Con Sóng Dữ 2

Tags

Chương Bốn

Quyền, Tiền và Số Phận Thuyền Nhân

 

 

Ở ngã 3 đầu đường vẫn còn từng nhóm người đứng bàn bạc với nhau. Tiếng trò chuyện qua lại. Bao nhiêu người đậu người rớt trong ngày hôm nay? Chưa ai biết rõ con số nhưng chắc chắn người rớt thì phải nhiều hơn rồi. Bàn thờ Tổ Quốc ngày xuân vẫn còn đó với những câu đối, cây nêu cùng giây pháo đỏ bay lất phất trên cao. Chỉ mới vài tuần lễ đây thôi thì ai cũng hy vọng một niềm vui mới sẽ đến trong năm mới qua hình ảnh ngày Tết với bàn thờ Tổ Quốc, cây nêu, trò chơi trèo cột bôi mỡ lấy thưởng và ở các câu chúc tụng với nhau. Thế mà! Tuy chưa biết rõ chính xác con số người đậu rớt nhưng ai cũng thấy rõ là người cầm vé đậu thật ít so với người bị Cao Ủy bác đơn tị nạn. Sự việc chỉ xẩy ra trong buổi sáng nay thôi mà đã làm mọi người có mặt phải choáng váng, khó mà giữ được sự an ổn trong tâm hồn.

 

Đi ngang qua các quán nước, nhìn khuôn mặt đỏ vênh vang của những người đậu thanh lọc đang chiêu đãi bạn bè bên các lon bia Heineken tự nhiên tôi thấy họ đáng ghét làm sao. Tôi đã ganh tị với niềm hạnh phúc của họ? Vô lý quá nhưng rõ ràng, những người ăn mừng nầy đang khoét thêm vết thương của các thuyền nhân vừa bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc.

 

Mãi đến khi gặp lại anh chị Khảm-Phượng tại quán cà phê trong buổi tối thì mới biết tổng số người đậu thanh lọc hôm nay.

 

– 81 trên 300 hồ sơ, như vậy tỉ lệ chỉ là 27%, anh Khảm nói.

 

Con số quá ít so với sự suy nghĩ của nhiều người trong trại. Anh Khảm tiếp:

 

– Số người rớt có cả cựu quân nhân, cảnh sát của chế độ miền Nam VNCH nữa. Hiện chưa biết rõ tất cả những người bị out thuộc loại gì chỉ biết có khá nhiều người được Cao Ủy phát giấy đậu là vì có vợ hay chồng đang sinh sống ở nước ngoài nào đó. Đau nhất là chiếc ghe vào Galang ngay trong đêm 17 tháng 3. Tất cả người trên ghe đó đều bị Cao Ủy đánh rớt sạch không được lấy một người đậu.

 

Anh Khảm kể cho tôi và Yến nghe câu chuyện của 2 chiếc ghe cùng đi vào vùng biển Indonesia trong ngày 17 tháng 3 năm ngoái. Hôm đó vì trời đã tối trông không rõ đường và vì sợ gặp phải đá ngầm nên một trong hai chiếc đã quyết định bỏ neo nằm lại, chờ hôm sau sẽ đi tiếp cho an toàn. Điều đó đúng vì dầu sao cũng đã sắp đến được Galang rồi thì vội gì. Đoàn chúng tôi cũng đã phải quyết định giống như vậy khi ghe gần bị kẹt trên một bãi cạn. Chiếc kia, lầm lũi mò đi liều trong đêm tối và đã đến được trại tị nạn Galang trước nửa khuya ngày hôm đó. Vì đến trại kịp lúc nên tất cả người trong ghe được Cao Ủy coi là người tị nạn và họ đã lên đường định cư ở nước thứ 3 khá lâu rồi. Chiếc ghe còn lại, mờ sáng hôm sau khi đến được đảo Galang thì đã bị phòng An ninh P3V cho biết họ sẽ phải bị thanh lọc vì đã đến sau ngày Cut Off Day nầy. Đến trễ nên đành phải chờ thanh lọc và ai cũng nói đó là chiếc ghe bất hạnh và hôm nay điều đó đã thật đúng. Chỉ vì đến sớm đến trễ cách nhau có vài tiếng đồng hồ thôi mà số phận thật khác biệt. Anh Khảm nói thêm:

 

– Hồi sáng nay vì thấy có người bị xỉu khi cầm giấy rớt nên phòng An ninh P3V đã cho ngừng xổ cả hơn nửa giờ đồng hồ để chúng bàn bạc riêng trong phòng với nhau. Sau đó thì mới cho ra một loạt cả hàng chục người đậu thanh lọc rồi lại xổ xen kẽ giữa người đậu người rớt chung với nhau. Tụi thiện nguyện viên trật tự cho anh biết như vậy đó. Tụi phòng An ninh P3V nầy đánh vào cái tâm lý của thuyền nhân mình khi thấy một loạt nhiều người vào phòng rồi cầm giấy đậu đi ra nên ai lúc đó cũng mong cũng nghĩ mình sẽ là một trong số họ nên tinh thần bớt căng thẳng liền. Vũ thấy sau đó xe van cứu thương đâu phải chở ai đi cấp cứu thêm nữa đâu.

 

Tôi gật đầu với anh Khảm và kể lại chuyện đã thấy đoạn văn kết luận trong tờ giấy rớt thanh lọc của người cựu quân nhân VNCH lúc sáng. Anh Khảm nói thêm:

 

– Trong số ghe xổ thanh lọc sáng nay, ngoài chiếc ghe bất hạnh vừa nói cho em nghe còn có chiếc chỉ đậu duy nhất một người thôi. Giờ thì ai cũng sợ hết còn nói cứng chắc ăn nữa.

 

Những ngày kế, gạn lọc từ những nguồn tin từ các nhân viên thiện nguyện, từ phòng làm thẻ ID của P3V thì tôi được biết những người cầm vé tị nạn có lý lịch như sau: Người có chồng hoặc vợ đang định cư tại một nước thứ 3, tu sĩ, quân nhân-viên chức của chính quyền miền Nam VNCH từng bị Việt Cộng bắt học tập cải tạo, đảng viên các đảng phái hoặc hoạt động phục quốc sau ngày 30-4-1975 và đã từng bị bắt bỏ tù một thời gian từ 3 năm trở lên.

 

Trái với dự đoán của nhiều người trong trại là Cao Ủy sẽ công bố tiếp kết quả thanh lọc thuyền nhân trong các tuần lễ kế tiếp. Nhưng không, họ ngưng lại làm những người như anh chị Khảm-Phượng càng thêm lo lắng. Giữa tuần, trong một buổi tối trời nóng, đi một mình đến quán cà phê của bác sĩ Luân thì tình cờ tôi gặp anh Khảm ngồi chung bàn với 3 người đàn ông khác. Tôi xà vào bàn khi anh Khảm giơ tay vẫy, anh nói với họ:

 

– Đây là em tôi… Vũ nó làm ở phòng Dịch thuật. Vào ngồi chơi uống nước cho vui.

 

Rồi anh chỉ tay giới thiệu:

 

– Đây là cụ Hoàng, đây là ông cựu xã trưởng xã An Nhơn Tây-Gò Vấp, đây là tiến sĩ Ngô Long Tôn giáo sư của trường Đại Học Chiến Tranh-Chính Trị Đà Lạt.

 

Cụ Hoàng và hai người đàn ông nhìn tôi trong lúc anh Khảm nói và vì biết phận mình chỉ hàng con cháu trước các bậc trưởng thượng nên sau khi vội gật đầu chào họ, tôi khe khẽ kéo ghế ngồi yên cạnh bên anh, kín đáo quan sát. Ánh bóng đèn vàng treo đung đưa không xa chiếc bàn nơi chúng tôi ngồi tuy mờ nhạt nhưng đủ cho thấy sắc diện cụ Hoàng tuổi đã già trong vóc người nhỏ thó, chỉ nổi bật ở đôi mắt sáng cùng vầng trán rộng. Ngồi đối diện với cụ là ông Tiến sĩ Tôn có khuôn mặt thỏn, tạng người gầy cùng nước da đen đen. Và, ông cựu Xã trưởng thì lại mập mạp, trăng trắng nhưng người thấp như một cậu bé choai choai. Bác sĩ Luân ló mặt ra nhìn, tôi khẽ ra dấu gọi thức uống quen thuộc hàng ngày và một khoảnh khắc yên lặng qua đi, anh Khảm cùng 3 người họ lại quay trở về câu chuyện đang nói dở chừng. Tiến sĩ Tôn bắt đầu:

 

– Galang bây giờ mới xổ thanh lọc chứ theo các tin tức tôi nghe được trên VOA, BBC cùng báo chí người Việt hải ngoại thì bên Mã Lai Á đã xổ kết quả lâu rồi. Hình như họ chỉ khác bên này ở chỗ Cao Ủy công bố kết quả ngay sau buổi thanh lọc liền vì lá thư viết là tính cho tới ngày 16 tháng 7 năm ngoái đã thanh lọc được 26 ghe với tổng số 1600 thuyền nhân. 1600 thuyền nhân đó nhưng chỉ có 291 người được Cao Ủy công nhận là tị nạn chính trị còn tất cả đều di dân kinh tế hết. Các trại bên Phi bên Thái ra sao thì tôi chưa được biết, riêng ở Hồng Kông thì làm căng nhất, thuyền nhân mình sống bên đó rất khổ.

 

– Mấy trại bên các xứ đó cũng đã công bố kết quả thanh lọc lâu rồi. Chỉ có trại Galang mình là chậm trễ thôi. Không hiểu sao? Ông cựu Xã trưởng phụ họa trong cái lắc đầu.

 

– Chính quyền Nam Dương thì luôn luôn đi sau các trại khác trong việc đối phó với thuyền nhân Việt nếu tính từ lúc có làn sóng vượt biên trong cuối thập niên 1970… Có lẽ đây là cung cách thận trọng của họ, một quốc gia Hồi Giáo lớn nhất tại châu Á. Cụ Hoàng giọng chậm rãi, góp lời.

 

Những điều vừa nghe được từ các người này đã làm tôi giật mình. Cao Ủy thanh lọc 1600 hồ sơ thuyền nhân mà chỉ có 291 người đậu, kể ra lần xổ thanh lọc vừa qua ở đây thì cũng còn khá… nếu so sánh… nhưng dẫu sao còn phải xem các đợt tới thì mới biết rõ. Tiến sĩ Tôn lại tiếp:

 

– Bên mình chỉ mới có người ngất xỉu phải đi cấp cứu thôi chứ bên Mã Lai Á còn bi đát hơn nữa kìa, thuyền nhân tuyệt thực và tự sát đã bắt đầu từ tháng 12 năm ngoái.

 

Tiến sĩ Tôn đảo mắt nhìn đám chúng tôi trong bàn rồi với vẻ buồn rầu, ông nói:

 

– Xổ thanh lọc hôm rồi quân nhân-viên chức miền Nam VNCH ở đây bị Cao Ủy đánh rớt thì ta chỉ mới thấy ở cấp binh sĩ, nhân viên chứ bên Mã Lai Á có cả cấp tá, cấp úy, trưởng chi… nữa. Chính vì vậy mới có vụ tự sát… Được biết khởi sự là vì có cái anh thuyền nhân nào đó tên Lâm Văn Hoàng, bản thân có lý lịch cha chết cải tạo, chị ruột vượt biên chung và bị hải tặc cưỡng hiếp chết trước mắt mà vậy anh ta còn bị Cao Ủy dán cho cái nhãn di dân kinh tế nên đã tự kết liễu bằng cách trèo lên mỏm đá cao rồi anh buông người xuống. Cái chết tức tưởi đó đã châm ngòi phản kháng của thuyền nhân trong đảo tị nạn Pulau Bidong.

 

– Tôi thì cũng qua thư từ của thân nhân bên Hồng Kông gửi cho mới biết là giữa tháng 12 năm rồi thì có 7 thuyền nhân ở trại Whitehead đã tự thiêu tập thể để phản đối chuyện thanh lọc. Cái thư kể là vì không kiếm ra xăng để tẩm nên 7 người họ đã dùng quần áo, mùng mền quấn quanh thân mà đốt. Cũng nhờ vậy mà khi lửa vừa cháy thì cảnh sát coi trại đã dập tắt kịp thời nên 7 người họ chỉ bị phỏng nặng nhưng vẫn sống được. Chẳng biết rồi đây Cao Ủy bên đó sẽ giải quyết ra sao với hồ sơ của 7 người này.

 

Ông cựu Xã trưởng thở dài sau đó chậm rãi từng đoạn:

 

– Cũng tin tức nghe được trên radio thì bên Hồng Kông đã cưỡng bức hồi hương một nhóm 51 người về lại Việt Nam rồi… Vụ này xẩy ra cũng từ đầu năm ngoái lận… Bây giờ chính quyền tạm dừng vụ cưỡng bức bởi vì cộng đồng quốc tế lên án quá… Điều may mắn cho thuyền nhân mình là cho tới giờ này, chính phủ Hoa Kỳ vẫn không chấp nhận chuyện cưỡng bức hồi hương.

 

Hồng Kông, một nhượng địa tạm thời cai quản bởi Anh Quốc thì tôi đã nghe nói và biết là có tới mười mấy trại… nhưng có tin nói con số trại tới hơn 20 dành riêng cho thuyền nhân Việt. Cũng có trại dành cho người Tàu từ lục địa trốn sang tìm tự do. Chuyện 7 thuyền nhân tự thiêu vậy thì bên đó Cao Ủy cũng đã xổ thanh lọc rồi và chắc con số người đậu phải rất ít cùng vụ cưỡng bức hồi hương 51 người về tới Việt Nam nên khiến mới có vụ tự sát này. Tôi cảm thấy sợ khi nghĩ các viễn cảnh xấu sẽ xẩy ra tại trại Galang trong mai hậu.

 

– Là nhượng địa tạm thời cho nước Anh từ thời còn triều đình Mãn Thanh nhưng đến năm 1997 thì Hồng Kông sẽ phải trả lại cho bọn Tàu-Trung Cộng… Hình như bọn Tàu-Trung Cộng nó buộc tụi Anh Quốc phải giải quyết hết thuyền nhân Việt mình ở đó nên mới có vụ cưỡng bức hồi hương. Chính bà thủ tướng Thatcher là người quyết định tiến hành chiến dịch cưỡng bức hồi hương đó nhưng khi bà này đi sang Mỹ vận động với cha nội Bush đồng ý thì lão ta lại không chịu.

 

Ông cựu Xã trưởng mỉm cười rồi tiếp:

 

– Nhiều khi mình ghét bọn chính khách Mỹ chỉ biết quyền lợi riêng mà bán rẻ đồng minh nhưng kể ra thì cũng có lúc họ chơi được… như cái vụ chống cưỡng bức hồi hương thuyền nhân.

 

Bác sĩ Luân sau khi mang thêm thức uống cho một bàn khách gần đó, ông đã lấy thêm ghế và ghé lại ngồi nơi đám chúng tôi. Ông thân mật hỏi chuyện cụ Hoàng:

 

– Hôm nào cụ có rảnh thì ghé lại bệnh viện gặp tôi để lấy ít dầu cá và thuốc B-Complex nha. Cụ lớn tuổi thì cần phải bồi bổ xương cốt mình và cẩn thận khi đi đứng chứ không rủi bị té thì dễ gẫy xương lắm.

 

Rồi bác sĩ Luân cười cười và đột nhiên hỏi thêm:

 

– Mà này! Cụ đoán tình hình thuyền nhân mình ở trại Galang trong năm mới nầy ra sao? Cá nhân tôi thì muốn biết thôi chứ bản thân mình thì xong xuôi rồi, còn thanh lọc thanh liếc gì nữa.

 

Như đã kể ở các phần trước, bác sĩ Luân là một trong số những người tị nạn đến trước ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa trại và vì cần phải uống thuốc trị dứt bệnh lao nên phải kẹt lại nhưng cũng có tin nói là vì Cao Ủy cần ông giúp việc ở 2 nhà thương tại Galang nên vụ đi định cư bị chậm trễ. Được cái là bác sĩ Luân cho là có sống ở đâu cũng phải làm cái việc ông đã được thụ học và ở nán lại trại thì giúp trực tiếp cho người Việt nên lúc nào ông đều vui vẻ, hòa nhã không coi chuyện đi nước thứ ba chậm trễ là một thiệt thòi. Còn cụ Hoàng, trong trại thì nổi tiếng là người biết xem tử vi cùng đoán vận mạng. Nghe câu hỏi, cụ liền trả lời:

 

– Tôi rất cám ơn ông Luân vì đã cho dầu cá còn thêm thuốc bổ xương nữa… Thực sự nếu ông không nói ra thì chắc tôi cũng chẳng biết mà đề phòng xương cốt mình. Còn chuyện ông hỏi thì…

 

Nói đến đó cụ Hoàng ngập ngừng trong chốc lát và nhìn cả đám người chúng tôi như có vẻ cụ không muốn nói hoặc muốn nói ra điều định nói nhưng lại e ngại cái gì đó. Rồi, như nể mặt bác sĩ Luân nên cụ sửa thế ngồi cho ngay ngắn, hắng giọng lấy hơi và chậm rãi:

 

– Nghe mấy ông nói tình hình thuyền nhân ở các trại khác thì thấy ở đây mình còn may mắn hơn họ rất nhiều tuy cũng phải bị Cao Ủy thanh lọc. Đêm giao thừa hôm đó, tôi lắng nghe xem con vật gì kêu trước tiên trong cái khoảnh khắc năm cũ bước sang năm mới thì rồi rõ ràng là tiếng gà. Tiếng gà gáy lảnh lót không xa nhà tôi lắm nên đã làm tôi ngạc nhiên. Ở trại thì mấy ông biết lấy đâu ra gà mà nuôi, thế mới lạ… Tôi thắc mắc nên khi đến sáng thức dậy nhân đi sang hàng xóm chúc Tết để tiện dò hỏi luôn thì mới biết con gà gáy hồi khuya là một con gà rừng mà một gia đình mới bắt được từ mấy ngày trước. Con gà vướng bẫy bị chủ gia cột chân nơi cây trụ đỡ căn gác góc nhà và gia đình đó cũng chưa biết sẽ làm gì. Để nuôi chơi cho vui hay sẽ cho nó vào nồi? Nhìn nó trông giông giống loại gà tre mà dân miệt vườn bên quê nhà thường nuôi để làm gà đá độ… chỉ khác ở bộ lông dài và màu sặc sỡ hơn. Chúc Tết xong, về nhà rồi tôi vẫn lo lo trong trí vì gà kêu trong đêm giao thừa thì thường lao đao, lận đận lắm.

 

Chúng tôi im lặng khẽ nhìn nhau sau câu nói của cụ Hoàng, anh Khảm đầu gục gặc, rít từng hơi thuốc còn Tiến sĩ Tôn thì cầm ly cà phê và gõ nhè nhẹ nó thành tiếng lốc cốc trên mặt bàn. Cá nhân tôi thì thấy lạ khi nghe được chuyện kể, chợt ông cựu Xã trưởng xen vào:

 

– Dù cụ không nói vụ gà kêu này thì cứ lấy lý mà suy sớm hay muộn gì trại Galang cũng sẽ phải chịu cảnh đã xẩy ra ở bên Hồng Kông, Mã Lai Á. Rồi đến lúc đó thì biết đâu trong trại mình sẽ có người phải chết… Chết vì uất ức? Còn nếu có chuyện tuyệt thực hay bị cưỡng bức hồi hương thì biết đâu người chết lại do bàn tay cảnh sát địa phương gây ra…

 

Ngừng một chút nhìn khắp lượt chúng tôi, ông tiếp:

 

– Đến cái giai đoạn đó thì các trại tị nạn phải có bao nhiêu người bỏ mạng mới được Cao Ủy giải quyết chuyện định cư ở nước thứ 3. Mấy ông có nhớ là ở buổi đầu của làn sóng vượt biên, nhiều chiếc ghe đã bị hải quân Mã Lai Á, Thái Lan… kéo ra biển hoặc bị xả súng máy bắn chìm ghe làm chết thảm cả thuyền thì thế giới mới động lòng.

 

– Chuyện ông nói ra nghe thê lương thật. Cũng mong là nó đừng xẩy đến… tội nghiệp cho gia đình nào có người tự sát. Cụ Hoàng nói và gục gặc cái đầu rồi chậm rãi từng tiếng: ” Tôi nói thêm điều này để mấy ông bớt lo… Tin hay không thì tùy… Qua ngày hôm sau thì tôi nghe tin con gà đó sổng dây cột và bay biến vào rừng… Lại mừng vì nhớ lúc vừa nghe tiếng gà gáy tôi ra ngoài nhìn lên trời đêm thấy mây u ám lắm rồi sau có việc phải ra sân lần nữa thì lạ thay, bầu trời lúc đó lại trong trẻo không một gợn mây. Trời đêm giao thừa u ám rồi sau lại quang sáng cùng con gà thoát thân được là điềm tốt, tôi nghĩ chuyện thuyền nhân mình sẽ tiền hung, hậu cát… mấy ông à “.

 

Lời cụ Hoàng đoán ít ra cũng gây cho đám chúng tôi một chút hy vọng dù ai nấy chưa biết số phận mình ra sao trong cuộc thanh lọc của Cao Ủy ngoại trừ một mình bác sĩ Luân. Tuy vậy mọi người vẫn ngồi yên không nói như đang theo đuổi suy nghĩ riêng của bản thân mình, thấy thế, bác sĩ Luân vồn vã:

 

– Thôi bỏ mấy chuyện tuyệt thực, cưỡng bức hồi hương hay tự sát gì gì đó đi… Nghe đồn cụ biết rành các khoa siêu hình, lý số thì có chuyện gì hay hay, là lạ xin kể ra đây để tụi tôi nghe cho biết với.

 

– Lý số tôi biết cũng làng nhàng thôi, xin đừng để ý đến lời người ta đồn thổi, còn chuyện gì ông bác sĩ muốn nghe thì nếu tôi biết sẽ sẵn sàng kể liền… cụ Hoàng ngập ngừng hỏi.

 

– Tôi cũng chẳng biết hỏi cụ việc gì trong các chuyện huyền bí…

 

Bác sĩ Luân im lặng trong chốc lát như đang suy nghĩ điều muốn hỏi rồi lại mỉm cười và tiếp:

 

– Tôi nghe kể thời còn chế độ cũ thì mấy ông lớn cũng tin chuyện siêu hình, bói toán và tử vi lắm phải không? Cụ từng sống ở Sài Gòn lâu năm thì có lần nào tiếp xúc với mấy ông lớn về các vụ đó không… Tỉ như Tổng thống Thiệu hay tổng trưởng, ông tướng… nào đó đã từng mời các ông thầy Huỳnh Liên, thầy Minh Nguyệt hay thầy Khánh Sơn vào xem số, bấm độn.

 

– Ông Thiệu thì làm sao mà tôi có diễm phúc được gặp.

 

Cụ Hoàng mỉm cười rồi từ tốn tiếp:

 

– Lý do tôi không có cái tài bói toán, đoán mệnh, tiên tri hay xem được phong thủy như mấy ông thầy nổi tiếng ở Sài Gòn. Tôi chỉ biết coi chút chút tử vi và thỉnh thoảng chỉ xem cho người thân, bè bạn thôi. Xem để chiêm nghiệm thực học của mình chứ không nhằm lợi lộc đổi chác gì. Nếu tôi thời đó mà treo bảng hành nghề thì chắc cũng có khách lai rai đấy… Còn với các ông thầy đó, giữa cá nhân chúng tôi với nhau đâu có lạ gì. Ở Sài Gòn thời…

 

Cụ Hoàng bỏ dở chừng câu vì phải lấy tay lùa xuống dưới bàn để đập muỗi cắn ở chân, bác sĩ Luân thấy vậy vội đứng lên, nói:

 

– Khoan, hôm nay trời không gió nên ngoài sân nhiều muỗi quá… cụ hãy đợi tôi vào lấy khoanh nhang trừ muỗi ra đốt xua chúng đi bớt nha.

 

Làm người, hình như ai cũng muốn biết chuyện tương lai của cuộc đời mình cũng như nghe kể về các chuyện kỳ bí-siêu hình, tôi cũng vậy dù nãy giờ hai chân cứ phải luân chuyển xoa vào nhau vì tránh muỗi nhưng vẫn cố chịu đựng chúng để hóng chuyện. Hầu như mỗi tối ngồi quán nước thì người khách nào cũng bị muối đốt cho vài phát đau điếng nhưng được cái không ai bị bệnh sốt rét do đã được nhà thương chích thuốc ngừa khi mới vừa nhập trại. Bác sĩ Luân mang thêm cho chúng tôi một bình nước trà nóng cùng khoanh nhang muỗi cháy đỏ lập lòe và đặt nó ở dưới gầm bàn, anh Khảm nói nhỏ với tôi:

 

– Có nhang này thì mình ngồi lâu cũng chẳng lo.

 

Chốc lát, một mùi hăng hắc của thuốc trừ muỗi thoang thoang chung với hơi khói lan tỏa trong không khí, cái mùi làm cho đám chúng tôi không còn sợ cảnh phải đụng đậy tay chân nữa. Cụ Hoàng chờ cho bác sĩ Luân ngồi hẳn xuống bàn rồi và sau đó hớp một ngụm nước trà nóng, mới tiếp:

 

– Mấy ông như thầy Huỳnh Liên, thầy Minh Nguyệt hay thầy Khánh Sơn… ở Sài Gòn thời đó nổi tiếng thật nhưng thân chủ của họ đa số thuộc tầng lớp thường thường hoặc bậc trung thôi. Nổi tiếng để thân chủ chỉ thuộc tầng lớp lãnh tụ, nguyên thủ quốc gia thì tôi thấy có các thầy Vũ Tài Lục, thầy Nguyễn Phát Lộc, thầy Nguyễn Mạnh Bảo… thôi. Nhưng mấy thầy đó chỉ nổi danh lúc sau này thôi chứ đáng kể nhất phải là các thầy Ngô Hùng Diễn, thầy Ba La hay thầy Gia Cát Hồng từ trước đó. Tính đến năm nay thì mấy thầy mà tôi vừa nói chắc đã quy tiên hết cả rồi vì lúc tôi còn trẻ thì họ đã cao tuổi. Thầy Gia Cát Hồng thì tôi biết nguyên là một công chức từ thời Tây thực dân khi di cư vào Nam năm 54 rồi thì thầy bỏ nghề bàn giấy chuyển sang xem vận mạng tại một căn nhà ở đường Trần Quốc Toản gần Việt Nam Quốc Tự. Thầy Gia Cát Hồng này có lúc xưng mình là nhà tiên tri, chuyên xem tử vi cùng chữ ký và nói trúng được diện mạo, tạng người, mầu da… dù không thấy mặt của người có lá số tử vi. Không hiểu sao thầy lại lấy tên là Gia Cát Hồng chứ thật ra tên thật của thầy là Bảo mang họ Phạm.

 

Gia Cát Hồng! Chắc ông thầy này tự cho mình có tài đoán việc như thần giống truyền thuyết về nhân vật Khổng Minh-Gia Cát Lượng trong truyện Tam Quốc Chí của Tàu, tôi nghĩ thầm trong đầu thì cụ Hoàng nói tiếp:

 

– Thầy Canh họ Nguyễn người gốc Nam Định cũng dân di cư năm 54, vốn mù lòa từ nhỏ may gặp được cao nhân truyền nghề và sau đó thầy đã hành nghề ở Hà Nội chuyên về bói dịch cùng tử vi. Tuy mù lòa nhưng tướng tá thầy bệ vệ, trí nhớ phi thường và chuyên xem tử vi cho thân chủ bằng cách bấm trên năm đầu ngón tay. Thân chủ vừa nói dứt ngày sinh-tháng đẻ là thầy nói vanh vách về lá số người đó như Hồng Loan, Đào Hoa ở cung Thê thì ra sao… hoặc cung Mệnh không có chính tinh tọa thủ mà đắc tam Không thì cuộc đời sẽ thể nào. Xem cho ai một lần rồi thì lần sau nếu gặp lại lần nữa, nói tên ra thì thầy sẽ đoán tiếp diễn tiến của đại-tiểu hạn trong lá số thân chủ. Thầy Canh này đoán việc cho thân chủ trúng phoóc như một nhà tiên tri.

 

Cụ Hoàng kể đến đây thì ngừng lại, ngồi thừ lừ mà mắt không nhìn đám chúng tôi, làm như cụ đang thả hồn về quãng ngày xa xưa của thủ đô Sài Gòn hoa lệ. Anh Khảm chợt hỏi:

 

– Thầy Canh đó bị mù lòa thì làm sao mà cao nhân truyền nghề cho dễ dàng được! Chắc ông ta phải học thuộc lòng từng câu một… phải không cụ?.

 

– Đúng vậy! Một trong các cách truyền nghề là thầy dạy bắt học trò phải học thuộc lòng từng câu phú cổ truyền của Trần Đoàn, của Ma Y hoặc của Lã Ngọc Thiềm bên Tàu như thí dụ câu chữ Nho: Thiên Mã nhập Mệnh, mẫn tiệp đa năng-Thiên Cơ tại viên, xảo tài xuất chúng hay câu chữ Việt như: Sao Thai mà ngộ Đào Hoa-Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng… Thuộc làu làu rồi thì cứ theo đó mà thầy đoán số cho thân chủ, cụ Hoàng trả lời.

 

– Trời ơi! Như vậy thì biết bao nhiêu câu phải học cho thuộc. Thêm vào đó lại còn phải biết hành của từng sao nữa… nó thuộc Kim, Mộc hay Thủy, Hỏa, Thổ… Kể ra thì khó lắm chứ… Làm sao mà nhớ cho xuể. Ông cựu Xã trưởng nói.

 

– Phải! Nhưng người ta cũng có cách để nhớ đó là đặt thành thơ và cũng phải học thuộc lòng. Cụ Hoàng gật đầu xác nhận rồi tiếp:

 

– Thí dụ để biết các sao có hành Kim thì có câu như: Kim thì Khoa, Vũ, Xương, Linh-Đà La, Kiếp Sát cùng Kình Dương nay-Sao Triệt Lộ, Hổ, Suy, Phá Toái-Hỏa Tú cùng Hoa Cái, Lâm Quan… Tức là những sao đó trong lá số đều có hành Kim. Ôi! Nhiều câu để học cho dễ nhớ lắm các ông nhưng kể ra cho hết thì phải cả một quyển sách dầy.

 

– Cụ nói thật đúng! Tôi thấy các sách dạy khoa tử vi quyển nào quyển nấy dầy cộm và cá nhân tôi cũng đã thử tập cách xem tử vi nhưng sau phải bỏ. Hồi trước tôi chỉ biết cách lập một lá số thôi còn lý đoán thì cũng chỉ võ vẽ gọi là… nhưng lâu rồi cũng đã quên hết. Mà khi đó muốn lập một lá số cũng phải mở sách ra mà xem cách an sao chứ đâu có dễ dàng gì. Ông cựu Xã trưởng trả lời.

 

– Lập một lá số thì thực không khó… Khó là làm sao giải đoán nó cho chính xác thôi. Còn ông nói lập một lá số phải giở sách ra xem các sao an ở cung nào thì cũng một cách dạy học trò phải thuộc lòng để dễ nhớ… Thí dụ như: Khốc, Hư lấy Ngọ làm vì-Khốc nghịch năm đẻ, Hư thì thuận niên hay Xương cung Tuất, Khúc cung Thìn-Xương nghịch, Khúc thuận giờ sinh an bài. Cụ Hoàng gật gù đầu xác nhận.

 

– Sao lại có thể giải đoán một lá số đúng boong với cuộc đời người vậy hả cụ? Ông cựu Xã trưởng hỏi thêm.

 

– Muốn giải đoán đúng một lá số, thường thì ta phải thuộc kỹ tính tinh, âm dương và sự tương quan giữa các sao. Sau đó xét kỹ từng cung trong thiên bàn để tìm rõ sự tương tác tam hợp, nhị hợp… thì đoán ít sai. Nếu có thân chủ ngồi trước mặt rồi phối hợp cả khoa xem tướng nữa thì việc lý đoán càng chắc chắn. Thêm nữa, phải tìm hiểu Sinh, Vượng, Bại, Tuyệt địa trong lá số cũng cần thiết vì nhiều lá số tốt mà gặp Bại hay Tuyệt địa thì cuộc đời người đó sẽ chìm nổi vô thường… Ư hừ… Ư hừ… Xin lỗi…

 

Cụ Hoàng ngưng nói để bật vài tiếng ho sau đó lại tiếp:

 

– Nói thì thấy khó nhưng với những người thành thạo khoa tử vi thì lá số hiển hiện trong trí họ, họ giải đoán một lá số chỉ chớp mắt là xong.

 

Gió lạnh đã bắt đầu lùa nhè nhẹ vào chiếc bàn nơi chúng tôi đang ngồi, trời đã dần về khuya và khách trong quán từ từ bỏ ra về nhưng chúng tôi vẫn cứ ngồi lì để nghe cụ Hoàng kể chuyện vì mấy khi có dịp.

 

– Cụ nói vậy nhưng tôi thấy mấy ông thầy tử vi nổi tiếng phải có tài trời cho chứ tay ngang thì dễ gì. Ông Tiến sĩ Tôn xen vào.

 

– Đúng! Trời cho hay trời bắt phạt phải như vậy là cách nói của mình khi thấy sao người này giàu có, thông minh hoặc người kia lại nghèo khổ, tàn tật, dốt nát… Người là văn quan, võ chức hay kẻ buôn bán… Đều có số cả đấy và nó hiển hiện trong tử vi. Mấy ông thầy xem tử vi giỏi vì trời đã ban cho họ cái thiên bẩm đó. Cụ Hoàng ngưng lại đột ngột để hớp thêm ngụm nước trà rồi sau đó khẽ ngân nga: “Nhật, Nguyệt, Phá, Liêm hợp bầy-Tham, Sát, Quyền, Tả ắt thầy tướng hay ” và cụ gật gù cái đầu như tâm đắc điều mình vừa nói ra. Đám chúng tôi kín đáo nhìn nhau mà không ai nói một lời, ngầm thán phục cụ Hoàng. Riêng cá nhân tôi nghĩ ông cụ này sở học rất rộng, nếu ai được sống gần bên ắt sẽ học hỏi được nhiều điều lạ ít nhất là trong lãnh vực siêu hình-huyền bí như chuyện bói toán, xem tử vi hoặc tướng số.

 

Khoa tử vi cũng như khoa xem tướng số là cách để người ta tìm hiểu về họa-phúc, hư-thực của cuộc đời một con người. Nó là một bài toán khó, nhất là đối với ai có ý quan tâm đến. Trước giờ thiên hạ thường nghĩ chỉ có tín đồ thuộc tôn giáo thờ Phật hay đạo thờ Ông-Bà thì họ mới tin vào khoa tử vi, bói toán hay xem tướng số. Thực sự tôi đã thấy có những người bên đạo Thiên Chúa cũng tin vào tử vi mà ngay cả cán bộ Việt Cộng nữa. Khi vừa chiếm được thủ đô Sài Gòn chưa được bao lâu thì nhà cầm quyền Cộng Sản đã phát động một phong trào thu gom sách báo chế độ cũ mà họ gọi là văn hóa phẩm phản động-đồi trụy-mê tín. Sách báo thu gom được ở từng khu phố đem về tập trung một chỗ rồi bị họ đổ dầu đốt thiêu hủy thật nhưng các sách dạy xem tử vi, bói toán lại được đám cán bộ văn hóa cất dấu làm của riêng.

 

Gần cuối thập niên 1980 khi có dịp đi ra miền Bắc làm một chuyến vượt biên sang Hồng Kông nhưng không thành phải quay về thì tôi mới biết sách báo thời miền Nam VNCH đã là các vật quý được người dân ngoài đó chuyền tay nhau đọc nhất là các sách về tử vi, bói toán. Thời gian tạm trú ở Hải Phòng, có lúc rảnh tôi đi loanh quanh trên phố rồi ghé vào một tiệm bán sách gần nhà ga xe lửa để kiếm sách báo đọc cho hết thời giờ thì tình cờ gặp một chuyện. Đó là khi biết tôi thuộc dân chế độ miền Nam trước đây, ông chủ tiệm đã mời vào phía sau nhà và cho xem nguyên cả một tủ lớn xếp đầy những sách báo của thời miền Nam VNCH. Thấy vẻ ngạc nhiên của tôi, ông chủ tiệm hãnh diện, bảo:

 

– Tôi đã mất bao nhiêu công sức, thời gian và tiền bạc mới lưu giữ được những quyển sách này. Đọc đi đọc lại mãi từng quyển mà không chán… Đâu dễ gì mà giữ được ngần này sách quốc cấm nếu không phải là người quảng giao… Tuy vậy, tôi vẫn tiếc là không sở hữu được những quyển sách về tử vi, bói toán.

 

Cũng ở thành phố miền biển đó, khi dừng chân ở một quán cà phê ven đường trong khu phố Tam Bạc, tôi đã ngạc nhiên khi nghe lỏm được những câu Liêm Trinh, Thiên Tướng… thốt ra từ miệng hai người khách trong bộ quần áo cán bộ-nón cối của một bàn gần bên. Tôi chưa kịp kể những chuyện cũ này ra cho mọi người nghe thì cụ Hoàng mắt nhìn ông cựu Xã trưởng, nói tiếp:

 

– Ông biết là có những người bỏ tâm bỏ sức học cách xem tử vi nhưng hoài công mà có người thì chỉ trong một thời gian ngắn họ đã có thể tiên đoán rất đúng một lá số hay một đoạn đời của người nào đó. Trong lá số tử vi của những người này có những ngôi sao chỉ rõ số họ làm thầy tướng, làm đạo sĩ.

 

– Mấy người có số làm thầy tướng thấy bói chắc cũng sẽ gặp được cao nhân truyền nghề như ông thầy tên Canh gốc Nam Định mà cụ vừa kể. Anh Khảm hỏi.

 

– Gặp được cao nhân là một việc may mà còn được cao nhân truyền dạy thì càng may mắn bội phần. Không thầy đố mày làm nên… Giống như người có số làm thầy chùa, làm ông tướng hay một nhà lãnh đạo quốc gia thì rồi trời sẽ khiến sự việc đến dần theo dòng thời gian tiệm tiến hay bộc phát gấp rút. Người có số làm thầy tử vi, tướng số nếu gặp cao nhân truyền dạy và nếu bản thân người đó có căn cơ thì việc thụ học sẽ dễ dàng hơn. Không có căn cơ thì dù có gặp cao nhân rồi cũng chẳng lãnh hội được nhiều. Mấy ông từng nghe truyện Tàu chắc biết chuyện thầy Quỷ Cốc Tiên Sinh có 2 học trò là Bàng Quyên và Tôn Tẩn chứ. Cả hai người này đều được thầy Quỷ Cốc truyền nghề nhưng việc hấp thụ lại khác nhau khiến có người giỏi người dở.

 

Cụ Hoàng mỉm cười nhìn khắp lượt chúng tôi rồi tiếp:

 

– Dạo sau này bên quê nhà thì đám cán bộ Cộng Sản cũng công khai nghiên cứu tử vi, bói toán là những cái mà trước kia chúng từng kết án nhảm nhí, dị đoan-mê tín. Thậm chí có gã còn lấy làm hãnh diện khi được người khác nể vì về kiến thức tử vi, bói toán của bản thân mình. Tại sao lại có chuyện đó?

 

Cụ Hoàng hỏi đám chúng tôi rồi nhanh chóng trả lời:

 

– Thời thế thay đổi hay thực sự vì cán bộ Việt Cộng có nhiều tay xuất thân từ gia đình gốc bần-cố-nông, vô học… chẳng có gia phả gì sất mà nhờ vào những biến động của lịch sử của xã hội để bỗng chốc y ta phất lên như diều gặp gió lớn. Có tên còn nắm địa vị quyền cao-chức trọng cỡ lãnh tụ hay nguyên thủ quốc gia nữa. Những phút rảnh rỗi, chắc hẳn, gã cán bộ nào đó trong số này đã phải ưu tư, thắc mắc về cuộc đời của bản thân mình. Tự vấn bản thân cũng thuộc thành phần dốt nát và gian ác cũng chẳng khiếp đảm hơn đám đồng chí mình mà tại sao lại được cái số đỏ vậy. Đi tìm lời giải thích cho sự thành công đó, thì chỉ thấy câu giải đáp nằm trong lá số tử vi sách xem tướng mạo hoặc khoa bói toán.

 

– Có phải đó là thời thế tạo anh hùng hả cụ? Hồi còn trong tù cải tạo, con nghe đám cán bộ coi trại vẫn kháo chuyện như vậy. Anh Khảm tiếp.

 

– Anh hùng! Cũng có thể đúng nếu ta bảo về một người có tài năng nổi bật và làm được những việc phi thường nhưng hai chữ anh hùng cũng để chỉ cho những người có công lao đặc biệt với quê hương và dân tộc. Trong thực tế, có làm được những việc như vậy hay không thì lại khác dù người đó muốn nói mình là gì gì đi nữa. Đám đầu lãnh Cộng Sản trong nước tuy ngoài miệng thì nói vô thần nhưng bản chất lại tin mình có số trời cho làm lớn hay chân mạng đế vương. Quyền cao, chức trọng nắm trong tay vậy mà khi gặp hoạn nạn trong công việc hoặc đau ốm, ể mình… thì các anh có tưởng tượng được không: thân nhân ruột thịt của họ phải mang lễ vật đến các đền đài miếu mạo để xin lễ hoặc bí mật mời thầy cúng về tận nhà thiết đàn cầu an đó.

 

– Hồi còn tập cách xem tử vi, tôi vẫn thắc mắc không hiểu do đâu mà cứ sao này gặp sao kia trong lá số thì cuộc đời sẽ phải bị hay được như vậy. Ai bày ra cách đoán như thế… Ví dụ như câu mà cụ vừa đọc: Sao Thai mà Ngộ Đào Hoa-Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng. Không lẽ một mình ông Trần Đoàn? Ông cựu Xã trưởng hỏi.

 

– Sao trong khoa tử vi thì trên dưới một trăm sao thôi nhưng khi an lá số thì coi như đã sắp xếp chúng thành bộ, thành cách… có ảnh hưởng thế nào cho cuộc đời người có lá số ấy. Tử vi chia ra phương hướng, màu sắc, hành của các sao để người xem số tìm ra sự tương hợp hay xung khắc tùy theo người có lá số đó sinh vào thời gian nào, phương hướng nào… mà đoán ảnh hưởng của các sao tức giải đáp được lá số. Ông Trần Đoàn là người lập ra khoa tử vi… người ta vẫn nói vậy nhưng qua bao nhiêu năm trời thì các thầy như Lã Ngọc Thiềm, Ma Y Lão Tổ… đã góp thêm bằng các câu phú sau khi họ chiêm nghiệm những lá số. Cụ Hoàng trả lời.

 

– Nhưng các câu phú áp dụng có đúng với người có lá số như vậy không hả cụ? Bác sĩ Luân đột ngột hỏi.

 

Và cụ Hoàng khi nghe xong liền gật gù đầu rồi ngân giọng chậm rãi như đọc thơ:

 

– Thiên, Nguyệt Đức, Đào, Hồng cung Phối-Gái chồng sang, trai hội giai nhân… Cự, Đồng cùng hội cung Phu-Một sầu góa bụa, hai sầu lỡ duyên… Mấy người khó hiển công danh-Chỉ vì Nhật, Nguyệt đồng tranh Sửu, Mùi… Kình tứ mộ, Mã triều lai-Biên cương trấn ải ra tài chiến công… thì những người tôi xem thấy có cách này đều đúng cả. Thực sự, những câu mà tôi vừa đọc do các cao nhân nước mình diễn giải từ các câu phú bên Tàu mà ra. Đã từng đoán số cho thân chủ hiện diện trước mắt, đôi khi tôi phải cười thầm ở chỗ có những người khi đến xem mà dù cố tình lấy tay che dấu hoặc đeo kiếng đen… nhưng trong lá số, thấy rõ họ người mắt nhỏ mắt to, người tay dài tay ngắn, người lưng gù hoặc nách đầy mồ hôi… đó ông bác sĩ.

 

Câu trả lời của cụ Hoàng làm cho cả bọn chúng tôi phì cười nhưng bác sĩ Luân lại tiếp ngay:

 

– Có người mới thoáng nhìn thì mình cũng đoán được cuộc đời họ là người sung sướng, không phải khổ sở.

 

– Bác sĩ nói đúng nhưng có những người đang giàu có đánh đùng một cái thì lại khánh tận, tiêu tán tài sản không còn một đồng đến phải tự vẫn, kết liễu cuộc đời. Chính cái khoa tử vi giúp người ta xem thấu đáo hơn và thường như tôi đã nói, mấy ông thầy xem tử vi thì ông nào ông nấy cũng biết rành khoa xem tướng nữa. Họ xem một lá số xong đối chiếu nó với khoa nhân tướng học để có cái phán đoán chính xác về cuộc đời thân chủ đang ngồi trước mặt. Chân dung, bộ dạng, giọng nói cùng thần sắc của thân chủ đã giúp họ một phần không nhỏ khi giải đoán lá số tử vi.

 

Cụ Hoàng đáp lời rồi quay qua nhìn hết cả đám người trước mặt như một xác nhận và tiếp:

 

– Đặc biệt, có thầy còn thêm tài tiên tri về một sự việc nào đó sẽ xảy ra và khi sự việc đó xẩy ra thì mọi người nhớ lại mới giật mình rồi trầm trồ khen sao mà đoán hay vậy. Có thể do được cao nhân truyền thụ hoặc do trời ban cho một linh khiếu siêu hình nên ông thầy đó mới có thể nói ra các điều tiên tri chính xác như thế.

 

– Cụ nói tài tiên tri! Ông thầy nào vậy? Trạng Trình? Bác sĩ Luân hỏi lại.

 

– Không! Trạng Trình-Nguyễn Bỉnh Khiêm là xa xưa kia, chuyện tôi nói gần đây thôi… Đó là ông thầy Ngô Hùng Diễn.

 

Cụ Hoàng trả lời nhưng đảo mắt nhìn khắp lượt chúng tôi rồi tiếp:

 

– Ngô Hùng Diễn… Không biết đây có phải là tên tuổi thật của ông thầy này? Tôi chỉ biết ông ta cũng dân di cư 54 và đã nghỉ hưu từ khi còn ở ngoài Bắc. Nhà ông ta ở trên đường Hiền Vương gần nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi và chỉ tiếp khách khi có hẹn trước bất kể khách là ai.

 

– Có vậy nữa sao! Tôi đoán chắc ông thầy này coi tử vi cự phách lắm… Hà hà! Tiến sĩ Tôn cười nhẹ sau câu hỏi.

 

– Không! Thầy Ngô Hùng Diễn này không nổi tiếng vì khoa tử vi, bói toán hay bấm độn mà nổi tiếng là vì có thể xuất thần nói ra những điều tiên tri huyền bí về quá khứ hay vị lai có liên quan đến thân chủ trong lúc đối mặt. Những giai thoại về tài tiên tri của thầy Ngô Hùng Diễn thì nhiều nhưng đáng nể nhất là thầy đã từng nói tại dinh Độc Lập với Tổng thống Thiệu cùng một số tướng, tá thân cận câu: ” Một ngày không xa thì bọn Cộng Sản sẽ vào ngồi ngay tại những cái bàn ở dinh này và… làm chủ nữa, thưa quý tiên sinh “. Nổi tiếng vậy nhưng thầy Ngô Hùng Diễn lại sống rất đạm bạc và đặc biệt tối kỵ nhận tiền bạc hay lợi lộc của thân chủ, bảo là nếu nhận thì thầy sẽ mất hết khả năng tiên tri trời cho.

