thầy Mo thầy Pháp thời trước, âm binh là phương tiện nhanh chóng và đắc lực nhất để thực hiện các công việc riêng của thầy. Vì vậy, không thầy nào hạ sơn mà lại không có một bàn thờ binh trước sân nhà. Âm binh làm việc theo lệnh của thầy: Giúp đỡ, phá phách người dương và chống cả người âm. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ nào đó do thầy Mo, thầy Pháp giao thì âm binh được cúng lễ đàng hòang như lính được tướng khao thưởng ngày xưa. Lễ vật cúng binh từ đơn giản là muối gạo, nổ, cháo hoa cho đến long trọng với đủ thịt cá trái cây rau quả… Như trên trần thế, dưới cõi âm thì âm binh có rất nhiều loại. Tùy theo khả năng tu luyện và phương tiện sử dụng mà thầy chiêu mộ loại âm binh nào. Phổ biến nhất vẫn là binh đại càn, binh chiến sĩ, binh ngũ hổ, binh rừng, binh Ó tà A-rặc… Mỗi loại binh có câu chú luyện riêng. Trước khi thỉnh âm binh về nhà, thầy Mo thầy Pháp phải  sắp xếp trên bàn thờ phải có đủ nhang đèn, trầu, rượu, nước, thuốc lá…

Muốn luyện âm binh thì thấy Mo thầy Pháp phải đi tìm những đến các nghĩa địa, bãi chiến trường xưa, vùng đất từng bị ôn dịch chết nhiều vì nơi đó mới có nhiều vong lang thang… dễ dàng chiêu mộ về phục vụ cho mình. Tóm một câu với chuyện của thầy Mo trên đây là:

Phép Ma làm sao mà qua phép Chúa, phép Phật. Tà làm sao có thể thắng Chánh được.

 

12. Cầu Đa Cô hay Ma Da Kéo Chân.

Có sông thì phải có cầu bắc ngang, đó là sự thường nhưng ở các con sông rộng nước sâu thì cây cầu nơi đó thế nào cũng có người tìm đến để chết. Bất kể ở nước nào thì cũng có vụ người nhẩy từ cầu xuống nước tự vẫn. Có người bảo nạn nhân của các vụ nhẩy cầu tự tử đều là người không biết bơi vì nếu biết bơi, phút cuối cùng gần chết thì do bản năng sinh tồn của cơ thể sẽ khiến họ đập tay chân để… bơi trở lại và sẽ không thể chết được. Cũng có người thì bảo nạn nhân cho dù là người bơi giỏi thì khi tự mình tìm đến cái chết, tay chân họ sẽ cứng lại không thể cựa quậy được nữa. Ma da dưới nước đã kéo chân, họ buộc họ phải chết để… thế chỗ cho ma da.

Tại khu vực quận Liên Chiểu (TP Đà Nẵng) có một cây cầu nhỏ rất nổi tiếng bởi những câu chuyện ma quỷ. Cầu có tên là Đa Cô. Khởi đầu từ chuyện một cô sinh viên trẻ, xinh đẹp mà vì thất tình nên đã gieo mình xuống từ cây cầu này để tự tử. Trước khi tự kết liễu đời mình, cô sinh viên bạc mệnh đó có một lời nguyền gì đấy đã khiến nhiều thiếu nữ trẻ thất tình khác cũng đến bên cầu để kết thúc cuộc đời mình. Vì có nhiều người (con gái) tự tử ở đây nên cầu được đặt tên là Đa Cô. Theo thống kê của chính quyền địa phương thì gần 20 cô gái chết theo bằng cách nhảy cầu ở đây. Ta cứ nhìn trong ảnh sẽ thấy ngoài miếu oan hồn thì còn các am thờ nhỏ nằm dọc theo bên thân mặt cây cầu. Người dân địa phương bảo không phải hết tất cả nạn nhân nhẩy cầu ở đây đều là phái nữ nhưng riêng các cô gái thì kể ra chiếm tới con số 80%.

Da Co brigde in Da Nang

Trở lại vụ ma da kéo chân người dưới nước thì ở vùng PTV sống có một cái trạm bơm điện khá lớn. Trạm này là một máy bơm khổng lồ dùng bơm nước từ con sông dẫn lên kênh nổi để truyền nước tưới vào các thửa ruộng ở cánh đồng lúa. Đây là cách chống hạn cho đồng ruộng vào mùa khô mà người ta gọi là thủy lợi. Có một kênh dẫn nước từ con sông vào trạm bơm và ngay chỗ đầu vòi hút của máy bơm là một hố nước rất sâu (dồn nước cho máy bơm của trạm) và chính nơi này có… ma da vì cứ vài năm lại có người bị chết đuối khi xuống tắm. Một lần cách đây độ chục năm, trong vùng có một cậu thiếu niên theo đám bạn xuống tắm ở khúc gần vòi hút của trạm bơm này (chỗ thường ngày người trong vùng kéo nhau xuống tắm vì nước trong và đáy không sâu lắm). Cậu thiếu niên tên H, là dân làm ruộng rẫy trong vùng nên biết bơi từ nhỏ. Tắm táp đã đời thì đám bạn của cậu H kéo nhau về hết để cậu ở lại tắm chung với những người khác nữa. Tối đến thì cha mẹ cậu H không thấy con mình ở nhà nên mới hỏi mấy cậu bạn quen. Nghe rồi thì họ cũng chẳng biết tình trạng cậu ta ra sao, chỉ biết chờ tin… Đến ngày thứ ba thì có người báo xác cậu H nổi lên ở trạm bơm và rồi họ vớt xác cậu lên đặt nằm ngay trên bờ để chờ gia đình đến nhận. Chú ruột (em của cha) của cậu H chạy xe máy (đến nhìn xác) thì khi vừa vào đến trạm bơm, gặp xác cậu H thì tự dưng máu đỏ tươi tuôn ra từ mũi của cháu mình. Người đứng vây chung quanh xem ai nấy trông thấy sự việc đều hoảng hồn. Có người thấy máu đỏ ộc ra đó bảo cậu H còn sống, đưa ngay lên bệnh viện cấp cứu may ra còn kịp. Chừng xem kỹ lại thì thực sự cậu H đã chết hẳn (chìm dưới nước cả 3 ngày mới nổi).

Máu đỏ tươi ộc ra từ cái xác lạnh ngắt của cậu H thì người có mặt tại chỗ bảo là do mối quan hệ họ hàng (mẫn cảm của máu huyết) mới khiến có vụ như vậy. Nhưng có người thì bảo tại do người chú ruột khi đến gần xác cậu H đã hỏi câu: Cháu bị ma da kéo giò phải không?