 

– Không hiểu khi Sài Gòn đứt phim thì bọn Cộng Sản đối xử với mấy ông thầy tử vi, tướng số này ra sao? Ông cựu Xã trưởng đột ngột hỏi.

 

– Thầy Ngô Hùng Diễn, thầy Ba La hay thầy Gia Cát Hồng thì thời điểm ngày 30 tháng 4 đã già yếu hoặc chết cả rồi. Họ là lớp thầy cũ, cao tuổi… Còn các thầy Huỳnh Liên hay thầy tâm số Lê Bá Hòa, thầy Tú Xe bói bài Taro Ai Cập, thầy Maitre Khánh Sơn… thì tôi thực không biết rõ. Chỉ biết thầy tử vi Nguyễn Phát Lộc phải bị tù cải tạo và thê thảm nhất trong số họ có lẽ là thầy Đinh Sơn tướng số vì bị công an bức tử chết ngay tại nhà riêng. Cụ Hoàng kể.

 

– Cụ nói chính xác, vụ giết chết thầy Đinh Sơn tướng số xẩy ra ở gần nhà con nè.

 

Anh Khảm xác nhận với cụ Hoàng rồi tiếp:

 

– Hình như khi đó là cuối năm 1978 lúc con còn đang ở trại tù cải tạo nên không mục kích sự việc xẩy ra mà chỉ nghe kể lại khi được tha tù về nhà. Nhà ông thầy Đinh Sơn tướng số nằm ngay mặt đường Lê Văn Duyệt đối diện xeo xéo với trại lính nhẩy dù Hoàng Hoa Thám gần Ngã Tư Bẩy Hiền, ai sống trong khu vực này cũng đều biết chuyện công an làm chết ông ta. Con không biết rõ câu chuyện khởi đầu do đâu nhưng chỉ biết công an kéo đến bao vây chung quanh nhà ông cả mấy ngày trời liền. Đến một đêm khuya thì sau tiếng nổ lớn, họ lôi xác ông ra ngoài, nói ông cố thủ trong nhà và tự sát bằng một quả lựu đạn.

 

Anh Khảm vừa kể đến đây thì có tiếng còi hụ khá lớn vang vang từ xa làm tất cả đám chúng tôi giật mình vì biết giờ giới nghiêm sắp đến gần. Chúng tôi đã mải chuyện trò đến quên cả giờ giấc. Tôi, anh Khảm không sao vì chỉ nhanh chân rảo bước thì sẽ về đến barrack ngay thôi. Bác sĩ Luân đang ở quán của nhà nên chỉ có lo là lo cho cụ Hoàng, ông Tiến Sĩ Tôn và ông cựu Xã trưởng. Nhà của ba người họ tuốt trong Galang 2 nên sẽ về không kịp. Chúng tôi đứng lên, bối rối nhìn bàn ghế bên phía trong phòng và ngoài sân quán nằm yên lặng trống trơn không một bóng khách. Rất may, bác sĩ Luân bảo:

 

– Cụ và hai ông cứ ở lại đây, không thể về nhà kịp nữa rồi. Cứ yên tâm nghỉ ngơi, mai sáng tính sau… Trong nhà tôi còn giữ được cái mùng lớn đủ cho 5 người nằm.

 

Nghe bác sĩ Luân nói vậy, tôi và anh Khảm thấy yên lòng cho ba người họ nên vội vàng chia tay để về lại barrack chóng vánh trước khi quá muộn. Đến khúc đường phân chia zone 3 và zone 4, anh Khảm nói vội:

 

– Phải chi đừng có giới nghiêm thì anh em mình còn ngồi lại nghe thêm các chuyện của cụ Hoàng kể.

 

Tháng sau cũng vào ngày thứ Hai đầu tuần thì Cao Ủy xổ thanh lọc đợt thứ hai. Thuyền nhân trong trại Galang lại thêm một cơn hốt hoảng khi thấy trong số những người bị đánh rớt có cả một sĩ quan miền Nam VNCH cấp đại úy từng bị tù cải tạo tới 7 năm trời. Lần xổ này có 88 người đậu trong tổng số 275 hồ sơ, như vậy tỉ lệ là 32% tăng chút ít so với lần trước nhưng cựu công chức chính quyền, nhân viên sở Mỹ… vẫn khá nhiều trong số người bị rớt thanh lọc. Anh Khảm thấy ông đại úy đi tù cải tạo tới 7 năm mà còn bị Cao Ủy đánh rớt nên cũng cảm thấy lo, đã vội tìm gặp mặt để hỏi thăm cho bằng được. Khi gặp tôi ở quán cà phê, anh kể:

 

– Ông ta tên là Tuyến, đại úy pháo binh từng đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ và bị Cộng Sản bỏ tù 7 năm thật em à. Khai với luật sư Cao Ủy là sau khi ra tù thì ông được nhận vào làm trong tổ hợp mì sợi nên mới bị loại.

 

Tôi và anh Khảm bàn nhau có thể chính vì lời khai này mà Cao Ủy cho rằng ông ta đã được chính quyền Cộng Sản đối xử tử tế và như vậy không còn bị đàn áp, ngược đãi nữa. Có thể như vậy nhưng rõ ràng những thuyền nhân chưa thanh lọc như tôi bây giờ cần phải được sự giúp đỡ của bất cứ ai có kiến thức hiểu biết rộng về luật tị nạn để hướng dẫn, giải thích thế nào mới là người tị nạn chính trị hay thế nào sẽ là di dân kinh tế. Trong trại thì Đoàn Thạnh Nam có thể là người giúp chúng tôi được nhưng anh ta lại đòi hỏi có đi phải có lại khi bảo kiến thức không thể cho không. Khối cộng đồng người Việt đã thành công ở đệ tam quốc gia cũng có thể giúp nếu họ tình nguyện hoặc ngay cả từ kinh nghiệm của những người mới vừa bị Cao Ủy đánh rớt trong 2 đợt rồi ở trại để tránh cho chúng tôi khỏi đi vào vết xe đổ. Tuy vậy, hầu như rất ít người bị Cao Ủy đánh rớt lại chịu nói thật hoặc chia xẻ những thất bại trong bản khai của họ. Họ lảng tránh hoặc gậm nhấm nỗi buồn riêng của mình khi lẳng lặng nộp bản kháng cáo hoặc đơn giản hơn, viết đơn xin Cao Ủy cho hồi hương tự nguyện. Còn những thuyền nhân may mắn được Cao Ủy nhìn nhận là người tị nạn, tôi tìm hỏi đã khai ra sao để vượt qua được cuộc thanh lọc thì có người tránh né khi trưng ra một bản lý lịch tương tự như lý lịch của thuyền nhân bị Cao Ủy đánh rớt. Biết làm sao tìm ra lối đi trong đám khói hỏa mù thanh lọc thuyền nhân bây giờ!

 

Trong thời gian này thì Yến rủ tôi đi xem một căn nhà ở khu vực trồng rau gần bệnh viện Galang 1 mà người chủ muốn bán rẻ. Lý do Yến muốn mua nhà gấp là vì căn barrack của ghe chúng tôi tạm trú đã bị hư hỏng khá nặng sau một trận gió lốc trong tuần lễ vừa rồi.

 

Như đã kể trong các đoạn trước, nhà thầu Titan khi hợp đồng với Cao Ủy để cất barrack cho thuyền nhân tạm dung thì họ đã làm barrack tạm bợ, cho có. Mái lá được lợp rất mỏng và hai bên vách thì vẫn để trống nên làm sao có thể chống chọi được với những cơn giông gió lớn. Cơn gió lốc hôm đó đã làm tốc mái ngay chỗ căn phòng của nhóm chúng tôi ở. Tôi và Đỉnh cố trèo lên để sửa lại mái lá nhưng thấy không thể ở lâu hơn được nữa. Đỉnh khi nghe Yến và tôi nói đi mua nhà thì cho biết nó cứ ở tiếp trong barrack được ngày nào hay ngày nấy rồi sẽ tính sau. Còn Bẩy, mặt buồn bã nói với Yến khi nào hai đứa tôi dọn ra thì báo trước để nàng còn chuyển sang Galang 2 sống chung với bạn mới.

 

– Anh Vũ với Yến đi khỏi đây thì em cũng phải kiếm chỗ ở khác thôi chứ sống với anh Đỉnh đâu tiện, sợ người ta cười cho.

 

Nhà thuyền nhân tự cất ở trong trại tị nạn Galang rất nhỏ nên thực sự gọi nó là cái chòi lớn thì đúng hơn. Tôi và Yến đi vào con hẻm nhỏ rồi băng qua một khu đất rộng trồng đầy rau muống hột, rau cải cùng các giàn bầu bí cao thấp trông mát mắt. Những vạt rau cải trổ bông vàng khá cao mà người trồng cố tình để dành lấy hạt giống đã thu hút những con ong nhỏ bay đến hút mật. Đôi bướm vàng quyện vào nhau bay lập lờ trên những bông hoa cải đồng màu thành một tấm hình thật đẹp trên nền xanh của các luống rau. Qua khỏi vạt đất trồng rau mát mắt đó thì đến khu chòi người ở, Yến lấy tay chỉ tôi căn nhà nàng định mua nằm ở một chỗ khuất dưới bóng cây tràm bông vàng khá lớn. Căn nhà này, nhìn bên ngoài nó cũng nhỏ như các căn chòi khác trong trại, được chủ nhà làm hàng rào che chắn chung quanh cẩn thận. Mái nhà lợp bằng giấy dầu tẩm cát mịn và vách thì ken kín bằng những tấm plastic lớn. Ngoài cây tràm bông vàng thì còn có một bụi mía mọc chung với đám khoai mì đứng thưa thớt bên một bờ vách. Mé đằng sau, những bụi xả mọc chen với cây ớt, cây cà… dọc theo hàng rào cây ngăn cách với căn chòi khác. Còn phía trước, dưới mái hiên có một bàn thiên nhỏ đứng gần các bụi vạn thọ còi cọc, loe hoe vài bông vàng. Một cái giếng nằm gần bên bụi cây rậm như loại cây ké làm chổi quét nhà. Yến cất tiếng gọi to nhưng không lời đáp trả, tôi ra dấu cho nàng yên lặng khi thấy một sợi dây kẽm mỏng được cột chặt nơi cái móc cửa.

 

– Không có ai ở nhà, mình đi về thôi em, tôi bảo nhỏ với nàng.

 

Quay lại nhìn căn chòi, bên trong tôi chưa biết ra sao nhưng bề ngoài thì khá gọn dù rác rưởi nằm vương vãi đây đó trên sân khô mốc vì rêu xanh. Không sao, tôi sẽ dọn chúng chóng vánh khi vào làm chủ nó. Hai đứa tôi quay về lối cũ, gặp một người đi ra từ luống rau cải nên vội đón lại, hỏi thăm.

 

– Nhà đó của ông Tùa Hia… Mà ít thấy ông ta ở đây lắm. Nghe nói ổng sống đâu đó trong Galang 2 lận… Tui cũng không biết chỗ ổng ở nữa, người đàn ông trả lời.

 

Buổi chiều hôm sau, hai đứa tôi tìm đến căn chòi lần nữa nhưng cũng không gặp được chủ gia. Yến thì lo nếu chậm chân, rủi ro căn chòi đó sẽ có thể bị người khác mua trước nên nàng bồn chồn thấy rõ. Nàng muốn vội nhưng không thể làm gì hơn, đành phải chờ cho đến một buổi tối thứ Bẩy khi gặp anh chị Khảm-Phượng ở quán cà phê mới biết mọi việc. Yến kể về việc đi xem căn chòi của chúng tôi và khi nghe xong thì chị Phượng xua tay, bảo liền:

 

– Đừng mua! May là hai em chưa gặp được ông Tùa Hia chủ cái chòi.

 

Nghe chị Phượng nói, tôi và Yến nhìn nhau thắc mắc vì đúng là chưa gặp ông Tùa Hia thật nhưng sao như thế lại là điều may. Anh Khảm thấy vẻ mặt hai đứa tôi ngớ ra liền trả lời thay chị Phượng:

 

– Có một cái nhà bé tí xíu mà lão Tùa Hia này lại đem bán cho nhiều người. Lão lấy tiền đặt cọc cũng bộn mà rồi có ai được mua hẳn đâu. Người ít thì mất 5000 hoặc 10000 Rupiah, người nhiều thì 50 Đô Mỹ cho lão… rồi cứ vậy mà chờ dài cổ. Rốt ruột, đến nhà đó tìm lão thì không gặp, có gặp thì lại gặp người đóng tiền đặt cọc y như mình nên nội vụ mới đổ bể.

 

– Vậy là xí gạt rồi… Bộ cái ông Tùa Hia này không sợ vụ thanh lọc hay sao mà làm bậy vậy, có ai thưa lão cho ban Đại diện trại biết không hả thầy? Yến hỏi anh Khảm.

 

– Họ làm đơn thưa chứ… nhưng cũng chẳng ai lấy lại được tiền đặt cọc vì lần nào lão cũng hứa sẽ trả, sẽ trả. Riết rồi đành bỏ vì lão Tùa Hia này là dân con bà phước, không thân nhân nước thứ ba thì làm gì có đồng nào lận lưng. Cứt trâu để lâu hóa bùn. Thêm nữa, lão ta là người tị nạn đến trước ngày Cao Ủy đóng cửa, còn kẹt lại đây vì chẳng có nước nào nhận cũng vì ba cái vụ lừa gạt kiểu này nên ban Đại diện trại không muốn dây dưa vào, thêm rối. Nhà đó đóng cửa im ỉm suốt ngày vì lão ta đi làm công ở tiệm hủ tiếu ngoài chợ Galang 2 và lâu lâu, vào chiều thứ Bẩy hay Chủ Nhật thì mới đảo về coi sóc qua loa rồi cũng bỏ đi ngay.

 

– Ban nãy chị mới nghe kể nên nói may là em chưa gặp lão Tùa Hia chứ nếu lão có mặt ở nhà hôm đó thì chắc chắn em đã mất ít tiền rồi.

 

Chị Phượng nói với Yến rồi sau đó tiếp:

 

– Lão Tàu già này miệng ngọt lắm nên những người định mua nhà lão mới mắc bẫy. Có dịp hai em ra ngoài Galang 2 mà đến cái quán hủ tiếu gần rạp chiếu phim Sài Gòn sẽ gặp lão Tùa Hia này ngay.

 

Anh Khảm kể chủ quán hủ tiếu cũng là nạn nhân của lão Tùa Hia từ hồi còn sống với nhau bên Việt Nam. Gia đình người này vượt biên đến trại thì gặp lại lão Tùa Hia và chuyện lão ta làm công trong tiệm giống như một hình thức để trừ tiền nợ năm xưa.

 

– Ở đời, có những người toàn nói chuyện đạo đức không hà. Hễ mở miệng thì tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa tợ thiên kim… mà mình sơ suất tin lời sẽ bị họ gạt như chơi. Lão Tùa Hia này từng lừa gạt người bên quê nhà, sang được trại tị nạn vẫn tiếp tục thì rồi sau này có đi định cư nước thứ ba nào đó, chắc chắn lão ta sẽ tái diễn cái mửng cũ. Tính người trời sinh thế nào thì từ khi trẻ cho đến lúc già, họ sẽ vẫn không thay đổi. Cọp đổi da-Người ta đổi nết. Các nạn nhân của Tùa Hia biết bị chơi màn lì mà cũng chẳng làm gì được ngoài chuyện viết đơn thưa bởi lão to xác lại đi làm ở quán hủ tiếu kiếm miếng ăn nên họ coi như thí cô hồn, mất không số tiền đặt cọc. Anh chị mừng hai em không phải là nạn nhân mới của lão Tùa Hia dù món tiền nếu có mất cũng chẳng nhiều.

 

44a73e65-8640-41ac-a587-5cc86bf808be_zps018f651b

 

Những căn chòi (nhà thuyền nhân tự cất) gần suối Muỗi dưới chân đồi của nhà thờ Công Giáo tại Galang 1.

Chuyện kể về lão Tùa Hia làm tôi nghĩ hiện thời thuyền nhân trong trại Galang còn đang chờ Cao Ủy thanh lọc nên những người thuộc loại thầy chạy như lão ta chưa dám trổ nghề nhưng mai hậu thì chưa biết sẽ ra sao. Khi hạng người này cầm được vé tị nạn trong tay hoặc bất cần đời vì đã quyết định hồi hương và cần làm một cú để có vốn trước khi rời đảo? Ai bảo đảm trong toàn bộ những thuyền nhân sống trong trại lại không có những thành phần lưu manh sống trà trộn, lúc nào cũng sẵn sàng làm chuyện bất lương khi gặp dịp. Chợt anh Khảm hỏi:

 

– Định mua nhà sao không nói cho anh chị hay. Có mấy người học trong lớp anh dạy muốn bán nhà đây nè.

 

Lời anh Khảm làm tôi nghĩ đến căn chòi của ông Tùa Hia nếu ai mua được thì quá tốt vì nó trông gọn lại khá đẹp, nằm ngay khu vực trồng trọt thì nếu muốn lúc nào cũng sẵn rau tươi và rẻ. Nhất là lại có cả một cái giếng trong sân nữa. Hai đứa tôi trông thấy đã thích ngay thì những người khác cũng vậy và chẳng trách họ đã bị lão Tàu già xí gạt dễ dàng. Anh Khảm lại tiếp:

 

– Tâm lý con người ta hễ ai thấy phải ở lâu một chỗ thì cũng đều muốn sở hữu một mái nhà nho nhỏ để tá túc, để trồng vài cây ớt, bụi xả, rau thơm cho vui và sẵn có mà dùng trong bữa ăn hàng ngày. Riêng chỉ Zone 3 là còn barrack mái tole vách ván chứ các Zone còn lại đều mái lá lợp chung với cây rừng nên sao có thể chịu đựng lâu dài với nắng với mưa, vì thế chuyện hai đứa em kiếm mua nhà thì anh chẳng lạ.

 

Nghe anh Khảm nói vậy, Yến liền hỏi dồn:

 

– Thầy nói biết có người định bán nhà hả? Căn nhà đó ở Zone nào, trông đẹp không? Giá cả bao nhiêu? Họ đòi có mắc không? Em muốn nhà đó phải có cái giếng nước trong sân.

 

Ý muốn của Yến rất đúng vì nếu nhà mà có giếng sẽ rất tiện trong việc lấy nước để tắm-giặt hàng ngày. Suối ở gần bệnh viện dù đã được khơi rộng hơn trước nhưng lúc nào cũng đầy nghẹt người nên nước ít khi được trong. Suối Muỗi dưới chân đồi nhà thờ Thiên Chúa Giáo hoặc con suối sau lưng quán cà phê Cam Ly cũng đầy người kéo đến đến tắm giặt. Hai suối này, tôi đã từng đến nhưng đều phải chờ cho bớt người mới chen vào được mà dòng nước lại chảy rất yếu.

 

Nghe Yến hỏi, anh Khảm liền đáp:

 

– Hai, ba chỗ định bán mà nhà nào anh thấy cũng đẹp, cũng có giếng nước cả. Để anh coi, hai cái trong Zone 3 nè, một cái ở Zone 2 gần con lạch chảy thẳng ra hướng biển. Mấy người chủ nhà này vừa qua được thanh lọc trong đợt Cao Ủy xổ kết quả vừa rồi và hiện họ đang làm thủ tục đi định cư. Để anh hỏi lại cho biết rõ nhưng chắc chắn là chuyện mua bán có xong xuôi và khi họ rời trại rồi thì mình mới được dọn vào ở.

 

Chuyện mua nhà tạm thời coi như chưa thành, tôi và Yến lại tiếp tục ở lại trong barrack với Đỉnh và Bẩy như thường ngày. Thâm tâm muốn dọn ra sớm nhưng không thể nhanh hơn được, đành phải chờ. Khi cùng Đỉnh trèo lên mái barrack để sửa lại phần lá lợp đã hỏng sau cơn giông rồi thấy không thể ở lâu chỗ này được nữa thì tôi vẫn lo không biết rồi sẽ kiếm đâu ra một chỗ mới. Muốn vào ở trong Zone 3 thì phải làm đơn xin với ban Đại diện trại và nếu họ kiếm được chỗ thì mình cũng sẽ phải sửa lại trước khi dọn vào. Ít nhiều gì cũng phải tốn tiền nhưng cái lo chính là tôi sợ Yến vì dịp này sẽ tách ra kiếm chỗ ở khác. Kể từ lúc nhập vào trại tị nạn Galang, tôi đã quen với cuộc sống có Yến trong các bữa cơm hàng ngày với Đỉnh và Bẩy cũng như đêm về thì nằm ngủ bên nhau trên cái giường chung của cả nhóm. Yến rủ đi xem nhà định mua, tôi đã rất vui vì hết còn nỗi lo kiếm chỗ ở mới và có lúc, tà ý đã lởn vởn trong trí khi nghĩ đến mình tôi với nàng bên nhau trong một chốn riêng biệt. Quyết định mua nhà, chắc nàng nghĩ đằng nào cũng sống chung với tôi thì thà có một chỗ ở riêng sẽ kín đáo hơn thay vì cứ ở mãi trong barrack. Barrack lá nào cũng thông thống cả hai đầu, kẻ ra người vô thoải mái nhất là dân buôn bán lẻ tẻ kiếm tiền chợ và biết đâu, sẽ có ngày nàng đụng mặt với người quen biết từ bên quê nhà.

 

Lúc còn ở trong trại lính bên rừng Malaysia, Đỉnh đã thúc hối tôi nhào vào Yến khi nói.

 

– Anh mà chần chừ, đứa khác nó vớt mất thì đừng có tiếc, làm tới đi… đừng nhát.

 

Trong barrack, ai cũng nghĩ tôi và nàng đã là một cặp tình nhân khi thấy gần như đi đâu cũng vẫn hai đứa. Yến đối đãi với tôi hết mức, chân thành như một người tình tình sâu nghĩa nặng. Thông minh, nàng gần như đoán trúng những ý muốn, những suy nghĩ của tôi và săn sóc tôi như một hiền phụ lo cho chồng mình. Không biết gia đình Yến bên quê nhà ra sao nhưng sống chung bên nhau cả mấy tháng trời cũng đủ để tôi thấy nàng thuộc hạng gái có giáo dục, tư cách và bản tính không có gì chê trách được. Anh Khảm đã từng bảo Yến là người có tâm hồn và mừng là tôi đã gặp được. Nhưng thấy Yến đầy tình cảm vậy, nếu tôi cứ tưởng bở rồi làm tới với nàng thì có ngày vỡ mặt. Đỉnh thì nghĩ tôi cứ làm bạo, sẽ rất dễ ăn nhưng ở trong chăn mới biết chăn có rận. Trên cánh tay tôi vẫn còn in dấu răng Yến đã cắn của một lần định… làm tới tại một bàn vắng với nàng trong một quán nước kiểu sân vườn trên đỉnh một ngọn đồi thấp ở Galang 2. Vết cắn đau điếng chảy máu đỏ nơi cánh tay cùng với tiếng khóc của Yến khi đó giờ vẫn còn lảng vảng trong tâm trí tôi mỗi dịp ngồi gần bên nàng.

 

– Mấy nhà đó thì nhà nào cũng đều có giếng riêng cả. Ở xa suối thì họ phải tự đào lấy giếng mới có nước để dùng hàng ngày chứ em.

 

Tiếng anh Khảm nói đã kéo tôi về lại câu chuyện. Phải! đã bỏ tiền mua nhà xa suối thì ít nhất nhà đó phải có giếng riêng. Nhà xa suối, hàng ngày phải quẩy đôi thùng đi gánh nước về dùng thì sức nào chịu cho nổi. Yến đòi hỏi nhà phải có giếng mới mua là chính đáng vì nước mưa có hứng được cũng chỉ dùng để nấu ăn do không nhiều và vì không có các thùng chứa. Thùng chứa nước mưa ở trại được thuyền nhân làm bằng tấm plastic lớn lót trong lòng cái khung gỗ nhưng nó chỉ chứa được hơn một khối nước là cùng. Cũng có người thủ được cái phi sắt đựng nước từ dân tị nạn khi đi định cư để lại. Muốn có phi sắt thì phải dò hỏi để mua từ đám police coi trại hoặc từ dân địa phương tuốt trong Galang 4 nhưng cũng ít khi gặp được người bán. Trại Galang nằm trong một khu vực gần đường xích đạo nên có những tháng trong năm không một cơn mưa. Đó là những tháng hạn. Những người ở khá lâu trong trại cho biết tháng hạn thì hầu hết các con suối đều rất ít nước, có nơi người ta phải đi sâu vào rừng, kiếm các vũng còn đọng nước để tắm giặt. Chỉ nhà nào có giếng thì mới cầm cự được trong các tháng hạn này.

 

31820fe7-39fc-4de9-8c25-6da7c5ad57a7_zps8993dd45

Các barrack vách ván mái lợp tole của Zone 3, Galang 1 nằm sát gần một con lộ tráng nhựa.

 

Tôi nhìn ra bên ngoài, dòng người đi trên con đường nhựa vẫn nhộn nhịp như mọi buổi tối và các bàn trong quán lúc nào cũng nghẹt người ngồi. Tuần rồi lại có thêm 4 ghe nữa nhập vào Galang và phòng Thông tin trại cho biết các ghe đều do hải quân Malaysia chuyển sang. Số thuyền nhân càng lúc càng tăng và có tuần lễ thì phần rau tươi cung cấp đã giảm hẳn mà phòng Tiếp liệu không nói lý do cũng như cấp phát bù lại phần thiếu.

 

Qua các đài phát thanh VOA, BBC… thì tin cảnh sát Thái Lan xả súng bắn thẳng vào dòng người Việt tại trại Phanat Nikhom khi họ biểu tình chống cưỡng bức hồi hương rồi làm chết 2 người cùng nhiều người khác bị thương và bên Hồng Kông thì cảnh sát đã làm nhiều chuyến đột kích vào các trại tị nạn để trấn áp người biểu tình… đã làm tinh thần thuyền nhân trong trại Galang thêm lo lắng, bi quan. Ai cũng lờ mờ đoán trong tương lai thì có lúc đám police của phòng An ninh P3V sẽ hành động tương tự như bên Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông… khi họ có lệnh từ Jakarta.

 

Tin một chiếc ghe dài 20 thước chở 33 thuyền nhân Việt đi thẳng từ quê nhà đến được Darwin, một thủ phủ gần biển ở vùng cực Bắc của nước Úc-Đại-Lợi và được chính quyền địa phương cho lên bờ đã làm đám thuyền nhân chưa tới phiên thanh lọc như tôi mơ tưởng phải chi mình là một người trong số họ. Và, cũng qua các đài phát thanh VOA, BBC… thì nguồn tin một dân biểu của tiểu bang California bên Mỹ đề nghị với Quốc vương nước Kuwait bản dự thảo kế hoạch gửi thuyền nhân Việt trong các trại tị nạn đến định cư tại quốc gia vùng Trung Đông này.

 

– Thuyền nhân tị nạn Việt Nam cần một quốc gia và quốc gia Kuwait thì cần người.

 

Dân biểu Mỹ đó, tên Robert Dornan nói như vậy và ông quả quyết người Việt bản tính cần cù, nhẫn nại sẽ là các công nhân gương mẫu nếu họ định cư ở Kuwait.

 

Loan tải từ radio thì không phải là tin vịt nhưng sau đó thì ai cũng thấy cái khó cho ý định tốt lành của ông dân biểu. Người trong trại cho là theo công pháp quốc tế khi một người đào thoát từ quốc gia Cộng Sản để tìm tự do thì coi như họ là người vô tổ quốc. Trường hợp thuyền nhân Việt cũng vậy. Bỏ trốn khỏi nước có nghĩa đã chối bỏ làm người dân của chế độ Cộng Sản nhưng với chuyện dự thảo của dân biểu Mỹ thì chính phủ quốc gia tạm dung nào sẽ thay mặt họ để làm một thương thảo ngoại giao với nước Kuwait như một giao kèo nếu như mọi chuyện theo dự định được thông qua. Thuyền nhân như người bơi dưới nước nên gặp bất cứ vật gì có thể giúp họ nổi được thì họ liền với tay vào nên cái tin trên cũng tạo một niềm hy vọng dù rất xa vời, gần như không thể xẩy đến.

 

Ngồi một lát, tôi hỏi anh Khảm về mối thân thiết với cụ Hoàng, ông Tiến sĩ và ông cựu Xã trưởng ở quán cà phê bác sĩ Luân trong cái đêm đó thì anh Khảm kể cụ Hoàng là bác họ của một bạn tù chung với anh trong thời gian ở trại cải tạo và qua thư giới thiệu của anh bạn đó bên Mỹ gửi vào trại, anh mới biết ông cụ. Anh bảo:

 

– Không vợ không con, sống đời độc thân từ lâu rồi khi đến đây lại tiếp tục cu ky một mình trong căn nhà nhỏ ở đầu Zone 1, nơi khu vực Galang 1 nối với Galang 2. Theo anh nghĩ, ông cụ này dính líu vào một tổ chức phục quốc nào đó bên quê nhà và hình tích chắc đã lộ nên phải xuống ghe vượt biên. Em thấy, một người già yếu mà dự một chuyến đi nguy hiểm thì phải có điều gì đó không ổn trong đời sống khiến ông cụ phải đi gấp.

 

Tôi gật đầu đồng ý với anh Khảm và hỏi:

 

– Sao anh không thử hỏi ông cụ cho biết rõ.

 

– Hỏi thử cụ?

 

Anh Hoàng trả lời tôi rồi lắc đầu và tiếp:

 

– Bình thường ông cụ rất kín tiếng, chỉ khi nào có cái hứng thú như buổi tối hôm ấy thì mới góp chuyện thôi.

 

– Còn ông cựu Xã trưởng xã An Nhơn Tây Gò Vấp và ông Tiến Sĩ gì gì đó? Tôi hỏi tiếp thì anh Khảm nói:

 

– Ông cựu Xã trưởng từng có lúc ở chung trong trại tù cải tạo với anh. Ông này, em nghe giọng nói cũng biết là dân Bắc di cư 54. Chính ra thì ông bị đám Việt Cộng miền Nam thủ tiêu ngay sau ngày chúng chiếm được Sài Gòn, nhưng may mà thoát được.

 

– Ủa! Chứ không phải ông ta ra trình diện rồi bị Cộng Sản tập trung cải tạo sao anh?

 

– Không! Ông kể ngay những ngày đầu khi bọn Cộng Sản vào Sài Gòn thì đã gọi ông đến công sở xã trình diện và để chỉ dẫn cho chúng cách điều hành hành chánh tại địa phương. Lẽ ra việc chỉ dẫn này chỉ gói gọn trong 3 ngày là xong và ông có thể về nhà làm người dân thường như lời của đám cán bộ Cộng Sản đã nói với ông. Nghe vậy, ông ta đã chỉ dẫn tận tình cho các cán bộ Việt Cộng miền Nam mới từ rừng ra học cách thức điều hành hành chánh của xã đó nhưng sau cả gần một tuần lễ thì mấy gã vẫn ù ù cạc cạc chẳng xong việc nên chúng bảo ông phải tiếp tục. Tự nhiên, một buổi trưa về nhà ăn cơm thì trong lòng ông bồn chồn lo lắng như bị lửa đốt. Đoán sắp có chuyện xảy đến cho bản thân, ông ta nói cho vợ biết thì bà này sai thằng con trai chạy xe đến nhà mấy ông bạn cũng là xã trưởng xã phó của các xã khác trong vùng Hốc Môn-Gia Định để hỏi thăm tin tức. Thằng bé đi rồi khi về thì nó kể người nhà của những gia đình đó cho biết các đồng sự của ông ta đã bị bắt sau khi chỉ dẫn xong công việc cho đám cán bộ Cộng Sản. Biết chuyện chẳng lành, ông ta liền bỏ trốn lên tuốt trên vùng Dốc Mơ-Gia Kiệm và làm rẫy chung với bà con ruột thịt. Dù vậy, chỉ được gần hai năm thì bị công an tại địa phương phát giác. Chúng đã bắt ông ta và gửi đi tù cải tạo rồi sau này gặp anh trong cùng một trại.

 

– Ông ta không chờ trình diện như các người khác, lại phải trốn… mà em thấy trốn cũng đâu thoát. Tôi hỏi.

 

– Vụ trình diện chỉ công khai ở những tuần lễ sau đó. Còn giai đoạn ông kể thì nếu ông không bỏ trốn thì đã bị đám Việt Cộng miền Nam thủ tiêu như các người khác rồi.

 

– Sao ông cựu Xã trưởng lại biết mấy ông kia bị thủ tiêu?

 

Anh Khảm không trả lời ngay mà ngồi nhìn tôi trong một khoảng khắc rồi mới tiếp:

 

– Thời bây giờ bớt sắt máu rồi chứ vào năm đó thì đám Việt Cộng miền Nam thù hận các viên chức hành chánh cấp xã ấp của chính quyền miền Nam VNCH lắm. Tại sao vậy? Có thể vì họ là dân địa phương nên biết rành rẽ về các hoạt động của đám Việt Cộng trong vùng. Tên tuổi, nhà ở đâu, con cái của ai… họ biết hết. Và, các viên chức hành chánh thường là những người có uy tín với dân chúng. Người có uy tín nhưng không cùng phe với Cộng Sản thì sớm muộn gì chúng cũng tìm cách ám hại, cho đi buôn muối có ngày. Chiếm được miền Nam thì đây cơ hội để chúng trả cái thù cũ, ông cựu Xã trưởng biết số phận đang chờ mình và cái linh tính của người từng đối mặt với bọn nằm vùng nên ông phải bỏ trốn ngay. Bị bắt sau gần hai năm nhưng khi đó bọn Việt Cộng miền Nam đã bị đám Cộng Sản Bắc Việt cho ra rìa hết cả rồi nên ông ta mới thoát chết và chỉ bị tù cải tạo. Tới giờ này, nhiều gia đình các viên chức hành chánh xã-ấp thuộc chính quyền miền Nam VNCH trong vùng Hốc Môn-Gia Định vẫn chưa biết được chỗ thân nhân họ bị thủ tiêu năm xưa để tìm đến lấy cốt về cải táng.

 

– Trời ơi! Còn ông Tiến Sĩ thì sao hả anh? Tôi chắt lưỡi và hỏi tiếp anh Khảm.

 

– Ông đó thì anh không rõ chuyện… Chỉ một hai lần gặp ông ta ở nhà cụ Hoàng và vào buổi tối hôm đó ở quán bác sĩ Luân. Hôm nào em có rảnh thì đi với anh đến thăm cụ Hoàng chơi cho biết chỗ.

 

Nghe anh Khảm nói, Yến buột miệng xin nếu có đi thì cho nàng đi theo. Yến xin đi theo vì tính hiếu kỳ khi nghe tôi kể về những điều cụ Hoàng nói. Tôi thì mong có dịp gặp lại cụ Hoàng để nghe được các chuyện lạ. Anh Khảm dường như đoán được ý định của Yến muốn nhân có dịp gặp mặt thì sẽ nhờ cụ Hoàng đoán số, xem tử vi… nên dặn:

 

– Có muốn đi theo thì cứ đi cho biết… nhưng mà đến đó rồi thì đừng có nhờ ông cụ đoán số hay tử vi tử viếc gì. Buột miệng hỏi mấy vụ này thì ông cụ sẽ chối phắt, nói không biết đâu. Nếu may gặp lúc ông cụ có cái hứng, mình mới có thể.

 

Nói vậy nhưng anh Khảm lại bận bịu chuyện dạy học còn tôi thì đi làm thiện nguyện hàng ngày cũng hết thời gian nên vẫn chưa có dịp đến được nhà cụ Hoàng. Tháng Tư trôi qua cùng với việc chờ đợi Cao Ủy xổ tiếp thanh lọc mà không thấy rồi tháng Năm đến chung với các nguồn tin chính phủ nước Anh cử viên chức ngoại giao sang Hoa Kỳ để tìm sự đồng thuận về chuyện cưỡng bức hồi hương thuyền nhân nhưng vẫn không thành.

 

– Chỉ có Hoa Kỳ mới cứu bọn mình được thôi.

 

Thuyền nhân trong trại bảo nhau và ai cũng mong như vậy, nhưng cách thức chính phủ Mỹ làm thế nào với thuyền nhân thì chẳng ai đoán được.

 

Gần cuối tháng Năm trên các báo Làng Văn, Văn Nghệ Tiền Phong từ bên Hoa Kỳ gửi vào trại có đăng tin về lời tuyên bố của một viên chức cao cấp của Phủ Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đặc trách vùng Đông Nam Á về thuyền nhân đã làm bực tức cả trại. Viên chức đó tên là Alexander Casella. Ông ta nói:

 

– Kế hoạch cưỡng bức hồi hương sẽ giúp giảm bớt làn sóng tị nạn của thuyền nhân Việt Nam. Khi có các vụ cưỡng bức hồi hương diễn ra, người Việt Nam trong nước sẽ hiểu rõ vấn đề và không còn vượt biên nữa.

 

Người trong trại bàn nhau khi tuyên bố như vậy, ông Alexander Casella này đã lộ rõ sự vô trách nhiệm và chẳng chút nhân đạo nào của viên chức một cơ quan mang danh bảo vệ người tị nạn. Không chỉ có thuyền nhân ở trại tị nạn Galang bất bình về lời nói của ông Alexander Casella, báo chí bên Hồng Kông cũng cho rằng nếu chủ trương của ông Alexander Casella là đường lối của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thì cơ quan này nên thay tên thành Phủ Cao Ủy Bức Chế người Tị Nạn. Cơ quan này nên vận động tài trợ từ các nước độc tài hoặc Cộng Sản, hơn là dùng tiền của thế giới tự do để điều hành công tác trái với chủ trương cơ bản của mình.

 

Dù có các biến động ở các trại tị nạn từ Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia đến Phi Luật Tân… nhưng chính quyền Nam Dương vẫn không tỏ lộ một thái độ gì để có thể làm thuyền nhân trong trại Galang hoang mang. Họ thường đi sau các hành động của các nước khác, thuyền nhân trong trại cũng biết điều đó. Hầu như tuần lễ nào vẫn có thêm các ghe vượt biên từ Malaysia, từ Việt Nam đổ người vào trại và phòng An ninh P3V thì cho tin là sẽ có thêm một toán luật sư ngoại quốc từ Hoa Kỳ, Anh Quốc, Singapore, Ấn Độ… đến để tiếp sức phỏng vấn thuyền nhân ở Galang.

 

Một thông báo của phòng Thông tin ban Đại diện trại đã làm thuyền nhân xôn xao, đó là phòng Nhân quyền trực thuộc Cao Ủy yêu cầu ai từng bị bạo hành trên đường vượt biên thì phải báo cáo sự việc cho họ biết. Bạo hành! Phòng Nhân quyền giải thích là thuyền nhân đã bị cưỡng hiếp do hải tặc hay do viên chức, binh lính thậm chí dân cư địa phương khi ghe họ phải ghé vào bờ. Ghe vượt biên rủi gặp hải tặc thì ít khi nào chúng cưỡng hiếp đàn bà-con gái xong rồi bỏ đi sau khi vơ vét hết vàng bạc mà thông thường, chúng bắt vài cô hoặc tất cả phái nữ như trường hợp của chuyến tôi đã đi trong lần trước. Có khi chúng còn lái tàu chạy thật xa lấy đà rồi quay lại húc cho bể tan tành chiếc ghe, giết sạch người vượt biên bất kể già-trẻ để xóa sạch các tang chứng.

 

Thông báo cả tuần lễ mà chẳng có mấy ai trong trại  đến phòng Nhân quyền khai báo và số ít ỏi  người đến báo tên thì đều cho biết đã bị đám lính gác tại đảo Ku Ku xâm phạm khi ghe họ ghé vào đó. Ku Ku là một đảo cỡ Galang, nằm trong vùng Riau của Indonesia gần đảo quốc Singapore. Nơi này từng chứa thuyền nhân Việt từ cuối thập niên 1970 trước khi Galang được chọn làm đảo trung tâm dành cho người tị nạn Khmer và Việt Nam. Trên đảo Ku Ku vẫn còn những dãy nhà cũ của người tị nạn năm xưa để lại, cũng không có dân cư địa phương sinh sống như ở Galang ngoài 1 tiểu đội lính Indo đồn trú. Khó tìm ra Ku Ku trên bản đồ trong số hằng hà đảo lớn nhỏ của vùng Riau này nếu như không có người dẫn đường. Có một quãng thời gian khá lâu đám lính trên đảo Ku Ku đã bạo hành với đàn bà-con gái Việt từ các ghe ghé vào. Giai đoạn này, Ku Ku thật sự là một địa ngục với các thuyền nhân Việt nhất là với phái nữ vì ngoài chuyện làm bậy với họ thì đám lính hung hãn đó còn đả thương cả nam giới Việt nữa. Chuyện bạo hành xảy ra tại Ku Ku đều do gã trung sĩ chỉ huy đám lính đầu têu mọi việc.

 

Đặt chân xuống ghe vượt biên thì hầu như người Việt nào cũng đều chấp nhận những rủi ro có thể xẩy ra trên đường đi sau khi đã thoát khỏi tay công an biên phòng. Bão tố hoặc giông gió bất ngờ trên biển có thể nhận chìm ghe. Ghe bị hỏng máy phải trôi dạt vô định có khi làm thuyền nhân chết khát chết đói nếu không gặp tàu ngoại quốc tiếp cứu. Thêm vào các rủi ro đó thì ai cũng sợ cảnh ghe có thể lọt vào tay hải tặc. Qua được những cái ải tử thần kể trên nay đến được đảo Ku Ku thì lại lọt vào tay một bọn lính hung hãn, dâm đãng. Nói nào ngay, đàn bà-con gái Việt hầu hết da dẻ trắng trẻo so với dân Indo bản xứ da đen nên khi gặp gái Việt thì bọn lính đóng ở Ku Ku như mèo đói thấy mỡ. Ghe cặp bến, thuyền nhân vừa lên bờ xong xuôi thì bọn lính dở trò đồi bại liền làm như chúng không thể chờ đợi lâu hơn được. Tuy vậy, có người liều mạng chạy trốn vào rừng lánh nạn và chỉ lén lút mò ra kiếm miếng ăn khi chiều xuống hoặc vắng mặt bọn lính.

 

Theo lời kể từ những nạn nhân của đảo Ku Ku thì trước khi dở trò, đám lính đã tách riêng nam giới ra một nơi khác khá xa cho khuất mắt. Ku Ku là một nơi tiếp nhận ghe vượt biên từ các đảo khác dẫn đến rồi sau đó thì mỗi tháng, Cao Ủy mới cho tàu lớn cặp bến Ku Ku để đón thuyền nhân nhập vào Galang. Thời gian thuyền nhân tạm trú ở đó không lâu nên cô gái nào trốn được vào rừng cho đến ngày gặp được tàu lớn đến rước hoặc may mắn ghe vượt biên vừa cập vào Ku Ku lúc đang có mặt nhân viên Cao Ủy thì coi như thoát nạn… lục tặc. Sự việc bọn lính ở đảo Ku Ku làm bậy cứ kéo dài cho đến khi có cái chết của một thuyền nhân vì chống lại chúng. Thuyền nhân này là cha của một cô gái trẻ, đẹp. Từ lúc đầu, cô gái đã không thoát tay bọn lính nhưng vì có sắc nên bị chúng hành hạ nhiều lần. Biết đám lính tái diễn mãi thì có thể con gái mình sẽ vong mạng nên khi một gã lính định làm bậy với cô, người cha đã ra mặt chống trả. Bọn lính xúm lại, đả thương hội đồng và làm ông ta chết. Tàu lớn của Cao Ủy đến đón thuyền nhân, nghe về cái chết của ông ta thì họ liền điều tra và sự việc đổ bể. Đại diện Cao Ủy vào cuộc với chính quyền vùng Riau và tất cả lính trên đảo bị hoán đổi đi nơi khác thay thế bằng người mới.

 

Kể từ đó, ghe vượt biên ghé vào đảo Ku Ku không còn gặp thảm cảnh cũ. Ghe chúng tôi cũng có thể sẽ ghé vào đảo Ku Ku nếu như không gặp chủ nhân khách sạn ở Batam chỉ đường và cho tấm bản đồ. Có ghé vào Ku Ku thì phải chờ ít ngày mới có tàu lớn Cao Ủy đón về Galang và như vậy sẽ mất thêm thời gian. Thực ra không riêng gì một đảo Ku Ku mới có vụ bạo hành thuyền nhân Việt mà ở cả những đảo khác nữa cũng có lẻ tẻ nhưng chỉ là hành động cá nhân từ đám lính gác hay một viên chức địa phương cấp thấp. Bạo hành thường do hải tặc gây ra thì không biết ở các trại tị nạn bên Thái Lan như Panat Nikhom, Sikiew, Songkhla… có thông báo thuyền nhân khai tên như vậy không? Chấp thuận với việc làm của phòng Nhân quyền Cao Ủy, rõ ràng chính phủ Indo còn dành hảo cảm cho thuyền nhân Việt và không bao che tội phạm nước mình. Một điều thật đáng khen.

 

Có thông báo của phòng Nhân quyền Cao Ủy nhưng lại ít có người đến khai chuyện mình là nạn nhân bạo hành trên đường vượt biển. Thực ra, nhiều cô gái vì có sắc nên bị cả toán lính thay nhau hành hạ mà họ vẫn cố tình phớt lờ, chối không có. Thuyền nhân trong ghe đều biết rõ chuyện từng người và đã làm chứng khi nhân viên phòng Nhân quyền đến tận barrack hỏi chuyện. Thoạt đầu nghe phòng Nhân quyền Cao Ủy thông báo thì các nạn nhân nghĩ sẽ được giúp đỡ trong việc thanh lọc nên họ liền tiếp xúc, hỏi thăm nhưng khi biết nếu là nạn nhân thì chỉ được một gói quà nhỏ và nhà thương sẽ khám bệnh cùng điều trị sức khỏe riêng biệt. Chuyện thanh lọc thì nhân viên phòng Nhân quyền từ chối nói không có thẩm quyền, không thể can thiệp cho bất cứ ai. Chính vậy khiến nhiều nạn nhân đã dấu chuyện mình bị, không khai tên cho phòng Nhân quyền biết.

 

– Có vài hộp sữa, bịch đường, cục xà bông, cái khăn tắm cùng được nhà thương khám bệnh thì thấm gì với danh dự một người con gái… Chuyện không muốn, nó đến thì phải dấu. Họ bảo nhau.

 

Phòng Nhân quyền thông báo thời hạn chót rồi cả khi gia hạn thêm ngày, số nạn nhân vẫn rất ít so với ước đoán lúc đầu từ các báo cáo mà Cao Ủy đã nhận được.

 

Tháng 6 rồi tháng 7 trôi qua trong lặng lẽ với đời sống tị nạn trầm lặng của  thuyền nhân Galang. Khác với các trại tị nạn bên Hồng Kông, Malaysia, Thái Lan hay Phi Luật Tân… trên đảo Galang thuyền nhân Việt sống như nhau, không có khu trại cấm, không có hàng rào ngăn cách  giữa người mới tới là thành phần Asylum seeker hay người tị nạn hoặc đã bị rớt thanh lọc. Mấy lần Cao Ủy xổ kết quả cùng với lớp thuyền nhân mới đổ thêm vào Galang thì tại các barrack, người đậu thanh lọc vui vẻ vì đã thành người tị nạn đang chờ ngày làm các thủ tục đi định cư sống hòa đồng với người bị đánh rớt thành di dân kinh tế lặng lẽ buồn, nuôi hy vọng từ bản kháng cáo của mình hoặc cam phận không tranh đấu như những trại tị nạn bên các nước khác mà chờ ngày hồi hương về lại quê nhà. Những buổi sáng ngày Chúa Nhật, người trong trại vẫn kéo nhau đi tắm biển hoặc làm các chuyến dã ngoại cắm trại trong rừng vui vẻ. Có lẽ nhờ đặc điểm là một đảo tị nạn biệt lập cùng với thái độ mềm dẻo, hảo cảm của chính phủ Indo dành cho thuyền nhân Việt mà Galang vẫn có được không khí êm ả như vậy. Những người từng có thời gian du học tại Hoa Kỳ như ông Bửu, anh Khảm thì cho là cuộc sống ở trại tị nạn coi vậy mà sướng vì cái ăn đã có Cao Ủy cung cấp thêm thân nhân thỉnh thoảng gửi giúp cho ít tiền. Nếu không có vụ thanh lọc thì cuộc sống của thuyền nhân chắc giống như trong trại tị nạn trước kia. Chẳng có mối lo lắng nào ngoài chuyện học Anh ngữ, giữ gìn sức khỏe để bù lại những ngày chật vật, đói khổ bên quê nhà và còn kiếm người bồ bịch (trong trại gọi là đẩy xe) cho vui rồi nếu đi định cư thì họ sẽ quên nhau mau chóng.

 

Trong các chuyến ghe đến Galang thời gian này cũng có một số thuyền nhân gốc miền Bắc Cộng Sản hoặc Việt Cộng miền Nam. Họ từng là công an, bộ đội, cán bộ văn phòng hoặc công nhân lao động bên các nước Cộng Sản Đông Âu trở về khi xong hợp đồng. Biết thân phận chỉ là thiểu số trong một cộng đồng cùng máu mủ nhưng hầu hết từng có lúc là nạn nhân trong tay mình hoặc đồng đội nên, họ rủ nhau cất chòi sống riêng ở khu vực gần rừng, xa hẳn với các barrack trong trại. Làm rẫy, đánh cá biển… để kiếm thêm vì họ không có thân nhân ở nước thứ ba gửi tiền giúp cho như các thuyền nhân gốc miền Nam VNCH. Sống ở Galang không lâu thì một số họ đã xin nhập đạo Tin Lành. Như đã nói ở các phần trước, ở Galang có 2 nhà thờ Tin Lành và đều do một mục sư người Indo tên Carrel quản nhiệm. Đồng đạo Tin lành với nhau gọi cộng đồng của họ là Hội Thánh. Công bằng mà nói Hội Thánh Tin Lành ở trại đã giúp đỡ về vật chất như quần áo, thức ăn… cho đồng đạo ngoài phần thực phẩm ít ỏi từ phòng Tiếp liệu Cao Ủy dành cho thuyền nhân. Điều này là một khác biệt so với các tôn giáo khác. Theo đạo do niềm tin chân thành hay do cái lợi trước mắt thì cũng khó mà biết nhưng có tham dự các buổi sinh hoạt trong Hội Thánh Tin Lành mới thấy sự chân thành, hòa đồng, đoàn kết… lộ ra trên khuôn mặt, cử chỉ của các đồng đạo với nhau. Thuyền nhân gốc Cộng Sản theo đạo Tin lành, có thể họ chỉ nhắm tìm một an toàn cho bản thân, nếu gặp chuyện rắc rối thì sẽ chạy đến gõ cửa nhà mục sư.

 

Tháng 8 đến, ban Đại diện của hai trại 1 và 2 qua danh sách từ Cao Ủy đã thông báo có 379 người trong tổng số 1618 cựu quân nhân-viên chức chính quyền miền Nam VNCH có mặt tại Galang đã nhận kết quả thanh lọc. Trong số họ thì có 192 người đậu và 181 người bị rớt. Tỉ lệ này coi như gần 50% giữa đậu hay rớt thanh lọc. Dò danh sách số người bị Cao Ủy đánh rớt, thấy có 2 đại úy, 1 trung úy, 6 thiếu úy, 70 hạ sĩ quan và 102 binh sĩ. Chưa có sĩ quan cấp tá ở các lần Cao Ủy xổ kết quả dù trong trại có đại tá như Bùi Thế Dung, trung tá Nguyễn Văn Tòng, các thiếu tá Lâm Văn Rớt, Phan Thanh Miên, Nguyễn Danh Đắc… và người trong trại vẫn chưa biết số phận các sĩ quan cấp tá này sẽ ra sao trong các lần xổ ký tới.

 

Sau vụ ông Alexander Casella tuyên bố những lời không thân thiện với người vượt biên Việt thì một tin đăng trên tờ báo South China Morning Post loan về lời nói của cựu tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ trong lần ông ghé vào Hồng Kông. Ông bộc bạch rằng bản thân không mong muốn gì hơn là được trở về quê cũ và sau đó còn nói thêm: [I]” Tôi biết nhiều người Việt đã ra đi cốt để tránh đời sống khó khăn, và một khi nhà cầm quyền Việt Nam thay đổi chính sách thì người Việt sẽ không còn vượt biên nữa “[/I]. Cái tin đó làm cho khá nhiều người trong trại tự dưng mất thiện cảm với ông cựu Phó Tổng thống miền Nam VNCH khi họ biết thêm trong thời gian lưu lại Hồng Kông, ông ta không hề nhân dịp này mà ghé thăm bất cứ một trại tị nạn người Việt nào. Vài thuyền nhân đã bực tức, chửi đổng… rồi vì vậy mà sinh chuyện cãi vã do người bênh, kẻ chống lại. Anh Khảm cho cái tin về bài viết trên báo South China Morning Post là xạo là vịt cồ và đã nói với tôi:

 

– Đừng có tin mấy cái nhảm nhí đó Vũ à! Không phải cùng binh chủng mà anh bênh vực… Tờ báo này nói xấu cựu lãnh tụ miền Nam VNCH mình đây… Em hãy nhớ chuyện Bắc tiến cùng những phi vụ Skyraider Bắc phạt năm xưa của ông ta.

 

Chỉ đến khi anh nhìn thấy tờ copy của trang báo đó chuyền tay trong trại thì mới tin và buồn bã, nói:

 

– Báo chí ngoại quốc không dựng chuyện đâu… Thời buổi thay đổi nên làm người ta thay đổi theo… Cũng có thể bây giờ ông Kỳ đã bước vào tuổi già nên cái suy nghĩ khác với thời trai trẻ… Anh vẫn mong đây chỉ là hiện tượng nhất thời, sự bốc đồng như cá tính cố hữu của ông ấy… Mình đừng thấy đó mà suy về bản chất ông ta. Có điều anh thấy nếu tin này đúng sự thật thì rất buồn, vì ngay cả người Việt mình mà còn không thương cảm với thuyền nhân, trách gì cộng đồng quốc tế ngoảnh mặt.

 

Cái tin một ghe chở 33 thuyền nhân cặp bến Darwin của  Úc Đại Lợi và được chấp thuận cho định cư vừa nghe trong tháng 7 chưa tan trong niềm mơ tưởng của đám thuyền nhân chờ thanh lọc như tôi thì lại thêm một tin từ radio có chiếc ghe vượt biên khác chở 37 thuyền nhân được một tàu buôn vớt ngoài khơi Nam Hải. Rồi tàu buôn đó ghé vào hải cảng Karachi của Pakistan để cất hàng hóa và để xin chính quyền quốc gia này cho số thuyền nhân lên bờ định cư.

 

Pakistan chính là Hồi Quốc trong tiếng Việt và lần này, cá nhân tôi lại mong 37 thuyền nhân không được chính quyền cho định cư theo yêu cầu của chủ nhân chiếc tàu buôn. Pakistan là quốc gia theo đạo Hồi, nghèo và đầy rẫy xung đột sắc tộc, giáo phái với nhau nên không phải là mảnh đất mà một thuyền nhân Việt liều mình vượt biên để tìm đến định cư. Suy nghĩ của tôi cũng giống với khá đông người trong barrack, anh Khảm cũng đồng ý khi nói:

 

– Dân xứ này vẫn dùng tay ăn bốc đó em, đạo Hồi là quốc giáo nên luật đạo chi phối luật đời mạnh lắm, cuồng tín và cực đoan chẳng khác gì Cộng sản. Vẫn là nước nghèo, đông dân hàng thứ 6 thứ 7 trên thế giới… Đời sống người dân chật vật lắm, mấy thuyền nhân trên tàu buôn đó bộ không biết sao lại xin định cư?.

 

Vài ngày sau, thắc mắc của anh Khảm được giải tỏa khi có tin trên radio báo chính phủ Pakistan đã từ chối thỉnh cầu của thuyền trưởng chiếc tàu buôn. Chiếc tàu buôn trên đường từ Nhật Bản về đã vớt 37 thuyền nhân này ở vùng biển quốc tế rồi sau đó ghé vào Singapore, vượt qua eo biển Malacca để đến Pakistan. Sau khi cất hàng hóa tại cảng Karachi, chiếc tàu buôn sẽ trực chỉ bán đảo Ả rập, Hồng Hải và cuối cùng là các quốc gia phía Nam Âu Châu. Dù đã thất bại trong việc giúp cho 37 thuyền nhân định cư ở Singapore và ở Karachi của Pakistan, nhưng thuyền trưởng chiếc tàu buôn vẫn hy vọng những khách người Việt này sẽ được một quốc gia nào đó trong vùng họ sắp đến chấp thuận cho lên bờ.

 

Tình cờ tôi có một nguồn báo Việt để xem định kỳ từng tháng đó là khi theo Yến đến lớp học Anh ngữ là quán cà phê bác sĩ Luân, tôi đã làm quen được với một cô gái tên Châu cũng là học trò của anh Khảm. Trông thấy cô gái cầm trên tay các tờ báo Làng Văn, Văn Nghệ Tiền Phong nên tôi đã hỏi mượn. Rồi biết thêm cô ta còn có các báo khác như Lửa Việt, Đường Sống… nữa. Những báo này do vị hôn phu của cô ta ở Hoa Kỳ đặt mua từ nhà xuất bản và được gửi thẳng đến trại đều đặn. Anh Khảm kể anh chàng hôn phu này đã vượt biên từ mấy năm trước còn Châu thì đến Galang đầu năm ngoái. Anh thêm:

 

– Cô gái này hay lắm Vũ, học khá lại biết vẽ và cả biết đàn Guitar nữa đó. Anh chàng hôn phu bên Hoa Kỳ kể cũng tốt số mới gặp được đấy. Chắc cũng biết vậy nên yểm trợ tài chánh hàng tháng cho cô nàng mạnh lắm.

 

Khi mới đến Galang, lần đầu tiên cầm được các tờ báo Việt hải ngoại, tôi đã đọc say sưa từng bài một kể cả những mục nhắn tin, rao vặt.  Mười mấy năm trời nay mới thấy lại những tờ báo như thời còn miền Nam VNCH, hỏi sao không vui. Trước đó thì Yến tỏ ý với cả nhóm muốn mua một máy Cassette để vừa nghe nhạc và theo dõi tin tức trên các đài Việt ngữ nhưng Đỉnh cho là không cần thiết. Nó bảo:

 

– Mua máy Cassette vừa tốn tiền lại phải mất công giữ kè kè bên người… Xài pin thì chẳng được lâu mà điện lại không truyền vào barrack lợp lá. Dùng bình accu thì bẩn tay chân, làm rách quần áo rồi nếu muốn sạc lại điện, phải ra tận Galang 2. Em tính khi nào có chòi riêng hẵng hay, giờ cứ nghe ké máy chung với thiên hạ là nhất.

 

Chính vậy nên quen được với Châu tôi rất vui vì dễ gì kiếm được báo Việt hải ngoại ở trong trại tị nạn.

 

– Anh cứ giữ mà xem nhưng đừng làm mất. Phòng em còn nhiều số báo khác nữa, có mới có cũ, cô gái bảo tôi khi cho mượn tờ báo đó.

 

Anh Khảm kể là Châu cũng đã được Cao Ủy thanh lọc từ lâu rồi và hiện cô ta vẫn đang chờ nhận kết quả.

 

– Anh nghĩ cô nàng sẽ đậu thanh lọc vì còn giữ được hình ảnh, thư từ liên lạc của anh chàng. Họ sẽ đoàn tụ thôi.

 

Ở trại, ngoài Châu ra thì các đoàn thể khác hoặc cá nhân cũng có báo Việt ngữ do những hội đoàn hay mạnh thường quân từ bên Hoa Kỳ, Canada, Úc Đại Lợi… gửi vào trại qua đường bưu điện nhằm giúp thuyền nhân biết thêm tin tức. Báo ít, người quá nhiều nên chẳng mấy chốc tờ báo đã nhàu cũ ngay nhưng dù vậy, vẫn được chuyền tay để xem. Có người nhận được báo gửi đến, xem xong lại khư khư cất làm của riêng, hạn chế cho người khác mượn. Có thể trong thâm tâm những người cất kỹ sách báo Việt ngữ này nghĩ nếu cho mượn thì phải mất công đi đòi. Thực tế đã có người mượn đọc, sau đó chuyền tay cho kẻ khác xem và để mất, thế rồi mất luôn tình bạn.

 

cf4b7841-94fa-43ec-9da2-6e74e54a3a65_zpsbb5c285b

 Học sinh của một lớp Tiểu học trong buổi đầu tiên đi nhận lớp học.

Cũng thời gian này thì trường Consortium bắt đầu mở các lớp dạy nghề cho thuyền nhân từ trưởng thành tới lớn tuổi trong trại. Bãi đất trống đầy cỏ bụi cùng hố nước, rác rưởi dưới chân đồi nhà thờ Công giáo Galang 1 ngày nào thì nay đã thành các ngôi nhà vách ván lợp lá rộng rãi, khang trang. Cũng do nhà thầu Titan nhận làm với Cao Ủy mà nhìn các căn nhà của trường Consortium này với từng barrack lợp lá của thuyền nhân thật khác xa. Trường Consortium do Cao Ủy tài trợ nên học phí được miễn. Sách giáo khoa, tài liệu, học cụ… cũng được nhà trường phát không tùy theo môn học. Cá nhân học sinh phải bỏ tiền mua vở, bút thôi. Môn học được nhiều người ghi danh nhất là đánh máy chữ, sửa xe gắn máy, điện và cắt may quần áo. Đó là dạy nghề, còn về giáo dục phổ thông thì trường Consortium định mở các lớp học của bậc tiểu học, trung học cho trẻ em trong trại. Cô-thầy cho học sinh các lớp tiểu học thì không khó nhưng cho bậc trung học thì lại hạn chế vì tìm không ra giáo viên giảng dạy trong số thuyền nhân tạm dung trong trại.

 

Ông Thăng thông báo tin cả đoàn ghe phải đi khai bản lý lịch cho phòng An ninh P3V. Hồi mới nhập trại Galang, đoàn ghe chúng tôi đã khai lý lịch ngay tại cầu tàu rồi, tưởng vậy là xong, chỉ còn chờ ngày gặp Cao Ủy thanh lọc. Nay thông báo phải đi khai lý lịch lần nữa, vài người trong barrack thắc mắc thì ông Thăng giải thích:

 

– Khai lý lịch ở cầu tàu là khai cho ban Đại diện người Việt biết, còn đây là khai cho chính quyền địa phương. Phòng An ninh P3V có lý lịch của ghe mình thì họ mới lập danh sách để Cao Ủy thanh lọc chứ.

 

Trong barrack ai cũng lấy giấy tờ cá nhân của mình ra xem lại, nghĩ là nhân viên phòng An ninh P3V sẽ hỏi rất nhiều điều nên cần chuẩn bị trước. Tính vậy nhưng buổi khai báo thật nhanh chóng chỉ tóm tắt ít chi tiết về tên họ ngày tháng năm sinh cùng thời điểm đến trại Galang mà thôi. Trên đường về lại barrack, Tám Kiệt nói:

 

– Hôm nay, ghe mình mới thực sự có tên trong hồ sơ tạm trú của chính quyền Nam Dương đó các ông. Từ khi nhập trại cho tới ngày hôm qua coi như bỏ, họ không biết gì về ghe mình, rồi y cho biết đã nhận dạy lớp điện và sửa xe gắn máy cho trường Consortium.

 

 

 

Thấy trường Consortium mở lớp dạy đánh máy chữ thì tôi cùng vài anh bạn trong phòng Dịch thuật ghi danh học ngay. Yến thì xin học lớp dạy cắt may quần áo còn Đỉnh thì học sửa xe 2 bánh và lớp động cơ nổ. Tôi học đánh máy chữ vì muốn biết cách đánh một văn bản sao cho nhanh và đẹp vì thực sự nhóm thiện nguyên phòng Dịch thuật chúng tôi hầu như ai cũng đều đánh máy chữ bằng cách mổ cò từng chữ một.

 

Đi học rồi qua giao tiếp với hiệu trưởng Harry là một thanh niên Nam Dương thì mới thấy máy chữ đã cổ lỗ so với computer mà anh ta hiện đang sử dụng tại văn phòng. Lúc đầu khi trường Consortium dạy thuyền nhân trong trại cách đánh máy chữ theo phương pháp Pivot thì ai cũng thích vì đã biết đánh một văn bản sao cho đẹp từ cách chừa lề phải, canh lề trái, sắp xếp từng đoạn chữ cũng như tăng tiến tốc độ khi đánh trong vòng 1 phút càng ngày càng nhanh hơn. Nhưng máy chữ vẫn còn cái dở như khi đánh sai một chữ nào đó thì chúng ta phải dùng sơn trắng White-out để tẩy bỏ nó ở bản chính và ở cả các bản sao bên dưới trước khi đánh lại con chữ hỏng đấy. Khi cần có thêm bản sao thì đả tự viên cũng không làm được nhiều tờ vì con chữ sẽ mờ dưới lớp giấy than trong khi ở máy computer lại là một việc dễ dàng. Thời bây giờ, đánh văn bản bằng máy computer là một việc đơn giản nhưng khi đó ở trại, tôi đã thích thú khi biết nó còn giúp người sử dụng căn đều đường biên hai bên, chuyển đổi từng đoạn viết cũng như trang trí các tiêu đề, chọn kiểu chữ mình muốn thật nhanh chóng chỉ sau một cú gõ vào bàn phím, một việc mà máy đánh chữ không sao làm được. Nhìn máy computer của Harry, tôi mong có dịp được học cách sử dụng và cả Nguyễn Sơn Hoàng, hiệu trưởng thiện nguyên viên của trường Consortium cũng cùng tâm trạng khi bộc bạch:

 

– Anh Vũ biết không, năm 1985 khi có dịp đi Hội Chợ Quang Trung, tôi đã dừng chân rất lâu bên những máy computer của đám việt kiều mang về chưng bày cho người tham quan vào xem. Tôi nghĩ hiện thời trong trại tị nạn Galang này chẳng có người Việt nào biết cách dùng máy computer vì nó còn mới quá so với trình độ của bọn mình ở đây.

 

Tuần lễ cuối của tháng 8 thì Cao Ủy xổ tiếp kết quả thanh lọc và đúng như linh tính tiên đoán từ trước, anh Khảm cùng chị Phượng đều cầm giấy đậu. Một chầu nước ăn mừng đã được anh chị khoản đãi nhóm chúng tôi ở quán bác sĩ Luân ngay sau khi vừa ra khỏi khu vực thanh lọc.

 

– Bây giờ anh mới thực sự an tâm ăn no, ngủ yên chờ ngay đi định cư mà phần chắc sẽ là Hoa Kỳ. Anh sẽ gặp lại phi trường Travis trong vùng California nơi mà năm xưa bọn anh đã từng đến trong chuyến tu nghiệp quân sự.

 

Ngừng một chút anh Khảm hoan hỉ:

 

– Làm sao mà anh có thể rớt được hả Vũ!.

 

Trông anh thật khác với vẻ mặt lo âu ở mấy ngày trước sau khi nghe loa phóng thanh báo tên trong danh sách đi nhận kết quả. Chia vui với anh chị mà lòng chúng tôi có chút ganh ghét vì thấy cả hai người họ đã thành lớp người khác trong trại. Tương lai đang mở rộng trước mắt họ. Chúng tôi cũng lo lắng vì thấy tỉ lệ người rớt thanh lọc vẫn nhiều hơn đợt trước.

 

Như trong các đợt xổ thanh lọc kỳ trước, lần này con số cựu quân nhân-viên chức chính quyền miền Nam VNCH bị Cao Ủy đánh rớt không kém. Cứ suy nghĩ chủ quan cho là nếu lý lịch liên quan đến chế độ cũ thì sẽ được Cao Ủy chấm đậu thành người tị nạn chính trị đã không còn như lúc khởi đầu nữa. Giờ đây ai cũng thấy nếu bản thân từng bị Việt Cộng bỏ tù vượt biên hay tù học tập cải tạo mà không biết cách khai báo trong lúc thanh lọc thì dễ dàng bị Cao Ủy đánh rớt như chơi. Trường hợp một cựu đại úy pháo binh bị đánh rớt ở các lần xổ trước tại trại đã làm nhiều người lo âu nhưng tin nói về các cựu quân nhân-viên chức miền Nam VNCH ở trại Sungei Besi bị chính quyền Malaysia đánh rớt thanh lọc và đã xếp họ vào danh sách di dân kinh tế để chờ ngày cưỡng bức hồi hương mới thật sự làm thuyền nhân mất ăn mất ngủ. Vì, trong danh sách này có cả cựu trung tá Lê Văn Trọng nguyên là tiểu đoàn trưởng của Sư đoàn 7 Bộ Binh. Ông Trọng này bị Việt Cộng bắt tù cải tạo gần 8 năm trời, chuyển giao qua 8 trại tù từ Nam chí Bắc cùng gần 4 năm quản chế tại địa phương. Thế mà, khi vượt biên đến được đất Mã, dù mang theo được giấy tha, sổ quản chế… nhưng vẫn không giúp gì cho việc chứng minh lời khai của bản thân ông.

 

Càng nhiều người bị Cao Ủy đánh rớt thì viễn cảnh về lại quê nhà sẽ không xa khi buổi tối ở barrack nghe tin radio của VOA, BBC… nói là ở nước Anh, chính đảng Lao Động hồi nào tới giờ vẫn áp lực với chính quyền chống việc cưỡng bức thuyền nhân Việt ở các trại tị nạn bên Hồng Kông hồi hương thì nay họ lại tuyên bố thôi không còn chống đối chuyện này nữa. Ở bên Malaysia thì ông Ngoại trưởng Abdullah Bin Ahmad Badawi lên tiếng kêu gọi các nước trong hiệp hôi ASEAN nên xúc tiến việc trục xuất thuyền nhân Việt cùng với chuyện 2 nước Thái Lan, Lào thỏa thuận với Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về kế hoạch cưỡng bức hồi hương 60.000 người tị nạn Lào gốc Mèo trong các trại ở biên giới Thái Lan mà không thấy có một chống đối nào về phía chính phủ Hoa Kỳ dù là trong số người tị nạn này có hàng ngàn chiến sĩ từng cộng tác mật thiết với họ trong thời chiến tranh trước năm 1975. Hoa Kỳ mà không giơ tay ra can thiệp cho đám người Lào gốc Mèo này thì rồi cũng sẽ có ngày đến phiên thuyền nhân Việt.

 

Thấy tôi lo sợ ra mặt, Yến bảo:

 

– Lo làm gì anh Vũ! Cái gì đến thì nó sẽ đến dù mình không muốn. Ai có số đi định cư thì rồi sẽ đi… Còn không… rủi phải về Việt Nam thì về. Cứ coi như mình đi vượt biên mà không thành như bao nhiêu người còn đang kẹt bên quê nhà vậy.

 

Nàng nói hoài làm tôi bực mình, đã gắt:

 

– Em có về thì cũng còn có ngày đi đoàn tụ với thân nhân ở Úc nên không lo… Thử như anh, không người thân thuộc ở nước thứ 3 bảo lãnh cho thì xem… Ở đó mà nói hay.

 

Chỉ vậy thôi mà cũng làm cho Yến giận tôi trọn cả ngày liền.

 

 

eb8b2afa-822c-40b1-be42-73d6ea02e496_zps9696c73c

Thuyền nhân Việt tại trại White Head (Bạch Đầu)-HongKong biểu tình chống cưỡng bức hồi hương.

Cao Ủy mộ thêm luật sư đến từ Hoa Kỳ, Ấn Độ, Anh, Singapore để tăng tốc độ thanh lọc thuyền nhân như Michael, Larry đến từ Hoa Kỳ, Lưu Lệ Trinh từ Singapore, Sharon O Day đến từ Do Thái, Peter đến từ Hòa Lan và các luật sư khác đến từ Ấn Độ, Phi Luật Tân nữa. Có 2 luật sư được thuyền nhân chú ý nhiều nhất là Kim Chi, một nữ Việt kiều tại Mỹ. Cô luật sư này có vẻ hiền, ít nói. Nhìn mặt, tuổi cô khoảng ba mươi và khá đẹp. Đặc biệt là cô ta có mầu da trắng ngà mịn màng nên khiến ai trong trại cũng phải chú ý khi gặp lần đầu. Hầu như người da vàng châu Á sống ở xứ lạnh đều có nước da như cô. Người trong trại thấy có Kim Chi đều tin là nếu gặp được cô trong buổi thanh lọc thì sẽ dễ dàng hơn.

 

– Người Việt với nhau thì phải giúp thôi. Gia đình cô ta chắc cũng dân di tản năm 1975 hoặc không thì cũng vượt biên như mình chứ khác gì.

 

Luật sư thứ 2 là Simon người Anh quốc đến từ HongKong nơi đã, đang là các trại đầu sóng ngọn gió của dân tị nạn Việt.

 

– Simon là sát thủ thuyền nhân bên HongKong đó, chả chặt đẹp biết bao người mình rồi, thuyền nhân phản đối dữ quá nên Cao Ủy Trưởng khu vực Châu Á mới chuyển cha nội sang trại Galang mình, họ đồn thổi như vậy.

 

Thêm các luật sư thì Cao Ủy cũng cần thêm những thiện nguyện viên giúp việc điền các mẫu khai lý lịch của thuyền nhân trước buổi sơ vấn. Nhóm thiện nguyên viên trong phòng Dịch thuật chúng tôi định bỏ việc hết cả để xin làm chân viết lý lịch cho Cao Ủy vì tin chắc nếu giúp việc cho họ thì họ sẽ giúp lại trong khi thanh lọc. Biết chuyện, ông Bửu đã trấn an, khuyên cả nhóm đừng bỏ việc và nói Cao Ủy cũng biết việc làm của chúng tôi.

 

– Mình dịch thuật giấy tờ của thuyền nhân cho họ thì họ sẽ phải giúp lại mình chứ, các cậu cứ làm ở đây. Tôi sẽ trình bày với ông Peter-Cao Ủy trưởng về công việc của các cậu. Rồi sẽ ổn cả thôi, cần gì cứ phải là nhân viên viết lý lịch.

 

Chính vì cái khẩn khoản, nói chắc của ông Bửu mà cả nhóm chúng tôi tiếp tục làm việc tại phòng Dịch thuật thay vì đầu quân sang làm người viết lý lịch cho Cao Ủy và đó chính là điều sai lầm tệ hại nhất đã làm tôi phải kéo dài thời gian gần 7 năm trời sống ở trại.

 

Dù đã nhiều người hồi hương về Việt Nam rồi mà dòng người Việt đổ vào trại tị nạn Galang vẫn không ngớt. Có tin từ phòng An ninh P3V xác nhận đảo tị nạn Galang bây giờ là nơi nhận hết các ghe thuyền nhân từ bên Việt Nam, bên Malaysia và Singapore chuyển qua. Tin này đúng vì qua thư của thân nhân bên đảo tị nạn Pulau Bidong gửi vào trại cho biết thuyền nhân bên đó cứ mỗi tuần phải chuyển vào đất liền tới mấy trăm người. Lý do của việc làm này, chính phủ Malaysia nói là trả lại hòn đảo đó cho tiểu bang Trengganu để làm nơi du lịch. Trong những chuyến ghe đến trại gây chú ý nhất là có hai thuyền nhân mang theo được các bộ hài cốt lính Mỹ tử trận tại Việt Nam trong thời chiến trước đây.

 

Người thứ nhất mang 3 bộ hài cốt có gần như đầy đủ từ sọ, xương cẳng chân, đòn tay, ngón… Người thứ hai thì chỉ có một nhúm vài mẩu bỏ gọn trong một lọ thủy tinh nhỏ xíu. Như một chuyện không ngờ, tôi đã gặp người thứ hai nầy khi ông ta đến phòng Dịch thuật nhờ thảo dùm lá thư bằng Anh ngữ.

 

– Tui muốn anh giúp tui viết một lá thư để báo cho phòng JVA biết về bộ hài cốt Mỹ mang theo được, ông ta khẩn khoản.

 

Như đã kể ở các đoạn trước, JVA là phòng định cư của phái đoàn Hoa Kỳ tại tất cả các trại tị nạn của thuyền nhân Việt, chính vậy nên ông đã nghĩ họ có thể giúp cho việc định cư của ông sẽ chóng vánh hơn.

 

– Tui mong họ sẽ can thiệp cho trường hợp của tui để khỏi phải bị thanh lọc và được đi định cư tại Mỹ sớm hơn.

 

Lá thư! Thực ra là lời kể của ông về bộ hài cốt nhưng ngồi tại phòng Dịch thuật kẻ ra người vô thường xuyên đã làm tôi rối trí, không theo sát câu chuyện được nên tôi đề nghị tìm một chỗ vắng vẻ để ông thuật lại từ đầu. Người đàn ông đó đồng ý ngay. Hai chúng tôi đi ra hướng ngoài đường, vừa đi ông ta vừa nói:

 

– Tui đã phải mất công sức, thời gian và tiền bạc để có được nó chứ đâu dễ dàng gì. Hồi còn bên quê nhà thì khác, nay mang nó sang được đây thì phòng JVA phải giúp lại. Mình tìm thấy hài cốt quân nhân nước họ thì họ phải trả ơn tui chứ anh. Người Mỹ muốn làm gì mà chẳng được, một cái vé tị nạn cho tui thì nhằm nhò gì. Không lẽ họ lại để cho tui đã cất công sang đây mà phải hồi hương. Tui mang hài cốt thật chứ đâu phải đồ dỏm như của ông kia.

 

Thì ra là vậy. Tôi gật đầu, biểu lộ đồng tình với ông ta nhưng rồi thắc mắc:

 

– Sao ông biết mấy bộ hài cốt Mỹ của ông kia mang theo là đồ… dỏm?

 

– Trong lúc giao tranh, đạn bay bom nổ… nếu bị sát thương thì dễ gì mà còn nguyên vẹn hình hài. Rồi thân xác nằm đó có khi bị vùi lấp trong đất trong nước cả một thời gian dài tất nhiên xương cốt phải mai một đi chứ anh. Làm sao mà còn tồn tại từng cái được, đơn giản quá mà.

 

Hai chúng tôi vào một bàn dưới bóng cây mát ở quán cà phê Cam Ly, gọi thức uống xong thì người đàn ông nói:

 

– Tui tên là Nhật, thấy anh Vũ còn trẻ thôi thì tui gọi bằng chú cho thân nha.

 

Tôi nghe vậy liền gật đầu thì ông Nhật tiếp:

 

– Câu chuyện kiếm ra hài cốt Mỹ này nó dài dòng lắm đâu phải một sớm một chiều mà có nó ngay được chú. Thực ra lúc đầu không phải chỉ có mình tui mà là cả một nhóm 3, 4 anh em cùng đi tìm cả thẩy đó, mỗi người một hướng rồi khi biết chỗ rồi mới họp nhau lại cùng đào chung. Khởi sự tui chẳng biết về vụ hài cốt Mỹ gì ráo, chẳng qua bạn tui là anh Chu có người thân ở bên Mỹ viết thư về dặn là ráng kiếm được hài cốt quân nhân Mỹ rồi kín đáo báo tin cho chính quyền Hoa Kỳ biết thì sẽ được họ cho vào định cư. Chính vì vậy mà cả bọn tui mới bàn nhau đi tới mấy chỗ hồi xưa có căn cứ Mỹ đóng quân hoặc là nơi từng giao tranh khốc liệt để dò hỏi dân địa phương xem sao, may ra sẽ gặp.

 

Ông Nhật kể vì là dân ở Sài Gòn nên trong nhóm phân công ông tản về vùng Củ Chi-Hậu Nghĩa trên hướng Tây Bắc về tỉnh Tây Ninh giáp với nước Kampuchia. Củ Chi là nơi Sư đoàn 25 Bộ Binh Hoa Kỳ từng đồn trú tại ấp Cây Bài thuộc xã Phước Vĩnh An gần địa danh Hố Bò giáp với tỉnh Bình Dương. Căn cứ nơi lính Mỹ đóng quân đó Việt Cộng gọi tên Đồng Dù nguyên thủy là một cánh rừng cao su trồng từ thời thực dân Pháp. Để tránh tai mắt của công an Việt Cộng, trong vai những người đạp xe đạp đi mua ve chai-đồ cũ, ông Nhật đã rong ruổi qua nhiều thôn xóm của Củ Chi-Hậu Nghĩa như Tân Phú Trung, Tân Thông, Cây Bài… và có lúc đã đi khá xa xuống tuốt tận Thái Mỹ, Sò Đo hoặc Phước Hiệp gần Trảng Bàng. Củ Chi thời chiến tranh thì phía Việt Cộng gọi địa phương này là Đất Thép Thành Đồng vì những trận giao tranh ác liệt giữa họ và quân đội viễn chinh Mỹ cũng như với binh lính miền Nam VNCH. Hàng ngày đạp xe mua ve chai-đồ cũ như vậy, nhưng hễ ghé nơi nào thì ông Nhật đều khéo léo dò hỏi dân cư địa phương về những chuyện liên quan đến lính Mỹ hành quân hoặc về các trận đánh như một người hiếu kỳ muốn biết chuyện.

 

– Biết được chỗ nào là nơi hồi xưa đánh nhau khó lắm chú Vũ… Mà ngay cả biết chỗ đó rồi thì hài cốt lính Mỹ ở đâu ra? Nó như mò kim đáy biển vậy.

 

Ông Nhật cười với tôi sau làn khói thuốc lá rồi chậm rãi kể:

 

– Tui đã định bỏ vùng Củ Chi để đi sang bên Chơn Thành hay Bến Cát xem sao thì tình cờ trong một lần đạp xe vào xã Trung Lập Thượng lại gặp được một cậu bé gọi tui vào nhà để gia đình bán ít đồ cũ. Giống như tất cả các căn nhà trong vùng quê đó, nhà cậu bé là một căn nhà nhỏ mái lợp tôn tường gạch chung với ván gỗ cũ. Dân trong vùng này mới về dựng lại cơ nghiệp sau khi hết chiến tranh và đều giống nhau ở chỗ nhà nào cũng có khoảnh vườn trồng đầy cây ăn trái như ổi, mít, dừa… bao chung quanh. Vào nhà rồi thì tui gặp một phụ nữ và bà ta hỏi có mua máy hát cũ thì sẽ bán cho. Đó là cái máy hát dĩa chạy bằng cách quay dây thiều cách đây cả hàng mấy chục năm cùng khoảng một chục dĩa đá hát cải lương Asia cũ. Lần đầu tiên trong đời tui mới thấy tận mắt cái máy hát xưa cũ như vậy. Trông thật ngộ vì nó được đặt gọn trong cái thùng gỗ và còn nguyên cả cái loa kèn to đùng ngẩng cao bên cạnh. Có hàng chữ Pathe ở cái biển đồng rỉ mốc xanh nằm ở một góc của cái thùng gỗ thì chắc cái máy hát phải ra đời từ thời còn vua Bảo Đại tại vị. Tui hỏi thì bà chủ nhà cho biết đây là vật còn sót lại của gia đình. Xem kỹ mới biết cái máy hát đã hư và nếu tui mua thì chỉ có thể bán lại cho dân sưu tập đồ cổ. Nghĩ vậy nhưng tui biết kiếm được người muốn mua nó đâu phải dễ. Đồ quỷ nầy rước về nhà làm gì vì thực sự mình có phải là dân ve chai-đồ cũ đâu? Tui nghĩ vậy nên đã trì hoãn bằng cách nói với bà chủ nhà để thư thả, cho thời gian đi hỏi mối trước đã rồi sẽ trả lời sau. Căn nhà đó là một gia đình ba người gồm cậu bé, mẹ và bà ngoại. Người đàn bà hỏi chuyện tui là mẹ cậu bé và họ mưu sinh bằng cách làm bánh ướt bán tại nhà cũng như bỏ mối cho bạn hàng của cái chợ xép nhỏ trong vùng. Tui nghĩ bánh ướt nó khác với bánh cuốn ở chỗ không có nhân thịt mà chỉ là chút hành củ phi vàng cho thơm. Sẵn bụng đang đói, tui liền mua ít bánh ướt để ăn. Nước mắm chấm thì chủ nhà cho không một chén nhỏ còn chanh, ớt thì hái ở cây trồng ngoài sân nhà. Từ hôm đó, nếu mỗi lần đạp xe vào thăm dò trong vùng này thì thỉnh thoảng tui ghé vào căn nhà họ để nghỉ chân chốc lát hay mua bánh ướt ăn hoặc làm một bụng ổi chín ngoài vườn… kể cũng thú.

 

Ông Nhật vừa nói vừa cười với tôi như thể đang ngồi trong căn nhà cùng khu vườn đầy cây trái năm đó.

 

Hai chúng tôi ngồi yên lặng trong quán, ông Nhật chậm rãi rít từng hơi thuốc còn tôi thì trong trí cố sắp xếp lại những lời ông vừa kể. Trời đã gần vào trưa qua cái ánh nắng chiếu gắt hơn làm nóng luồng gió thổi từ ngoài hiên quán hắt vào mặt tôi. Từ khi còn ở bên quê nhà, tôi cũng đã nghe ai đó nói loáng thoáng về vụ hài cốt Mỹ nên giờ gặp được ông Nhật thấy thật vui. Nghĩ vậy, tôi khẽ liếc mắt nhìn ông Nhật đang trong nụ cười tươi thì ông lại tiếp:

 

– Một lần ghé vào căn nhà đó thì tình cờ tui gặp được một ông già cũng đến để mua bánh ướt. Sau khi trò chuyện biết tui là dân mua ve chai-đồ cũ thì ông lại gần hỏi nhỏ chịu mua máy móc quân đội hư cũ không. Máy móc gì đây? Tui nghĩ vậy nên hỏi lại ông già và thật không ngờ khi biết đó là nguyên cả cái xác máy bay phản lực bị rớt. Máy bay bị rơi trong thời chiến tranh, chắc chắn là vậy nhưng của không lực Hoa Kỳ hay của chính quyền miền Nam VNCH và nó là loại máy bay phản lực gì? Có chút thắc mắc trong lòng khiến tui hăng hái theo chân ông già đó về nhà và đến nơi rồi ra sau vườn thì mới thấy cái xác máy bay thật. Nó nằm chìm gần hết trong một hố trũng và chỉ nhô chút xíu phần đuôi trên mặt đất. Đứng khá xa thì khó mà biết đó là vật gì và khi tui hỏi ông già về việc mua bán này thì không ngờ ông ta đòi một cái giá quá mắc, không thể dễ dàng chấp nhận ngay được.

 

– Ông già đó đòi giá bao nhiêu hả anh ? Tôi khẽ hỏi.

 

– Ông ta nói bán mão 8 cây vàng và tự tui phải đào đất rồi tháo gỡ lấy máy móc nếu chịu mua cái xác máy bay đó. Thêm nữa, vàng phải chồng ngay hết cho ông ta một lúc và khi đào bới rủi bị công an, xã đội… phát giác rồi làm khó thì tui ráng chịu lấy.

 

– Trong máy bay đó có hài cốt phi công Mỹ hay sao mà ông già đó lại nói vậy?

 

– Không! Ông ta không biết một chút gì về chuyện hài cốt Mỹ cũng như về lai lịch cái máy bay khi bị rớt.

 

Ông Nhật lắc đầu nhè nhẹ rồi tiếp:

 

– Như tui kể ban nãy, vùng này thời chiến tranh là nơi bỏ hoang, chỗ oanh kích tự do nên dân ai mà dám trụ lại để ở. Họ bỏ đi hết. Cái máy bay phản lực đó nằm đây từ lúc nào, ra sao khi rớt thì không ai thấy ai biết cả. Đây vốn là đất cũ của gia đình ông già nên khi về lập vườn trở lại thì ông ta mới thấy và biết là máy bay phản lực vì hồi đó nó chưa bị đất lấp kín như bây giờ. Tui nói ông già giá 8 cây vàng thì quá cao, nói in ít đi nhưng không ngờ ông bảo đòi như vậy là còn rẻ chứ đúng ra phải cả hàng chục cây thì ông mới bán.

 

Xác máy bay hư cũ lại nằm chìm trong đất mà đòi giá tới 8 cây vàng! Tôi nghĩ thầm trong đầu đâu dễ gì kiếm ra số vàng lớn như vậy ở thời buổi đó để mua cái xác máy bay mà lại phải bỏ công đào bới lấy. Nó đâu khơi khơi ở trên mặt đất để dễ dàng lao vào tháo gỡ máy móc hay phụ tùng, làm phế liệu như hình ảnh tôi đã thấy công nhân xẻ thịt các xác máy bay vận tải to đùng nằm gần bờ rào của phi trường Tân Sơn Nhứt. Chừng như biết cái thắc mắc của tôi, ông Nhật mỉm cười khi kể:

 

– Lúc đầu tui cũng không hiểu sao ông già này lại nói giá tới 8 cây vàng? Thì ra chính ông ta kể là từng đọc báo nghe nói mỗi chiếc máy bay phản lực giá trị tới cả hàng chục triệu đô la Mỹ nên mới nói cao như vậy. Ông ta nghĩ máy móc bên trong được làm toàn bằng vàng ròng không cả đấy chú Vũ ạ.

 

– Mà điều ông già đó nghĩ vậy có đúng không hả anh?

 

– Trật lất! Làm sao mà máy móc nào lại hoàn toàn bằng vàng ròng cả vì vàng ròng nó rất mềm và đắt tiền ai mà dám chơi sang không cần thiết nhất là trong các máy bay chiến đấu là thứ có thể bị bắn rớt khi lâm chiến. Vàng là nguyên tố kim loại dễ dát mỏng nhất và có tính dẫn nhiệt, dẫn điện tốt lại hầu như không bị hư hỏng bởi nhiệt, độ ẩm hoặc oxy hóa nên người ta mới mạ vàng cho các thiết bị trong máy bay nhưng chỉ một lớp rất mỏng thôi. Tui cho ông già biết nhưng ông ta vẫn cho là tui nói như vậy để dìm giá.

 

Ông Nhật nói dứt câu, lấy tay phát ngang như biểu lộ một dứt khoát không thể có chuyện vừa nói được. Tôi nhìn ông chợt nhận ra có điều gì là lạ… Thì ra! Điều đó là ở cặp mắt kiếng đen to đùng nằm trên khuôn mặt ông. Hai chúng tôi đang ngồi trong bóng mát của quán nước, lẽ ra không cần đến nó để làm dịu mắt khi ở ngoài nắng như lúc nãy thì ông ta phải bỏ cặp kiếng đen ra chứ! Có người, lúc nào cũng đeo mắt kiếng đen dù cả đang trong buổi tối thì không biết ông Nhật này có giống vậy không? Chút xíu nữa tôi đã buột miệng cười nhưng may mà nén lại được khi nghĩ đến hình ảnh một điệp viên không không thấy đang ngồi trước mặt mình. Ông Nhật lại tiếp:

 

– Tuy không nghĩ mình là dân đi mua ve chai-đồ cũ chuyên nghiệp nhưng thực tế tui thành dân trong nghề này thực thụ rồi. Tiền xưa-bạc cũ, máy hát, đồng hồ, máy chụp hình hư… tui đã thử mua và bán lại kiếm ăn được nên với cái phi cơ bị rớt đó, nghĩ cũng chỉ có thể mua các phế liệu trong dàn máy đem bán cho dân chuyên nghề lạc xoong thôi. May ra gặp được thiết bị có mạ vàng thì cũng một lớp mỏng và chỉ riêng thợ kim hoàn mới phân kim được nhưng họ mua lại cũng rẻ lắm. Trước đó, có lần ghé về vựa ve chai, tui còn gặp những mảnh nhôm sáng giới, được cưa ra từ thân thiết vận xa M 113 do người ta mang đến bán. Thiết vận xa M 113 giá mỗi chiếc cả trăm ngàn đô la mà khi hỏng rồi thì cũng chỉ để làm phế liệu. Cái xác máy bay ở vườn nhà ông già này cũng vậy, còn nguyên vẹn thì mới có giá bạc triệu chứ. Nghe cái giá quá cao tui lờ đi không để ý đến nữa cho đến khi gặp lại ông ta ở trong căn nhà làm bánh ướt. Ổng bảo tui đến xem lại cái xác máy bay đó và nhắm mua được bao nhiêu thì cứ nói. Tui đến và xem xét cái máy bay đó kỹ hơn lần trước. Trừ phần đuôi còn lộ khá nhiều trên đất, các phần vỡ ra của máy bay nằm phân tán cái ngập trong đất, cái chìm trong nước… và chỉ nhô lên chút xíu làm tui nản vì công sức đâu mà lôi được chúng ra ngoài. Hố trũng nơi máy bay rớt ở đây thực ra khá rộng và là loại đất sình mắc võng dập dềnh khi bước chân lên nên tui bảo chỉ mua những thứ ông ta gỡ mang ra thôi. Nói là nói vậy… nhưng phải là thứ biết có thể bán phế liệu được tui mới mua. Ở vựa ve chai, có vài loại hợp kim trông giống nhôm nhưng chủ dặn bạn hàng đừng mua về vì khi bỏ vào lò nấu, những thứ này sẽ cháy tiêu hết. Nghe tui nói vậy, ông già bảo không có sức và nài tui nếu không mua hết cả cái máy bay thì từng phần cũng được nhưng phải tự tui đào, tháo gỡ lấy và giá cả sẽ thương lượng sau. Tui lắc đầu, nói không thể kham được rồi đạp xe đi, nhủ thầm chẳng bao giờ quay lại nhà ông già này nữa.

 

Câu chuyện nếu cứ dông dài có thể sẽ làm tôi về barrack trễ và như vậy, Yến sẽ buồn vì đã để nàng phải chờ cơm buổi trưa nhưng tôi lại thích nghe ông Nhật kể nên tự nhủ có gì thì mình sẽ nói cho nàng biết sau vậy.

 

– Trong xác máy bay có hài cốt mà tui đâu ngờ.

 

Rồi ông Nhật tiếp:

 

– Nhóm tụi tui cứ lâu lâu tụ họp ở nhà anh bạn nào đó để lai rai ba sợi và thăm dò nhau về hài cốt Mỹ. Tui có kể chuyện cái máy bay rơi cho mấy anh bạn đó nghe mà chẳng ai để ý đến, có lẽ do mải nhậu nhưng sau đó thì anh Chu đến gặp tui nói muốn đi đến chỗ máy bay rớt xem sao. Anh Chu hiểu biết nhiều nhất trong đám tui nên gần như là người chủ chốt của cả bọn. Anh ấy nghĩ thời trước, người Mỹ thường thu hồi xác phi cơ của họ khi bị rớt. Trung Lập Thượng nằm đâu xa căn cứ Sư đoàn 25 Bộ Binh Mỹ thì họ dư sức rải quân ra cho việc thu hồi cái xác máy bay này nhưng sao nó vẫn còn đây. Hai đứa tui đến nhà ông già để xem rồi anh Chu về bàn với cả nhóm và quyết định mua cái phần đầu của máy bay thôi vì có buồng lái. Gặp ông già, tụi tui ra giá 1 cây vàng và nói phế liệu ở cái phần đầu máy bay còn tái chế được, ở những chỗ khác thì coi như bỏ. Nói giá rồi nhưng không được đồng ý ngay, cho đến khi tụi tui nói các việc khó sẽ phải làm từ cái hố trũng thì ông già mới chịu bán.

 

– Không còn đòi giá cao như lúc đầu nữa mà chỉ 1 cây. Tại sao lại dễ dàng vậy? Khi đào, bọn ông có bị công an hay du kích làm khó dễ gì không? Tôi hỏi.

 

– Có lẽ ông ta đã già nên không thể chờ lâu hơn được hoặc đang cần tiền và cũng biết máy móc trong đó nào phải bằng vàng ròng. Bọn công an-du kích có lập một chốt kiểm tra kinh tế ở ấp Suối Sâu để chận bắt người nào chở bắp, gạo, đậu phụng hay thịt heo thịt bò ra khỏi địa phương thôi, còn phế liệu chiến tranh thì chúng không ngó đến nên tụi tui đào thoải mái. Anh Chu quyết định mua mão cái phần máy bay đó cũng chỉ cầu may và khi tụi tui bắt tay vào việc mới thấy còn khó hơn lúc đầu dự tính. Tuy đang mùa khô nhưng từ các lỗ mội, nước cứ tràn ra làm tụi tui phải thuê một máy bơm Kohler 4 để hút sạch trong cái hố trũng. Còn phải làm bờ bao cản nước, đào hết đất chung quanh thì mới đụng đến được cái phần đầu máy bay. Ông già nói trong mùa mưa, chỗ này ngập nước như một cái bàu lớn vì thế đất ở đây thấp nhất vùng, chỉ vài cơn mưa là nước các nơi đổ về trắng xóa mênh mông. Tụi tui biết phế liệu trong buồng lái nếu gặp được thứ làm bằng Titan, bằng bạc hoặc mạ vàng thì cũng có ăn chút đỉnh nên coi như mua ve chai vậy. Đào cho đến lúc thấy được cái mũ bay thì rất mừng vì biết mình đã tính đúng. Thông thường, phi công sẽ bung dù thoát hiểm khi gặp nạn nhưng ở cái phản lực cơ này lại không như vậy khiến tụi tui thắc mắc tại sao nó rớt ở đây thay vì bay về căn cứ.

 

– Đó là phản lực cơ loại gì hả ông?

 

– Là F4 hay F105 thì tụi tui thực sự không biết nhưng nó có 2 chỗ ngồi, một đằng trước một đằng sau và hài cốt nằm trong đó cả.

 

– Tôi nhớ người trong trại nói ông chỉ mang theo có chút xíu xương thôi… Vậy 2 bộ hài cốt đâu hết cả rồi?

 

– Thành đất hết…

 

Ông Nhật ngập ngừng rồi tiếp:

 

– Có phần chắc khi máy bay đó rớt xuống phải cháy dữ lắm rồi bị ngập trong nước bao năm trời đã làm xương cốt tiêu tan… Vài mảnh xương sọ cùng ít tóc mầu nâu nâu vàng vàng tụi tui lấy được trong 2 cái mũ bay rồi sau đó mới gặp thêm mấy cái răng và 2 thẻ bài kim loại. Còn có các mảnh vải dù, đồ bay, dây thắt lưng, giày trận, dao găm, đồng hồ tay, kiếng mát, hột quẹt zippo… nhưng đều hư và rỉ sét cả. Phải chôn ngay các thứ đó trong lớp đất đổ đi vì tụi tui sợ ông già biết có hài cốt Mỹ sẽ rắc rối, không lợi.

 

– Mua mão rồi mà còn sợ ông ta sao?

 

– Sợ chứ chú! Chuyện mua bán đã xong, vàng giao đủ rồi vậy mà ông ấy thỉnh thoảng vẫn đáo lại xem coi những thứ tụi tui lấy lên từ đất. Có khi ổng còn lấy dao, lấy kềm cạy cắt những phế liệu đó ra xem nhưng chẳng gặp cái gì bằng vàng ròng cả. Tụi tui còn giả bộ nói đã lỡ mua mão quá cao so với số phế liệu thu được cùng công sức bỏ ra để ông ta chột dạ, không đến chỗ đào nữa. Sống có một mình ở khu đất đó mà chẳng bao giờ ông ta mời tụi tui vào nhà chơi hoặc cho một miếng nước uống… khác hẳn cách sống xởi lởi của người miền Nam. Anh Chu cho rằng ông già từng sống ở đây thời chiến tranh, nếu không phải Việt Cộng thì cũng thuộc dạng có cảm tình và không chừng khi biết anh em mình là lính chế độ cũ nên ông mới có thái độ như vậy. ” Bọn ta đừng để ý đến lão, cứ lẳng lặng làm càng nhanh càng tốt “.

 

– Rồi sự việc sau đó ra sao khiến ông phải vượt biên sang đây?

 

– Lấy được hài cốt cùng thẻ bài của 2 phi công đó rồi thì bọn tui mới nhờ người thảo đơn gửi sang tòa đại sứ Hoa Kỳ bên Bangkok-Thái Lan ở số 131 đường Soi Tien Shan gì đó… Anh Chu cũng gửi đơn cho thân nhân bên Mỹ biết nhưng người đó lại phải nhờ các người Việt khác nữa thì mới liên lạc được với viên chức trong chính phủ biết về các hài cốt tụi tui đang cất giữ. Đơn thì lớp phải chịu giá cao nhân viên bưu điện mới chịu gửi thư an toàn cho, lớp thì nhờ người xuất cảnh mang đi gửi giùm… Ôi thôi mọi thứ tốn tiền lắm mà rồi cứ nghĩ khi chính phủ Hoa Kỳ biết về các bộ hài cốt thì họ sẽ cho người đến tiếp xúc với mình ngay nên cũng ráng chịu các phí tổn. Gia đình tui, gia đình anh Chu cùng gia đình các anh khác… sẽ được chính phủ Mỹ cho định cư ở nước họ hết cả thẩy trong một ngày không xa. Ai cũng nghĩ vậy nên ngay cả những người mà thân nhân anh Chu bên Mỹ nhờ liên lạc, cũng buộc tụi tui phải ghi tên của bà con họ đang còn ở Việt Nam vào bản danh sách người tìm ra 2 bộ hài cốt thì họ mới chịu giúp. Chờ rất lâu, tụi tui mới nhận được các hồi báo từ chính phủ Mỹ và khi nhờ người dịch ra tiếng Việt rồi ai nấy đều thất vọng vì không ngờ kết cuộc như vậy. Hồi báo nào cũng một nội dung chính phủ Hoa Kỳ quan niệm vấn đề tìm kiếm tù binh Mỹ mất tích cũng như hài cốt quân nhân Mỹ tử trận tại Việt Nam là một cố gắng có tính nhân đạo. Tại Việt Nam, những ai biết tin tức về các vấn đề này nên lập tức thông báo đến các cơ quan hữu trách chính thức của chính phủ. Tóm lại, chỉ với tinh thần nhân đạo, những người nào biết tin tức về quân nhân Mỹ mất tích hoặc hài cốt Mỹ sẽ không được hưởng ân huệ đặc biệt nào, và sẽ không nhận được bất cứ phần thưởng hay sự giúp đỡ nào từ chính phủ Hoa Kỳ. Chú nghe có nản không… Chẳng được gì hết lại còn khuyên mình nên đi báo cho công an biết ngay. Ai mà dám.

 

– Làm sao mà báo cho công an được, bị bắt là cái chắc. Tôi tán đồng.

 

– Đúng!

 

Ông Nhật gật đầu rồi nói:

 

– Tụi tui bàn nhau là không nên vì thực tế công an Việt Cộng ngoài mặt làm ra vẻ hợp tác với chính phủ Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm tung tích quân nhân Hoa Kỳ thất tung tại Việt Nam nhưng đồng thời, họ âm thầm trừng phạt rất nặng với bất kỳ ai dính líu vào các vụ hài cốt Mỹ. Đã có người tìm được hài cốt Mỹ, rủi để công an biết và người đó đã bị nhốt tù với lý do khơi lại vết đau của các bà mẹ liệt sĩ Việt Cộng. Rõ ràng tâm lý thù ghét chính quyền Mỹ vẫn còn trong não trạng của công an. Thấy sự việc mình tính đi vào ngõ cụt, tụi tui thất vọng chẳng biết làm gì về 2 bộ hài cốt đó ngoài việc cất kín trong nhà. Cứ vậy cho đến khi ngoài xã hội rộ lên vụ mua bán hài cốt Mỹ với giá cao làm anh em tụi tui bất hòa vì có người muốn nhân cơ hội này bán đi sẽ kiếm được tiền, bù cho chi phí đã bỏ ra khi đào. Tui và anh Chu không đồng ý nên nội bộ gây lộn với nhau. Bán đi, biết đâu có khi hai nước Hoa Kỳ-Việt Nam bang giao với nhau, họ cho người đến nhận thì làm gì còn hài cốt mà nộp? Anh Chu và tui thuyết phục các anh bạn kia rằng cả bọn mình đứng tên trong các lá đơn đó nên không thể bán hài cốt được nhưng họ khăng khăng không nghe. Cuối cùng, anh Chu đành phải đưa cho mấy người họ một bộ để họ muốn làm gì thì làm, coi như tình bạn bè đã mất và không còn dính dáng đến chuyện hài cốt nữa.

 

– Rồi ông vượt biên sang đây một mình với… nó. Còn ông bạn tên Chu gì đấy, bây giờ ra sao?

 

– Anh Chu chơi với bạn bè rất được… Phải công nhận! Bảo tui cứ giữ lấy bộ hài cốt và khuyên nên mang nó theo khi vượt biên, đến trại tị nạn gặp phái đoàn Mỹ may ra sẽ dễ dàng hơn ở bên quê nhà. Bây giờ anh ấy cũng đang chờ đi bảo lãnh sang Mỹ.

 

Nói tới đây ông Nhật đưa cho tôi xem tấm hình chụp 2 cái thẻ bài của viên phi công Mỹ mà ông đã tìm được và mang theo. Chỉ vào tấm hình, ông giải thích:

 

– Thẻ bài Mỹ cũng như thẻ bài của quân nhân miền Nam VNCH đều làm bằng loại thép Inox không rỉ sét và chỉ khác nhau ở chỗ của Mỹ có khắc thêm phần tôn giáo người mang nó. Chú thấy hàng chữ Baptist thì có nghĩa người phi công này theo đạo Tin Lành.

 

Ông Nhật cũng cho tôi xem một ve thủy tinh cỡ bằng lọ chao đậu phụ cho người ăn chay trong có chứa chút xương nhỏ, vài cái răng, những sợi tóc cùng ít bột trắng xám lụn vụn ở dưới đáy. Ông Nhật thổ lộ:

 

– Hài cốt của phi công Mỹ đây, mang theo bên mình trên ghe, tui khấn ông ta phù hộ đến được trại tị nạn để tui có dịp trả ổng về lại cố hương. Tui tin là ổng sẽ giúp tui được đi định cư sớm.

 

Thẻ bài phi công Mỹ do ông Nhật giữ được.

Kể xong chuyện, ông Nhật ngồi thừ một chỗ, khuôn mặt đầy vẻ buồn như vừa mới thổ lộ tâm tình với linh hồn viên phi công Mỹ đang lảng vảng chung quanh. Tôi cũng yên lặng, chia xẻ niềm tin tâm linh của ông và trước khi chia tay, hứa sẽ thảo lá đơn sơm sớm để có cho ông gửi phòng JVA mà trong trí nghĩ phần số con người ở thời chiến thật mong manh như một cái chớp mắt.

 

Buổi tối ngày thứ Bẩy khi ngồi ở quán nước của bác sĩ Luân, tôi thuật lại chuyện của ông Nhật thì anh Khảm bảo:

 

– Máy bay đó chắc cháy từ trên trời cho đến khi phải đâm đầu rớt xuống đất và anh nghĩ phi công đã chết trong cockpit nên họ mới không thể bung dù thoát hiểm. Còn hài cốt, hồi còn bên quê nhà anh từng nghe các chuyện này. Thực ra do đám chính khách Mỹ muốn lấy lòng dân chúng Hoa kỳ cả thôi và có thể đây cũng là dịp để họ thăm dò thái độ bọn đầu lãnh Cộng Sản nước mình. Từ những năm cuối thập niên 80 thì chính phủ Hoa Kỳ đã phái cựu tướng John Vessey sang Việt Nam nói để bàn chuyện thu nhặt hài cốt và truy tìm tung tích tù binh Mỹ còn sống. Thời chiến tranh Cao Ly, quân nhân Mỹ bỏ xác bên nước đó thiếu gì mà họ có để ý mấy đến đâu… Đấy là người đã chết, anh còn biết có những người vượt biên đến Mỹ báo tin đã trông thấy tù binh Mỹ còn sống khi bị tù cải tạo ở nơi nào đó trong rừng sâu Bắc Việt mà chính phủ Mỹ vẫn phớt lờ, coi đó là tin thất thiệt. Ngay ở trại Galang này, cũng có người báo cho phòng JVA biết về chuyện đã thấy tù binh Mỹ còn sống và kèm theo các bằng chứng mà chẳng ăn thua gì. Cái ông Nhật mà em kể nhờ thảo tờ đơn, anh nghĩ ông ta đã hy vọng quá cao về hài cốt mang theo… nhưng biết đâu.

 

– Sao kỳ vậy. Bộ chính phủ Hoa Kỳ không thương dân họ sao? Tôi thắc mắc.

 

– Chính phủ nước nào cũng phải thương dân nước họ trước. Có dân thì mới có chính phủ, đó là lẽ thường tình của con người vì máu chảy, ruột mềm và tình đồng bào với nhau. Chính phủ mà không biết thương dân thì chỉ là bọn cơ hội, kiểu đục nước béo cò để vinh thân phì gia thôi. Còn nếu em hỏi sao chính phủ Hoa Kỳ không thương đến tù binh Mỹ còn sống vất vưởng đâu đó thì thực sự, có thể vì đầu óc thực dụng của bọn chính trị gia luôn nghĩ đến các mối lợi từ quan hệ thương mãi trước mắt nên đành lờ đi các chuyện báo cáo này. Nên nhớ Hoa Kỳ là một quốc gia hợp chủng và không có người nào là người Mỹ chính cống cả. Sắc dân Mỹ chính cống! Nếu ta nhận có thì thực sự chỉ là người thuộc các sắc dân da đỏ trong các bộ phim cao bồi viễn Tây-Hoa Kỳ. Còn riêng với dân tị nạn Việt Nam mình, bây giờ thì Hoa Kỳ vẫn chưa chấp nhận chuyện cưỡng bức hồi hương nhưng mai hậu có thể sẽ có ngày đấy đấy. Biết đâu! Do vậy, em, Đỉnh và Yến ráng cố gắng vượt qua được cuộc thanh lọc như anh chị bây giờ… Chẳng biết gì về nhiều về thời cuộc nhưng có lúc anh nghĩ thuyền nhân Việt, ít nhiều cũng là nạn nhân của bọn chính khách Mỹ.

 

Anh Khảm cho biết thay vì đi định cư Mỹ thì chị Phượng lại chọn đi Úc vì chị có giấy bảo lãnh của thân nhân bên đấy gửi sang.

 

– Phượng gốc là nhân viên bộ Dân Vận-Chiêu Hồi trước đây nên thuộc diện đi Mỹ.

 

Anh tư lự vài phút rồi trải lòng:

 

– Thấy Phượng xin đi Úc thì anh buồn lắm vì em biết có lúc anh muốn ngày nào đó sẽ gặp lại Phượng ở Hoa Kỳ. Còn Phượng cũng thế, dù bảo với anh như vậy đủ rồi… Dầu sao anh và Phượng cũng một thời gian sống chung với nhau ở đây, khác gì vợ chồng nhưng mà anh còn… trách nhiệm với gia đình bên quê nhà nữa. Thà rằng đừng biết nhau thì hơn, có lúc anh đã nghĩ vậy nhưng cuộc đời cũng khó nói trước lắm phải không Vũ, em thấy sao? Cho anh một lời khuyên, một lời góp ý… Phải làm gì bây giờ?.

 

Tôi ngồi yên không trả lời, thầm nghĩ anh Khảm gặp lại chị Phượng tại Hoa Kỳ để làm gì khi mà chị Hoa và 2 đứa con bên quê nhà rất cần bảo lãnh sang sống chung nữa. Nhưng đúng như anh vừa nói, cuộc đời cũng như chuyện tình cảm nam nữ khó nói trước lắm. Đổ cho tại anh ham hố, đèo bòng hay tại cái số anh và chị Phượng phải gặp nhau trong chuyến vượt biên để sống chung! Chẳng biết phải khuyên, góp ý thế nào nữa trong chuyện tình cảm của anh với chị Phượng đây! Vì, ngay cả chuyện của bản thân mình và Yến, tôi cũng chưa biết nó sẽ ra sao sau này.

 

Biết trước chuyến định cư ở đệ tam quốc gia thường sẽ đến đột ngột nên cũng giống khá nhiều người trong trại sau khi được Cao Ủy ban cho vé tị nạn, anh chị Khảm-Phượng bàn nhau sẽ đi sang Tanjung Pinang để mua sắm ít quần áo, giầy dép, túi xách… Yến nhân dịp này cũng rủ tôi và Đỉnh cùng đi chung một chuyến với họ cho vui vì vé tàu cao tốc giá chỉ có 15.000 Rupias không cao lắm. Đỉnh thì lắc đầu, nói với tôi là anh có Yến cùng đi quá vui rồi còn em chỉ một mình sang đó làm chi cho tốn tiền. Tanjung Pinang là hòn đảo mà chúng tôi đã ghé vào rồi gặp chiếc ghe chở 225 người khi trước. Tôi ngần ngại vì bản thân không sẵn tiền dù thực lòng cũng muốn đi sang đó một chuyến cho biết. Nói cho Yến nghe thì nàng bảo là đã đi với chị Phượng đến phòng An ninh P3V mua vé xong xuôi cả rồi.

 

Chuyến đi Tanjung Pinang nào cũng đều vào buổi sáng thứ Bẩy và về lại Galang lúc chiều tối cùng ngày. Chung với những người khác, tôi, Yến và anh chị Khảm-Phượng đứng tập trung ngay đầu con dốc giữa zone 3 và zone 4, Galang 1 về hướng cầu tàu để chờ chiếc xe tải chở khách của phòng An ninh P3V. Trời vẫn còn mờ mờ tối dù đồng hồ tay đã gần 7 giờ sáng, sương khuya đọng ướt trên các bờ cây, bụi hoa của những căn nhà đóng kín cửa sát bên cạnh đường. Anh Khảm cho biết tàu cao tốc chạy hơn 1 giờ đồng hồ thì sẽ đến Tanjung Pinang và mỗi chuyến đi chỉ chở khoảng 60 người.

 

– Lúc đi thì không sao, chỉ khi về mới chật chội vì đa số người mình sang đó để mua hàng về bán lại kiếm lời.

 

Chiếc xe đến, nhóm chúng tôi cùng các người khác lục tục trèo lên nhanh chóng. Xe chạy và dừng lại ở nhà thương đế đón thêm người rồi tiếp tục trực chỉ hướng cầu tàu. Đến nơi, tất cả người trên xe cùng kéo xuống cầu tàu bê tông và trình vé cho nhân viên của con tàu đứng kiểm tra nơi khoang cửa. Mới vài tháng trước đây, tôi và Yến cũng từ cầu tàu bê tông này để lên bờ nhập vào trại làm dân tị nạn Galang. Tôi quay nhìn chung quanh, những căn nhà của người bản xứ nằm im lìm dọc theo các lối đi nho nhỏ. Không một bóng người lai vãng, chỉ duy nhất một con chó đang chạy thong dong trên đường nhựa lớn. Cảnh vật buổi ban mai ở khu vực cầu tàu Galang nầy thật êm ả, vắng lặng. Nào ai biết phía sau những căn nhà ở đây, chạy sâu tuốt vào bên trong đảo là một xã hội Việt Nam thu gọn với đủ dạng người tứ xứ của mảnh đất hình chữ S đang sống kiếp tha phương, chờ ngày mai đến mà chưa rõ số phần sẽ tốt hoặc xấu hơn cho cuộc đời mình.

 

Theo số ghi trên vé nên tôi, Yến cùng anh chị Khảm-Phượng ngồi chung một dãy ghế sát với khoang cửa sổ kiếng tròn nhưng kiếng lại khá cao nên không thể ngắm cảnh bên ngoài được. Thêm các đợt khách khác xuống dưới khoang tàu cao tốc và cứ vậy cho đến khi tài công nổ máy để khởi hành. Thân tàu run run nhẹ nhưng ai cũng cảm thấy nó chạy với tốc độ rất nhanh. Ngồi bên Yến, thấy nàng có vẻ mệt nên tôi hỏi nhỏ:

 

– Em có bị sao không? Nhức đầu? Muốn ói?.

 

Yến mỉm cười, lắc đầu, nhìn tôi trìu mến và nói:

 

– Tàu cao tốc chứ đâu phải ghe vượt biên bên Việt Nam mình?

 

Tôi biết nàng đang hồi tưởng về chuyến đi của ngày hôm ấy. Hai đứa tôi cũng gần kề bên nhau như bây giờ, Yến lại hỏi:

 

– Lúc đó anh có ghét em không khi đã ói đầy vào người anh?

 

Một câu hỏi mà nàng đã hỏi tôi nhiều lần rồi và lần nào tôi cũng trả lời như bây giờ:

 

– Lúc đó anh cũng mệt lắm, biết em là ai mà ghét được nhưng khi biết rồi thì anh lại… thương.

 

Tôi nắm lấy tay Yến và khẽ bóp nhẹ nhưng nàng vẫn để yên không hất ra mà chỉ hé mắt nhìn rồi đảo đầu về hướng anh chị Khảm-Phượng như một nhắc nhở, đề phòng. Biết điều nhắn nhủ đó nhưng tôi vẫn giữ tay nàng trong yên lặng, suy nghĩ về lần kể với Đỉnh việc tay trong tay như bây giờ, nó đã nói:

 

– Yến như vậy là thương anh lắm, cần gì phải hỏi cho mất công. Nếu em là anh, tùy tình hình, cứ từ từ hoặc mạnh bạo lấn tới sẽ xong ngay thôi. Con gái, chịu để yên không chống cự khi con trai nắm tay, ôm hôn… là thương rồi đó cha.

 

Tuy Đỉnh nói vậy nhưng trong lòng tôi vẫn thắc mắc, muốn biết Yến có thương mình thật không? Đã yêu ai thì người ấy thường luống cuống và có khi làm trò cười với… đối tượng vì những cử chỉ vụng về của mình. Tôi chắc cũng vậy khi cúi người xuống sát gần bên, định hỏi cho biết nhưng Yến chợt ngẩng mặt lên, khẽ lúc lắc đầu và kêu nhỏ:

 

– Ôi! Anh ơi! Em bắt đầu chóng mặt rồi đây nè. Kỳ quá đi!

 

Thấy thế, tôi cuống quýt kéo Yến ngã hẵn người sát vào thành ghế và bảo nàng hãy ngước mặt lên phía trần của khoang tàu sẽ dễ chịu hơn. Nàng làm theo liền nhưng cảm giác rung chuyển rần rật từ đôi chân cho tôi biết tàu cao tốc đã tăng tốc độ nhanh hơn và đó là lý do đã làm cho Yến chóng mặt. Bên cạnh nàng, anh chị Khảm-Phượng cũng một tư thế dựa ngửa thân mình, hai mắt nhắm nghiền như đang trong giấc ngủ. Họ cũng một cảm giác như Yến? Có lẽ chỉ mình tôi còn khỏe dù cũng cảm thấy đôi chút bần thần trong người. Tôi mong chuyến đi mau đến Tanjung Pinang sớm hơn.

 

– Tàu cao tốc này chở người đi định cư nha mấy ông. Mình đi nó hôm nay là lấy vận hên sau này… Biết đâu! Tiếng một người nói lớn.

 

Liền ngay sau đó, trong tiếng nhạc oang oang từ dàn loa của khoang tàu, tiếng người khác trả lời:

 

– Thôi đi cha nội! Nó cũng chở người hồi hương về Việt Nam chứ bộ… Vớ vẩn hên với xui.

 

Tiếng người trò chuyện trong khoang hầm dần dần ít hẳn rồi sau cùng chỉ còn tiếng máy tàu kêu ù ù chung với tiếng nhạc loa. Nhìn chung quanh trong ánh sáng lờ mờ của khoang hầm tàu, trừ vài người vẫn thao láo mở mắt nhìn còn hầu hết ai cũng nhắm mắt ngủ như để xua đi cái cảm giác chống chếnh, say sóng khi đi trên biển. Yến bên tôi cũng vậy, nàng yên lặng trong hàng mi đen nhắm nghiền trên khuôn mặt ngước lên trần khoang hầm. Ngắm nhìn khuôn mặt nàng, tôi hồi tưởng lúc kề cận bên nhau trong khoang ghe vượt biên chật hẹp và dường như mùi dầu xanh con Ó, mùi chua của nước chanh, mùi béo của hủ tiếu, của thịt nướng cùng mùi dầu cặn chạy ghe trong ngày hôm đó đang phảng phất đâu đây. Chợt Yến hé mắt nhìn tôi, thì thào:

 

– Lần nào đi tàu, em cũng chóng mặt sợ muốn chết được. Cố hết sức mà vẫn không thoát.

 

Cái hé mắt giống như lúc hôm đó làm tôi nhớ lại hình ảnh cùng cái mùi khủng khiếp trong khoang hầm cá lớn nhưng giờ đây hoàn cảnh đã khác. Tôi sẽ không còn cảm thấy phiền hà những gì nếu Yến làm với tôi giống như lúc hôm đó mà thay vào đấy, lại sẵn sàng chịu đựng cho nàng. Tôi đã thương Yến rồi, quá thương… nên sẵn lòng làm những gì cho nàng vui và tránh các thất thố để có thể bị hiểu lầm.

 

Đỉnh chưa yêu ai nên nó không biết tâm trạng của tôi mà cứ xúi làm chuyện bạo với Yến. Mình cứ chờ xem đến lúc nào đó thì Đỉnh sẽ có người thương, rồi sẽ biết nó đối phó ra sao, tôi mỉm cười với ý nghĩ trong đầu.

 

Sau cùng, con tàu từ từ giảm dần tốc độ cho đến lúc nó ngừng hẳn khi dàn đèn trên trần mở sáng rực. Hành khách trong khoang hầm như tỉnh một giấc ngủ, vội vã sửa soạn bộ dạng để chuẩn bị lên bờ. Tôi kéo tay Yến đứng lên, nối đuôi theo anh chị Khảm-Phượng cùng hàng người từ từ đi ra khỏi khoang hầm của tàu máy cao tốc. Trong làn gió mát của mặt biển buổi ban mai, trước mắt đám hành khách Việt là cả chục chiếc ghe nhỏ chèo tay của người bản xứ vây quanh thân con tàu cao tốc chung với tiếng mời gọi:

 

– Hei! Orang Vietnam. Untuk pergi ashole, dua ribu Rupiah saja, silahkan. Oke (Ê! Mấy người Việt. Đi lên bờ, chỉ có 2000 Rupiah, chịu nha. OK).

 

Chủ tàu cao tốc không cập sát bờ cảng như tôi nghĩ mà lại dừng ở đây trên mặt biển để hành khách thuyền nhân chúng tôi phải theo các ghe nhỏ đó mới lên bờ được. Các ghe chèo tay này có hình dáng tương tợ chiếc tác rán nhỏ bé của vùng sông nước bên quê nhà và mỗi lần chỉ chở được 3, 4 người. Một phụ nữ có tiệm trong trại, từng đi nhiều chuyến sang Tanjung Pinang cất hàng về bán như quá quen với cảnh chào mời của các lái đò bản xứ nên một tay vừa xếp gọn các bao đựng hàng và tay kia lần túi lấy ra ít tiền lẻ, lớn giọng hướng dẫn:

 

– Mỗi người hết 2000 Rupiah tiền công họ chở mình từ đây vào bờ đó… Lượt về cũng phải vậy.

 

Thì ra! Các ghe chèo cùng chủ tàu cao tốc hợp tác với nhau để kiếm ăn thêm từ thuyền nhân Việt. Không hiểu sao dân Indo tại đảo tị nạn Galang đều nghĩ thuyền nhân Việt chúng tôi, ai cũng rủng rỉnh đô la Mỹ trong túi mà trong thực tế nhiều người không một nguồn tiếp tế nào từ nước thứ ba. Có người phải đi làm mướn trong các shop bán hàng, gánh nước thuê, làm đơn xin phòng An ninh P3V cho phá đất để trồng rau hoặc câu cá biển, giăng lưới bắt tép suối… mang bán kiếm chút tiền xài trong suốt thời gian tạm trú ở trại. Khoảng cách từ tàu cao tốc lên cảng ngắn khoảng 200 mét nhưng người chủ đã cố tình thì khách phải chịu, không làm khác được.

 

– Đã tốn 15000 Rupiah cho đoạn đường từ Galang sang đây rồi mình còn phải mất thêm 4000 Rupiah cho 2 lượt đi đò lên và xuống bờ nữa, tiền đã không có mà cứ phải tiêu cho việc gì đâu đâu, một người khách càu nhàu.

 

Tôi, Yến cùng vài người khác lục tục trèo xuống một chiếc ghe đậu gần nhất và ngay sau đó gã lái đò quay mũi chèo thẳng vào bờ.

 

Gặp lại anh chị Khảm-Phượng đứng đợi ở trên bến cảng, nhóm chúng tôi hòa cùng các người Việt khác đi dọc theo con đường nhỏ dẫn vào thành phố Tanjung Pinang. Dưới bến cảng, khá nhiều tàu lớn nhỏ cùng ghe buôn bán thương hồ đậu ken kín bên nhau trong làn hơi mờ mờ bốc lên từ mặt nước biển xám đục kéo theo một mùi hôi đặc biệt. Cái mùi pha lẫn vị mặn của nước biển, mùi sình, mùi rác rưởi vương vãi dưới nước cùng mùi khói thải xe máy đậu trên các ngã đường dọc theo bến tàu… làm ai nấy phải bịt mũi. Phu bốc vác địa phương đang chuyển các bao hàng hóa từ xe ba gác xuống chỗ trống ở cầu tàu gần các ghe thương hồ. Trong tiếng còi thúc dục xa xa, giọng cười, tiếng nói, tiếng gọi nhau í ới của đám hành khách trên đường rảo chân về hướng các con tàu lớn đậu đây đó cạnh các bờ cảng.

 

– Tàu thủy, ghe thương hồ ở đây… hầu như dùng để chở khách cùng hàng hoá về các đảo xa xa trong vùng. Tuy Tanjung Pinang là đảo thương mãi trung tâm của vùng Riau thật nhưng lại không có phi trường nào cả, muốn đi xa hơn bằng máy bay thì hành khách phải sang đảo BaTam hoặc tận tuốt bên Singapore. Ở vùng biển này, giao thông chỉ một phương tiện duy nhất là đường thủy mà thôi, anh Khảm nói nhỏ.

 

Ra khỏi bến cảng, người Việt chúng tôi hòa vào dòng khách bản xứ túa đi trên các con lộ dẫn vào thành phố Tanjung Pinang và tuy trời mới rạng nhưng khu vực nào cũng đông người qua, kẻ lại trước các gian hàng đã mở sẵn đèn đóm sáng choang. Xe chạy tấp nập trên đường cùng dòng người đi lại trên vỉa hè trước các cửa hàng làm tôi có cảm giác Tanjung Pinang giống y như nơi nào đó của quận 5 hay khu thương mãi gần chợ Bến Thành-Sài Gòn. Thành phố của bất kỳ quốc gia nào cũng đều một vẻ hào nhoáng từ các cao ốc cửa kiếng lấp lánh chung với dòng xe cộ chạy trên đường, bên vỉa hè người qua kẻ lại hối hả… nhưng khi nhìn kỹ, ta sẽ thấy mỗi nơi mỗi khác từ cách bài trí trong các tiệm, biển quảng cáo trên đường và trước cửa nhà, trang phục của người dân địa phương cùng ngôn ngữ khi họ trò chuyện với nhau. Ở đây cũng vậy và nó tạo một cảm giác phấn khởi trong tôi khi thấy mình là du khách nước ngoài trên đường phố của Tanjung Pinang, một hòn đảo thuộc vùng Riau của quốc gia Nam Dương.

 

Anh Khảm dừng chân, lấy tấm bản đồ nhỏ ra để xem vị trí của nhóm chúng tôi bây giờ nhưng loay hoay xem tới xem lui mà anh vẫn chưa biết rõ cả nhóm sẽ phải đi lối nào mới đến được khu thương mãi thì thời may, gặp một bà người Việt biết đường đi, dừng lại bảo:

 

– Nhìn mấy người là tôi biết muốn mua đồ định cư rồi, đi theo tôi.

 

Nghe thế, cả nhóm liền theo chân bà ta trong dòng người qua lại trên vỉa hè. Phải qua nhiều con phố thì cả nhóm mới đến được khu thương mãi của Tanjung Pinang. Ở đây, hàng hóa đủ loại từ thực phẩm, đồ gia dụng, quần áo-vải vóc, máy hát… được bày chật trong từng cửa tiệm nằm san sát bên nhau theo các lô đánh số. Cả nhóm đi quan sát một vòng khá xa, xem ra khu thương mãi này còn rộng hơn cả chợ Bình Tây thuộc quận 5 Sài Gòn. Có những tiệm kim hoàn, cà rá, nhẫn, xà tích, vàng thỏi… nằm từng lớp trong tủ kiếng sáng lóa cả mắt. Giống như sắc dân Malaysia, Khmer da đen, dân địa phương ở Tanjung Pinang trang điểm vẻ bề ngoài họ bằng những chiếc nhẫn lớn trên tay, lắc đeo dầy cộm hoặc dây chuyền vàng tổ chảng… quấn quanh cổ thành các vòng.

 

Chủ tâm đi sang Tanjung Pinang để cho biết đây đó nên loanh quanh trong khu thương mãi này một hồi thì cảm thấy chán, tôi và Yến bàn nhau tách ra để đi xem nơi khác, anh Khảm biết vậy nên dặn:

 

– Hai đứa em đừng đi quá xa khỏi khu thị tứ của Tanjung Pinang nghe chưa… Nhớ là phải quay về bến tàu trước 3 giờ chiều, quy định của phòng An ninh P3V đó.

 

Rồi anh nói thêm:

 

– Rủi bị lạc đường thì đón xe ôm hay taxi và bảo họ chở về khu vực cảng chỗ có tàu cao tốc đi đảo Galang. Dân chạy xe ở đây hầu như biết Anh ngữ nhưng họ cũng chém bạo lắm, mình phải mặc cả trước mới không hố.

 

Tôi và Yến lang thang vô định qua nhiều dãy phố thương mãi vì thực sự cả hai cũng chẳng biết đường nào sẽ đi. Cứ đi và đi để nhìn phố xá cùng cảnh vật. Các phố thương mãi ở đây hầu như chỉ xây cao 2 tầng và giống như tính cách của người Việt, dân bản xứ dùng ngay mặt tiền nhà làm cửa tiệm buôn bán còn tầng trên để ở. Tiệm bán hàng nào cũng nhỏ hẹp nhưng lại chứa đầy hàng hóa bên trong. Cũng một hình ảnh tương tự như bên quê nhà, xe hơi chạy song song trên đường lộ chung với xe gắn máy 2 bánh và các giao lộ cũng kiểu đèn xanh, đỏ, vàng báo tín hiệu giao thông qua lại. Người bán hàng rong đi dọc theo vỉa hè, xe đẩy tay bán đồ ăn hoặc nước giải khát, trái cây tươi… tụ lại đây đó ở các gốc cây ven đường. Vì là một hòn đảo nên đường phố và khu thương mãi, gia cư của Tanjung Pinang dàn trải theo địa hình ở trên chỗ cao hay dưới vũng thấp giống như thành phố Đà Lạt bên quê nhà. Có các khu biệt lập với nhiều biệt thự to đẹp, lộng lẫy… tuy kiểu dáng khác lạ nằm gần các con đường nhựa phẳng lỳ yên tĩnh đầy cây cảnh, bụi hoa cắt tỉa thật đẹp mắt.

 

Hai đứa tôi cũng vào các xóm nhà xập xệ, mái tôn vách ván gỗ và đường xá vẫn còn là mặt đất đỏ chung với rác rưởi bỏ bừa bãi cùng các ổ gà đọng nước bẩn. Tuy vậy, khu phố nào ở Tanjung Pinang dù sang trọng hay nghèo nàn đều giống nhau ở chỗ có chung một hệ thống cống rãnh là các con kênh cement nho nhỏ ở ngay trước cửa nhà. Cống rãnh này nằm dọc theo đường lộ, nối liền với nhau và chạy thẳng ra ngoài biển để tháo nước khi trời mưa xuống.

 

Loanh quanh nhiều khu thương mãi, hai đứa tôi qua một lối dốc của con phố trên đồi để dẫn ra đường lộ chạy dọc theo bờ biển. Con đường này, một bên dựa vào vách đồi và bên kia là bức tường kè ngăn cách với biển trông y hệt như đường vòng cung ven bờ ở Bãi Trước-Vũng Tàu. Những ca nô nhỏ chạy không xa bờ là bãi cát phẳng hoặc vùng đá lởm chởm nhấp nhô trên sóng nước như các hòn đảo nhỏ tí với vài người đứng ngồi câu cá đây đó. Chợt Yến lấy tay chỉ cho tôi thấy một con vật đang nằm yên trên một bãi đá không xa bức tường kè và hỏi:

 

– Có con gì nằm kia kìa, phải cá sấu không anh Vũ?.

 

Tôi tiến lại gần xem con vật dường như không sợ người, vẫn đang phơi mình dưới nắng và sau đó, trả lời nàng:

 

– Kỳ đà! Không phải cá sấu đâu… xứ này dân theo đạo Hồi không ăn thịt loài bò sát nên con này mới lớn dữ vậy. Hang của nó, chắc nằm đâu đó dưới các tảng đá ở đây.

 

Đi dọc theo con đường sát biển được một lúc thì cả hai đứa lại rẽ vào một khu phố khác khi nghe tiếng nhạc, tiếng kèn thật huyên náo vọng ra từ bên trong. Một con phố rộng nhưng hai bên đường có rất ít nhà dân và chỉ thuần các cây cối trồng theo hàng, theo lối khá đẹp. Ở chỗ đông người tụ họp, đang hoạt động hối hả, gấp rút từng nhóm như họ chuẩn bị cho một buổi lễ sắp đến. Chỗ này đang lợp mái các gian nhà nhỏ bên vệ đường, chỗ kia thì sắp xếp ghế bàn cùng treo các băng vải mầu trang trí, biểu ngữ hoặc vận chuyển những chậu kiểng vào nơi định sẵn. Không xa gần đó, nơi ồn ào nhất vì tiếng nhạc, tiếng loa hướng dẫn là những nhóm nam nữ trẻ tuổi trong các bộ đồng phục đi từng đoàn 12 người chầm chậm. Họ vừa hát vừa tập đi cho đều bước và cứ thế, các nhóm nam nữ đó lần lượt diễn bộ qua một khán đài khá lớn đang xây cất dở dang.

 

– Những người Indo này họ làm cái gì vậy anh? Yến hỏi.

 

Tôi cũng thắc mắc nhưng đoán:

 

– Hình như họ đang tập dợt để chuẩn bị một buổi lễ cho Chủ Nhật ngày mai, một buổi diễn hành chào mừng dịp kỷ niệm gì đó.

 

– Phải chi mình được xem buổi diễn hành này thì hay quá. Sẽ thấy y phục truyền thống, điệu bộ riêng biệt của người Indo nhưng mình phải về lại Galang chiều nay rồi. Yến nói,

 

Đúng vậy! Tôi đồng một ý với nàng vì có ở lại Tanjung Pinang thêm ngày mai thì hai chúng tôi mới sẽ được xem một buổi diễn hành văn hóa của dân cư địa phương. Thể nào cũng có xe hoa đi chung với các hội đoàn Hồi giáo như cảnh họ đang tập dợt. Có thể có thêm các dàn kèn đồng cùng các đội lính chiến hoặc cảnh sát nữa… những hình ảnh rất đáng xem.

 

Đi như vậy mà đã gần trưa và cũng thấy đói bụng nên khi gặp một khu bán thức ăn, hai đứa tôi liền ghé vào để nghỉ chân cùng ăn uống chút đỉnh cho lại sức. Đây là nơi tập trung bán hàng ăn vì khá đông xe đẩy tay, sập dã chiến bày đầy thực phẩm cùng đồ uống chỉ trong khu vực riêng biệt. Người ngồi, kẻ đứng ăn uống bên các xe đẩy hoặc trong các bàn nhỏ trông có vẻ xô bồ nhưng không ai để ý đến ai. Ở các con đường vừa qua, tôi rủ Yến thử vào một tiệm ăn của người bản xứ xem sao nhưng nàng lại thích những chỗ có vẻ xập xệ, bình dân như khu vực này. Vào một cái bàn trống, tôi gọi cơm gà, mì trứng, chè đậu xanh cho cả hai và như đã biết trước, món ăn mặn ở đây không có thịt heo. Ở các xe đẩy tay đậu gần đó, thấy có bán cả sữa đậu nành cùng nước sâm lạnh qua bó rễ cỏ tranh, các khúc mía lau, chùm rau má, râu bắp khô và cỏ mần chầu… treo lủng lẳng trên cột. Ăn uống no nê và khi đi đến một ngã tư đường thì loa phóng thanh ở trụ điện phát ra một giọng người ngân nga như tha thiết, than van, hối lỗi hoặc như buồn bã, rên rỉ. Giọng người đọc đó vang vang từng đoạn ngắn gây một cảm giác lạ lùng, rờn rợn trong tôi.

 

– Họ đọc cái gì vậy anh? Yến hỏi tôi.

 

– Anh nghĩ có lẽ là kinh Koran. Xứ này theo đạo Hồi và hiện thời đang là lúc cầu kinh của họ.

 

Âm thanh bây giờ là những lời cầu kinh của đạo Hồi nếu như tôi đoán không lầm. Tiếng cầu kinh văng vẳng trong gió, nối nhau ở nơi này sang nơi kia, phát theo loa phóng thanh từ hướng đền thờ Hồi giáo là các thánh đường to lớn với các cột tháp nhọn cùng hình tròn như củ hành tây ở trên nóc. Nhớ lại khi còn ở bên Malaysia khi trên xe bus đi đường, tôi đã thấy các thánh đường Hồi giáo chung một kiểu dáng như các đền thờ ở đây. Malaysia và Indo là 2 quốc gia Hồi giáo lớn nhất tại Châu Á nên khi loanh quanh trong thành phố Tanjung Pinang, hầu như chỗ nào tôi cũng thấy có đền thờ Hồi giáo lớn hay nhỏ nằm giữa các khu nhà dân cư. Có lúc đến gần bên các đền thờ này, tôi muốn ghé vào coi cách bài trí bên trong, xem có giống như ở các nhà thờ Thiên Chúa Giáo không nhưng Yến đã ngăn lại, bảo mình không phải là tín đồ thì đừng vào nơi tôn nghiêm của tôn giáo họ.

 

Ngã tư đường dẫn hai đứa tôi vào một khu thương mãi khác hẳn những con phố mà từ sáng tời giờ đã đặt chân qua. Khu thương mãi này là một phố Tàu và nó giống hệt các khu thương mãi của quận 5 thuộc Chợ Lớn-Sài Gòn. Biển bán hàng của các cửa tiệm đều ghi bằng chữ Hán bên cạnh chữ Indo và có tiệm còn thêm cả Anh ngữ nữa. Hoa kiều ở khu phố Tàu này kinh doanh đủ các mặt hàng từ máy hát, quần áo, thực phẩm khô, tiệm chụp hình-photocopy, tiệm vàng… Tiệm nào ở đây đều rộng rãi, bề thế khác hẳn các gian hàng trong khu thương mãi gần bến cảng cầu tàu nơi lúc sáng khi nhóm chúng tôi vừa lên bờ. Phố này nối qua phố khác như một khu vực riêng biệt của Hoa kiều và đặc biệt, hai đứa tôi gặp cả một tiệm hủ tiếu cùng một tiệm bán thịt heo quay-bánh mì nằm ngay sát bên con đường lớn. Khách ra vào cửa tiệm tấp nập và đó là điều lạ với tôi vì không lẽ chính quyền Hồi giáo Indo lại để yên cho Hoa kiều kinh doanh thịt của loài vật cấm kỵ này? Thấy khách vào tiệm heo quay mua ăn tại chỗ bình thường thì Yến rủ tôi vào mua liền 3 kg thịt mông để mang về ăn hoặc nhượng lại cho người quen vì nàng cho là dễ gì có dịp mới gặp được.

 

Hai đứa tôi dừng lại trước một tiệm bán thuốc Bắc, nơi một y sĩ già đang ngồi bắt mạch tay cho một bà khách ở một chiếc bàn. Một tấm thư pháp viết chữ Đức khá to trên tấm kiếng thủy tinh được gắn chặt vào chiếc trường kỷ tiếp khách kê sát vách tường nhà. Tôi kéo tay Yến bỏ đi khi lão y sĩ tuôn hỏi một tràng tiếng Tàu vì thấy có người lom lom nhìn vào trong tiệm của ông ta, một tiệm thuốc Bắc bài trí không khác gì các tiệm thuốc Bắc bên Việt Nam. Cũng tủ gỗ lớn chứa các hộc nhỏ đựng dược phẩm cùng dao cầu, cối đồng tán thuốc, cân nhỏ và bảng gỗ tính tiền nằm gần nhau trên mặt bàn tiếp khách. Xeo xéo bên kia đường, trước mắt hai đứa tôi là một ngôi chùa Tàu mang hình dáng không khác hội quán Tuệ Thành nằm trên đường Nguyễn Trãi-Sài Gòn. Hoa kiều cư trú ở quốc gia nào cũng lấy việc buôn bán làm nghề chính và từ việc kinh doanh phát đạt, họ đã biến các khu phố của họ mang hình ảnh văn hóa riêng biệt, trù phú khác với các khu phố thương mãi của dân cư địa phương.

 

Thâm tâm tôi định sẽ đi tiếp nhiều nơi của Tanjung Pinang nữa nhưng Yến than mỏi chân và muốn cả hai quay trở về gần bến cảng cầu tàu cho khỏi trễ giờ. Lần mò, hỏi thăm đường từ dân cư địa phương, sau cùng hai đứa tôi về lại được con phố dẫn vào bến cảng. Đang xếp cho gọn bánh mì cùng thịt heo quay vào trong một bao nylon thì nghe có tiếng gọi tên, tôi quay nhìn và gặp anh chị Khảm-Phượng đang ngồi cùng bàn với một người khác nữa trong một quán nước gần đó. Hai đứa tôi vào quán và thật không ngờ, người khách đang ngồi chung tại bàn chính là Tiến sĩ Ngô Long Tôn, cựu giáo sư của trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị-Đà Lạt. ” Cùng đi chung chuyến sang Tanjung Pinang nhưng ông ta ngồi đâu dưới khoang hầm tàu cao tốc mà mình lại không thấy? “, tôi ngạc nhiên trong lòng.

 

– Hai đứa em mua được cái gì rồi mà khệ nệ có vẻ nặng tay vậy? Chị Phượng hỏi.

 

– Heo quay! Chỗ thịt mông đó. Chị và thầy lấy bớt cho 1 ký nha, em mua tới 3 ký lận. Yến nhanh nhẹn khoe.

 

– Vậy là nhất rồi! Thầy cảm ơn Yến nha… và cả Vũ nữa chứ… Lâu lắm rồi mới có dịp ăn thịt heo quay… Ha ha… Ngon lắm.

 

Anh Khảm cất tiếng cười và sau đó nói:

 

– Ở xứ Hồi giáo mà mua được thịt heo quay để ăn là cả một việc khó. Kể như vậy thì chính quyền Tanjung Pinang cũng nể mặt bọn Hoa kiều ở đây chứ anh Tôn.

 

– Thực ra cũng do yếu tố tài chính cả thôi. Hoa kiều nắm hầu hết kinh tế ở đây thì chuyện họ muốn ăn thịt heo chỉ là một việc nhỏ. Bên cạnh đó, cũng có những người Indo theo tôn giáo khác như đạo Thiên Chúa, Tin Lành, Phật… thì họ ăn thịt heo vô tư. Chính quyền đâu thể cấm được. Nên nhớ, thịt heo là thực phẩm rất phổ biến chung cả thế giới chứ không riêng gì của dân Ba Tàu. Ông tiến sĩ Tôn đáp lời anh Khảm.

 

Từ bên quê nhà rồi sang đến Malaysia và giờ đây là ở Tanjung Pinnang. Hình như Hoa kiều đều có mặt… trên từng cây số. ” Không biết họ di cư từ thời nào mà ở đâu cũng thấy mặt và lý do tại sao? “, tôi nói ra các thắc mắc của mình.

 

– Không riêng gì ở Việt Nam, Malaysia và cả Tanjung Pinang này đâu! Còn nhiều chỗ khác nữa và cậu biết tại sao người Hoa di cư khắp nơi như thế không? Khu phố Tàu mà cậu kể vừa đi với cô bé này thì ta còn thấy Ba Tàu ở đó mua bán đủ thứ hàng hóa khác nữa nhưng tại các quốc gia bên Âu Châu hoặc bên Mỹ kìa, bọn xếnh xáng hầu như chỉ kinh doanh một món độc nhất là nhà hàng Tàu thôi. Cái gì cũng phải có nguyên do chứ! Ông tiến sĩ Tôn nheo nheo đôi mắt khi trả lời tôi.

 

Tôi  giơ tay kéo một chiếc ghế từ cái bàn kế bên để cho Yến ngồi thì một người  đàn ông từ bên trong quán tiến đến hỏi với giọng lơ lớ tiếng Việt:

 

– Uún dzì… Uún dzì.

 

Chưa kịp trả lời ông người Tàu này, chị Phượng cất tiếng:

 

– Em và Yến uống sâm bổ lượng đi cho nó mát

 

Và không chờ hai đứa tôi gật đầu thì chị giơ 2 ngón tay hình chữ V rồi bập bẹ tiếng Indo trước sự ngạc nhiên của tôi:

 

– Hei! asupan makanan ginseng.

 

Người đàn ông Tàu gật đầu, nở nụ cười với cả nhóm người chúng tôi rồi y quay trở vào bên trong liền, tôi vừa kéo thêm một chiếc ghế nữa rồi ngồi xuống bên cạnh với Yến vừa nói:

 

– Trời! Chị Phượng xổ tiếng Indo rôm rốp nha, lần đầu em mới biết đó anh Khảm.

 

– Chị mà biết gì tiếng Indo em, ông chủ tiệm Ba Tàu này mới dạy chị đó. Chị Phượng trả lời tôi.

 

Rồi chị kể là khi cùng anh Khảm đi lòng vòng trong khu chợ thì vô tình gặp ông tiến sĩ Tôn và cả hai người họ đã theo chân ông ta đến quán này mới biết có quán nước giải khát của người Tàu bán thức uống in hệt bên Việt Nam từ cà phê, nước ngọt như Cocacola, đá chanh, sữa đậu nành và đặc biệt là Sâm Bổ Lượng, một thức uống có nguồn gốc từ vùng Quảng Đông bên nước Tàu. Từ khi đến đảo tị nạn Galang bây giờ tôi mới thấy lại nó, thứ nước giải khát mà nghĩ là chỉ có bên Việt Nam mình. Tôi đảo mắt nhìn chung quanh của quán nước, một cái bàn kiểu như xe bán nước sinh tố bên quê nhà được đặt cố định ở một góc lối đi ra sau quán mà trên bày chật các chai thủy tinh Cocacola, 7 up, bình chanh muối cùng các khay chứa rong biển thái sợi, nhãn nhục, bo bo và hạt sen nấu chín. Cạnh đó là tủ kiếng nhỏ chất các phong bánh Bía, đậu phọng da cá cùng các gói thuốc lá như Garam Gudang, President, Hero, Delapan, Jet và 555… Hai ông khách địa phương ngồi im lặng mà mắt họ dán vào cái TV treo trên tường đang chiếu một cảnh thời sự trong vùng. Tôi cũng nhận ra ba bà người Việt, chủ các tiệm bên trại tị nạn Galang ngồi ở cái bàn có hướng quay ra phía một bên đường khác đang lầm rầm trò chuyện với nhau. Tay một bà có cây bút cùng quyển sổ nhỏ như đang kết toán về hàng hóa mới mua được trong các túi xách, bao tải nhỏ nằm gần chân họ trên sàn của quán. Tôi đã hiểu tại sao ông chủ quán người Tàu ở đây biết nói chút tiếng Việt. Thuyền nhân Việt bên đảo Galang khi vì công việc riêng phải đến đây thì chắc chắn họ sẽ ghé lại quán nước này do cái vị trí của nó gần với bến cảng.

 

Khi ông chủ quán bưng hai ly Sâm Bổ Lượng mang ra bàn cho tôi và Yến rồi thì ông tiến sĩ Tôn nói tiếp về chuyện người Hoa.

 

– Xếnh xáng, Hoa kiều hay đơn giản gọi là Ba Tàu khi sống ở đâu thì họ cũng đều nhanh chóng hòa đồng với người dân tại địa phương đó. Hầu như trong buổi đầu thì họ sẵn sàng làm bất cứ công việc gì để sống trước đã rồi dần dà tích cóp tiền bạc và bắt đầu tự mình kinh doanh lấy một nghề gì đó thí dụ như cái ông chủ quán này… rồi từ từ sẽ tiến cao hơn. Nhưng dù có sống bao nhiêu năm xa quê hương đi nữa thì họ vẫn là dân Ba Tàu, vẫn giữ tiếng nói riêng cùng phong tục tập quán, tín ngưỡng của tổ tiên mình.

 

– Người ta nói ở nước nào trên thế giới cũng có mặt dân Tàu. Anh Khảm xen vào.

 

– Đúng là vậy!

 

Ông tiến sĩ Tôn gật gù cái đầu và tiếp:

 

– Cái câu này nó cũng giông giống cái câu mặt trời không bao giờ lặn ở nước Anh trong thời kỳ chinh phục thuộc địa của thế kỷ 18. Khi đó Anh quốc hùng mạnh lắm, còn hơn vị thế của nước Mỹ bây giờ, lá cờ của họ cắm trên nhiều vùng đất thuộc đia từ Mỹ Châu, Á Châu rồi Phi Châu và còn kéo dài đến tận châu Úc nữa. Đó cũng là lý do mà tại sao nhiều nước nói chung ngôn ngữ với nước Anh.

 

Ông tiến sĩ ngưng lại một chút rồi nói:

 

– Câu dành cho nước Anh bây giờ đã sai nhưng vẫn đúng với dân Ba Tàu.

 

– Dân Ba Tàu đến nước mình từ thời chúa Nguyễn phải không anh? Người ta bảo hồi đó nước Tàu loạn lắm nên dân họ phải chạy tứ tung. Anh Khảm hỏi.

 

Không trả lời ngay câu hỏi của anh Khảm mà ông tiến sĩ Tôn ngồi yên trong chốc lát như thầm ôn lại các ký ức về lịch sử rồi sau đó mới chậm rãi kể:

 

– Cũng do sự sụp đổ của nhà Minh trước sắc dân du mục Mãn Châu. Đám Mãn Châu này khi chiếm được toàn bộ đất đai Trung Hoa rồi thành lập triều đại mới mà mình nghe tên là nhà Thanh. Nước mất rồi nhưng đám con cháu, vong thần nhà Minh vẫn cố sức chống lại bằng cách dựa vào vùng duyên hải ở miền nam Trung Hoa cũng như liên kết với các đám hải tặc Tàu Ô ngoài biển để khuấy phá quân triều đình nhà Thanh. Để đối phó lại thì nhà Thanh mới ra lệnh buộc dân chúng sống ở vùng duyên hải từ tỉnh Sơn Đông đến Quảng Đông phải dồn vào sâu trong nội địa. Tất cả các làng mạc, hải cảng, thành phố, ruộng đồng… đều bị bỏ hoang và biện pháp của nhà Thanh đã khiến phần lớn dân chúng sống trong các vùng này đành phải rời bỏ quê hương để tìm cư trú ở một nơi khác. Chính họ đã là các làn sóng thuyền nhân Ba Tàu đầu tiên đến nước Việt  mình trong thời chúa Nguyễn như đám vong thần Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài… Cũng thời gian đó thì còn có các đám dân nhà Minh khác tìm đến những nước như Khmer, Lào, Thái Lan hoặc xa hơn là Malaysia và Indonesia nữa. Ở các vùng đất mới này, nếu gặp nơi còn bỏ hoang thì thuyền nhân Ba Tàu sống bằng nghề nông là chính và họ chỉ chuyển sang nghề buôn bán, thủ công khi gặp nơi có dân cư đông đúc. Đó là thời kỳ ra đời của các làng gọi là Minh Hương ở Việt Nam trong vùng lưu vực sông Cửu Long, vùng Biên Hòa và Gia Định-Chợ Lớn… Dân Ba Tàu còn di cư sang tận bên châu Mỹ nữa kìa.

 

Tôi ngồi yên, chút ký ức vẫn nhớ truyện kể là lịch sử ngành hỏa xa bên Hoa Kỳ trong buổi đầu gắn liền với các di dân người Trung Hoa và trong quyển Papillon, một tự truyện của tác giả Henry Charrie, cũng có mặt họ ngay cả ở các hải đảo đèo heo hút gió của vùng Nam Mỹ nữa. Nghĩ nhưng mà thắc mắc, thêm vào đó câu nói vừa rồi của ông tiến sĩ nên tôi hỏi:

 

– Thưa chú, dân Ba Tàu di cư sang châu Mỹ vào khi nào? Có cùng với thời gian họ đến nước mình không?

 

– Đó là giai đoạn sau này chứ thời chúa Nguyễn thì chưa cậu à.

 

Ông tiến sĩ Tôn trả lời tôi rồi như muốn mọi người được rõ hơn, ông tiếp:

 

– Dân Ba Tàu có hai giai đoạn di cư và trong cả hai lần này đều khác nhau nguyên nhân. Lần đầu như tôi vừa nói trong cuối thế kỷ thứ 17 họ bỏ nước vì lý do chính trị nhưng ở lần sau thì lại do vấn đề kinh tế mà ra. Nhà Thanh, với các vị vua đầu tiên như Thuận Trị, Khang Hy, Ung Chính biết chăm lo việc nước nên đã làm kinh tế Trung Hoa khi đó phát triển mạnh. Đến thời vua Càn Long vẫn còn kha khá nhưng sau khi ông vua này chết rồi thì các vị vua sau lại sa vào con đường ăn chơi xa hoa, bỏ mặc triều chính nên làm suy yếu đất nước rồi cộng thêm sự xâu xé của các nước tư bản phương Tây khi đó đã vào được Trung Hoa rồi, làm cho đời sống dân Ba Tàu càng lúc càng khổ, kiệt quệ hơn. Dân chúng bỏ làng đi đến các thành phố lớn để thoát đói nhưng cũng kiếm không ra việc nên buộc lòng họ phải nghĩ việc ra nước ngoài kiếm sống. Chính lúc đó, năm 1845 xuất hiện hai trung tâm mộ phu tại các tỉnh Phước Kiến và Quảng Đông kiếm người sang làm việc cho các mỏ bạc ở Peru và các đồn điền trồng mía ở Cu Ba bên châu Mỹ. Hai trung tâm mộ phu này còn đưa dân Ba Tàu sang Hoa Kỳ để thế chỗ cho đám dân nô lệ da đen gốc từ Phi châu. Đám nô lệ da đen ở Hoa Kỳ khi được quyền tự do thì họ bỏ đồn điền, hầm mỏ của chủ da trắng để tìm đến thành thị kiếm việc làm trong các nhà máy. Dân Ba Tàu rủ nhau bỏ nước đến Hoa Kỳ vì viễn cảnh sẽ có một cuộc sống khá hơn. Họ đến và đến nhiều hơn khi có tin tìm ra mỏ vàng ở San Francisco ở bờ biển phía Tây Hoa Kỳ trong năm 1850. Hàng ngàn dân Ba Tàu theo chân các sắc dân khác của thế giới kéo đến vùng San Francisco này với hy vọng sẽ đổi đời nhờ vào việc kiếm được vàng cục. Hình ảnh đó lại tái diễn ở Colombia, ở New Zealand trong năm 1860 khi các nơi này tìm thấy vàng. Khi các cơn sốt vàng này hạ hỏa thì dân Ba Tàu trong nước lại kiếm đường sang Bolivia, Paragoay, Venezuela, kênh đào Panama và cả ở vùng Tây Bá Lợi Á thời còn Nga Hoàng nữa.

 

– Tôi thấy dân Ba Tàu ở nước mình họ hoạt động trong bang hội của họ. Không biết ở các nước khác thì sao hả anh? Anh Khảm đột ngột hỏi.

 

– Cũng một phương thức như vậy. Đây là cách họ thực hành đúng câu đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết khi phải sống tạm dung ở xứ người. Công bằng mà nói thì đến sống ở đâu, dân Ba Tàu cũng có ích từ sự khéo léo, khôn ngoan của họ, đã góp phần vào việc phát triển các đô thị nơi họ sống. Chợ Lớn, Bạc Liêu ở nước mình là các ví dụ. Nhưng mà có khéo léo tay chân, khôn ngoan trong tính toán mà sống khép kín, không quảng giao, không đoàn kết thì cuộc sống cá nhân đó cũng sẽ dễ gặp khó khăn khi có các bất trắc xẩy đến. Dân Ba Tàu tuy là một khối dùng chung một chữ viết mà mình gọi là Hán tự nhưng trong thực tế thì lại phân biệt ra người vùng Phước Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Bắc Kinh, Hẹ, Đài Loan… trong cách phát âm phương ngữ riêng và đây cũng là sự chia rẽ nội tại của họ. Ở xóm tôi, tôi đã thấy dân Ba Tàu Quảng Đông không chơi với dân Ba Tàu Hẹ hay dân Ba Tàu gốc khác dù trên hết tất cả, họ đều tự hào cho mình là thuộc giống nòi cao quý, dòng dõi Đại Hán với các truyền thống từ lịch sử, văn hóa đến phong tục, tập quán… hơn nước người. Đoàn kết thì phải gia nhập vào bang hội của sắc dân mình như Quảng Đông hay Triều Châu, Phước Kiến  hoặc Khách Gia… Gia nhập thì sẽ được sự hổ trợ của bang hội mà chính nhờ sự giúp đỡ này mà việc buôn bán, kinh doanh của họ hơn hẳn với dân bản xứ. Chính vậy mà họ dễ dàng thành công rồi từ sự thành công này cộng thêm sự tự hào về nguồn gốc của họ khiến họ không muốn đồng hóa với người dân địa phương và vô tình tạo ra sự kỳ thị trong quan hệ. Lịch sử từng đã chép nhiều chuyện về vụ kỳ thị dân ba Tàu dẫn đến các phong trào bài người Hoa và có khi xô xát đến chết người ở nhiều nước.

 

Tôi thấy ông tiến sĩ Tôn nói quá đúng khi nhớ lại các câu truyện trong sử Việt về vụ quân đội nhà Tây Sơn tàn sát dân Ba Tàu trong vụ Lý Tài và sự việc nhà nước Việt Cộng xua đuổi người Hoa trong cái gọi là nạn kiều của các năm cuối thập niên 1970. Vừa nghĩ đến đây thì tiếng của ông tiến sĩ Tôn lại tiếp:

 

– Nói đâu xa, ngay tại Indonesia này trong các năm 1965-1966 thì đã có việc tàn sát dân Ba Tàu trong vụ gọi là chống lại đảng Cộng Sản Nam Dương. Cả hàng triệu đảng viên Cộng Sản Nam Dương khi đó bị giết chết mà hầu hết họ đều là dân Indo gốc Trung Hoa. Đảng viên Cộng Sản nào được chính quyền tha mạng thì bị lưu đày đến sống ở các đảo hoang, nơi biệt lâp… trước khi họ bị nhổ mất 2 răng cửa và chính quyền sẽ phạt tù nặng với bất cứ nha sĩ nào tân tạo các răng mới cho những người Cộng Sản đó. Mấy người thấy chính quyền Jakarta làm quyết liệt chưa! Hết hẳn Cộng Sản ở cái xứ Hồi giáo này. Ta cứ nghĩ xem, với bộ mặt mất 2 răng cửa đó thì đi đến đâu, người dân Indo cũng sẽ nhận ra đây là một tay Cộng Sản và họ sẽ xa lánh ngay.

 

Thấy trời sắp sửa ngả về chiều rồi lại nghĩ đến giờ giấc phải xuống tàu máy cao tốc, tôi sợ không còn kịp giờ để nghe ông tiến sĩ Tôn kể thêm chuyện nên  hỏi ngay về vụ nhà hàng Tàu thì ông cười, nói:

 

– Ồ! Cũng do từ việc dân Ba Tàu bị chèn ép trong công việc cả thôi. Làm ở hầm mỏ, trên cánh đồng, trong nhà máy… ở nước nào thì họ cũng bị chủ nhân trả lương kém hơn những sắc dân khác. Chủ thì lấy lý do là cơ thể dân Ba Tàu khi đó nhỏ con hơn tất sẽ yếu hơn và năng suất làm việc sẽ không bằng nên xử ép. Thực tế thì dân Ba Tàu làm việc rất hăng dù sức yếu hơn nhưng hầu như lúc nào họ cũng hoàn thành công việc được chủ giao cho. Điều dễ hiểu là họ tha hương nhưng còn cả một gánh nặng là thân nhân tại quê nhà đang chờ sự giúp đỡ của họ. Cho đến một tình cờ là có một ông Ba Tàu ở thủ đô Paris bên nước Pháp bị chủ sa thải sau một tai nạn lao động với chút tiền bồi thường. Hình như đó là năm 1922. Ông Ba Tàu này hồi còn ở quê nhà từng phụ việc trong một cao lâu ở Nam Kinh nên nghĩ thử mở tiệm ăn, nấu các món cho người đồng hương xem sao. Thế là một cái quán ăn người Trung Hoa ra đời trong khu phố lao động. Khởi đầu thì quán cũng nhỏ nhưng dần dà do sự ủng hộ của dân Ba Tàu trong bang hội nên đã phát triển dần lên. Quán mở rộng ra, thêm các trang trí bằng các bức tranh, bình hoa, lồng đèn đỏ cùng các hàng cột rồng-phượng-lân đã gây sự chú ý của dân địa phương. Họ kháo nhau về quán ăn này rồi tiếng lành đồn ra xa. Khách tìm đến quán bây giờ không thuần chỉ dân Ba Tàu nữa mà hầu như đều là dân địa phương, dân ngoại quốc tứ xứ. Họ đến để thử các món ăn cùng không khí kỳ bí của phương Đông mà trí óc họ tưởng tượng về cái xứ có hàng triệu triệu người, cái xứ có cách thức khám bệnh bằng tay, cái xứ có cách làm ra vải lụa từ chất nhớt của một loài sâu… Cần phải đến vì cần phải biết các món ăn với các gia vị tạo thành hương vị kỳ lạ không giống như những món ăn của người Âu tây. Quán của ông Ba Tàu này đâm ra thành công đã làm các tấm gương cho những di dân Trung Hoa ở các nơi khác rồi lan sang nhiều nước. Không thể nào và cũng không sợ đụng hàng với dân bản xứ khi kinh doanh nhà hàng Tàu, một thành công của đám di dân Trung Hoa kể từ đó và kéo dài cho đến tận bây giờ.

 

– Thì ra là vậy! Chị Phượng vui thích, buột miệng nói.

 

Ba bà người Việt đã ra khỏi quán rồi và bây giờ thì có thêm các người khách địa phương mới kéo vào quán mà trong số họ đều là dân gốc Trung Hoa. Họ gọi cà phê nóng và nhấm nháp cái bánh Bía, gói đâu phọng da cá trong làn khói thuốc lá như cảnh mấy tay Ba Tàu đến quán trà gia của cữ chiều tại nước Việt. Ông tiến sĩ Tôn kể tiếp:

 

– Thật ra thì buổi đầu nhà hàng Tàu cũng chật vật lắm vì sự kỳ thị. Dưới con mắt của dân Âu châu thì tự họ lúc nào cũng kiêu căng cho là món ăn của họ văn minh nhất, ngon nhất và không một lối nấu ăn nào có thể vượt qua mặt họ được. Nhất là với cái dân Pháp. Tự cao mà không biết là ở châu Âu, các vị đế vương khi ăn thịt cừu nướng nguyên con vẫn phải lấy tay xé thịt chấm muối thì ở bên nước Tàu, ngay người dân thường  đã biết chế biến thực phẩm thành hàng trăm món ăn ngon. Cái câu mình hay nghe nói ăn cơm Tàu là do cái vụ nhà hàng này mà ra. Kỳ thị nhưng rồi dân Âu châu, Mỹ châu lại tình cờ phát giác ra là thức ăn bán ở nhà hàng Tàu đã ngon miệng thì chớ mà lại còn bán giá rẻ hơn nhiều so với cũng món ăn đó ở trong các nhà hàng của dân địa phương. Cũng những thịt gà, thịt bò, hoa quả, nấm tươi… đó mà sao trong nhà hàng Tàu, đầu bếp chế biến các món ăn của dân Âu châu nó khác vị đi. Ngon hẳn, riêng biệt không thể lẫn vào đâu được.

 

Chia tay với ông tiến sĩ Tôn, nhóm bốn người chúng tôi quay trở về bến cảng. Anh chị Khảm-Phượng giờ đây mỗi người có thêm ít quần áo mới cất gọn trong 2 cái va ly giả da khá to. Nhìn vài người Việt khệ nệ xách khá nhiều quần áo cho việc định cư sắp đến thì anh nói nhỏ với tôi và Yến:

 

– Với anh chị, vài bộ quần áo là quá đủ. Kinh nghiệm đã từng đi Mỹ cho biết rồi anh sẽ phải vất bỏ các y phục này khi qua tới bên đó vì nó không hợp kiểu. Sắm chi nhiều cho tốn tiền bạc của thân nhân mình gửi giúp. Bên đó họ làm ra đồng tiền cũng chật vật lắm.

 

Nhóm chúng tôi từ từ thận trọng trèo xuống các ghe chèo tay để ra con tàu cao tốc đang nằm chờ ngay chỗ đã ngừng lúc sáng. Đoạn đường biển thật ngắn nhưng vẫn giá công như buổi sáng từ miệng của dân chèo đò địa phương. Hai trăm Rupiad cho một người (Rupiad dua ratus orang) mà không thể kỳ kèo, nói họ bớt tiền. Ghe chèo đến tàu cao tốc, tôi và Yến nhanh nhẹn lách qua vài người đứng ở bên ngoài để bước xuống khoang hầm và vào đúng chỗ ngồi của mình. Xếp các gói hành lý dưới chân ghế xong xuôi, ngồi với Yến một lát thì tôi muốn ra bên ngoài để nhìn cảnh bến cảng Tanjung Pinang thêm một lần nữa trước khi trời tối hẳn. Biết đâu mình sẽ không có dịp đến lại nơi này lần thứ ba, tôi nhủ thầm.

 

Trong cái nhá nhem mầu xám bạc của trời chiều, bến tàu Tanjung Pinang vẫn những con đò chèo tay, đò gắn máy chở người chạy ngược xuôi đây đó. Xa xa vài chiếc tàu sắt lớn trôi chậm rì trên hướng ra vùng nước biển rộng trong làn hơi mờ mờ từ mặt nước bốc lên. Ngắm phong cảnh trông thật giống ở bến phà Thủ Thiêm nối liền hai bờ đông-tây của sông Sài Gòn làm tôi chợt nhớ đến gia đình, đến mẹ, các em gái và quê nhà. Tôi đang là một Thôi Hiệu của quê hương khuất bóng và khói sóng trên sông đây.

 

Hơi nước từ mặt biển thốc lên mang theo mùi hôi như khi sáng làm tôi nhớ lại các bến tàu chân mình đã từng qua. Cái mùi đặc biệt của bến tàu Tanjung Pinang này tương tự như ở bến cảng Kompong Som, bến đò Tắc Cà Mau bên Kampuchia trong chuyến vượt biên lần trước và ở bến đò Thủ Thiêm, nơi tôi đã vài lần ngồi trên ghe máy để sang vùng Khánh Hội nằm bên kia sông Sài Gòn. Các bến đò, bến cảng tít mù khuất lấp đó đang lần lượt về lại trong tâm trí tôi như một đoạn phim ký ức. Dõi mắt nhìn các tòa cao ốc phía trên bờ đảo với các ô cửa sổ có cái sáng đèn, cái không và những cánh trắng chim hải âu chao lên đảo xuống trong vùng xám của mặt biển trời chiều mà hồn thì thả về quê nhà xa lơ xa lắc nơi các thân nhân tôi đang sống. Khuôn mặt già nua của mẹ tôi với mái tóc bạc trắng, làn da nhăn nheo và nụ cười mỗi khi bà gặp mặt người thân. Rồi còn các cô em gái trong nhà, những thân thuộc trong họ và cả bạn bè nữa… Tôi đứng yên lặng thẫn thờ, u hoài.

 

Một bàn tay khẽ đặt nhẹ trên vai làm tôi quay về khung cảnh hiện tại. Nhìn lại thì ra anh Khảm, tôi lắp bắp:

 

– Anh! Trông cảnh ở đây tự nhiên em thấy buồn…

 

Chưa nói hết câu thì anh Khảm đã ngắt lời tôi:

 

– Anh cũng vậy, chắc đây là chuyến đi lần chót của anh và Phượng. Không biết đến bao giờ trong đời sẽ có dịp gặp lại.

 

– Gặp lại đây, đảo Tanjung Pinang này?. Tôi hỏi anh.

 

– Không! Phượng ấy chứ. Vài tháng nữa tới chuyến định cư rồi, anh thì Mỹ còn cô ấy đi Úc… Biết bao giờ gặp lại? Giọng anh Khảm nho nhỏ khi lập lại câu nói.

 

Trời hỡi! Thuyền nhân sống tạm dung ở trại tị nạn ai nấy chỉ mong cho mau tới ngày có list đi định cư để làm lại cuộc đời mới, sẽ khác hẳn trước giờ. Tôi tưởng anh Khảm buồn vì đứng trước cảnh sông nước quê người mà động lòng đến quê hương trong nỗi nhớ nhà, nhớ gia đình. Nào ngờ, anh buồn vì biết sắp phải chia tay với chị Phượng. Buồn! Rõ ràng… vì chính miệng anh vừa thổ lộ như lời ai oán. Anh đã quên người vợ anh cùng 2 đứa con nhỏ bên quê nhà? Ở đây chỉ là trại tị nạn, nơi sống tạm ở nhờ của thuyền nhân, nước thứ ba chính là quê hương mới của chúng ta. Anh Khảm từng nói vậy với đám học trò trong các buổi dạy Anh ngữ mà sao bây giờ lại thế. Lậm chị Phượng quá rồi anh… bớt lụy chút chút đi. Tôi định buông vài câu nói thì kịp thời trấn tĩnh khi nhìn vào khuôn mặt anh như có chút nước lấp lánh nơi khóe mắt. Tôi thở nhẹ, im lặng vì đã hiểu. Tình đã sâu, đã nặng thì dễ gì người ta quên ngay được những ngày sống tạm dung bên nhau ở đây.

 

Dàn đèn cao áp xa xa nơi bến tàu rực cháy hắt ánh sáng xuống mặt nước biển. Ánh sáng cuối ngày trong cái bảng lảng trời chiều dần tối làm những cuộn sóng biển nhấp nhô trồi lên, lượn xuống như các thân thủy quái lúc đen lúc vàng đuổi nhau chạy tuốt vào bờ, không quay lại. Ghe chèo tay của dân địa phương hối hả đưa người đến bên tàu cao tốc rồi sau đó, họ vội vã lui về bến để đón thêm các khách mới như chạy đua với thời khắc của một ngày sắp tàn. Không thấy mặt ông tiến sĩ Tôn, tôi thắc mắc hỏi thì anh Khảm trả lời:

 

– Ô! Ông Tôn sống ở nhà thương Tanjung Pinang này, tình cờ anh với Phượng gặp ông ta ở gần cái quán nước của cha ba Tàu đó Vũ. Cứ đến ngày thứ Bẩy thì ông ta mò ra đây, lòng vòng mấy chỗ gần bến tàu để mong gặp được người quen từ Galang sang, cho vui.

 

Rồi anh kể ông tiến sĩ tình nguyện đi sang sống ở nhà thương Tanjung Pinang để trông nom một thuyền nhân sống chung trong barrack từ đảo tị nạn chuyển tiếp, anh nói:

 

– Ông thuyền nhân đó đi có một mình, mới được Cao Ủy công nhận tị nạn trong đợt xổ thanh lọc vừa rồi thì đổ bệnh, nhà thương bên Galang đưa sang đây chữa, lòi ra ung thư gan.

 

Nghe vậy, tôi nghĩ hay ông tiến sĩ Tôn đang chăm sóc bệnh cho cụ Hoàng nên hỏi tới nhưng anh Khảm lắc đầu, trả lời:

 

– Không phải, ông này khác… Mà cụ Hoàng cũng yếu, bác sĩ Luân vẫn cho thuốc bổ uống đấy và cũng chỉ được như vậy thôi, em à.

 

Tôi rất mừng vì trong lòng vẫn trông có dịp được gần gũi cụ Hoàng để học hỏi, để biết thêm những kiến thức. Tôi mong tuy hình dáng gầy gò, cụ Hoàng vẫn khỏe, tinh anh như đôi mắt sáng quắc khi kể chuyện về Sài Gòn cũ ở các tháng trước, trong lần gặp gỡ tại quán cà phê của bác sĩ Luân.

 

– Bệnh tình ông này như vầy, không biết rồi sẽ ra sao? Em coi đó…

 

Anh Khảm bỏ lửng câu nói nhưng tôi đã hiểu khi nhớ lại những nấm mồ của thuyền nhân Việt ở một rẻo rừng bên trại lính Malaysia cũng như các ngôi mộ vôi trắng mốc thếch của Galang 3. Rồi còn những nơi khác không ai biết nữa, thiếu gì người vượt biên phải bỏ mạng. Thân nhân của người nằm dưới tầng đất lạnh này có biết đến phút lâm chung của họ để thương cảm, để khóc thầm hay chỉ buông lời trách móc vì ngỡ người xưa đã quên, một đi không lần quay lại.

 

Tàu cao tốc chợt nổ máy lớn hơn và rồi tài công kéo một thôi còi như thay cho đám khách thuyền nhân nói lời từ biệt đảo Tanjung Pinang trước khi khởi hành về lại bến cũ. Tàu chạy như lúc sáng trong tiếng ù ù chung với nhạc loa, cùng hình ảnh khách ngồi vật vạ trên ghế mà mắt nhắm như ngủ. Những cảm giác nôn nao lại quay trở lại trong người y như lần đi khi sáng, Yến nắm lấy tay tôi, thều thào:

 

– Em chỉ mong tàu chạy cho mau đến Galang, có về được nhà thì mình mới khỏe.

 

Chao ơi! Tôi bật cười với ý nghĩ căn phòng trong barrack nay đã là cái nhà của Yến rồi lại bào chữa cho nàng vì thói quen trong suy nghĩ nên mới nói ra như vậy.

 

Tàu cao tốc chạy mãi chạy mãi trong yên lặng cho đến khi một tiếng còi kéo vang lên như để đánh thức hành khách biết bến nhà đã đến. Tôi và Yến choàng dậy, tay xách túi hành lý, lần lượt theo chân các người khác bước ra khỏi khoang hầm của tàu. Trời bên ngoài giờ đã tối hẳn, chúng tôi đã về lại Galang rồi. Đứng ở sàn cầu bê tông sát thân tàu cao tốc, tôi nhìn lên những căn nhà của dân địa phương lù lù từng cái ở trên bờ hoặc nằm gọn gàng theo lối đi dưới bóng ngọn đèn cao áp. Một khung cảnh im lìm trong lúc sáng mà giờ đây, vẫn cửa kín then cài và không một ánh đèn hắt ra từ các ô cửa sổ. Trông như một bức tranh vẽ về một xóm nhà bỏ hoang dù thực tế có người ở bên trong. Họ làm vậy, chắc hẳn vì được lệnh của đám police phòng P3V mỗi khi có mặt thuyền nhân người Việt ở khu vực cầu tàu như một cách tránh các tiếp xúc không cần thiết.

 

Tàu cao tốc tắt hẳn máy, trả lại cái yên lặng của bến tàu Galang như một đảo hoang không người ở. Tài công và nhân viên của tàu là những người ra sau cùng. Họ cũng mang cả đống hành lý như các chủ tiệm Galang đi sắm đồ về bán kiếm lời. Tối nay, họ ở lại trại để rồi chiều Chủ Nhật ngày mai sẽ chạy tàu đi Tanjung Pinang đón nhân viên Cao Ủy làm việc cho buổi sáng thứ Hai, ngày đầu tuần mới.

 

Tôi và Yến theo chân những người khác đi vào căn nhà tiếp khách nhập trại để chờ xe tải của phòng an ninh P3V từ bên trong ra đón. Người thì ngồi kiểm lại đống hành lý để vương vãi trên sàn, người thì đứng bên nhau nói chuyện trong làn khói thuốc lá như màn sương mỏng, người thì thào hỏi chuyện nhau về một việc riêng gì đó… Chúng tôi tập trung chờ, chờ cả nửa giờ đồng hồ mà chẳng thấy xe cộ nào ra đón. Có người đã lộ vẻ bất mãn khi buông ra những câu rủa cộc cằn, tức bực. Cho đến lúc có ánh đèn xe máy xuất hiện rồi tiếng ồn ào bắt đầu khi mọi người trông thấy một police bản xứ dựng xe và bước đến trước mặt.

 

– Ê! thằng Rudi kìa, vậy là có chuyện rồi.

 

Đúng như lời người vừa mới nói, gã police tên Rudi cho biết vì cái xe tải được phòng An ninh P3V trưng dụng để kéo một chiếc Jeep mắc lầy ngoài bãi biển lúc chiều nên có thể sẽ đến trễ và y mong tất cả khách chúng tôi thông cảm. Nói xong câu, gã ta bỏ đi đến bên nhóm tài công, nhân viên của tàu cao tốc trò chuyện riêng.

 

Ai nấy chán nản, tản ra chung quanh thì một tiếng ùm thật lớn phát ra từ hướng cầu tàu bê tông khiến cả đám người phải đưa mắt nhìn. Tiếng một phụ nữ cất lên:

 

– Cá đớp bóng… Con này lớn lắm, cứ nhìn cái quầng nước kìa các ông.

 

Anh Khảm kéo tay tôi đi theo vài người khác đến sát bờ nước gần chỗ cầu tàu để xem. Những vòng tròn đồng tâm của quầng nước lớn vẫn còn lan tỏa chạy từng đợt từng đợt vào ven bờ. Đúng là con cá phải thật lớn mới tạo ra tiếng ùm to cùng quầng nước rộng khi nổi lên mặt nước làm mọi người có mặt phải giật mình. Tôi hỏi anh Khảm:

 

– Con cá gì vậy? Sao người Indo ở đây không bắt nó ăn thịt đi… Lần mới nhập trại em cũng thấy cái vụ cá đớp bóng này. Chắc cũng nó làm.

 

– Tụi Indo cũng biết ở đây có con cá này chứ nhưng sao lại không tìm cách bắt thì anh chịu. Có thể dân theo đạo Hồi không ăn thịt những con cá quá to cũng như loài vật nào chúi thân ngập xuống bùn. Ở đây nước phải sâu lắm thì người ta mới làm cầu tàu bê tông để ghe thuyền ghé vào được và biết đâu, dưới tầng nước xanh đen này có những rạn đá hay hang động làm nơi trú ẩn của nó.

 

– Anh có nghĩ đây là cá mập? Nó có thường nổi lên đớp bóng như vậy không? Không ăn thịt thì ít ra cũng phải bắt để xem coi nó là giống cá gì chứ. Tôi hỏi dồn.

 

– Chẳng rõ. Mà đây trong vùng nước biển thì cũng có thể. Đám trật tự nói với anh là mỗi khi có ghe tàu ghé vào chỗ này thì nó mới đớp bóng nước như vậy. Anh lại nghĩ do tiếng máy tàu cao tốc vọng xuống đáy làm con kình ngư nhức óc nên phải trồi lên.

 

Sau cùng, chiếc xe tải cũng đến nơi để lần lượt chở đám khách chúng tôi vào trại. Tôi và Yến nhanh chóng trở về căn phòng thân yêu thường ngày của mình. ” Phải tắm cái đã “, tôi nói khi trao bịch nylon đựng thịt heo quay cùng bánh mì cho Đỉnh. Bữa ăn tối hôm đó thật thịnh soạn, thật ngon dưới ánh đèn dầu vàng vọt, chỉ tiếc vắng mặt cô Đào. Bẩy cho biết trước khi bày thức ăn ra mâm, Đỉnh đã sớt ra một ít thịt heo quay cùng nửa ổ bánh mì bảo sẽ mang cho Ánh Diễm và còn nói:

 

– Phải nghĩ đến người ta và có phần cho họ chứ, mấy khi có dịp được ăn tươi như thế này.

 

Tuần lễ sau đó, chung với niềm vui của những người có tên trong list đi định cư trước hết kể từ lúc có vụ xổ kết quả thanh lọc thì Yến cho biết đã tìm được một căn nhà chủ đồng ý bán, nàng cười tươi khi kể:

 

– Căn nhà nhỏ xíu nhưng được cái có giếng nước đằng sau, giàn dưa Tây phía trước cùng một cây đu đủ khá lớn trồng bên hông nhà. Chủ đã làm hàng rào bao chung quanh cẩn thận lại còn để giây Mồng tơi đan kín nữa. Em mừng khi mua được nó. Ít ra thì mình sẽ không phải chui rúc trong căn phòng chật chội của barrack lá.

 

Mình sẽ không phải chui rúc trong căn phòng chật chội của barrack lá. Tôi và Yến sẽ có nhà riêng để ở chung với nhau. Có thật thế không, tôi ấp úng hỏi:

 

– Sẽ có nhà ở Galang này… cho anh và em… sống trong đó. Phải vậy không?

 

Không trả lời ngay, Yến im lặng chốc lát rồi khẽ khàng từng tiếng trong ánh mắt nhìn tôi như nghiêm, như đùa rồi nàng ngưng đột ngột:

 

– Chỉ ở chung thôi… chứ không có…

 

Căn nhà riêng để ở chung với nhau đó, nhân chiều thứ Sáu cuối tuần được nghỉ việc sớm hơn thường lệ, về đến barrack thì Yến rủ đi với nàng để xem cho biết. Đến trước một ngõ hẻm của khu vực zone 2 đối diện với trường Huấn nghệ Consortitum thì Yến quẹo vào. Qua khỏi các barrack lợp lá rồi những mái nhà nho nhỏ, hai đứa tôi đi đến gần cuối con đường hướng vào rừng và dừng chân trước một căn nhà có hàng rào vây chung quanh. Một hàng rào làm bằng cây rừng, đan chồng chéo cao ngang thân người  phủ kín đầy mồng tơi, một loại rau người miền Bắc thường nấu canh ăn. Căn nhà bé xíu, có một giếng nước nằm mé đằng sau và mé trước nhà là một giàn dưa Tây um tùm. Yến cất tiếng gọi, một phụ nữ trạc tuổi với chị Phượng chạy ra mở cánh cổng thấp cho hai đứa tôi vào. Giàn dưa Tây như một tấm màn che tạo bóng mát cho mặt trước nhà nhưng nó đã cỗi vì chẳng còn một quả hay nụ bông nào cả. Cái nhà, đứng bên ngoài thấy nhỏ nhưng khi đặt chân vào trong thì mới thấy nó khá rộng nếu như so sánh với căn phòng của nhóm chúng tôi ở barrack. Tuy nhỏ nhưng chủ gia cũng ngăn nhà thành ba phần, phần trước là phòng ngoài có cái bàn với hai chiếc ghế đẩu cùng một cái giường đơn kê sát bên vách ngăn. Phần giữa là căn buồng có cái giường đôi cùng cái tủ gỗ nằm sát cạnh nhau và phần sau nhà là chỗ tắm giặt cùng bếp nấu nướng. Nền nhà là các tấm xi măng bể được chủ gia thu gom từ các mặt sân nhà cũ trong trại rồi mang về ken lại khá gọn gàng. Từ phần sau nhà này, qua cánh cửa nhỏ, hai đứa tôi theo chân chủ gia bước ra bên ngoài để xem thêm. Một con heo khá lớn chứa gần đầy nước mưa hứng từ mái nhà chảy xuống bằng cái máng gỗ mỏng manh. Ở một góc sân là một bụi cây bố mọc xum xuê có cành dài chạm cả vào mặt đất.  Cây bố này, người miền Bắc gọi là rau đay nấu canh ăn được. Những cây rau ngót cao hơn đầu người đứng thành hai hàng cạnh các bụi mía, luống khoai mì. Các bụi xả lùm xùm che kín chân hàng rào và ở cuối vườn, ngay chỗ phần thoai thoai của mặt đất là nguyên vạt rau thơm đầy tía tô, húng, dấp cá, ngò gai… mầu xanh mầu tím pha sắc bên nhau. Mái nhà được lợp bằng giấy dầu nhựa hắc ín trộn cát mịn còn vách là các thân tre đập dập, vỏ thùng giấy carton cứng nhưng bên ngoài được bọc bằng các tấm nhựa plastic lớn. Thấy có cái thùng múc nước để nằm chỏng trơ trên sàn xi măng, tôi kéo một ít nước từ giếng lên cho Yến xem. Nước trong vắt và không có mùi gì cả. Vậy là được vì Yến mua nhà chỉ vì nàng cần có nước để dùng hàng ngày, nhất là trong các tháng hè. Ở barrack, hàng ngày mỗi buổi sáng tôi và Đỉnh vẫn phải đi gánh nước từ suối gần bệnh viện về xài chung. Con suối đã được Ban đại diện trại tu bổ, khoét dòng cho sâu cùng vét hồ chứa nước rộng hơn trước nhưng vẫn không đủ dùng trước số thuyền nhân đổ vào trại từ các ghe bên Malaysia chuyển sang. Thấy tôi bước lại gần bên cây đu đủ ngay bên hông căn nhà, chủ gia liền đi theo. Chắc chắn cây này đã mọc tự nhiên vì thân nó lại ngáng ngay bên ô cửa sổ của căn buồng nơi phần giữa nhà. Những quả đu đủ mọc đeo chi chít bên nhau ở phần ngọn cây nhưng quả nào cũng chỉ lớn hơn một nắm tay người. Chủ gia với tay hái một quả hườm hườm mầu phớt vàng trên thân xanh và đưa nó cho Yến, bà nói:

 

– Trông nhỏ trái nhưng ngọt lắm, cô cậu để nó chín đều hẵng ăn cho vui.

 

Tôi đảo mắt nhìn về hướng Tây của căn nhà, chút ánh nắng chiều còn sót lại nhưng đã bị hàng cây rừng cao vút gần đó cản bớt. Tôi bảo nhỏ với Yến:

 

– Hay quá em, buổi chiều nhà mình sẽ bớt nóng là nhờ có mấy cái cây đằng kia kìa… Chỉ phải cái hơi xa khi mình có việc phải lội từ đây ra tới con đường nhựa.

 

Khi Yến hỏi dứt khoát thì không ngờ chủ gia đồng ý bán chỉ có ba mươi ngàn Rupiad nhưng hai đứa tôi chỉ được dọn vào ngay trong ngày gia đình họ rời trại. Thỏa thuận như thế là xong. Trên đường về lại barrack, Yến kể thêm:

 

– Anh chị Sang chủ nhà này là học trò của thầy Khảm… Họ cũng đã đậu thanh lọc từ đợt xổ trước của thầy và chị Phượng. Thầy mua hộ cho em nên mới có giá đó chứ dễ gì anh.

 

Đúng! Tiền mua căn nhà chỉ bằng tiền vé tàu cao tốc đi Tanjung Pinang cho hai đứa chúng tôi kỳ vừa rồi. Bao nhiêu công sức chủ gia đã đổ ra rồi thêm các vật liệu mới có được căn nhà như bây giờ. Đành rằng đi định cư thì họ sẽ phải bán nhà nhưng bán với giá như thế thì quá rẻ.

 

Buổi tối thứ Bẩy khi ngồi ở quán cà phê với anh chị Khảm-Phượng, tôi kể chuyện về căn nhà thì anh Khảm nói:

 

– Hai vợ chồng tay Sang này chịu học Anh ngữ lắm. Nói với anh sẽ để lại toàn bộ đồ đạc trong nhà cho hai em khi họ lên đường… chắc cũng không lâu đâu.

 

Đồ đạc đây là nồi niêu soong chảo, ly tách chén dĩa, mùng mền, bàn tủ… mà chủ gia đang dùng trong nhà. Hầu như thuyền nhân trong trại, khi đi định cư nước thứ ba ai cũng để đồ đạc cho người thân quen còn ở lại. Mang nhiều đồ đạc khi đi định cư thêm rách việc rồi cũng sẽ vất bỏ. Tôi và Yến bàn nhau khi dọn vào căn nhà mới, cũng sẽ để lại cho Bẩy và Đỉnh các món đồ dùng chung của cả nhóm. Anh Khảm kể thêm hai vợ chồng chủ gia này nguyên là công an tại phường 8 của thành phố Mỹ Tho, theo học Anh ngữ nơi lớp anh dạy một thời gian dài rồi thành thân quen nên mới bán cho Yến cái nhà giá rẻ như thế. Những thuyền nhân mới nhập trại cũng có lắm người đang tìm mua nhà vì ai nấy đều muốn tránh cảnh sống chen chúc trong các barrack lợp lá vừa chật chội lại bầy hầy. Anh Khảm dụi mẩu đầu lọc thuốc lá vào cái gạt tàn rồi nói tiếp:

 

– Cả hai vợ chồng tay Sang này muốn sống bên Úc nhưng phòng định cư Cao Ủy lại sắp xếp hồ sơ họ cho phòng JVA Mỹ  phỏng vấn trước. Phỏng vấn rồi phái đoàn Mỹ lại nhận họ luôn thế mới kẹt. Không muốn mà chẳng làm gì khác được, đành chịu thôi. Vũ nghĩ xem, định cư ở Mỹ mà hai vợ chồng họ lại rầu, lại lo… chỉ vì sợ gặp dân chế độ cũ miền Nam VNCH sẽ khó sống.

 

– Bộ hai ông bà cựu công an này có ân oán gì với dân miền Nam mình hả anh? Tôi thắc mắc.

 

Anh Khảm lắc đầu phủ nhận rồi nói như một kết luận về câu tôi hỏi:

 

– Họ bảo là chỉ muốn yên ổn làm ăn, lập cuộc đời mới trên xứ người, chuyện là công an đã chôn vào quá khứ không muốn nghĩ đến nữa. Anh trấn an họ, nói đừng lo lắng việc đó cho mệt. Sống ở trại tị nạn Galang, gốc gác của họ ai mà lạ hả em! Dân phường 8 của Mỹ Tho vượt biên sang đây thiếu gì người… mà hai vợ chồng có sao đâu. Sang bên Mỹ rồi họ cũng sẽ yên ổn như vậy thôi, người quốc gia mình không có vụ thù hằn dai dẳng như kiểu Việt Cộng làm.

 

Ở trại tị nạn Galang, dù Cao Ủy đã cho hồi hương về lại Việt Nam mấy chuyến người rồi nhưng thuyền nhân vẫn tiếp tục đổ vào nhiều thêm đến nỗi nhà thầu Titan cất barrack không kịp nên có khi, cả đoàn ghe nhập trại phải ở ngay trên các nền nhà cũ chổng trơ dưới ánh nắng mặt trời. Các phòng bỏ không của nhà thương, có lúc cũng được Cao Ủy mượn làm chỗ trú ngụ tạm thời cho người mới đến. Đưa người hồi hương về Việt Nam, Cao Ủy cũng mang báo chí từ bên quê nhà sang cho thuyền nhân trong trại đọc các thông tin quảng cáo là người hồi hương trở về nay đã nhanh chóng hội nhập vào đời sống bình thường như trước khi ra đi. Trong các ấn phẩm này, có cả các tờ báo của Việt Cộng đăng các mẩu tin mô tả đời sống trong các trại tị nạn người Việt từ bên Hồng Kông đến Malaysia, Thái Lan, Nam Dương và Phi Luật Tân… đâu đâu cũng đều là nơi để băng đảng phục quốc, xã hội đen… hoành hành làm khổ thuyền nhân. Các tờ báo từ trong nước đó, xa gần nhắn nhủ nơi an toàn nhất, nơi cần lựa chọn đến để sống cho các thuyền nhân Việt bây giờ chính là quê nhà. Vậy mà người Việt trong nước vẫn tiếp tục vượt biên và lý giải cho việc này, dân trong trại đồn chuyện:

 

– Biết đâu do cái tin ở mấy tháng trước trên đài BBC nói nước Kuwait nhận định cư thuyền nhân Việt làm người ta phải hối hả vượt biên ngay vì sợ lỡ dịp nên mới đông người đến trại như vầy. Cũng có thể, người trong nước lờ mờ đoán sắp đến lúc Cao Ủy sẽ đóng cửa vĩnh viễn các trại tị nạn của thuyền nhân Việt nên phải đi ngay không thôi chẳng còn.

 

Ông Thăng, barrack trưởng cho biết là căn cứ vào thứ tự thì khoảng hai hay ba tháng nữa, ghe chúng tôi sẽ lập lý lịch với Cao Ủy. Nghe vậy, cả barrack vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì chờ đợi cái ngày này và nay nó sắp đến. Ai cũng thấy cứ tình hình Cao Ủy thanh lọc như thế này thì càng về sau, sẽ càng khó khai lý lịch. Lo vì chẳng biết bản thân sẽ phải khai sao đây cho tốt. Ai cũng sợ bị rớt thanh lọc. ” Phải chuẩn bị từ bản khai lý lịch này, Cao Ủy sẽ dựa vào đó mà phỏng vấn mình, ăn hay thua là do nó “, người trong barrack kháo nhau. Nhóm 5 đứa chúng tôi thông tin cho nhau biết và hẹn ngày cùng vào Galang 2 để gặp anh Đoàn Thạnh Nam, nhờ anh cố vấn cho bản khai lý lịch sắp tới. Tháng 7 vừa qua, ghe CL 135 chúng tôi đã lập lý lịch với phòng an ninh P3V và nay đến vụ khai lý lịch cho phòng Cao Uỷ thì ai cũng cho mình đã hớ hênh trong bản lý lịch kỳ đó. Giờ có muốn bớt đi hoặc thêm vào các chi tiết khác trong cuộc đời mình thì lại sợ Cao Ủy sẽ đối chiếu với bản lý lịch cũ từ phòng an ninh P3V chuyển sang. Ở trại tị nạn Galang, phòng an ninh P3V khi lập được lý lịch của ghe nào xong, họ sẽ chuyển sang cho Cao Ủy biết ngay. Cao Ủy có lý lịch thì sẽ sắp xếp danh sách mà người trong trại gọi là lên lịch để sơ vấn và thanh lọc ngay thuyền nhân của chiếc ghe đó. Cả nhóm vào Galang 2 nhưng tìm anh Đoàn Thạnh Nam thật khó vì thời gian này, anh bận rộn nhiều do công việc phải viết đơn kháng cáo cho thuyền nhân bị rớt thanh lọc. Thêm vào đó, nhiều người trong trại cũng tìm đến anh giống như chúng tôi bây giờ.  Galang 1 chỉ có bốn  zone đánh số thứ tự từ 1 đến 4 thì  ở Galang 2 lại có tới sáu zone mang số A, B, C, D, E và F và trải dài trong  một khu vực rộng hơn nhiều. Các barrack, nhà riêng của thuyền nhân nằm xen kẽ với quán xá trong từng zone của trại nên nếu không có hẹn để biết chỗ trước mà đi tìm nhau sẽ rất khó gặp. Đó chưa kể đến các nhà nguyện Tin Lành, nhà thờ Thiên Chúa, chùa Phật Giáo, thánh thất Cao Đài, đình Hòa Hảo… nằm biệt lập ở các chỗ vắng. Có buổi, đi sạc cả giò trong trời trưa nắng mà tìm anh Nam không ra nên ai trong nhóm cũng nản. ” Có khi mình tìm chết mẹ ở đây thì ông nội này lại ở ngoài Galang 1, biết đâu đấy! ” Đỉnh nhăn nhở nói. Cô Đào bỏ cuộc trước vì lý do phải phụ bán hàng nên không thể vắng mặt ở tiệm mãi được. Kế tiếp là cô Bẩy khi bảo với Yến là sẽ kiếm người khác chỉ dẫn, không cần đi Galang 2 tìm anh Nam nữa. Đỉnh cũng bắt đầu chán cảnh đi tìm lòng vòng nên sau cùng đã bảo với tôi:

 

– Lý lịch gia đình em như thế nào, em cứ khai như vậy… Hỏi anh, Cao Ủy không cho em đậu thanh lọc thì nếu hồi hương về Việt Nam em sẽ sống ở đâu, với ai đây?

 

Như đã kể ở phần đầu truyện, Đỉnh có cha là nguyên sĩ quan an ninh quân đội chế độ miền Nam VNCH. Bị Việt Cộng lừa đi tù cải tạo trong những ngày đầu khi chúng vào được Sài Gòn nhưng ông trốn khỏi được trại giam rồi sau đó lại vượt biên thành công. Định cư ở Mỹ, ba của Đỉnh gửi tiền về để lo cho cả gia đình nó vượt biên. Mẹ của Đỉnh cùng hai đứa em gái, người nào cũng chỉ đi một lần là thoát. Riêng mình Đỉnh là chật vật, đánh nhiều chuyến mới thành thì lại gặp cảnh Cao Ủy thanh lọc thuyền nhân. Nhân nó nhắc lại chuyện cũ, tôi thắc mắc, hỏi:

 

– Mày kể cả nhà đi vượt biên hết thì căn nhà bên đó sau cùng ra sao… Bỏ lại cho ai ở?

 

– Nhà em! Khi chưa liên lạc được với ông già thì mẹ em đã phát bịnh rồi anh. Đồ đạc có giá trong nhà phải bán dần mòn hết để có cái sống rồi cuối cùng đến căn nhà… Mẹ em nằm liệt trên giường như sắp chết, tụi em còn nhỏ lấy đâu ra tiền để sống và để có cái tẩm bổ cho bả. Căn nhà phải nhờ họ hàng thay mặt tìm mối bán dùm mà thời đó rẻ lắm. Xong xuôi, gia đình em phải tạm trú ở nhà người dì ruột cho đến khi có tiền của ba gửi về mới lần lượt đi vượt biên. Công an cắt mất hộ khẩu em từ lâu rồi, phải đậu thanh lọc thôi! Đỉnh cười ranh mãnh sau lời kể.

 

À! Thì ra. Tôi cũng đồng ý với Đỉnh, chắc chắn nó sẽ qua được thanh lọc bằng diện đoàn tụ gia đình vì cứ qua các lần nhận kết quả vừa rồi, có người hoàn cảnh giống hệt nó mà đã cầm giấy tị nạn ngon lành. Có giấy bảo lãnh của cha mẹ hay vợ hoặc chồng ở nước thứ ba gửi đến thì gần như được Cao Ủy công nhận là tị nạn liền. Đây là sự nhân đạo của luật tị nạn. Anh em ruột, chú bác hay cháu chắt gì… thì giấy bảo lãnh nếu có cũng vô giá trị khi ngồi đối diện với luật sư phỏng vấn. Ăn thua là lời khai về cuộc đời mình khi sống trong chế độ Việt Cộng. Giấy bảo lãnh thuộc loại này chỉ giúp thuyền nhân đi định cư nhanh chóng hơn ngay sau khi người đó qua được ải thanh lọc, thay vì phải chờ có đợt nhận. Chính vì vậy mà Đỉnh không lo lắng lắm đến vụ lập lý lịch Cao Ủy. Có gặp được anh Đoàn Thạnh Nam hay không, nó cũng chẳng màng.

 

Nghe chuyện tôi và Yến mua căn nhà để ở riêng thì Đỉnh bảo rồi ra nó cũng sẽ sống trong cái shop của Ánh Diễm ở Galang 2. Nó thêm:

 

– Không chừng em sẽ ra khỏi barrack trước cả anh và Yến. Cái phòng chung của cả nhóm coi như để lại cho cô Bẩy. Khi ra đi, em cũng chẳng mang thứ gì ngoại trừ quần áo cá nhân. Ánh Diễm sang lại shop tạp hóa thì chủ tiệm cũng để lại cho toàn bộ đồ dùng trong nhà.

 

Chỉ còn tôi và Yến đi Galang 2 cho đến một hôm nàng bảo: ” Hôm nay em đau chân quá, chắc không đi với anh được “. Thấy tôi yên lặng, nàng tiếp: ” Anh coi, kiếm cái ông Nam này khó gặp quá mà nếu có gặp được, em còn phải học thuộc lòng từng câu hỏi câu trả lời nữa cho khớp với dàn dựng lý lịch của mình. Nghe mà phát mệt… Em cũng giống anh Đỉnh, lý lịch mình như thế nào thì cứ khai vậy “.

 

Từ lâu rồi, Yến đã nói nếu nhận kết quả thanh lọc mà bị Cao Ủy đánh rớt thì nàng sẽ hồi hương về lại quê nhà để chờ đi định cư sang Úc với người anh ruột. Không muốn thấy Yến về lại Việt Nam nên tôi khuyến khích nàng phải chuẩn bị lời khai từ đầu trong bản lý lịch Cao Ủy, tôi bảo:

 

– Về Việt Nam đâu có đi sang Úc ngay được, cũng phải có thời gian… Em ở sẵn đây, nếu đậu thanh lọc thì phái đoàn Úc nhận liền, nhanh hơn.

 

– Em biết! Nhưng dàn dựng thì phải khai lý lịch cho khác… mà em thì nghĩ mình không làm được. Thôi! Cứ có sao khai vậy rồi đưa giấy bảo lãnh của anh em ra trình cho họ biết. Cao Ủy nếu cho đậu thanh lọc thì chờ đi định cư, rủi bị rớt em sẽ về Việt Nam.

 

– Nói như em vậy thì vượt biên làm quái gì! Sao không chờ ở quê nhà rồi cũng sẽ đến ngày đi định cư với ông anh ở bên Úc như bao người có thân nhân bảo lãnh cho khỏe. Đi vượt biên đâu phải như làm một chuyến du lịch, em cũng biết ghe mình bị tụi Thái nó đuổi mà.

 

Thấy tôi nổi cơn bực, Yến im lặng trong chốc lát rồi sau đó nàng nói gắt:

 

– Kệ em! Anh đừng nhắc lại chuyện cũ. Em nghĩ có chận được ghe mình thì hai tàu Thái đó sẽ lấy sạch tiền vàng là cùng.

 

Yến chưa từng gặp cảnh khủng khiếp khi ghe vượt biên bị lọt tay tàu hải tặc Thái. Lời nói của nàng dẫn tôi về hình ảnh cũ giữa vùng biển vắng, trên trời dưới nước cùng tiếng kêu cứu của Ánh Phương ở chuyến vượt biên lần trước. Ánh Phương bây giờ ở đâu? Tôi vẫn chưa kể cho Yến biết về chuyện cũ. Hôm bị hai tàu Thái đuổi bắt đó nếu không gặp cây mưa bất ngờ thì rồi cuộc đời của Yến sẽ ra sao? Chắc chắn sẽ không khác với Ánh Phương? Tự nhiên tôi mềm lòng trở lại. ” Mình đã bậy! Lẽ ra không nên phát cáu với nàng “. Chút hối lỗi từ trong lòng làm tôi yên lặng. Nhìn vẻ mặt cùng thái độ của tôi, đột nhiên Yến nắm lấy tay tôi, miệng nàng thì thào:

 

– Anh Vũ! Em xin lỗi… Mình quên việc vừa xảy ra nha anh.

 

Thật tội nghiệp! Tôi thở dài, Yến còn quá trẻ biết gì mà khai nên khi thấy khó ăn với Cao Ủy, đã chọn cho mình đường binh sẽ hồi hương nếu bị đánh rớt thanh lọc. Cả hai cô Bẩy và Đào cũng vậy vì chính Yến cho tôi biết đã nghe hai nàng con gái này than: ” Hồi xưa vượt biên dễ ợt lại không đi để bây giờ đến trại tị nạn thì bị cảnh Cao Ủy thanh lọc “. Yến kể thêm: ” Chị Bẩy nói với em, nhà chị ở Vũng Tàu đi vượt biên đâu có khó. Một bước chân là xuống được cá lớn rồi. Chị Đào cũng bảo ở Mỹ Tho nhiều đường dây vượt biên lắm mà đâu chịu đi. Chừng đi thì bị kẹt “. Yến cũng tiết lộ cả hai cô gái đã gửi thư báo tin cho thân nhân bên quê nhà biết về việc thanh lọc của Cao Ủy và họ đều được gia đình khuyên tùy tình hình, nếu khó quá thì hồi hương.

 

Chỉ còn một mình đi vào Galang 2, tôi đến phòng của anh Đoàn Thạnh Nam và viết một ít chữ trong mẩu giấy nhỏ rồi gửi nó lại cho người ở cạnh bên nhờ chuyển hộ. Mấy ngày sau tôi ghé lại thì người đó nói tôi đến quán cà phê Gió sẽ gặp được anh Đoàn Thạnh Nam. Thật ra giữa tôi và anh Nam có chút tình cảm riêng là vì đã giúp anh dịch thuật các giấy tờ anh gửi đến phòng. Quán cà phê Gió nằm ở trên một chỗ đất khá cao như một ngọn đồi của zone B ngay sau lưng văn phòng an ninh P3V. Tên là quán Gió vì ở vị trí này, gió thổi lồng lộng nên chủ quán trồng khá nhiều cây lớn như một che chắn cho các cái bàn của khách. Tôi đến quán và không khó để thấy anh Đoàn Thạnh Nam đang ngồi cùng với bốn người khách nữa tại một cái bàn nằm khuất ở một góc kín đáo dưới bóng cây tràm bông vàng xum xuê.

 

Cái bàn anh Đoàn Thạnh Nam và bốn người khách đang ngồi, nằm ở phía sau quán dưới bóng cây sát cạnh cái hàng rào gỗ. Chủ quán cà phê Gió cố tình đặt một cái bàn ở đây, chỗ khuất ít người biết như để dành cho các khách quen khi có việc riêng cần lo chuyện kín.

 

Anh Đoàn Thạnh Nam vừa thấy tôi liền nở nụ cười tươi và hỏi:

 

– Ê! Anh Vũ! Đi đâu mà lạc đến nơi này vậy?

 

Làm như một sự tình cờ, tôi đáp lời:

 

– Anh Nam. Tôi có hẹn với một anh bạn ở quán này… mà không gặp. Thấy có người ngồi ở đây nên ra xem, dè đâu gặp anh và các anh đây.

 

Anh Nam kéo ghế mời ngồi rồi quay qua giới thiệu tôi với bốn người khách. Tất cả đều là nam giới và cùng trạc tuổi với tôi. Hai người là dân Việt gốc Hoa  từng đến chỗ tôi làm việc để nhờ dịch các giấy tờ cá nhân. Hai người còn lại, một là dân chụp hình dạo trong trại và một làm nghề hớt tóc ngoài Galang 1. Chúng tôi gật đầu chào nhau. Ai cũng biết mặt ai, chỉ có điều không phải bạn thân thiết. Anh Đoàn Thạnh Nam nối lại câu chuyện đang dở dang:

 

– Đây là vụ vượt biển lần thứ hai từ các trại tị nạn ở Hồng Kông đến Nhật Bản, lần trước thì…

 

Thấy tôi ngơ ngác chưa hiểu chuyện vừa nghe, anh Đoàn Thạnh Nam ngưng lại trong chốc lát rồi tiếp: ” Tôi đang kể cho mấy anh đây về chuyện thuyền nhân mình bên các trại ở Hồng Kông lại tiếp tục vượt biên sang Nhật Bản “.

 

– Trời! Từ Hồng Kông sang Nhật Bản. Ở trại nào? Họ lấy đâu ra ghe và lâu mau rồi? Tôi hỏi anh.

 

– Tôi nghe radio nói tờ báo South China Morning Post loan tin ngày 22 tháng 7 vừa rồi, thuyền nhân trong đảo tị nạn Tai A Châu đã phá hàng rào rồi lấy các thuyền cũ của họ còn neo quanh đảo và bỏ trốn sang Nhật Bản. Chuyến đi đầu xẩy ra trong tháng 5 tháng 6 gồm hai chiếc thuyền và họ đến được Nhật Bản thành công. Chuyến đi lần thứ hai cũng từ đảo tị nạn Tai A Châu này và chưa biết bây giờ họ đang ở đâu, bao nhiêu chiếc cả thẩy? Mấy anh biết, thuyền của các chuyến vượt biên kể trên đều là thuyền buồm của ngư dân ngoài miền Bắc nước mình.

 

– Từ Hồng Kông sang Nhật xa lắm… Lại đi bằng thuyền buồm… Mấy người này  gan dạ quá! Một người trong nhóm chúng tôi nói.

 

– Đúng! Chính quyền Hồng Kông cũng không ngờ thuyền nhân Việt Nam dám liều lĩnh đi sang Nhật Bản trong các con thuyền buồm ọp ẹp như vậy. Anh Đoàn Thạnh Nam gật đầu như một xác nhận rồi tiếp: ” Phải thật gan dạ vì mấy anh biết, khi mình đi vượt biên thì hầu như ghe nào cũng phải cụ bị lương thực rồi nước uống và dầu máy đầy đủ cũng như tình trạng của ghe phải tốt nữa. Vậy mà họ dám đi bằng thuyền buồm, chạy bằng sức gió. Các chiếc thuyền buồm này, theo như tin trên radio thì đã trong tình trạng hư nát so với lúc họ mới dùng để vượt biên từ Việt Nam sang Hồng Kông “.

 

– Chính quyền Hồng Kông để ghe thuyền ở đâu mà dân tị nạn bên đó lấy được vậy. Tôi hỏi thêm.

 

– Ở đảo Tài A Châu, chính quyền Hồng Kông tập trung dân tị nạn sống ở phía Bắc đảo, còn ghe thuyền thì cảnh sát gom về một chỗ ở phía Nam. Thuyền nhân vượt ra khỏi trại, dùng chai nhựa, thùng đựng nước… làm phao bơi. Họ bơi qua cái eo biển nhỏ, đến được chỗ có ghe thuyền và từ nơi này, họ lấy các thuyền buồm cũ rồi dùng chúng để vượt biên.

 

– Nghe anh kể… Tôi thật phục mấy tay thuyền nhân miền Bắc này. Phải là người lão luyện đi biển mới có thể dùng thuyền buồm từ Hồng Kông tới Nhật Bản được. Họ đi cả thẩy bao nhiêu người hả anh? Anh chàng hớt tóc ngồi đối diện tôi cất tiếng hỏi.

 

– Thực ra cũng vì họ sợ chính quyền Hồng Kông gửi lại về Việt Nam như mấy chuyến cưỡng bức hồi hương trước đó mà ra cả. Hai chiếc trong chuyến đầu tổng cộng gần 100 người còn chuyến đi thứ hai thì tôi thực sự chưa nghe radio nói có bao nhiêu người nữa. Không biết rồi đây chính quyền Nhật Bản sẽ đối xử với thuyền nhân trong hai chiếc thuyền buồm này như thể nào? Cho họ hưởng quy chế tị nạn hay rồi lại trục xuất về Hồng Kông hoặc Việt Nam… Mấy việc này có thể lắm. Anh Nam trả lời.

 

Nhóm chúng tôi ngồi yên lặng như chia xẻ mối lo lắng của anh Nam về số phận của các thuyền nhân vừa vượt biên tiếp từ Hồng Kông đến Nhật Bản. Mong mọi diễn tiến kế tiếp sẽ tốt cho họ. Trong quá khứ, quốc gia này nhận rất ít người tị nạn Việt, kể cả trước khi có vụ Cao Ủy thanh lọc thuyền nhân. Có thể vì là một đảo quốc, đất hẹp người đông nên chính phủ Nhật Bản đã hạn chế cho di dân nước ngoài vào cư trú? Qua tin tức từ báo chí cũng như từ radio của các hãng thông tấn quốc tế như BBC, VOA… trong thời gian gần đây thì số phận thuyền nhân Việt trong tất cả các trại tị nạn thật rất mong manh. Các mẩu tin loan trên radio như ông Abdullah bin Ahmad Badawi, ngoại trưởng Malaysia đã lên tiếng kêu gọi các nước thuộc tổ chức ASEAN trong một hội nghị ở Kuala Lumpur hãy xúc tiến việc trục xuất thuyền nhân đã bị rớt thanh lọc rồi thêm các tin về cộng đồng các nước Âu châu đồng ý trả thêm tiền để Hà Nội chịu nhận người hồi hương… đã làm tinh thần thuyền nhân trong trại hoang mang, chán nản cùng lo lắng. Đã có thuyền nhân phải tự tử sau khi bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc như trường hợp anh Lâm Văn Hoàng lao mình từ vách đá cao xuống biển tại đảo Pulau Bidong bên Malaysia và vụ bẩy thuyền nhân tự thiêu tại trại Whitehead ở Hồng Kông trong các tháng vừa qua mà chưa biết tất cả họ nay sống chết ra sao? Chúng tôi hiểu và chia xẻ nỗi buồn về sự hy sinh của các thuyền nhân. Trong tuyệt vọng, họ dùng ngay thân xác mình để gióng lên lời cảnh báo cho thế giới biết về sự thanh lọc bất công của Cao Ủy tại các trại tị nạn, sự thờ ơ vô trách nhiệm từ cộng đồng quốc tế trước vấn nạn thuyền nhân với sự đồng lõa của Việt Cộng khi tất cả, cùng bắt tay đồng ý xúc tiến mọi việc để tống người vượt biên phải trở về quê nhà.

 

– Lù mệ! Cứ cho xìn là tụi Dzịt Cộng nó nhận người hồi hương liền. Anh chàng người Việt gốc Hoa nói.

 

Sáu người chúng tôi ngồi đó yên lặng như theo đuổi từng việc riêng mỗi người trong lòng. Ngồi chung bàn, nhâm nhi từng ngụm cà phê trong tiếng nhạc cùng ngửi làn khói thuốc lá thơm Gudang Garam mà tôi vừa buồn vừa lo. Nhân đây tôi xin nói sơ về loại thuốc lá Gudang Garam. Đây là loại thuốc lá đặc biệt của nước Indo mà không thấy nước nào có. Sợi thuốc, không phải từ lá cây thuốc lá thông thường mà được làm từ một loại lá trông giống lá cây Mai Vàng bên nước Việt mình. Khi hút, khói thở ra có mùi thơm tương tự như loại thuốc lá ống tẩu Half and Half của Mỹ, một mùi thơm của mật ong và nho chín. Anh Đoàn Thạnh Nam đã được Cao Ủy thanh lọc đặc biệt khi làm công việc viết đơn kháng cáo nên không nói làm gì. Bốn người còn lại, gặp nhau ở đây chắc họ cũng như cá nhân tôi đang chờ ngày phỏng vấn. Tôi buồn khi nghĩ trong cả một thời gian dài làn sóng vượt biên của người Việt vẫn không dứt và chính vì vậy, lòng thương cảm của cộng đồng quốc tế đã quá mệt nên họ mới hè nhau hành xử không tốt với người tị nạn muộn màng chúng tôi. Không còn cảnh thuyền nhân đến trại tị nạn rồi chỉ sau vài tháng tạm dung thì ai nấy sẽ thơ thới lên đường đến định cư ở một quốc gia tự do nào đó. Những ngày hoa mộng cũ không còn, ai cũng thấy rõ. Phải chi đừng có cuộc thanh lọc này thì đời sống người tị nạn vui biết bao! Tại sao Cao Ủy lại bày trò thanh lọc thuyền nhân khi mà đất nước Việt vẫn còn bị trị bởi bè lũ Việt Cộng? Câu hỏi này tôi đã nghe từ miệng của nhiều người ở barrack, trong quán cà phê và ngay cả ở các buổi sinh hoạt đoàn hội tại trại. Và câu trả lời là phải thanh lọc thuyền nhân Việt vì Cao Ủy thấy các biến cố bên Đông Âu đã gần như quét sạch hết các nước theo chủ thuyết vô sản và như vậy, họ dự đoán những nước Cộng Sản còn lại sẽ tàn lụi trong một sớm một chiều? Thêm vào đó, người Việt tị nạn năm xưa, nay dễ dàng về thăm quê nhà yên ổn rồi an toàn quay lại nước đang định cư của bản thân. Việt Cộng chẳng bắt lại còn khuyến khích vậy thì còn gì là tị nạn. Cũng có thể, xung đột sắc tộc giữa các sắc dân của liên bang Nam Tư khiến cộng đồng quốc tế cần để ý đến hơn đề tài thuyền nhân Việt đã cũ? Tôi lo vì chuyện xảy ra cho thuyền nhân ở Hồng Kông, ngày nào đó có thể sẽ xuất hiện tại trại Galang này. Một tiếng nói cất lên phá tan sự yên lặng của cả nhóm:

 

– Lấy lý mà suy, cứ tình hình này rồi trong tương lai, tôi nghĩ Galang mình sẽ có vụ tự thiêu, vượt biên tương tự như bên mấy nước kia.

 

– Tôi cũng nghĩ vậy. Chỉ chưa biết lúc nào ai sẽ hy sinh… Còn vượt biên, chắc chắn sẽ nhắm đến nước Úc. Anh Đoàn Thanh Nam gật đầu đồng tình.

 

Gió đột nhiên nhẹ hơn trước, trời bây giờ đã quá trưa và khi thấy tôi ngồi nán lại hơi lâu, bốn người khách dường như linh cảm về cuộc gặp giữa tôi và anh Đoàn Thạnh Nam cần một sự tiếp xúc riêng nên họ lần lượt đứng lên cáo lui. Khi chỉ còn có một mình tôi, anh Đoàn Thạnh Nam nói:

 

– Những ngày qua, tôi biết bọn anh đến chứ nhưng không thể ở lại phòng được.

 

Anh cười rồi cho biết trong thời gian này, gần như phải tránh mặt với các người trong trại cần đến anh. Lúc thì náu ở quán cà phê Gió như hôm nay, lúc thì ẩn ở một chỗ kín đáo nào đó trong trại như lên trên chùa Phật giáo hoặc đến nhà nguyện Tin lành… Thậm chí có khi anh còn ra tận ngoài Galang 1 nữa. Anh tiếp: ” Cách thanh lọc của Cao Ủy tại trại tị nạn Galang cũng y chang một phách như ở bên Hồng Kông. Luật sư Cao Ủy cũng như sĩ quan bộ Nội Vụ Indo trong phỏng vấn dường như đều tìm cách để gạt  thuyền nhân mình ra ngoài.  Qua mấy đợt viết đơn kháng cáo cho người bị rớt thanh lọc vừa rồi tôi thấy mà sợ. Lý lịch có thành tích từng là cựu tù cải tạo, bị Việt Cộng đánh tư sản, bị đày lên vùng kinh tế mới hoặc thậm chí, có là thành phần phản cách mạng… cũng bị rớt thanh lọc như thường. Chính vì biết khó mà giúp được anh em như lúc trước nên tôi đành phải trốn họ “.

 

Nghe anh Đoàn Thạnh Nam nói vậy, tôi biết chuyện mình định nhờ anh hôm nay sẽ không thành nên ngồi yên. Thấy thái độ của tôi, anh nhỏ nhẹ như một lời xin lỗi:

 

– Tôi rất mến anh, anh Vũ! Ngay buổi đầu gặp anh rồi sau đó trong các dịp nhờ anh dịch hộ giấy tờ cho các em tôi… Tự dưng tôi thấy anh rất thân thiết như một người bạn lâu năm. Chính vì vậy, tôi hẹn gặp anh ở đây để cho anh thấy tình hình thuyền nhân trong trại cũng như những gì tôi biết, sẽ giúp anh suy nghĩ kỹ trong cuộc đua thanh lọc. Tôi tin ở hiểu biết của anh, anh Vũ à!

 

Theo anh Đoàn Thạnh Nam, lý lịch của thuyền nhân như đã khai trước đây bây giờ sẽ rất khó được Cao Ủy chấp nhận là người tị nạn. Lý do? Thuyền nhân khai quá giống nhau nên trách chi Cao Ủy phải có sự nghi ngờ. Và, hồ sơ cá nhân để chứng minh bị Việt Cộng ngược đãi như giấy tạm tha, sổ trình diện hàng ngày… lại rất mới dù trong thực tế, nó đã phải cũ nát vì bị công an kiểm tra thường xuyên. Sau một hơi thuốc lá, anh tiếp:

 

– Luật sư Cao Ủy nghi thuyền nhân mình dùng các giấy tờ giả do thân nhân từ bên quê nhà gửi sang cho. Một thất lợi ngay từ buổi đầu khi thanh lọc. Anh xem, luật sư Cao Ủy nghĩ người ngồi đối diện là một cá nhân khác với nhân thân ghi trong bản khai lý lịch thì họ sẽ phỏng vấn thuyền nhân đó như thể nào? Cũng một phần do thuyền nhân mình khai lý lịch quá xa với sự thật. Tuổi trẻ măng mà khai bị Việt Cộng giam giữ sáu bẩy năm trời và giấy tha tù còn mới tinh, sắc diện lại trắng trẻo béo tốt… Thêm nữa, quyền lợi của sự nghi ngờ đã không được Cao Ủy sử dụng trong cuộc phỏng vấn thuyền nhân. Tôi biết trong tất cả bộ luật hình sự của bất kỳ quốc gia nào, khi không tìm được chứng cứ phạm tội của bị cáo thì quan tòa phải tha bổng cho người đó. Luật tị nạn cũng phải vậy. Lẽ ra luật sư Cao Ủy phải áp dụng cách thức phỏng vấn có lợi cho thuyền nhân thì họ lại lờ đi. Nếu phỏng vấn thấy một thuyền nhân vượt biên không vì lý do kinh tế thì phải công nhận cá nhân đó là người tị nạn. Nhưng anh coi, trong lần xổ thanh lọc vừa rồi ở trại mình, ông đại úy bị Việt Cộng bỏ tù cải tạo tới 7 năm mà vẫn bị Cao Ủy bác vì lý do sau khi được thả, ông ta vào làm việc trong tổ hợp mì sợi… Mấy người còn trẻ bị Cao Ủy đánh rớt chỉ vì khai muốn ra nước ngoài để được học đại học mà không xét đến các lý do khởi đầu tại sao cá nhân đó không thể tiếp tục việc học hành ở quê nhà. Trốn từ vùng kinh tế mới về sống lây lất ở thành phố, không hộ khẩu thường trú nên không kiếm được việc làm phải đi buôn rồi bị công an chận bắt mãi đành phải vượt biên thì bị gán cho là di dân kinh tế. Do đâu ông đại úy đó vào làm việc ở tổ hợp mì sợi? Cứ chung chung kiểu kết luận như muốn ra nước ngoài học để có bằng cấp nhằm tìm một đời sống ngon lành hơn. Đương sự hợp tác được với chính quyền và có công ăn việc làm nên đời sống đã bình thường, không còn mối lo bị ngược đãi…

 

Anh Đoàn Thạnh Nam kể thêm các trường hợp bị Cao ủy đánh rớt khác mà bản thân anh, dù hết lòng viết kháng cáo cho các cá nhân này nhưng thâm tâm anh thấy rất khó có hy vọng sẽ được Ủy ban tái cứu xét coi lại. Ủy ban tái cứu xét của Bộ nội vu Indo nằm tuốt tận thủ đô Jakarta xa xôi, biết có thấu cho hoàn cảnh từng hồ sơ bị đánh rớt hay họ chỉ máy móc quyết định qua các lời phê của luật sư Cao Ủy trên giấy trắng. Viết đơn kháng cáo, tất nhiên Đoàn Thạnh Nam đã đọc được các bản khai từ lý lịch của người bị Cao Ủy đánh rớt nhưng qua các câu chuyện vừa kể, tôi thắc mắc tại sao anh ta lại biết về các lời phê của luật sư trong nhiều vụ thanh lọc. Anh Đoàn Thạnh Nam nghe tôi hỏi, không trả lời ngay mà ngồi yên lặng rít từng hơi thuốc rồi mãi sau, anh mới thổ lộ:

 

– Sau mỗi buổi phỏng vấn, luật sư Cao Ủy sẽ xem lại lời khai của thuyền nhân rồi họ sẽ nhận xét đương sự là người tị nạn hay chỉ thuần đi vượt biên vì kinh tế rồi chuyển hồ sơ đó cho phía Bộ nội vụ Indo quyết định. Hầu hết các trường hợp, thuyền nhân được Cao Ủy đề nghị cho đậu hay đánh rớt thanh lọc là từ bản đánh giá assessment này. Đọc thú lắm anh… nhưng càng đọc lại càng thấy lo cho thuyền nhân mình.

 

– Lo sao hả anh? Tôi khẽ hỏi.

 

– Những bản assessment trước kia thì không nói làm gì. Chỉ thời gian sau này thôi. Các bản assessment thuyền nhân bây giờ, luật sư Cao Ủy bỏ ngỏ đề nghị và việc đậu hay rớt thanh lọc lại do bên phía Bộ nội vụ Indo quyết định. Và, hình như Cao Ủy chịu một áp lực nào đó từ phía các nước chủ nhà nên mới có vụ tái cứu xét hồ sơ thanh lọc. Tái cứu xét thì có thể làm cho một người bị đánh rớt lại được đậu thanh lọc trở lại.

 

– Ô! Vậy thì càng tốt cho thuyền nhân mình chứ anh… Có thêm người đậu thanh lọc thay vì phải bị hồi hương.

 

– Đúng vậy. Nhưng nếu có quá nhiều người bị đánh rớt mà tỉ lệ cho phép người được đậu thanh lọc trở lại, lại bị Cao Ủy khống chế thì rồi ra việc tái cứu xét sẽ là một kẽ hở để người ta lạm dụng. Tiền bạc sẽ quyết định trong canh bạc thanh lọc sau cùng khi Ủy ban tái cứu xét bắt đầu nhận nhiệm vụ.

 

Đoàn Thạnh Nam nghĩ là người bị Cao Ủy đánh rớt sẽ dùng tiền hối lộ nhân viên Bộ nội vụ Indo phụ trách việc tái cứu xét để đổi lấy vé đậu thanh lọc và như vậy, sẽ có nhiều thuyền nhân xứng đáng là người tị nạn thì lại phải nhường chỗ cho kẻ có tiền. Anh bảo: ” Nam Dương là quốc gia nổi tiếng về nạn tham nhũng trong guồng máy công quyền. Rồi anh xem lời tôi nói có đúng không. Vé tị nạn sẽ được thuyền nhân mua bằng tiền. Kể ra phải bỏ tiền để khỏi bị gửi trả về lại quê nhà vẫn còn chế độ Việt Cộng cai trị thì cũng là điều phải chấp nhận… Chỉ chua chát ở chỗ, không có tài chính lo lót thì thành di dân kinh tế và có tiền để chạy thì là người tị nạn Cộng Sản “.

 

– Anh nói vậy làm tôi thêm lo… nhưng không lẽ Cao Ủy bỏ ngỏ hết tất cả hồ sơ cho bên phía nước chủ nhà quyết định. Tôi thắc mắc.

 

– Không! Có những hồ sơ hai năm rõ mười thì Cao Ủy công nhận thuyền nhân đó là tị nạn ngay như trường hợp của cô Nguyễn Thị Hoàng Oanh ở Galang mình hoặc của anh Bùi Xuân Vinh ở trại Whitehead bên Hồng Kông… chẳng hạn. Anh Đoàn Thạnh Nam lắc đầu khi nói.

 

Rồi anh kể về trường hợp cô Nguyễn Thị Hoàng Oanh tại trại tị nạn Galang. Cô gái này, nguyên là lực sĩ điền kinh môn ném lao của một câu lạc bộ ở Sài Gòn và bản thân đã đoạt khá nhiều giải thưởng. Khi dự cuộc tranh giải toàn quốc, cô ta bị các cán bộ thể thao cấp trung ương áp lực phải chấp nhận chịu thua, đứng dưới hạng các lực sĩ thuộc miền Bắc. Còn anh Bùi Xuân Vinh là con trai của Bùi Tín, một đảng viên cao cấp của đảng Cộng Sản Việt Nam người vừa mới đào thoát cuối năm ngoái khi ông ta đi công cán ở nước Pháp. Anh Đoàn Thạnh Nam nói: ” Khi thấy các tờ báo trong nước từng đăng tin lãnh giải của cô Oanh này và radio loan tin về vụ đào thoát của ông Bùi Tín thì Cao Ủy ban quyền tị nạn cho mấy người họ dễ dàng. Cô Oanh đậu thanh lọc ngay, con ông Bùi Tín cũng được Cao Ủy ban quyền tị nạn liền. Tôi hỏi anh, Cao Ủy thừa biết những người có tiếng tăm mà phải  bỏ nước ra đi thì người đó phải có lý do chứ “.

 

Anh Đoàn Thạnh Nam nói ra làm tôi nhớ đến lời ông Bùi Thế Dung kể tại phòng Dịch thuật khi bàn chuyện về cấp bậc của các sĩ quan miền Nam VNCH đang có mặt tại trại tị nạn Galang trong một dịp ông ghé thăm, trò chuyện với ông Bửu cùng đám nhân viên thiện nguyện chúng tôi. Hôm đó, ông Dung nói:

 

– Ông Peter Cao Ủy trưởng bảo với tôi là ông ta sẽ ban ngay quy chế tị nạn cho bất cứ sĩ quan cấp tướng nào của Việt Nam nếu người đó vượt biên đến được Galang này cho dù cá nhân đó thuộc về chế độ cũ hay của chính quyền hiện hành tức Việt Cộng bây giờ. Ông Peter còn nói người cỡ đó mà phải đào thoát ra nước ngoài tức bản thân họ phải có mối lo sợ đáng tin cậy về tính mạng bị đe dọa và cần đến sự che chở của cộng đồng quốc tế. Tôi sẵn sàng bảo vệ thôi.

 

Tôi thuật lại cho anh Đoàn Thạnh Nam về lời ông Bùi Thế Dung đã nói thì anh gật gù cái đầu, đáp:

 

– Đó… đó! Anh thấy, những người nổi tiếng mà phải vượt biên thì sẽ dễ dàng lấy cái vé đậu thôi. Cao Ủy coi các cá nhân này là nhân vật nổi của xã hội, người của quần chúng… Tất nhiên họ đối xử có khác với dân thường, củi mục. Anh biết, con trai ông Bùi Tín ở trại Tai A Châu thực ra thì trước đó đã bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc chung với đám thuyền nhân miền Bắc, đơn kháng cáo của anh ta cũng bị bác luôn. Cao Ủy biết ông Bùi Tín là ai? Chỉ sau khi tin về cuộc đào thoát của ông ta loan trên các đài radio BBC, VOA… thì Cao Ủy bên trại đó đã cho anh con trai đậu lại chung với người vợ nữa.

 

Báo chí Việt ngữ từ Hoa Kỳ, CANADA gửi vào trại có nói về cuộc đào thoát của ông đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam tên Bùi Tín này cũng như các cuộc phỏng vấn ông ta trên đài BBC loan tin từng kỳ mà chúng tôi đã nghe qua radio trong các buổi tối. Có ngờ đâu, các buổi truyền thông trên BBC đã giúp cho cả con trai lẫn con dâu ông thành người tị nạn Cộng Sản. Vậy cũng mừng cho gia đình anh chàng thuyền nhân này sẽ không còn phải lo lắng viễn cảnh bị trục xuất về lại quê nhà.

 

Ngồi khá lâu, cảm thấy đói, tôi rủ anh Đoàn Thạnh Nam đi kiếm cái gì bỏ bụng thì anh lắc đầu, bảo:

 

– Tôi ngại ra ngoài mấy tiệm đó lắm, thế nào cũng gặp người quen. Thôi! Chẳng cần đi đâu ăn cho xa, quán Gió này có bán sẵn. Anh để tôi lo.

 

Rồi không đợi tôi trả lời, anh Đoàn Thạnh Nam gọi chủ quán làm cho chúng tôi mỗi người tô mì gói cùng ổ bánh mì kẹp trứng chiên ốp la. Vừa lùa gắp mì nóng vào miệng, chợt nhớ anh Đoàn Thạnh Nam nói về các bản assessment của luật sư Cao Ủy, tôi hỏi thêm:

 

– Mấy bản assessment đó anh lấy đâu ra vậy? Có thể cho tôi xem qua tờ nào được không?

 

– Đốt hết cha nó cả rồi, đâu dám giữ lâu anh… Cao Ủy hay phòng An ninh P3V mà biết mình có mấy thứ này là chết. Anh lắc đầu, trả lời.

 

Anh Đoàn Thạnh Nam kể có được các bản assessment là nhờ vào tình cờ của một thuyền nhân thiện nguyện lấy được từ các thùng rác khi anh ta dọn dẹp trong khu vực accomodation nơi luật sư Cao Ủy tạm trú. Đây là các đoạn giấy xé bỏ từ bản in kim máy computer của luật sư. Lẽ ra chúng phải bị đốt bỏ nhưng có thể vì vô tình, các luật sư lại vất vào thùng rác. Thuyền nhân này, do nghĩ các tờ giấy in bằng Anh ngữ sẽ giúp anh ta trong việc học English nên đã mang về barrack và đưa cho anh Đoàn Thạnh Nam xem trước. Nhờ vậy, anh Đoàn Thạnh Nam mới biết các nhận xét của luật sư về một số trường hợp của thuyền nhân. Ngoài các tờ assessment, thuyền nhân thiện nguyện đó còn lấy được nguyên quyển Handbook thủ bản về luật tị nạn cùng các hướng dẫn cho luật sư khi phỏng vấn nữa. Tiếc là anh Đoàn Thạnh Nam đã phải đốt hết cả cũng vì lo cho riêng bản thân, sợ Cao Ủy cùng phòng An ninh P3V làm khó dễ trong việc định cư nếu họ biết anh có các tài liệu này trong tay. Anh bùi ngùi, nói nhỏ:

 

– Cần đến hay muốn trù dập mình, phòng An ninh P3V có thể dìm hồ sơ  bằng cách không chuyển cho các phái đoàn định cư thì sẽ rất kẹt. Cái gương của bác sĩ Luân ngoài Galang 1 còn sờ sờ ra đó anh Vũ… Anh ở ngoài đó chắc biết ông bác sĩ tôi nói.

 

Bác sĩ Luân làm thiện nguyện ở nhà thương Galang 1 và là chủ quán cà phê Dạ Lý mà nhóm chúng tôi vẫn thường đến trong các buổi tối thứ Bẩy hay Chủ Nhật. Ông bác sĩ như đã kể ở các phần trước, là người tị nạn vì đến trại Galang trước ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa. Không phải lo vụ thanh lọc như chúng tôi, lẽ ra ông ta đi định cư ở Pháp từ lâu nhưng vì cần bác sĩ thiện nguyện mà phòng An ninh P3V giữ lại trại chưa biết đến bao giờ mới được thoát cũi, xổ lồng. Người có hạnh kiểm xấu cũng bị ảnh hưởng đến việc định cư như trường hợp của hai anh em Thạc, Văn mà thuyền nhân trong trại vẫn xì xào với nhau về chiếc canoe bí ẩn của họ. Điều anh Đoàn Thạnh Nam lo lắng rất chí lý, nếu trường hợp tôi, cũng sẽ phải vậy. Tuy tiếc nhưng tôi thăm dò:

 

– Bây giờ cái ông làm thiện nguyện đó còn lấy thêm được các bản assessment nào khác nữa không anh?

 

– Ông Peter Cao Ủy trưởng không để bất kỳ người Việt nào vào làm trong khu vực luật sư tạm trú nữa… kể cả thiện nguyện không thù lao. Ông ta  thuê lao công Indo bản xứ dù phải trả lương hàng tuần. Có thể ông ta phòng xa hay đã biết phong thanh về các tờ assessment này… nên tránh trước. Anh Đoàn Thạnh Nam trả lời.

 

Những lần trò chuyện trước kia, tôi đã kể sơ về bản thân cho anh Đoàn Thạnh Nam nghe và khi đó, anh hứa sẽ cố vấn cho tôi cách khai lý lịch với Cao Ủy khi nào gần tới ngày. Ngày đó nay đã tới nhưng chuyện anh vừa thổ lộ, tôi đành ngồi yên không biết vui hay buồn. Nếu đã nhờ anh cố vấn cho bản lý lịch thì bây giờ nó sẽ hố, tôi chẳng biết phải sửa chữa ra sao nữa. Rồi tôi lại thắc mắc, chẳng biết qua các tờ assessment anh xem được, lý lịch bản thân mình có giống với người nào đó trong trại không. Như đoán được tâm trạng tôi, anh Đoàn Thạnh Nam nói:

 

– Anh bảo từng đi dạy các lớp trung học phổ thông cấp 2… Phải không? Ở đợt xổ thanh lọc đầu, người nào khai lý lịch là thầy giáo dạy các môn như văn, lịch sử ở nhà trường Cộng Sản… rồi khi đứng lớp, lại giảng bài cho học trò nghe khác với trong sách giáo khoa của môn mình phụ trách mà do đó, bị phòng giáo dục trừng phạt đến phải vượt biên thì đều thắng cả. Luật sư Cao Ủy còn lấy các điểm trong Nghị định thư 1969 về người tị nạn để bảo vệ cho thuyền nhân đó nữa như một vài trường hợp tôi biết ở trại mình. Có kể tên ra thì anh cũng không biết họ là ai. Tất cả đều đậu thanh lọc dù Cao Ủy chưa công bố kết quả. Trước đây tôi định nói anh khai giống mấy người đó nhưng bây giờ thì lại không thể. Lý do như đã kể với anh, trong các assessment sau này, luật sư Cao Ủy nghi ngờ vì thuyền nhân mình khai giống nhau. Thực tình trong thời gian này, tôi chẳng biết phải cố vấn cho anh khai lý lịch ra sao nữa! Mong anh hiểu.

 

Anh Đoàn Thạnh Nam thuật lại các trường hợp bộ đội đào ngũ và phải vượt biên vì đã chống lại các chỉ thị của cấp chỉ huy khi buộc phải phá hủy chùa, đập bể tượng Phật để kiếm vàng bên trong hay đàn áp dân lành… bên chiến trường Kampuchia cũng như người kể đã gia nhập vào các tổ chức phản cách mạng trong ý định lật đổ nhà cầm quyền Việt Cộng hoặc người khai phải tu hành chui hay dạy giáo lý lén lút. Anh kết luận:

 

– Hết ăn ảnh rồi! Giống y chang nhau như một con cá bơi chung trong luồng cá, không có gì mới, không có gì lạ riêng biệt. Đọc các bản assessment, tôi thấy luật sư Cao Ủy sẽ dễ dàng tìm ra sự thật và trong lời đề nghị ở cuối trang, gần như họ bác hết cả… Đó mới chết cho thuyền nhân mình mà thực tình, không người nào biết cách phải khai sao cho đạt yêu cầu. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nhất là bên Hoa Kỳ, cũng có các hội đoàn luật sư chứ nhưng tôi nghĩ họ cũng lúng túng, chưa biết phải giúp thể nào cho thuyền nhân ở các trại tị nạn từ Hồng Kông cho đến các nước Đông Nam Á ngoài các lời khuyên chung chung. Đây là lần đầu tiên kể từ khi mất miền Nam VNCH, mới có vụ Cao Ủy thanh lọc thuyền nhân vượt biên Việt nên cũng khó để mà giúp.

 

Thôi vậy là hết cách! Phải chi anh Đoàn Thạnh Nam còn giữ được các bản assessment để mình nghiền ngẫm thì may sẽ rút ra được các kinh nghiệm cho bản thân, nhất là quyển Handbook thủ bản về luật tị nạn. Các tài liệu cực kỳ quý mà anh lại đốt bỏ nhưng cũng chẳng trách được. Anh Đoàn Thạnh Nam đã thực lòng nói với tôi những điều này thì chắc bốn người ban nãy cũng hoàn cảnh tương tự nhưng khi hỏi về họ thì anh cười lớn và nhấn giọng:

 

– À há! Hai tay Ba Tàu đó đều được Cao Ủy công nhận là tị nạn trước khi vượt biên đến Galang này. Tay hành nghề hớt tóc có giấy bảo lãnh của vị hôn thê bên Na Uy gửi cho nên cũng tin tưởng sẽ qua được bằng diện đoàn tụ. Chỉ có cha chụp hình dạo là bất cần, lại còn bảo trước sau gì Cao Ủy cũng phải lo cho thuyền nhân đi định cư hết, ai nhát mà hồi hương thì ráng chịu. Chả nói chuyện có vẻ lạc quan nhưng thực sự thì đã thủ trong tay tờ bảo lãnh của anh ruột bên Hoa Kỳ rồi. Hai tay Ba Tàu thì một người tên là La Chí Kiên, bà con với nhà thuốc La Vạn Linh ở Chợ Lớn. Tay kia tên là Lương Sú Há, gia đình có phần hùn trong đại công ty dầu bơ Nakydaco ở khu kỹ nghệ Biên Hòa ngay ngã ba đường đi về hướng Vũng Tàu. Nhà thuốc La Vạn Linh chuyên làm cao dán con cọp, dầu gió song thập… có mùi thơm thơm chắc anh cũng biết. Cuối thập niên 1970 khi có vụ nhà nước Việt Cộng trục xuất Hoa kiều, gia đình họ đã đóng vàng để xuất cảnh bán chính thức mà không thành. Ngồi trên tàu sắt cả đấy nhưng chẳng đâu ra đâu rồi lại phải quay về.

 

– Phải quay về! Anh nói hai người họ đi ra nước ngoài rồi phải quay về?

 

Tôi hỏi vội khi nghĩ hai người Việt gốc Hoa này đã từng ra khỏi nước mà tàu họ phải quay về Việt Nam tương tự như chiếc ghe mình vượt biên chuyến trước.

 

– Không! Hai tay kể khi đó gia đình ghi danh và đóng vàng xong xuôi cho chính quyền địa phương thì công an đưa xuống một tàu sắt lớn cho đến khi đủ người thì họ mới khởi hành. Nhưng ra tới cửa biển thì công an lại neo con tàu sắt đó đứng yên một chỗ mà không đi tiếp như dự định lúc đầu. Hình như ở cửa biển Bình Đại. Lý do có những chuyến tàu đi trước đã bị chính quyền Malaysia, Indo… kéo ngược ra đại dương cho trôi vật vờ, vô định. Thậm chí có chiếc bị nổ tan tành giữa biển làm chết rất nhiều nạn nhân mà người ta đồn do công an gài mìn hẹn giờ sẵn. Tin về các thảm cảnh này trên đài truyền thông quốc tế làm vụ xuất cảnh người Việt gốc Hoa lấy vàng của chính quyền Việt Cộng phải ngưng lại. Hai người họ cùng gia đình phải chen chúc chung với cả ngàn người ở trên con tàu sắt đó đợi quyết định mới của chính quyền trung ương ngoài Hà Nội về số phận. Trên tàu, lương thực cạn dần, công an bán một chai nước, một ổ bánh mì hay nải chuối… đều giá một chỉ vàng, tuy biết đắt cắt cổ thì cũng phải bỏ ra mua để ăn, để uống mà tồn tại. Rủi kiệt sức chết, xác bị người khác quăng ngay xuống biển. Ai sống thì ráng cầm cự chờ phép lạ nhưng cũng có người quẩn trí đâm đầu xuống biển tự vận trong tiếng than tiếng khóc của thân nhân. Hai tay này quen nhau khi ở chung trên con tàu sắt đó rồi thành bạn thân, đi đâu cũng rủ nhau.

 

– Ghê quá… Rồi sao cả hai về được nhà? Chính quyền có trả lại cho họ vàng đã đóng không anh? Tôi hỏi.

 

– Cuối cùng, công an kéo con tàu sắt đó vào bờ và giải toàn bộ người đi trên đó vào ở trong một khu chòi lá do họ dựng lên tạm thời rồi bỏ mặc. Ai ở đó chờ thì chờ, ai bỏ về lại nhà cũ thì tự mò về, công an làm ngơ không chận bắt. Còn vàng đã đóng… thậm chí căn nhà cùng tài sản bên trong đã bị chính quyền lấy trước khi đi… chẳng đòi được. Có cái năm vồ mà chúng trả lại cho. Anh biết các tay nhà giàu Chợ Lớn thời còn miền Nam VNCH đều cho con cái trong nhà học hành rất kỹ. Gia đình hai tay Ba Tàu này cũng vậy. Một người biết Anh ngữ, người kia thì Pháp ngữ rất khá… nên sau khi về tới gia đình thì họ tìm cách vượt biên ngay. Đi không lọt nếu bị bắt thì gia đình lại chạy vàng ra rồi tiếp tục việc buôn bán để sống để chờ chuyến vượt biên. Thua keo này họ bày keo khác cho đến khi làm một chuyến sang Tàu thì mới thành công.

 

Lời anh Nam làm tôi nhớ lại câu chuyện về người Trung Hoa đã nghe từ miệng tiến sĩ Tôn trong chuyến đi chơi Tanjung Pinang lần trước về các đại xì thẩu Chợ Lớn như Lý Long Thân, Trương Vĩ Nhiên, Lý Sen, Trần Thành, Đào Mậu, Tăng Tài… thời miền Nam VNCH còn tồn tại. Những đại xì thẩu Chợ Lớn này được phong chức là vua sắt thép, vua gạo, vua vải sợi… điều hành ngầm nền kinh tế khi đó. Họ đóng thuế công khai cho chính quyền miền Nam VNCH nhưng cũng đóng thuế lén cho cả phe Việt Cộng. Vậy, nhưng khi chiếm xong miền Nam, Việt Cộng trở mặt làm thịt họ thẳng tay trong các chiến dịch tịch thu tài sản, xuất cảnh. Ở buổi đầu từ rừng núi về thủ đô Sài Gòn trong tư thế kẻ chiến thắng, mấy gã cán bộ Việt Cộng có gì cho bản thân ngoài vài bộ quần áo cũ rích, cái nón cối, đôi dép râu mòn vẹt cùng mớ lý luận Marxis trong đầu. Một hình ảnh trên răng dưới cát tút, vô sản hoàn toàn. Thấy tài sản bên phe thua trận miền Nam VNCH ở trước mắt, đám cán bộ này nổi lòng tham nên lao vào chiếm đoạt. Rồi tranh nhau với các đồng chí khác để chiếm đoạt cho nhanh cho nhiều hơn. Đeo cấp bậc nào thì lấy tài sản của đối phương theo cấp bậc đó như gã tướng Trần Văn Danh đã lấy nhà riêng của tướng Phạm Quốc Thuần ở cư xá Chí Hòa. Tư gia của các trung tá Nguyễn Văn Lướt, Lê Trí Vị… ở vùng Hốc Môn cũng bị các tên công an, huyện ủy viên Việt Cộng nhanh chóng xí phần. Chiếm xong tài sản của người thuộc chế độ miền Nam VNCH thì đám cán bộ Việt Cộng để mắt tới các thương gia, xì thẩu Ba Tàu. Lóa mắt vì khối tài sản nếu lấy được sẽ quá lớn nên mới có vụ các chính quyền địa phương bày trò tịch thu tài sản, tổ chức vượt biên để lấy vàng bỏ túi. Kể cũng tội nghiệp cho dân Ba Tàu, sống ở quốc gia nào cũng dễ dàng trở thành vật hiến tế cho chính quyền nước đó khi gặp dịp. Đám Ba Tàu ở Việt Nam cũng vậy và đó cũng là nguyên cớ khiến có trận chiến trong năm 1979 ở biên giới Hoa-Việt. Tổ chức cho người Việt gốc Hoa vượt biên lấy vàng bỏ túi, có những gã cán bộ Việt Cộng chỉ một sớm một chiều trở thành giàu sụ như trường hợp của hai gã công an ở tỉnh Đồng Nai tên Mười Vân và Nguyễn Văn Hiệp. Hai gã trùm công an địa phương này, tên nào tên nấy có cả ngàn lượng vàng lá trong nhà khi bị xét bắt. Không riêng gì vùng Chợ Lớn, ở bất cứ địa phương nào từ Nam đến tận ngoài Bắc, xì thẩu dù từng ra mặt công khai hay lén lút, ủng hộ ngầm cho Việt Cộng khi còn chiến tranh, nay cũng phải ngồi tù sau khi bị chúng lột sạch tài sản trong những năm cuối thập niên 1970 đó. Tuy vậy sau khi được tha tù thì bằng các đường dây ngầm tài chính, đám xì thẩu Chợ Lớn lại từ từ trỗi dậy. Hai tay người Việt gốc Hoa sáng nay, tôi nghĩ tuy gia đình họ không bằng cỡ các đại xì thẩu kể trên nhưng cũng một cách chuyển ngân bí mật nên mới có tài chánh để tiếp tục các chuyến ra đi mới. Tôi cất giọng hỏi:

 

– Sang Tàu? Anh nói họ đi Hồng Kông hả? Khi nào vậy?

 

– Không! Họ đến thành phố Quảng Châu bằng cách đi đường bộ băng qua biên giới Việt-Hoa giữa năm 1989. Ngoài tiếng Anh tiếng Pháp, họ còn biết tiếng Việt và thổ ngữ Quan Thoại cùng Quảng Đông nữa… nên dễ dàng trà trộn trong dòng người buôn bán của hai nước. Hai người họ chạy vào tòa Lãnh sự Hoa Kỳ ở thành phố Quảng Châu xin được tị nạn chính trị. Nhân viên lãnh sự quán Hoa Kỳ sau khi phối hợp với luật sư Cao Ủy điều tra thì đã công nhận tư cách tị nạn và gửi họ đến tạm trú ở một khách sạn tại thủ đô Bắc Kinh. Trong lúc đang chờ ở khách sạn này để làm thủ tuc nhập cảnh vào Hoa Kỳ thì có vụ công an Trung Cộng đàn áp sinh viên biểu tình ở công trường Thiên An Môn. Anh Vũ còn nhớ vụ sinh viên Tàu kéo nhau biểu tình ở công trường này từ tháng 4 năm 1989 và kéo dài cho đến đầu tháng 6 thì bị chính quyền Trung Cộng giải tán thô bạo. Cả ngàn sinh viên tay không đã bị đạn bắn chết, xích xe tăng nghiền nát trong những ngày đó. Công an Trung Cộng còn tràn vào các khách sạn ở Bắc Kinh để lục soát và kiểm tra tất cả khách cư trú với mục đích bắt thêm người ủng hộ vụ biểu tình. Khách nếu là người ngoại quốc thì bị trục xuất ra khỏi nước ngay vì chính quyền Trung Cộng muốn che dấu vụ vừa đàn áp dã man với thành phần sinh viên nước họ. Vì khai là dân Việt nên cả hai người họ bị công an Trung Cộng trục xuất về lại Việt Nam. Tới biên giới, công an Việt Nam bắt giam hai người họ cả 6 tháng trời mới trả tự do. Sau đó, cả hai tiếp tục con đường đã định và chạy thoát đến được trại Galang.

 

Nhẩm tính thời gian, tôi biết hai người Việt gốc Hoa đến trại Galang trước đoàn hai ghe chúng tôi chỉ vài tháng. Vậy họ vẫn chưa tới lượt Cao Ủy thông báo thanh lọc. Nói ra suy nghĩ của mình thì anh Đoàn Thạnh Nam gật đầu, xác nhận:

 

– Cả hai đều bảo với tôi khi nào vào thanh lọc, sẽ trình bày cho luật sư Cao Ủy biết về trường hợp của họ. Một câu hỏi họ định sẵn với luật sư Cao Ủy là đã được công nhận tư cách tị nạn rồi thì đâu phải thanh lọc nữa. Nếu cần, luật sư Cao Ủy cứ liên lạc trực tiếp với phái đoàn Hoa Kỳ tại trại Galang về nhân thân họ, sẽ biết chính xác.

 

– Họ sẽ đậu thanh lọc, tôi nghĩ vậy. Lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Quảng Châu chắc chắn còn giữ hồ sơ của hai người. Tôi đáp lời.

 

– Họ nói vậy nhưng theo tôi cũng phải chờ xem Cao Ủy xổ thanh lọc đợt sắp tới đây thì mới yên tâm. Anh Đoàn Thạnh Nam cười nhẹ sau câu nói.

 

– Sao lại có vụ chờ xem xổ thanh lọc sắp tới hả anh? Tôi cất giọng.

 

– Ngoài hai người họ thì còn có một tay khác hoàn cảnh tương tự và đang sống tại Galang. Tôi không nhớ tên người này nhưng nghe nói anh ta từng ở trại tị nạn Sikiew bên Thái Lan, sau đó gia nhập vào đám phục quốc và trở về quê nhà để hoạt động cho tổ chức rồi bị bắt. Anh sống ở Sài Gòn chắc đã nghe chuyện chính quyền Việt Cộng xử án tổ chức phục quốc xâm nhập trong năm 1984 chứ?

 

Hồi còn ở trong nước, tôi đã nghe tin chính quyền Việt Cộng xử án hai vụ phục quốc từ hải ngoại xâm nhập nội địa và bị bắt. Tôi không biết gì về hai tổ chức phục quốc cũng như theo dõi buổi xử án nội vụ của họ tại pháp đình Sài Gòn khi đó nhưng có đến xem vũ khí cùng tài liệu do công an thu được, bày công khai tại tiền đình tòa nhà Hạ Nghị Viện cũ cạnh bên nhà hàng Continental nổi tiếng. Nghe anh Đoàn Thạnh Nam hỏi vậy, tôi gật đầu:

 

– Có! có nghe… Các năm 1983, 1984 ở trong nước, báo công an có đăng bài họ kể việc phá án nhóm phục quốc xâm nhập từ hải ngoại về Việt Nam. Một nhóm đi bằng tàu sắt và nhóm kia đi bằng đường bộ băng qua biên giới Lào-Việt… nhưng sao anh chàng phục quốc này có mặt ở đây hay vậy!

 

Anh Đoàn Thạnh Nam kể vì mới gia nhập tổ chức phục quốc nên anh ta bị chính quyền Việt Cộng kết án gần 4 năm tù. Được trả tự do, anh ta làm chuyến vượt biên mới và đến trại Galang cuối năm 1989. Anh ta đã qua thanh lọc và đang chờ Cao Ủy công bố kết quả. Cứ theo số thứ tự của ghe nhập trại thì anh chàng cựu phục quốc sẽ biết kết quả trong đợt Cao Ủy xổ thanh lọc kỳ tới.

 

Thấy trời đã hẳn chiều, cả hai chúng tôi chia tay sau câu nói của anh Đoàn Thạnh Nam trước khi rời khỏi quán cà phê Gió: ” Cứ wait and see nha anh Vũ! Rồi mình sẽ biết thêm nhiều chuyện trong canh bạc thanh lọc của Cao Ủy với thuyền nhân người Việt “.

 

Buổi tối, tắm táp rồi cơm nước xong xuôi, tôi và Yến ra khỏi barrack, nhắm hướng quán cà phê Dạ Lý. Đến nơi, đã thấy anh Khảm, chị Phượng ngồi từ trước ở một cái bàn ngoài sân nên cả hai đứa tôi liền ghé vào. Yến cất tiếng chào nhưng cả anh Khảm lẫn chị Phượng đều im lặng, không đáp lời. Thấy lạ, tôi ngước nhìn họ, một vẻ buồn bã lộ trên khuôn mặt và trong khoảnh khắc, anh Khảm cất tiếng:

 

– Anh có tên trong chuyến định cư Mỹ sắp tới rồi Vũ à… Còn Phượng thì chưa…

 

Nghe anh Khảm bỏ lửng câu nói dở chừng, Yến cười, bảo:

 

– Em mừng cho thầy đấy. Còn chị Phượng… rồi cũng chuyến kế tiếp thôi, có gì mà phải buồn. Thầy thuộc diện đi Mỹ còn chị Phượng định cư Úc thì làm sao cùng chung một chuyến với nhau được. Phải không?

 

– Không phải vậy. Anh Khảm ngắt lời Yến rồi sau đó tiếp: ” Phượng đang buồn, đang giận anh đây nè, mấy em đâu biết… Cũng tại do anh mà ra cả “.

 

Thấy tôi và Yến ngơ ngác không hiểu chuyện, anh Khảm nói thêm:

 

– Phượng bị bệnh phổi… Thế mới kẹt.

 

Anh Khảm kể phòng IOM khám bệnh cho thuyền nhân rời trại đi định cư báo tin chị Phượng bị bệnh phổi và cần ít nhất ba tháng liền phải đến uống thuốc trước mặt nhân viên y tế cho đến khi có xét nghiệm mới. Phòng IOM nếu xét nghiệm tiếp, thấy khỏi bệnh thì chị Phượng mới lên đường đến Úc được. Nếu còn bệnh, lại phải tiếp tục thêm ba tháng điều trị nữa cho đến khi lành hẳn. Chị Phượng có bao giờ hút thuốc lá mà nay bị bệnh phổi! Chỉ có mình anh Khảm, tôi nhìn qua anh thì như một hối lỗi, anh khoát tay, phân bua:

 

– Có ai ngờ… anh hút thuốc mà Phượng nó gánh cho mới khổ thân. Biết vậy, anh bỏ quách từ hồi còn ở trong rừng bên Mã Lai. Phượng khuyên bảo hoài mà anh có nghe đâu. Hối hận quá hai em à!

 

Cái này, ảnh hưởng từ hít chung khói của người hút thuốc lá mà tôi đã từng nghe. Yến đã một lần bảo với tôi: ” Thầy Khảm hút thuốc rồi nhả khói mù mịt như tàu Tây chạy trên sông, em thấy mà sợ. Không hiểu sao chị Phượng lại chịu đựng nổi. Anh mà hút thuốc như thầy Khảm thì em sẽ goodbye ngay lập tức “.

 

Có chút thắc mắc, tôi cất tiếng hỏi với anh Khảm:

 

– Anh hút thuốc lá mà phổi không bị gì? Phòng IOM thông báo sức khỏe anh ra sao, không lẽ…

 

– Anh khỏe… phổi phiếc lại bình thường. Phòng IOM khám đi khám lại mà anh không có bệnh ở phổi. Thế mới lạ! Từ chập chiều, nghe phòng IOM thông báo tin, Phượng buồn rồi trách anh cho tới giờ. Anh và Phượng… mấy em tính, nếu có bệnh phổi thì người đó phải là anh. Biết làm sao bây giờ… Anh dứt khoát bỏ thuốc lá từ hôm nay… Gói thuốc còn dở nhiều điếu, anh đã vất ngay vào thùng rác rồi.

 

Thảo nào tối nay, tôi không ngửi thấy mùi khói cùng gói thuốc lá Marboro hai màu trắng đỏ và cái quet máy Zippo quen thuộc nằm trên mặt bàn như mọi lần trước. Cái quẹt máy, Yến đã nhiều lần lấy tay mở rồi đóng nắp để nghe tiếng kêu lóc cóc riêng biệt. Yến đứng lên, kéo ghế ngồi sát bên cạnh và cầm tay chị Phượng rồi nàng thỏ thẻ, nhát gừng:

 

– Chị Phượng ơi! Hôm nay em biết chị buồn… buồn lắm… em cũng chẳng biết nói gì đây. Nếu chị có khỏe, không bị bệnh phổi và đi định cư sớm thì trong em vui mà cũng buồn nữa… Em nói thật lòng… em buồn vì vắng chị. Trại Galang này đông người mà thân thiết với em có bao nhiêu đâu. Thầy Khảm nào muốn chuyện chị bị bệnh phổi. Khi thầy đi rồi thì còn em… còn em ở đây… với chị.

 

Tôi thuật lại cho anh Đoàn Thạnh Nam về lời ông Bùi Thế Dung đã nói thì anh gật gù cái đầu, đáp:

 

– Đó… đó! Anh thấy, những người nổi tiếng mà phải vượt biên thì sẽ dễ dàng lấy cái vé đậu thôi. Cao Ủy coi các cá nhân này là nhân vật nổi của xã hội, người của quần chúng… Tất nhiên họ đối xử có khác với dân thường, củi mục. Anh biết, con trai ông Bùi Tín ở trại Tai A Châu thực ra thì trước đó đã bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc chung với đám thuyền nhân miền Bắc, đơn kháng cáo của anh ta cũng bị bác luôn. Cao Ủy biết ông Bùi Tín là ai? Chỉ sau khi tin về cuộc đào thoát của ông ta loan trên các đài radio BBC, VOA… thì Cao Ủy bên trại đó đã cho anh con trai đậu lại chung với người vợ nữa.

 

Báo chí Việt ngữ từ Hoa Kỳ, CANADA gửi vào trại có nói về cuộc đào thoát của ông đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam tên Bùi Tín này cũng như các cuộc phỏng vấn ông ta trên đài BBC loan tin từng kỳ mà chúng tôi đã nghe qua radio trong các buổi tối. Có ngờ đâu, các buổi truyền thông trên BBC đã giúp cho cả con trai lẫn con dâu ông thành người tị nạn Cộng Sản. Vậy cũng mừng cho gia đình anh chàng thuyền nhân này sẽ không còn phải lo lắng viễn cảnh bị trục xuất về lại quê nhà.

 

Ngồi khá lâu, cảm thấy đói, tôi rủ anh Đoàn Thạnh Nam đi kiếm cái gì bỏ bụng thì anh lắc đầu, bảo:

 

– Tôi ngại ra ngoài mấy tiệm đó lắm, thế nào cũng gặp người quen. Thôi! Chẳng cần đi đâu ăn cho xa, quán Gió này có bán sẵn. Anh để tôi lo.

 

Rồi không đợi tôi trả lời, anh Đoàn Thạnh Nam gọi chủ quán làm cho chúng tôi mỗi người tô mì gói cùng ổ bánh mì kẹp trứng chiên ốp la. Vừa lùa gắp mì nóng vào miệng, chợt nhớ anh Đoàn Thạnh Nam nói về các bản assessment của luật sư Cao Ủy, tôi hỏi thêm:

 

– Mấy bản assessment đó anh lấy đâu ra vậy? Có thể cho tôi xem qua tờ nào được không?

 

– Đốt hết cha nó cả rồi, đâu dám giữ lâu anh… Cao Ủy hay phòng An ninh P3V mà biết mình có mấy thứ này là chết. Anh lắc đầu, trả lời.

 

Anh Đoàn Thạnh Nam kể có được các bản assessment là nhờ vào tình cờ của một thuyền nhân thiện nguyện lấy được từ các thùng rác khi anh ta dọn dẹp trong khu vực accomodation nơi luật sư Cao Ủy tạm trú. Đây là các đoạn giấy xé bỏ từ bản in kim máy computer của luật sư. Lẽ ra chúng phải bị đốt bỏ nhưng có thể vì vô tình, các luật sư lại vất vào thùng rác. Thuyền nhân này, do nghĩ các tờ giấy in bằng Anh ngữ sẽ giúp anh ta trong việc học English nên đã mang về barrack và đưa cho anh Đoàn Thạnh Nam xem trước. Nhờ vậy, anh Đoàn Thạnh Nam mới biết các nhận xét của luật sư về một số trường hợp của thuyền nhân. Ngoài các tờ assessment, thuyền nhân thiện nguyện đó còn lấy được nguyên quyển Handbook thủ bản về luật tị nạn cùng các hướng dẫn cho luật sư khi phỏng vấn nữa. Tiếc là anh Đoàn Thạnh Nam đã phải đốt hết cả cũng vì lo cho riêng bản thân, sợ Cao Ủy cùng phòng An ninh P3V làm khó dễ trong việc định cư nếu họ biết anh có các tài liệu này trong tay. Anh bùi ngùi, nói nhỏ:

 

– Cần đến hay muốn trù dập mình, phòng An ninh P3V có thể dìm hồ sơ  bằng cách không chuyển cho các phái đoàn định cư thì sẽ rất kẹt. Cái gương của bác sĩ Luân ngoài Galang 1 còn sờ sờ ra đó anh Vũ… Anh ở ngoài đó chắc biết ông bác sĩ tôi nói.

 

Bác sĩ Luân làm thiện nguyện ở nhà thương Galang 1 và là chủ quán cà phê Dạ Lý mà nhóm chúng tôi vẫn thường đến trong các buổi tối thứ Bẩy hay Chủ Nhật. Ông bác sĩ như đã kể ở các phần trước, là người tị nạn vì đến trại Galang trước ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa. Không phải lo vụ thanh lọc như chúng tôi, lẽ ra ông ta đi định cư ở Pháp từ lâu nhưng vì cần bác sĩ thiện nguyện mà phòng An ninh P3V giữ lại trại chưa biết đến bao giờ mới được thoát cũi, xổ lồng. Người có hạnh kiểm xấu cũng bị ảnh hưởng đến việc định cư như trường hợp của hai anh em Thạc, Văn mà thuyền nhân trong trại vẫn xì xào với nhau về chiếc canoe bí ẩn của họ. Điều anh Đoàn Thạnh Nam lo lắng rất chí lý, nếu trường hợp tôi, cũng sẽ phải vậy. Tuy tiếc nhưng tôi thăm dò:

 

– Bây giờ cái ông làm thiện nguyện đó còn lấy thêm được các bản assessment nào khác nữa không anh?

 

– Ông Peter Cao Ủy trưởng không để bất kỳ người Việt nào vào làm trong khu vực luật sư tạm trú nữa… kể cả thiện nguyện không thù lao. Ông ta  thuê lao công Indo bản xứ dù phải trả lương hàng tuần. Có thể ông ta phòng xa hay đã biết phong thanh về các tờ assessment này… nên tránh trước. Anh Đoàn Thạnh Nam trả lời.

 

Những lần trò chuyện trước kia, tôi đã kể sơ về bản thân cho anh Đoàn Thạnh Nam nghe và khi đó, anh hứa sẽ cố vấn cho tôi cách khai lý lịch với Cao Ủy khi nào gần tới ngày. Ngày đó nay đã tới nhưng chuyện anh vừa thổ lộ, tôi đành ngồi yên không biết vui hay buồn. Nếu đã nhờ anh cố vấn cho bản lý lịch thì bây giờ nó sẽ hố, tôi chẳng biết phải sửa chữa ra sao nữa. Rồi tôi lại thắc mắc, chẳng biết qua các tờ assessment anh xem được, lý lịch bản thân mình có giống với người nào đó trong trại không. Như đoán được tâm trạng tôi, anh Đoàn Thạnh Nam nói:

 

– Anh bảo từng đi dạy các lớp trung học phổ thông cấp 2… Phải không? Ở đợt xổ thanh lọc đầu, người nào khai lý lịch là thầy giáo dạy các môn như văn, lịch sử ở nhà trường Cộng Sản… rồi khi đứng lớp, lại giảng bài cho học trò nghe khác với trong sách giáo khoa của môn mình phụ trách mà do đó, bị phòng giáo dục trừng phạt đến phải vượt biên thì đều thắng cả. Luật sư Cao Ủy còn lấy các điểm trong Nghị định thư 1969 về người tị nạn để bảo vệ cho thuyền nhân đó nữa như một vài trường hợp tôi biết ở trại mình. Có kể tên ra thì anh cũng không biết họ là ai. Tất cả đều đậu thanh lọc dù Cao Ủy chưa công bố kết quả. Trước đây tôi định nói anh khai giống mấy người đó nhưng bây giờ thì lại không thể. Lý do như đã kể với anh, trong các assessment sau này, luật sư Cao Ủy nghi ngờ vì thuyền nhân mình khai giống nhau. Thực tình trong thời gian này, tôi chẳng biết phải cố vấn cho anh khai lý lịch ra sao nữa! Mong anh hiểu.

 

Anh Đoàn Thạnh Nam thuật lại các trường hợp bộ đội đào ngũ và phải vượt biên vì đã chống lại các chỉ thị của cấp chỉ huy khi buộc phải phá hủy chùa, đập bể tượng Phật để kiếm vàng bên trong hay đàn áp dân lành… bên chiến trường Kampuchia cũng như người kể đã gia nhập vào các tổ chức phản cách mạng trong ý định lật đổ nhà cầm quyền Việt Cộng hoặc người khai phải tu hành chui hay dạy giáo lý lén lút. Anh kết luận:

 

– Hết ăn ảnh rồi! Giống y chang nhau như một con cá bơi chung trong luồng cá, không có gì mới, không có gì lạ riêng biệt. Đọc các bản assessment, tôi thấy luật sư Cao Ủy sẽ dễ dàng tìm ra sự thật và trong lời đề nghị ở cuối trang, gần như họ bác hết cả… Đó mới chết cho thuyền nhân mình mà thực tình, không người nào biết cách phải khai sao cho đạt yêu cầu. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nhất là bên Hoa Kỳ, cũng có các hội đoàn luật sư chứ nhưng tôi nghĩ họ cũng lúng túng, chưa biết phải giúp thể nào cho thuyền nhân ở các trại tị nạn từ Hồng Kông cho đến các nước Đông Nam Á ngoài các lời khuyên chung chung. Đây là lần đầu tiên kể từ khi mất miền Nam VNCH, mới có vụ Cao Ủy thanh lọc thuyền nhân vượt biên Việt nên cũng khó để mà giúp.

 

Thôi vậy là hết cách! Phải chi anh Đoàn Thạnh Nam còn giữ được các bản assessment để mình nghiền ngẫm thì may sẽ rút ra được các kinh nghiệm cho bản thân, nhất là quyển Handbook thủ bản về luật tị nạn. Các tài liệu cực kỳ quý mà anh lại đốt bỏ nhưng cũng chẳng trách được. Anh Đoàn Thạnh Nam đã thực lòng nói với tôi những điều này thì chắc bốn người ban nãy cũng hoàn cảnh tương tự nhưng khi hỏi về họ thì anh cười lớn và nhấn giọng:

 

– À há! Hai tay Ba Tàu đó đều được Cao Ủy công nhận là tị nạn trước khi vượt biên đến Galang này. Tay hành nghề hớt tóc có giấy bảo lãnh của vị hôn thê bên Na Uy gửi cho nên cũng tin tưởng sẽ qua được bằng diện đoàn tụ. Chỉ có cha chụp hình dạo là bất cần, lại còn bảo trước sau gì Cao Ủy cũng phải lo cho thuyền nhân đi định cư hết, ai nhát mà hồi hương thì ráng chịu. Chả nói chuyện có vẻ lạc quan nhưng thực sự thì đã thủ trong tay tờ bảo lãnh của anh ruột bên Hoa Kỳ rồi. Hai tay Ba Tàu thì một người tên là La Chí Kiên, bà con với nhà thuốc La Vạn Linh ở Chợ Lớn. Tay kia tên là Lương Sú Há, gia đình có phần hùn trong đại công ty dầu bơ Nakydaco ở khu kỹ nghệ Biên Hòa ngay ngã ba đường đi về hướng Vũng Tàu. Nhà thuốc La Vạn Linh chuyên làm cao dán con cọp, dầu gió song thập… có mùi thơm thơm chắc anh cũng biết. Cuối thập niên 1970 khi có vụ nhà nước Việt Cộng trục xuất Hoa kiều, gia đình họ đã đóng vàng để xuất cảnh bán chính thức mà không thành. Ngồi trên tàu sắt cả đấy nhưng chẳng đâu ra đâu rồi lại phải quay về.

 

– Phải quay về! Anh nói hai người họ đi ra nước ngoài rồi phải quay về?

 

Tôi hỏi vội khi nghĩ hai người Việt gốc Hoa này đã từng ra khỏi nước mà tàu họ phải quay về Việt Nam tương tự như chiếc ghe mình vượt biên chuyến trước.

 

– Không! Hai tay kể khi đó gia đình ghi danh và đóng vàng xong xuôi cho chính quyền địa phương thì công an đưa xuống một tàu sắt lớn cho đến khi đủ người thì họ mới khởi hành. Nhưng ra tới cửa biển thì công an lại neo con tàu sắt đó đứng yên một chỗ mà không đi tiếp như dự định lúc đầu. Hình như ở cửa biển Bình Đại. Lý do có những chuyến tàu đi trước đã bị chính quyền Malaysia, Indo… kéo ngược ra đại dương cho trôi vật vờ, vô định. Thậm chí có chiếc bị nổ tan tành giữa biển làm chết rất nhiều nạn nhân mà người ta đồn do công an gài mìn hẹn giờ sẵn. Tin về các thảm cảnh này trên đài truyền thông quốc tế làm vụ xuất cảnh người Việt gốc Hoa lấy vàng của chính quyền Việt Cộng phải ngưng lại. Hai người họ cùng gia đình phải chen chúc chung với cả ngàn người ở trên con tàu sắt đó đợi quyết định mới của chính quyền trung ương ngoài Hà Nội về số phận. Trên tàu, lương thực cạn dần, công an bán một chai nước, một ổ bánh mì hay nải chuối… đều giá một chỉ vàng, tuy biết đắt cắt cổ thì cũng phải bỏ ra mua để ăn, để uống mà tồn tại. Rủi kiệt sức chết, xác bị người khác quăng ngay xuống biển. Ai sống thì ráng cầm cự chờ phép lạ nhưng cũng có người quẩn trí đâm đầu xuống biển tự vận trong tiếng than tiếng khóc của thân nhân. Hai tay này quen nhau khi ở chung trên con tàu sắt đó rồi thành bạn thân, đi đâu cũng rủ nhau.

 

– Ghê quá… Rồi sao cả hai về được nhà? Chính quyền có trả lại cho họ vàng đã đóng không anh? Tôi hỏi.

 

– Cuối cùng, công an kéo con tàu sắt đó vào bờ và giải toàn bộ người đi trên đó vào ở trong một khu chòi lá do họ dựng lên tạm thời rồi bỏ mặc. Ai ở đó chờ thì chờ, ai bỏ về lại nhà cũ thì tự mò về, công an làm ngơ không chận bắt. Còn vàng đã đóng… thậm chí căn nhà cùng tài sản bên trong đã bị chính quyền lấy trước khi đi… chẳng đòi được. Có cái năm vồ mà chúng trả lại cho. Anh biết các tay nhà giàu Chợ Lớn thời còn miền Nam VNCH đều cho con cái trong nhà học hành rất kỹ. Gia đình hai tay Ba Tàu này cũng vậy. Một người biết Anh ngữ, người kia thì Pháp ngữ rất khá… nên sau khi về tới gia đình thì họ tìm cách vượt biên ngay. Đi không lọt nếu bị bắt thì gia đình lại chạy vàng ra rồi tiếp tục việc buôn bán để sống để chờ chuyến vượt biên. Thua keo này họ bày keo khác cho đến khi làm một chuyến sang Tàu thì mới thành công.

 

Lời anh Nam làm tôi nhớ lại câu chuyện về người Trung Hoa đã nghe từ miệng tiến sĩ Tôn trong chuyến đi chơi Tanjung Pinang lần trước về các đại xì thẩu Chợ Lớn như Lý Long Thân, Trương Vĩ Nhiên, Lý Sen, Trần Thành, Đào Mậu, Tăng Tài… thời miền Nam VNCH còn tồn tại. Những đại xì thẩu Chợ Lớn này được phong chức là vua sắt thép, vua gạo, vua vải sợi… điều hành ngầm nền kinh tế khi đó. Họ đóng thuế công khai cho chính quyền miền Nam VNCH nhưng cũng đóng thuế lén cho cả phe Việt Cộng. Vậy, nhưng khi chiếm xong miền Nam, Việt Cộng trở mặt làm thịt họ thẳng tay trong các chiến dịch tịch thu tài sản, xuất cảnh. Ở buổi đầu từ rừng núi về thủ đô Sài Gòn trong tư thế kẻ chiến thắng, mấy gã cán bộ Việt Cộng có gì cho bản thân ngoài vài bộ quần áo cũ rích, cái nón cối, đôi dép râu mòn vẹt cùng mớ lý luận Marxis trong đầu. Một hình ảnh trên răng dưới cát tút, vô sản hoàn toàn. Thấy tài sản bên phe thua trận miền Nam VNCH ở trước mắt, đám cán bộ này nổi lòng tham nên lao vào chiếm đoạt. Rồi tranh nhau với các đồng chí khác để chiếm đoạt cho nhanh cho nhiều hơn. Đeo cấp bậc nào thì lấy tài sản của đối phương theo cấp bậc đó như gã tướng Trần Văn Danh đã lấy nhà riêng của tướng Phạm Quốc Thuần ở cư xá Chí Hòa. Tư gia của các trung tá Nguyễn Văn Lướt, Lê Trí Vị… ở vùng Hốc Môn cũng bị các tên công an, huyện ủy viên Việt Cộng nhanh chóng xí phần. Chiếm xong tài sản của người thuộc chế độ miền Nam VNCH thì đám cán bộ Việt Cộng để mắt tới các thương gia, xì thẩu Ba Tàu. Lóa mắt vì khối tài sản nếu lấy được sẽ quá lớn nên mới có vụ các chính quyền địa phương bày trò tịch thu tài sản, tổ chức vượt biên để lấy vàng bỏ túi. Kể cũng tội nghiệp cho dân Ba Tàu, sống ở quốc gia nào cũng dễ dàng trở thành vật hiến tế cho chính quyền nước đó khi gặp dịp. Đám Ba Tàu ở Việt Nam cũng vậy và đó cũng là nguyên cớ khiến có trận chiến trong năm 1979 ở biên giới Hoa-Việt. Tổ chức cho người Việt gốc Hoa vượt biên lấy vàng bỏ túi, có những gã cán bộ Việt Cộng chỉ một sớm một chiều trở thành giàu sụ như trường hợp của hai gã công an ở tỉnh Đồng Nai tên Mười Vân và Nguyễn Văn Hiệp. Hai gã trùm công an địa phương này, tên nào tên nấy có cả ngàn lượng vàng lá trong nhà khi bị xét bắt. Không riêng gì vùng Chợ Lớn, ở bất cứ địa phương nào từ Nam đến tận ngoài Bắc, xì thẩu dù từng ra mặt công khai hay lén lút, ủng hộ ngầm cho Việt Cộng khi còn chiến tranh, nay cũng phải ngồi tù sau khi bị chúng lột sạch tài sản trong những năm cuối thập niên 1970 đó. Tuy vậy sau khi được tha tù thì bằng các đường dây ngầm tài chính, đám xì thẩu Chợ Lớn lại từ từ trỗi dậy. Hai tay người Việt gốc Hoa sáng nay, tôi nghĩ tuy gia đình họ không bằng cỡ các đại xì thẩu kể trên nhưng cũng một cách chuyển ngân bí mật nên mới có tài chánh để tiếp tục các chuyến ra đi mới. Tôi cất giọng hỏi:

 

– Sang Tàu? Anh nói họ đi Hồng Kông hả? Khi nào vậy?

 

– Không! Họ đến thành phố Quảng Châu bằng cách đi đường bộ băng qua biên giới Việt-Hoa giữa năm 1989. Ngoài tiếng Anh tiếng Pháp, họ còn biết tiếng Việt và thổ ngữ Quan Thoại cùng Quảng Đông nữa… nên dễ dàng trà trộn trong dòng người buôn bán của hai nước. Hai người họ chạy vào tòa Lãnh sự Hoa Kỳ ở thành phố Quảng Châu xin được tị nạn chính trị. Nhân viên lãnh sự quán Hoa Kỳ sau khi phối hợp với luật sư Cao Ủy điều tra thì đã công nhận tư cách tị nạn và gửi họ đến tạm trú ở một khách sạn tại thủ đô Bắc Kinh. Trong lúc đang chờ ở khách sạn này để làm thủ tuc nhập cảnh vào Hoa Kỳ thì có vụ công an Trung Cộng đàn áp sinh viên biểu tình ở công trường Thiên An Môn. Anh Vũ còn nhớ vụ sinh viên Tàu kéo nhau biểu tình ở công trường này từ tháng 4 năm 1989 và kéo dài cho đến đầu tháng 6 thì bị chính quyền Trung Cộng giải tán thô bạo. Cả ngàn sinh viên tay không đã bị đạn bắn chết, xích xe tăng nghiền nát trong những ngày đó. Công an Trung Cộng còn tràn vào các khách sạn ở Bắc Kinh để lục soát và kiểm tra tất cả khách cư trú với mục đích bắt thêm người ủng hộ vụ biểu tình. Khách nếu là người ngoại quốc thì bị trục xuất ra khỏi nước ngay vì chính quyền Trung Cộng muốn che dấu vụ vừa đàn áp dã man với thành phần sinh viên nước họ. Vì khai là dân Việt nên cả hai người họ bị công an Trung Cộng trục xuất về lại Việt Nam. Tới biên giới, công an Việt Nam bắt giam hai người họ cả 6 tháng trời mới trả tự do. Sau đó, cả hai tiếp tục con đường đã định và chạy thoát đến được trại Galang.

 

Nhẩm tính thời gian, tôi biết hai người Việt gốc Hoa đến trại Galang trước đoàn hai ghe chúng tôi chỉ vài tháng. Vậy họ vẫn chưa tới lượt Cao Ủy thông báo thanh lọc. Nói ra suy nghĩ của mình thì anh Đoàn Thạnh Nam gật đầu, xác nhận:

 

– Cả hai đều bảo với tôi khi nào vào thanh lọc, sẽ trình bày cho luật sư Cao Ủy biết về trường hợp của họ. Một câu hỏi họ định sẵn với luật sư Cao Ủy là đã được công nhận tư cách tị nạn rồi thì đâu phải thanh lọc nữa. Nếu cần, luật sư Cao Ủy cứ liên lạc trực tiếp với phái đoàn Hoa Kỳ tại trại Galang về nhân thân họ, sẽ biết chính xác.

 

– Họ sẽ đậu thanh lọc, tôi nghĩ vậy. Lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Quảng Châu chắc chắn còn giữ hồ sơ của hai người. Tôi đáp lời.

 

– Họ nói vậy nhưng theo tôi cũng phải chờ xem Cao Ủy xổ thanh lọc đợt sắp tới đây thì mới yên tâm. Anh Đoàn Thạnh Nam cười nhẹ sau câu nói.

 

– Sao lại có vụ chờ xem xổ thanh lọc sắp tới hả anh? Tôi cất giọng.

 

– Ngoài hai người họ thì còn có một tay khác hoàn cảnh tương tự và đang sống tại Galang. Tôi không nhớ tên người này nhưng nghe nói anh ta từng ở trại tị nạn Sikiew bên Thái Lan, sau đó gia nhập vào đám phục quốc và trở về quê nhà để hoạt động cho tổ chức rồi bị bắt. Anh sống ở Sài Gòn chắc đã nghe chuyện chính quyền Việt Cộng xử án tổ chức phục quốc xâm nhập trong năm 1984 chứ?

 

Hồi còn ở trong nước, tôi đã nghe tin chính quyền Việt Cộng xử án hai vụ phục quốc từ hải ngoại xâm nhập nội địa và bị bắt. Tôi không biết gì về hai tổ chức phục quốc cũng như theo dõi buổi xử án nội vụ của họ tại pháp đình Sài Gòn khi đó nhưng có đến xem vũ khí cùng tài liệu do công an thu được, bày công khai tại tiền đình tòa nhà Hạ Nghị Viện cũ cạnh bên nhà hàng Continental nổi tiếng. Nghe anh Đoàn Thạnh Nam hỏi vậy, tôi gật đầu:

 

– Có! có nghe… Các năm 1983, 1984 ở trong nước, báo công an có đăng bài họ kể việc phá án nhóm phục quốc xâm nhập từ hải ngoại về Việt Nam. Một nhóm đi bằng tàu sắt và nhóm kia đi bằng đường bộ băng qua biên giới Lào-Việt… nhưng sao anh chàng phục quốc này có mặt ở đây hay vậy!

 

Anh Đoàn Thạnh Nam kể vì mới gia nhập tổ chức phục quốc nên anh ta bị chính quyền Việt Cộng kết án gần 4 năm tù. Được trả tự do, anh ta làm chuyến vượt biên mới và đến trại Galang cuối năm 1989. Anh ta đã qua thanh lọc và đang chờ Cao Ủy công bố kết quả. Cứ theo số thứ tự của ghe nhập trại thì anh chàng cựu phục quốc sẽ biết kết quả trong đợt Cao Ủy xổ thanh lọc kỳ tới.

 

Thấy trời đã hẳn chiều, cả hai chúng tôi chia tay sau câu nói của anh Đoàn Thạnh Nam trước khi rời khỏi quán cà phê Gió: ” Cứ wait and see nha anh Vũ! Rồi mình sẽ biết thêm nhiều chuyện trong canh bạc thanh lọc của Cao Ủy với thuyền nhân người Việt “.

 

Buổi tối, tắm táp rồi cơm nước xong xuôi, tôi và Yến ra khỏi barrack, nhắm hướng quán cà phê Dạ Lý. Đến nơi, đã thấy anh Khảm, chị Phượng ngồi từ trước ở một cái bàn ngoài sân nên cả hai đứa tôi liền ghé vào. Yến cất tiếng chào nhưng cả anh Khảm lẫn chị Phượng đều im lặng, không đáp lời. Thấy lạ, tôi ngước nhìn họ, một vẻ buồn bã lộ trên khuôn mặt và trong khoảnh khắc, anh Khảm cất tiếng:

 

– Anh có tên trong chuyến định cư Mỹ sắp tới rồi Vũ à… Còn Phượng thì chưa…

 

Nghe anh Khảm bỏ lửng câu nói dở chừng, Yến cười, bảo:

 

– Em mừng cho thầy đấy. Còn chị Phượng… rồi cũng chuyến kế tiếp thôi, có gì mà phải buồn. Thầy thuộc diện đi Mỹ còn chị Phượng định cư Úc thì làm sao cùng chung một chuyến với nhau được. Phải không?

 

– Không phải vậy. Anh Khảm ngắt lời Yến rồi sau đó tiếp: ” Phượng đang buồn, đang giận anh đây nè, mấy em đâu biết… Cũng tại do anh mà ra cả “.

 

Thấy tôi và Yến ngơ ngác không hiểu chuyện, anh Khảm nói thêm:

 

– Phượng bị bệnh phổi… Thế mới kẹt.

 

Anh Khảm kể phòng IOM khám bệnh cho thuyền nhân rời trại đi định cư báo tin chị Phượng bị bệnh phổi và cần ít nhất ba tháng liền phải đến uống thuốc trước mặt nhân viên y tế cho đến khi có xét nghiệm mới. Phòng IOM nếu xét nghiệm tiếp, thấy khỏi bệnh thì chị Phượng mới lên đường đến Úc được. Nếu còn bệnh, lại phải tiếp tục thêm ba tháng điều trị nữa cho đến khi lành hẳn. Chị Phượng có bao giờ hút thuốc lá mà nay bị bệnh phổi! Chỉ có mình anh Khảm, tôi nhìn qua anh thì như một hối lỗi, anh khoát tay, phân bua:

 

– Có ai ngờ… anh hút thuốc mà Phượng nó gánh cho mới khổ thân. Biết vậy, anh bỏ quách từ hồi còn ở trong rừng bên Mã Lai. Phượng khuyên bảo hoài mà anh có nghe đâu. Hối hận quá hai em à!

 

Cái này, ảnh hưởng từ hít chung khói của người hút thuốc lá mà tôi đã từng nghe. Yến đã một lần bảo với tôi: ” Thầy Khảm hút thuốc rồi nhả khói mù mịt như tàu Tây chạy trên sông, em thấy mà sợ. Không hiểu sao chị Phượng lại chịu đựng nổi. Anh mà hút thuốc như thầy Khảm thì em sẽ goodbye ngay lập tức “.

 

Có chút thắc mắc, tôi cất tiếng hỏi với anh Khảm:

 

– Anh hút thuốc lá mà phổi không bị gì? Phòng IOM thông báo sức khỏe anh ra sao, không lẽ…

 

– Anh khỏe… phổi phiếc lại bình thường. Phòng IOM khám đi khám lại mà anh không có bệnh ở phổi. Thế mới lạ! Từ chập chiều, nghe phòng IOM thông báo tin, Phượng buồn rồi trách anh cho tới giờ. Anh và Phượng… mấy em tính, nếu có bệnh phổi thì người đó phải là anh. Biết làm sao bây giờ… Anh dứt khoát bỏ thuốc lá từ hôm nay… Gói thuốc còn dở nhiều điếu, anh đã vất ngay vào thùng rác rồi.

 

Thảo nào tối nay, tôi không ngửi thấy mùi khói cùng gói thuốc lá Marboro hai màu trắng đỏ và cái quet máy Zippo quen thuộc nằm trên mặt bàn như mọi lần trước. Cái quẹt máy, Yến đã nhiều lần lấy tay mở rồi đóng nắp để nghe tiếng kêu lóc cóc riêng biệt. Yến đứng lên, kéo ghế ngồi sát bên cạnh và cầm tay chị Phượng rồi nàng thỏ thẻ, nhát gừng:

 

– Chị Phượng ơi! Hôm nay em biết chị buồn… buồn lắm… em cũng chẳng biết nói gì đây. Nếu chị có khỏe, không bị bệnh phổi và đi định cư sớm thì trong em vui mà cũng buồn nữa… Em nói thật lòng… em buồn vì vắng chị. Trại Galang này đông người mà thân thiết với em có bao nhiêu đâu. Thầy Khảm nào muốn chuyện chị bị bệnh phổi. Khi thầy đi rồi thì còn em… còn em ở đây… với chị.

 

Nghe Yến nói đến đây, anh Khảm đột ngột kéo ghế, đứng lên và bước hẳn ra ngoài quán mà không nói thêm lời nào. Tôi trố mắt nhìn theo bóng anh, lòng bối rối… không biết phải nói phải làm gì khi bên tai nghe tiếng nấc nho nhỏ của chị Phượng. Cũng may là bản thân mình không hút thuốc lá. Nếu tôi hút thuốc lá như anh Khảm hay thằng Đỉnh… thì sẽ không biết phải xử trí như thể nào trước hình ảnh vừa xảy ra trong tối hôm nay.

 

Trong chốc lát, tôi rời bàn, đi nhanh ra ngoài quán để tìm anh Khảm. Kia rồi anh đang đứng bên vệ đường mặt hướng về phía con lộ dẫn ra biển bị che khuất bởi bóng đêm. Anh đứng đó, hai tay thọc vào túi quần trong yên lặng. Tôi lại gần, khẽ lắp bắp:

 

– Đâu ai ngờ… Chuyện lại như thế há anh… Thôi…

 

Tôi im bặt khi nghe tiếng nấc của anh Khảm bật lên run run như muốn nói điều gì mà mắc nghẹn trong cổ. Tiếng nấc nhỏ rồi to hơn thành tiếng khóc ai oán như hối lỗi vì chuyện do anh làm, đã tạo ảnh hưởng không hay cho chị Phượng. Anh khóc vì buồn và anh đã khóc ngon lành. Hẳn vậy vì tôi đã từng nghe anh thổ lộ chỉ mong khi rời trại, cả anh lẫn chị Phượng sẽ lên đường định cư trong cùng một ngày. ” Sống thì cùng sống, đi thì cùng đi… Ở đâu có anh thì phải có chị… dù là đi định cư khác nước “. Giờ đây, cảnh anh Khảm sẽ đi, chị Phượng phải ở lại trại một mình mà nguyên do cũng từ bản thân anh gây ra nên anh buồn hay vì sự chia tay sẽ thấy trước mắt chẳng còn xa như tôi đã bắt gặp tâm trạng anh trong chuyến đi Tanjung Pinang vừa rồi. Anh Khảm vẫn đứng yên chỗ khi tôi đã ở bên cạnh và không buồn che dấu hình ảnh mềm yếu của bản thân nữa. Cứ khóc, có chảy nước mắt thì lòng mới vơi đi cái buồn tối nay. Tôi chia xẻ tâm trạng của anh và của chị Phượng.

 

Vài người khách đến quán khi thấy hai chúng tôi đứng yên trong bóng đêm nên đã nghi ngại khi họ vừa rảo chân bước vừa ngoái đầu nhìn lại. Thấy dáng vẻ của họ, tôi liền kéo tay anh Khảm quay vào quán và trở lại cái bàn cũ. Yến và chị Phượng vẫn ngồi yên trong chỗ như đang chờ đợi hai chúng tôi. Hai ly nước của tôi và Yến do người hầu bàn mang ra để bên cạnh hai ly nước của anh chị Khảm-Phượng gần đó mà tất cả vẫn còn nguyên vì chưa ai đụng đến. Để phá vỡ bầu không khí ngột ngạt, tôi cầm lấy ly nước của mình, khẽ khuấy chiếc muỗng và nói:

 

– Lần đầu tiên mới thấy anh Khảm khóc… Khóc thật tình, ngon lành. Bây giờ em mời anh chị dùng nước, Yến uống nha Yến.

 

Tôi nhìn chị Phượng và Yến. Ánh sáng trang trí mờ mờ ảo ảo của sân quán cà phê Dạ Lý còn soi rõ các vệt nước long lanh trên mí mắt họ. Chị Phượng lấy tay chậm vào mũi, khẽ đáp lời như một hờn dỗi:

 

– Anh Khảm mà khóc gì Vũ ơi… Người như gỗ như đá… Có biết thương ai mà thật tình.

 

Bàn chân của Yến khẽ đá nhẹ vào tôi như một hiệu lệnh ngầm. Đưa mắt nhìn sang, khóe mắt của nàng cũng đảo nhanh với tôi. ” Thôi mình nên yên lặng, ngồi im uống nước cho chắc “, tôi nhủ lòng.

 

Tối hôm nay, không hiểu sao phòng bên trong quán cà phê Dạ Lý lại đông khách hơn thường ngày. Tôi định nói ra điều đó cho anh Khảm biết thì thấy bác sĩ Luân đi cùng với một người nữa đến thẳng bàn của nhóm chúng tôi và đứng lại. Anh Khảm lấy ngay vẻ bình thường hàng ngày, cất giọng:

 

– Ô! Anh Luân… Khỏe chứ.

 

– Bình thường! Cảm ơn anh. Có chuyện này tôi muốn cho quý vị biết.

 

Bác sĩ Luân cười sau câu nói mang vẻ trịnh trọng với nhóm chúng tôi rồi chỉ tay vào người đi bên cạnh, ông tiếp từng đoạn ngắn:

 

– Xin giới thiệu đây là anh Nhân, chủ nhân mới của quán Dạ Lý… Đây là anh Khảm, chị Phượng… Và đây… Cậu Vũ, cô Yến… Đều là khách ruột của quán mình đó Nhân.

 

Thì ra bác sĩ Luân đã sang lại quán cà phê Dạ Lý cho người khác. Vậy ra ông cũng sắp lên đường định cư! Chuyện thật bất ngờ vì trong danh sách định cư mà phòng thông tin của ban Đại diện trại đọc trong mấy đợt rồi, chúng tôi đâu có nghe thấy tên ông. Cầm chân ông và người tên Phước ngồi lại bàn nước, anh Khảm nói ra điều đó thì ông bác sĩ cười, trả lời:

 

– Mấy cái list định cư anh nghe đọc trên loa là dành cho người đậu thanh lọc thôi, còn mình đến trước ngày đóng cửa mà có danh sách danh siết gì. Họ dìm mình ở trại lâu quá rồi giờ phải cho lên đường chứ anh. Phải không nào?

 

Bác sĩ Luân cho biết trong mấy đợt ghe nhập trại tị nạn Galang vừa qua may mắn đã có hai thuyền nhân là bác sĩ nên có lẽ nhờ vậy mà phòng An ninh P3V mới chịu nhả ông ra cho đi định cư. Như đã kể ở các đoạn trước, bác sĩ Luân nguyên là bác sĩ quân y thời miền Nam VNCH và khi Việt Cộng vào được Sài Gòn thì chúng bắt ông  tù cải tạo gần 3 năm trời rồi mới được trả tự do để phục vụ tại nhà thương Chợ Rẫy như một trao đổi cá nhân, có đi có lại. Sau hơn chục năm làm việc trong chế độ mới, ông vượt biên đến trại tị nạn Galang trước ngày đóng cửa và đúng lẽ là người tị nạn không vướng lưới thanh lọc của Cao Ủy, bác sĩ Luân đã định cư bên Pháp từ lâu nhưng vì cần người chữa bệnh, hồ sơ của ông bị phòng An ninh P3V giữ lại cho đến bây giờ. Hai bác sĩ mới đến trại đã thế chỗ của ông thật đúng lúc. Mừng cho ông sẽ xổ lồng nay mai. Nghe tiếng cười, lời nói đầy âm hưởng vui vẻ của ông, tôi nghĩ chắc hẳn ông sẽ rất mừng khi nghĩ giờ phút rời trại chỉ trong nay mai. Nào ngờ, ông quay ra nói với anh Khảm:

 

– Khi còn kẹt ở đây thì tôi mong cho chóng đến ngày đi định cư, giờ ngày đó sắp đến thì mình lại buồn. Tôi chẳng hiểu lòng mình sao nữa? Còn anh. Tôi nghe loa đọc tên anh trong list định cư rồi, có cảm giác như tôi không hả anh Khảm?

 

Anh Khảm ngồi im. Có lẽ chuyện buồn vừa rồi với chị Phượng vẫn chưa tan biến trong lòng nên anh khẽ lắc đầu và chỉ đáp lại bằng nụ cười với bác sĩ Luân. Bác sĩ Luân lại tiếp:

 

– Ở Galang này lâu ngày tự nhiên tôi thấy mến cảnh và mến người… Đi sang Pháp bây giờ cũng cực lắm. Không biết trình độ của hai tay bác sĩ mới nhập trại ra sao? Ghe đến tới tấp nên cả hai Galang 1 và Galang 2 hiện giờ nhiều bệnh nhân quá. Kỳ thật! Hồi xuống ghe bỏ nước vượt biên, tôi cũng có cái cảm giác tiếc tiếc, nhớ nhớ, lo lo… như với bệnh nhân của mình ở đây. Ai sẽ chăm sóc cho họ?

 

Sống cu ky một mình ở trại mà bác sĩ Luân còn có tâm trạng lưu luyến với bệnh nhân như thế thì trách chi anh Khảm phải nặng lòng cùng chị Phượng. Dầu gì thì họ cũng là một đôi từng chia xẻ ngọt bùi với nhau từ khi còn ở trong trại tuốt sâu trong rừng bên Mã Lai. Một miếng khi đói bằng một gói khi no lại thêm trong cảnh hương lửa mặn nồng, sớm tối bên nhau nữa. Anh Khảm đã buồn khi thấy việc chia tay với chị Phượng trước mắt và đã vừa khóc vì chuyện đó nhưng lại lắc đầu phủ nhận với câu hỏi của bác sĩ Luân. Tôi nhìn sang Yến thăm dò thì bắt gặp nàng kín đáo lấy tay che miệng cười. Chợt ông tên Nhân cất tiếng nói như lời làm quen:

 

– Tôi rất vui khi biết các anh chị tối nay ở đây… Mong gặp mặt ở quán thường xuyên để ủng hộ tôi nha.

 

– Đừng lo, bác sĩ vừa nói rồi anh à, tụi tôi là khách ruột của quán. Có uống cà phê cũng chỉ ghé ở đây là chính. Tôi thay mặt cả nhóm, đáp lời.

 

Hỏi thêm thì chúng tôi biết bác sĩ Luân sẽ rời trại 3 ngày sau chuyến định cư của anh Khảm. Tiện thể đang có mặt bác sĩ Luân tại bàn nước, tôi nói lời cảm ơn với ông vì đã giúp trong việc khám bệnh cùng cho thuốc điều trị trong thời gian vừa qua. Ở Galang 1, ngày nào thì nhà thương cũng chỉ phát giới hạn có 100 phiếu khám bệnh nên khi cần thì thuyền nhân phải xếp hàng mới có. Dòng người đứng xếp hàng đã bắt đầu từ 4, 5 giờ sáng nên khó mà lấy được phiếu nếu như dậy trễ. Nhờ quen được với bác sĩ Luân nên mỗi khi bị bệnh, tôi và Yến chỉ cần đến trước cửa phòng của ông tại nhà thương. Thấy hai đứa tôi, ông sẽ dẫn ngay vào để khám trước, khỏi cần phiếu. Tôi vẫn nhớ lời nói của bác sĩ: ” Galang đông người quá, trăm phiếu phát ra không đủ cho nhu cầu người cần. Hồi tôi mới đến trại, nhà thương hầu như trông có người đến khám bệnh mà có thấy mấy ai đâu “.

 

Cuộc trò chuyện đã làm tan biến cái buồn trong lòng, chị Phượng cất miệng hỏi với ông bác sĩ:

 

– Anh sang quán rồi sổ phong thần tính sao. Có bàn giao cho chủ nhân mới không?

 

Sổ phong thần là quyển sách ghi tên khách thiếu nợ tại quán. Ngồi quán cà phê là thói quen của thuyền nhân trong trại vì thực tế họ chẳng biết phải đi đâu trong các buổi tối hay khi gặp bạn bè, cần chỗ để trò chuyện riêng. Quán cà phê là chỗ lý tưởng nhất nhưng đến quán thì phải gọi thức uống mà có lúc trong túi lại cạn tiền, khô máu. Đành ghi sổ nợ, hẹn khi có sẽ gửi trả sau mà nguồn tiền lại lệ thuộc vào thân nhân ở nước thứ ba gửi giúp. Thân nhân không giúp nữa, thuyền nhân sẽ sạch nhẵn túi nhanh chóng và phải ghi nợ. Quán bán hàng ở Galang nào cũng đều có sổ phong thần và người thiếu nợ càng nhiều thì sổ đó càng dầy hơn. Chủ quán thường phải theo dõi thông báo của phòng phát thư bảo đảm PKL trên loa phóng thanh để biết khách nợ vừa nhận được tiền thân nhân gửi mà kịp gặp mặt đòi ngay. Khách nợ sắp rời trại đi định cư, may ra chủ nợ còn đòi được tiền thiếu nhưng người hồi hương về nước thì cầm chắc sẽ bị mất không. Chấp nhận hồi hương, thuyền nhân con nợ đó coi như đã thua canh bạc vượt biên thì họ còn gì trong tay để mà sòng phẳng với chủ nợ. Họ làm mặt lì mà chủ nợ đành chịu, cười trừ. Phòng An ninh P3V hầu như không can thiệp vào chuyện nợ nần của thuyền nhân trên đảo. Chủ nợ có gửi đơn thưa với Cao Ủy thì cũng nhận được câu trả lời không xét đến các giao dịch cá nhân của thuyền nhân. Tự giải quyết lấy với nhau. Sổ phong thần là chuyện chẳng đặng đừng mà bất cứ chủ quán hàng nào ở Galang cũng biết mà không tránh được. Bác sĩ Luân nghe chị Phượng hỏi, ông lắc đầu và ngập ngừng đáp lời:

 

– Không! Coi như bỏ luôn… Họ cũng không có tiền… Trại tị nạn mà chị.

 

Ngày anh Khảm lên đường, như một gặp gỡ lần cuối, từ sáng sớm tôi, Yến, Bẩy cùng Đỉnh đã đến chỗ ở của hai người họ trong zone 3. Đến trước cửa barrack thì kịp thấy anh Khảm cùng mấy người học trò đang nói chuyện với nhau. Thấy nhóm chúng tôi, mấy người học trò đó cáo từ anh Khảm rồi bỏ về ngay. Trên cái sạp gỗ chung của barrack, chị Phượng đang làm các ổ bánh mì nhồi thịt nguội cho cả nhóm ăn sáng. Anh Khảm quay qua nhóm chúng tôi nói:

 

– Ăn chút  đồ lót dạ nha mấy em. Có cà phê sẵn đây rồi mình khỏi cần ra quán làm chi mất công.

 

Bữa ăn sáng kết thúc chóng vánh. Anh Khảm kiểm tra lại cái va li giả da đựng hành lý của mình rồi đi gặp từng người trong barrack để chia tay. Chị Phượng cho chúng tôi biết cũng có một ông sống chung trong barrack sẽ lên đường đi Úc ở chuyến định cư ngày kế tiếp. Chị nho nhỏ thêm lời:

 

– Barrack đông người vậy mà đậu thanh lọc chỉ được một số ít đếm được. Lên đường định cư hôm nay, anh Khảm nói cũng rất ngại khi phải đi chào từ biệt họ. Sợ họ lại buồn, hiểu lầm mình. Vài tháng nữa chị cũng sẽ ra khỏi barrack như anh bây giờ. Mong rằng Cao Ủy sẽ có một thay đổi  tốt đẹp cho những người còn ở lại.

 

Nhìn lại barrack một lần chót, anh Khảm khoát tay ra dấu cho cả nhóm chuẩn bị lên đường. Đỉnh lấy tay xách cái va li giả da đựng hành lý, buột miệng với anh Khảm:

 

– Để em lo cái va ly này nha thầy. Thầy vác nó vô tới trỏng, mồ hôi mồ kê ướt hết quần áo có mà chết dở.

 

Tôi bước lại bên Đỉnh, lấy tay thử cầm vào cái va li của anh Khảm, ước thầm trọng lượng. Tưởng nhẹ nhưng nó lại khá nặng. Hành lý bên trong là những thứ gì khi tôi nhớ lời anh nói ở bến tàu Tanjung Pinnang sẽ chỉ mang vài bộ quần áo trong ngày rời trại đi định cư! Đỉnh giúp cho anh Khảm thật đúng lúc. Đường từ đây vô tới điểm đón người định cư ở tuốt trong Galang 2 đâu có gần, nội cái đi bộ không thôi cũng đã mệt lừ người huống chi lại phải vác nặng. Tôi bảo với nó:

 

– Vác đi, mệt thì tới phiên tao. Được cái hôm nay mát trời… Đi thong thả thôi.

 

Chúng tôi đi bên nhau băng qua lòng barrack này rồi thông qua barrack khác để ra hẳn bên ngoài hàng rào tôn của zone 3. Trên con đường nhựa sáng hôm nay, bất cứ ai nhìn vào nhóm chúng tôi cũng biết có người rời trại đi định cư nước thứ ba. Yến và Bẩy đi cạnh chị Phượng còn tôi với Đỉnh thì rảo bước sát bên anh Khảm. Trời có mây nên che bớt ánh nắng buổi sớm mai và có lẽ vì vậy nên ai cũng cảm thấy hơi lạnh. Vài nhóm tiễn người đi định cư đi trước và cũng có một bọn khác theo sau chân chúng tôi xa xa. Anh Khảm gật đầu thay lời nói với một người đàn ông đứng trước cửa căn chòi nhỏ cạnh bên đường khi hỏi: ” Đi Mỹ phải không? “. Ngang chân đồi nhà thờ Công giáo Galang, vượt qua các barrack lá của zone 2 và zone 1 nằm sát bên vệ đường, chúng tôi từ từ từng bước lên con dốc có tượng Mẹ Bồng Con. Chính nơi này, buổi tối hôm nào khi từ buổi dạ hội Đêm Không Gian Hội Ngộ ở quán cà phê Đại Dương trở về, nhóm chúng tôi đã một phen hốt hoảng khi nhìn thấy các đốm lửa xanh lè xuất hiện đột ngột ở cây đa cổ thụ ven đường. Cây đa vẫn còn đó với cái bóng um tùm tôi tối cùng các chùm rễ lòng thòng từ ngọn cây xỏa xuống như những lọn tóc xoăn của phụ nữ. Bước các bước chân lên con dốc có khu mộ địa của các thuyền nhân xấu số mà người trong trại gọi là Galang 3, anh Khảm đột nhiên dừng chân lại, đứng yên lặng trước các bậc thang dẫn đường vào cửa và đọc lầm thầm các lời kinh cầu. Là đồng đạo, chị Phượng và Yến cũng yên lặng làm theo anh Khảm. Tôi, Đỉnh và cô Bẩy đứng yên im lặng chờ, dõi mắt nhìn toàn cảnh chung quanh của khu vực. Đối diện nghĩa địa giờ đây đã có thêm khu đền lộ thiên với tượng thờ Đức mẹ Nữ vương do thuyền nhân đạo Thiên Chúa giáo tại trại tị nạn Galang lập ra trên một mỏm đồi thấp. Những mái chòi của thuyền nhân ẩn hiện sau các hàng cây rừng dưới chân đồi chung với các dậu cây, luống rau trái, dàn bầu bí… Chúng tôi thả dốc, băng qua nhà nguyện của Hội Thánh Tin Lành rồi lại vượt khỏi các barrack lá khác nằm gần một con suối cắt ngang qua đường nhựa. Đây là các barrack lá đầu tiên của Galang 2 thuộc zone B. Từ con đường nhựa, chúng tôi đi qua zone A hay còn gọi là zone biệt lập vì là nơi tạm trú của người đi trong các chiếc ghe đầu tiên đến trại sau ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa để chính thức thi hành chương trình thanh lọc. Zone A này nay không còn biệt lập nữa khi con số thuyền nhân đến trại ngày càng nhiều để có thêm các barrack lá, chòi và quán xá bán hàng… mới mọc thêm ở chung quanh.

 

Nghe Đỉnh thắc mắc không biết chuyến bay chở người định cư Hoa Kỳ sẽ đón thuyền nhân đi chung trong chuyến bắt đầu ở đâu thì anh Khảm vừa đi vừa nói:

 

– Anh nghe thằng Hoài Bảo làm ở phòng định cư kể là chuyến của anh đi hôm nay sẽ được Cao Ủy sắp xếp đón bằng cái tàu cao tốc dịp mình đi Tanjung Pinang trước hết. Sau đó, tàu cao tốc chạy sang đảo Batam rồi từ BaTam, chuyến của anh sẽ đi bằng máy bay sang Singapore. Đến Singapore lại phải đổi sang máy bay khác đi Nhật… Hình như ghé vào phi trường Narita hay Tokyo rồi kế đó sẽ bay vòng lên gần Bắc Cực để đảo xuống Hoa Kỳ. Đấy là chuyến dành cho những người đi vùng Bắc Mỹ như CANADA hay Hoa Kỳ như chuyến của anh.  Chuyến đi Âu Châu như định cư ở Anh quốc, Tây Đức hay Pháp, Bỉ… thì hành trình sẽ khác. Máy bay sẽ ghé Bangkok lấy thêm người ở trại Sikiew hay bên Sungei Besi ở Mã Lai chuyển sang. Từ Bangkok, máy bay sẽ vượt qua các nước trong vùng trung Á để thẳng đường đến Âu Châu cho gần.  Đi Úc đi New Zealand, chuyến bay thường từ Batam chuyển tiếp sang Singapore nhưng cũng có khi lại thẳng một lèo đến thủ đô Jakarta. Từ Jakarta, sẽ đổi máy bay khác để đi tiếp tới Úc hay New Zealand là hoàn tất. Anh nghĩ Cao Ủy sẽ sắp xếp người đi chung với phi trình thương mãi của các hãng hàng không nào mà họ thấy tiện nhất cho cả các bên liên quan. Tất nhiên khi phi trình càng ngắn, máy bay chứa đủ khách thì càng có lợi cho các hãng hàng không mà chính vì vậy, có khi máy bay phải quá cảnh qua nhiều phi trường. Nghe kể thì nghĩ gặp phi cơ ghé vào nhiều chỗ sẽ thích thật vì biết thêm nhiều nơi. Nghĩ vậy nhưng trong thực tế, có là hành khách của các chuyến bay đó, mình sẽ rất mệt.

 

Điều anh Khảm nói ra, chúng tôi mới biết. Thảo nào các chuyến đi định cư đều khác nhau về số lượng người rời trại. Chuyến nhiều, chuyến ít người định cư cũng do từ đây. Anh Khảm lại nói:

 

– Trước kia thì anh nghĩ khi đến Hoa Kỳ, máy bay sẽ phải ghé vào phi trường Travis là cái phi trường anh đã đến hồi đi tu nghiệp thời còn chế độ cũ. Khi đó, anh đã thấy phi trường Travis nó rộng gấp mấy lần so với Tân Sơn Nhất bên mình. Rộng mênh mông nhưng Travis là phi trường quân sự nên không thấm vào đâu khi so sánh với phi trường Los Angles… Máy bay nào đến Hoa Kỳ bên bờ phía Tây thì hầu như sẽ đáp xuống phi trường Los Angles này và chắc chắn, chuyến của anh hôm nay cũng sẽ ghé vào. Los Angles Airport là một trong các phi trường lớn nhất nước Mỹ mà nhất của nước Mỹ thì khác gì nhất của thế giới.

 

Chúng tôi băng qua cây cầu gỗ dẫn vào nhà thờ Đức mẹ Vô Nhiễm để đi tắt đến chỗ tập trung trước cửa phòng khám bệnh IOM của Cao Ủy. Phòng IOM nằm đối diện với dãy nhà của các phái đoàn nhận người định cư, phòng JVA đại diện chính quyền Hoa Kỳ tại trại. Ngày đi định cư nào cũng là ngày hội vui của những thuyền nhân may mắn nhưng cũng là ngày buồn cho những ai còn phải kẹt lại trong trại. Từng nhóm người đứng chùm nhum đây đó với nhau trong sự yên lặng hay nói cười rộn rã. Vài nhân viên An ninh P3V cùng các police địa phương trong bộ đồng phục quần xanh-áo tím-mũ beret đen đứng yên lặng giữ trật tự bên lề đường, vô cảm nhìn đám thuyền nhân chúng tôi. Anh Khảm tách ra khỏi nhóm để gặp các bạn quen cùng binh chủng không quân đang đứng chung với nhau cạnh bụi cây dứa dại trước cửa văn phòng IOM. Tôi cũng rảo chân đây đó và một khuôn mặt quen với tôi trong đám đông đã giơ tay chào như một biểu lộ thân quen. Tôi tiến đến thì ra là ông Thành. Tôi quen ông Thành qua lời giới thiệu của anh Khảm ở buổi dạ vũ tại quán cà phê Đại Dương và đã đi cùng ông để gặp anh Đoàn Thạnh Nam trong các tháng trước. Nhìn bộ quần áo mới toanh ông mặc trên người cùng cái va ly để kề bên chân, hôm nay cũng là ngày ông rời trại. Tôi bước đến, bắt tay chúc mừng ông thượng lộ bình an. Ông cười thật tươi rồi nhỏ nhẹ nhắc lại chuyện cũ.

 

– Tui cảm ơn chú em tối hôm đó tiên đoán sẽ đậu thanh lọc. Chú em ở lại, mong sẽ may mắn qua được thanh lọc như tui, như anh Khảm… Chú em gặp được Đoàn Thạnh Nam là ổn rồi. OK. May lắm đó đa.

 

Tôi mỉm cười xác nhận với lời ông Thành. Thực sự thì chưa ổn đâu nhưng đúng là gặp may vì nhờ các điều anh Đoàn Thạnh Nam kể, tôi mới có thêm các hiểu biết về chuyện thanh lọc. Sau buổi gặp gỡ ở quán cà phê Gió với anh hôm đó, tuy chưa biết mình sẽ phải sắp xếp như thể nào trong bản hồ sơ lý lịch Cao Ủy của cá nhân mình, nhưng tôi biết vài người trong barrack có thể sẽ bị rớt thanh lọc khi nghe họ nói khai như thế này, thế kia… Biết vậy nhưng không thể góp ý hay nói cho họ lý do tại sao nên hay không nên khai như thế vì chắc gì người ta đã tin lời mình. Chưa ổn là vì vẫn không biết phải khai thế nào trong bản lý lịch cũng như khi gặp mặt luật sư Cao Ủy để cầm chắc sẽ lấy được vé đậu. Hôm nay là lần chót gặp ông Thành nên tôi định sẽ trò chuyện thêm thì một giọng đàn bà chen vào:

 

– Anh ơi! Xe tải sắp đến rồi… Em buồn lắm… buồn lắm.

 

Tôi ngước ngang nhìn, một phụ nữ trạc tuổi với chị Phượng trong tay cầm chiếc khăn nhỏ chậm lên mắt… tiến đến sát bên ông Thành. Chị nhìn tôi, gật đầu chào rồi quay qua ông Thành trong tiếng sụt sùi. Tôi bỏ hai người họ, lách qua đám đông để về lại chỗ cũ của cả nhóm. Khu vực này bây giờ thật đông người trong tiếng cười nói, gọi nhau í ới và cả tiếng khóc… như một cái chợ lộ thiên. Có những cặp nam nữ tự nhiên ôm ấp, tay trong tay với nhau bất kể đang hiện diện trước bao cặp mắt của người khác. Phút cuối gặp nhau ở đây, còn gì để họ phải ngại ngùng, phải sợ sệt. Tôi đi qua người này, người kia và nghe tiếng gọi tên mình. Quay mặt nhìn, tôi thấy Yến đứng chung với anh chị  Khảm-Phượng cạnh bên cổng gỗ nhỏ tam quan dẫn thẳng vào chùa Kim Quang. Tôi bước lại gần, định cất lời hỏi vì không thấy Đỉnh và cô Bẩy đâu thì vội im bặt khi nhìn thấy những con mắt sũng nước của anh chị Khảm-Phượng. Giờ biệt ly của họ sắp đến rồi khi một nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại cầm chiếc loa tay chạy bằng pin nói lớn:

 

– Đồng bào có tên trong danh sách chuyến định cư Hoa Kỳ sáng nay chú ý, chú ý… Xe tải của phòng An ninh P3V sắp sửa đến đón đồng bào ra cầu tàu trong chốc lát. Yêu cầu đồng bào tập trung trước phòng khám IOM ngay. Xin tập trung chờ sẵn sàng… sẵn sàng.

 

Tiếng ồn ào từ đám đông nổi lên chung với một đoạn nhạc quen thuộc tai tôi đã từng nghe trong ngày đầu tiên khi cả nhóm theo chân anh chị Khảm-Phượng đi vào Galang 2 của buổi đầu mới nhập trại. Đoạn nhạc mà anh Khảm từng nói mỗi lần trong trại có chuyến định cư thì thể nào phòng thông tin sẽ phát thanh cho thuyền nhân nghe như một lời chúc mừng. Những đoạn nhạc mới ngày nào anh Khảm ao ước sẽ được nghe cho riêng đời mình thì giờ đây, đang nhẹ nhàng, chầm chậm trôi trong tiếng loa. When will I see you again… When will we share precious moments… Will I have to wait forever or will I have to suffer and cry the whole night through… Are we in love or just friends… Is this my beginning or is this the end… Ca sĩ Thomas Andres đã thay cho anh chị Khảm-Phượng cũng như những người sắp rời trại khác để phả trong làn gió các lời nhạc dịu dàng, êm ả, nhắn nhủ với nhau. Ta đã yêu hay chỉ là bạn… Là lần đầu hay lần cuối… Biết bao giờ mình sẽ gặp lại…

 

Lời nhạc thật buồn trong cảnh chia tay hôm nay. Tiếng loa trong tay nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại lại cất lên, nhắc nhở người định cư tập trung ngay tại khu vực càng làm cho những người sắp sửa rời trại hối hả trao đổi với thân thuộc mình bằng lời nói, bằng tiếng khóc cùng các giọt nước mắt như thể họ sẽ không còn kịp thời gian, cơ hội ở bên nhau nữa. Không đường ray song hành, không các toa xe lửa cùng tiếng còi tàu thúc giục hành khách nhưng rõ ràng, tôi đang đứng ở một sân ga với cảnh biệt ly người đi, kẻ ở lại. Cảnh biệt ly ai cũng biết rồi ra ở phương trời xa nào đó, mấy khi họ sẽ gặp cố nhân… thêm lần nữa trong đời và thời gian sẽ xóa nhòa tất cả.

 

Tôi nhìn anh chị Khảm-Phượng như nhắc nhở cho hai người biết khi có tiếng chiếc xe tải chạy đến gần. Đám nhân viên An ninh P3V cùng police địa phương túa ra ổn định trật tự để chiếc xe tải dễ dàng chạy vào đúng vị trí đón khách. Giờ chia tay đến rồi, hai người họ chỉ còn khóc với nhau thay cho lời tiễn biệt. Yến nhìn tôi trong đôi mắt đỏ hoe, ràn rụa lệ như thể sắp sửa bước lên chiếc xe tải để rời trại, bỏ tôi ở lại một mình. Tôi đến bên nàng, nói đùa:

 

– Làm gì khóc dữ vậy… Người ta đi định cư còn chưa bằng em kìa? Thằng Đỉnh, cô Bẩy trông thấy lại cười cho đấy.

 

Yến dễ khóc thật. Tôi nghĩ vậy nhưng chợt nhớ có lần anh Khảm đã nói những người khóc ngay được trước các nghịch cảnh của người khác, lòng họ rất hiền vì có tâm hồn. Anh Khảm đã từng bảo Yến là người có tâm hồn và tôi may mắn đã gặp. Tôi từng thắc mắc, muốn anh Khảm giải thích người có  tâm hồn trong câu anh nói trước đây khi đã khen về Yến ” Đàn bà, con gái dù người xinh đẹp đến đâu mà không có tâm hồn thì cũng là hạng bỏ đi” mà rồi do bận rộn công việc nên đã quên. Phải chăng người có tâm hồn là người có lòng mẫn cảm với cái đau, nỗi buồn của tha nhân tương tự bản thân mình như Yến bây giờ. Có thể lắm.

 

Chợt có người lay nhẹ vào tay tôi, ngoảnh lại nhìn thì ra là thằng Đỉnh. Tôi cất giọng hỏi:

 

– Ê! Mày đâu nãy giờ vậy Đỉnh? Cô Bẩy nữa?

 

– Nhỏ Bẩy nói đi đến tiệm gặp con Đào rồi anh. Em nãy giờ ra ngồi ở quán cà phê gần miếu ba cô kia kìa. Đỉnh lấy tay chỉ về dãy quán nước ở xa xa ngay cạnh gốc cây cổ thụ to lớn.

 

Đám nhân viên phòng An ninh P3V cùng police địa phương phối hợp với các nhân viên trật tự của ban Đại diện trại bắt đầu gọi tên từng người định cư để lên chiếc xe tải. Nhìn những người mắt mũi đỏ hoe trong tiếng khóc đang theo chân nhau bước chân lên cầu thang của chiếc xe, Đỉnh buột miệng cười, nói nhỏ với tôi:

 

– Coi… nước mắt nước mũi tùm lum vậy chứ sang được bên đó rồi thì ba bẩy hai mươi mốt ngày họ sẽ quăng cục lơ tây ngay thôi. Mấy người không khóc lóc, mếu máo… có khi lại chung tình với nhau đó anh Vũ.

 

– Sao mày nói vậy mà nghe được… Làm như đi guốc trong bụng họ. Hay ha! Thấy anh Khảm, chị Phượng kia kìa… Không lẽ! Tôi đáp lời.

 

– Anh không nghe câu người ta nói Galang Tình Xù à! Rồi anh xem họ nha.

 

Tôi nhìn quanh với những người sắp sửa rời trại. Cũng có những người thật bình thản dù phút giây hiện diện ở trại với họ chỉ tính trong vài phút đồng hồ nữa là cùng. Đám trẻ choai choai minor nam-nữ đứng bên nhau cười đùa trong giờ lên đường như chưa hề biết đến nỗi buồn của cảnh chia tay. Cũng có người vẻ bề ngoài thật bình thản như thể bỏ nơi này để đến một chốn khác như trong chuyến lữ hành du lịch dù trong lòng họ, thực không biết rõ đang vui hay buồn.  Không giống như các chuyến hồi hương về quê nhà, thuyền nhân sẽ được theo nhau ra tận cầu tàu trong phút tiễn biệt. Các chuyến định cư đến đệ tam quốc gia thì phòng An ninh P3V ấn định chỗ chia tay chỉ ở trước phòng IOM thôi. Xe tải đã gần đầy người đứng chen chúc bên nhau trong thùng. Tôi bước vội đến cạnh chiếc xe tải khi thấy anh Khảm giơ tay vẫy gọi đến. Thấy tôi đến gần rồi, anh Khảm nói vọng xuống:

 

– Vũ với Yến thỉnh thoảng có rảnh việc nhớ ghé thăm Phượng thay cho anh nha. Chuyện thanh lọc, các em phải khéo léo khai báo với Cao Ủy… Anh chúc tất cả gặp may mắn. Có nhắn gì thêm với gia đình em không? Sang bên Mỹ anh sẽ viết thư về quê nhà… Nói dùm cho.

 

Mấy ngày trước, dùng máy chữ của phòng Dịch thuật, tôi đã đánh một bức thư ngắn gửi cho mẹ cùng các em gái bên quê nhà biết thêm về cuộc sống chung ở trại tị nạn Galang hiện thời mà không đả động gì về việc Cao Ủy đang thanh lọc thuyền nhân. Thư đó cũng kèm theo một tấm hình chụp tôi đứng trước cửa phòng làm việc dưới gốc cây chuối kiểng khổng lồ có các tàu lá to rẽ ra hai bên thân như một cái quạt nan khổng lồ. Tối hôm qua, cầm lá thư không dán, tôi đến chỗ anh chị Khảm-Phượng và trao tận tay, nhờ anh gửi dùm khi sang được bên Hoa Kỳ. Không biết chuyện gửi thư ở các trại tị nạn người Việt bên các nước Mã Lai, Thái, Phi hay Hồng Kông ra sao nhưng ở đảo tị nạn Galang, phòng An ninh P3V không cho phép thuyền nhân gửi thư trực tiếp từ trại về thẳng Việt Nam. Muốn gửi thư về quê nhà, thuyền nhân trong trại phải gửi cho thân nhân hay người quen biết ở nước thứ ba nào đó để rồi họ sẽ chuyển tiếp gửi dùm sau. Nghe anh Khảm nói vậy, tôi khẽ lắc đầu. Được một lát, anh Khảm chồm người ra khỏi thùng xe, dặn nhỏ từng lời bên tai:

 

– Sau này nếu có gặp chị Hoa cùng mấy con anh… Hãy dấu kín chuyện anh và Phượng ở đây nha Vũ… Anh xin em.

 

Tôi nhìn lên khuôn mặt của anh Khảm. Đôi mắt anh sắc nét không một chút lệ, mọng đỏ của người vừa mới khóc xong. Thay vào đó, mặt anh bây giờ đầy vẻ rắn rỏi, cương nghị như sẵn sàng một thân một mình bước vào cuộc đời mới ở nơi xa lạ sắp đến với nhiều bất trắc đang chờ trước mắt. Vậy là anh cũng biết sợ vợ anh bên quê nhà hay được chuyện vụng trộm ở trại. Sợ có nghĩa anh Khảm vẫn thương mà thương thì phải có trách nhiệm với gia đình. Tôi gật đầu với lời anh yêu cầu cũng như xác nhận: ” Đỉnh ơi, mày nói không sai.

 

Anh Khảm lên đường đi Mỹ làm cá nhân tôi mất hẳn một người anh, người bạn thân thiết nhất tại trại. Điều đó khiến tôi buồn vì ở Galang chỉ có anh là người sống chung cùng một khu phố bên quê nhà. Thêm vào đó, khi còn ở đây, anh thường nói cho nhóm chúng tôi biết các mẩu tin rất hay do anh sưu tầm được từ đám bạn cùng binh chủng Không quân và từ ông Bửu kể. Ông Bửu là trưởng phòng Dịch thuật nơi tôi làm việc nhưng còn là một thông dịch viên cho các luật sư Cao Ủy và sĩ quan bộ Nội vụ Indo khi dự các buổi phỏng vấn thuyền nhân. Chính vậy nên ông biết rất nhiều chuyện ở Galang mà hầu như không bao giờ ông nói cho đám nhân viên thiện nguyện chúng tôi  biết. Luật sư Cao Ủy, nhân viên bộ Nội vụ Indo trò chuyện với nhau về các tình tiết, hồ sơ của thuyền nhân như: “… Các chữ ký trong giấy tờ bên Việt Nam luôn luôn phải đè lên con dấu… Tất cả các loại giấy thả tù, ra trại, tịch thu tài sản của công an Việt Nam cấp phát đều là loại giấy chất lượng xấu, có mầu vàng… Giấy học trò, giấy caro bên Việt Nam sản xuất đều khác hẳn về màu sắc, kích cỡ, mực in của bất kỳ loại giấy tương tự ở các nước khác trên thế giới… Quản giáo coi trại giam tù không có quyền xét trả tự do sớm trước thời hạn cho tù nhân dù người đó có lập công, lao động vượt mức ấn định nhưng quản giáo có thể đì đến chết bất cứ tù nhân nào đó bằng cách buộc phải lao động nặng, bỏ đói hoặc biệt giam dài hạn… Công an Việt Nam có thể dùng bất kỳ quyển vở học sinh hoặc tập giấy nhỏ nào đó để làm sổ trình diện hàng ngày cho các người vừa được tha tù mà họ thấy cần phải theo dõi…”, mà ông nghe lỏm được tưởng vụn vặn, tầm thường nhưng lại giúp cho thuyền nhân trong trại cảnh giác về lời khai của mình trong buổi ngồi phỏng vấn với các luật sư Cao Ủy cùng nhân viên bộ Nội vu Indo. Ông Bửu chỉ kể các chuyện ông nghe được đó cho các người bạn thân trong trại như anh Khảm thôi. Hồi đầu, tôi đã từng nghĩ anh Khảm là thổ công của trại tị nạn Galang vì chuyện anh nói rất lạ nhưng sau mới rõ tất cả đều từ ông Bửu và từ đám bạn cùng binh chủng Không quân mà ra. Đỉnh, cô Bẩy và Yến thì mất đi người thầy dạy đàm thoại Anh ngữ tận tâm. Còn chị Phượng thì thôi khỏi nói, chắc chắn là người buồn lòng nhất. Yến trong các lúc rảnh tìm gặp chị Phượng thì khi về gặp tôi, nàng thuật lại:

 

– Chị nhắc thầy Khảm rồi khóc làm em cũng phải khóc theo. Em rủ chị đi vào Galang 2 chơi hay ra bãi biển ngày Chủ Nhật tắm để khuây khỏa mà chị chưa trả lời. Có lúc đang nói chuyện với em mà chị Phương ngơ ngơ ngác ngác như người mất hồn. Thầy Khảm mới rời trại gần hai tuần mà em trông chị thấy tội.

 

Sau ngày anh Khảm rời trại thì phòng định cư lại lên list cho các chuyến đi Úc, Âu Châu và rồi liên tiếp là hai chuyến đi Hoa Kỳ nữa. Hầu như thuyền nhân trong trại tị nạn Galang khi đậu thanh lọc đều chọn định cư ở Mỹ là chính nhưng cũng có người lại thích đi Úc thay vì Hoa Kỳ, CANADA hoặc các quốc gia ở Âu Châu. ” Úc coi vậy mà dễ làm ăn. Đất họ rộng, người lại thưa nên phúc lợi xã hội chắc chắn sẽ cao hơn so với các nước Mỹ, CANADA đã đông người thì chớ lại còn rất lạnh vào mùa đông. An sinh xã hội của mấy nước Bắc Âu như Na Uy, Thụy Điển… cũng được nhưng phải cái lạnh mùa đông còn ghê hơn ở Mỹ và CANADA nữa. Mình người Việt chịu gì cho thấu “. Họ kháo chuyện với nhau. Những chuyến đi định cư ở đệ tam quốc gia đến tới tấp làm phấn khích lẫn cả hồi hộp cho những thuyền nhân chưa tới phiên thanh lọc như người trong đoàn ghe CL 135 chúng tôi. Tất nhiên, nó cũng khoét thêm sâu vết thương lòng của những người đã bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc. Người bị rớt thì làm sao đồng cảm được với cái hân hoan của người thi đỗ. Thói đời là vậy. Những lá thư của thân nhân bên Malaysia, Phi Luật Tân, Hồng Kông gửi sang cũng như tin tức ở các tờ báo Việt Ngữ hải ngoại, tin trên đài truyền thông quốc tế như BBC, VOA… loan tải về tình hình trong các trại tị nạn người Việt càng làm cho thuyền nhân trong trại thêm lo. Trước giờ thuyền nhân trong trại nghe tin một cựu đại úy Pháo binh tên Tuyến bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc thì đã sợ nhưng tự trấn an bằng lý do vì ông này được chính quyền thâu nhận làm công nhân sau khi ra được tha tù nên coi như cuộc sống của cá nhân ông ta đã an lành như mọi người khác trong xã hội. Ông không còn bị Việt Cộng ngược đãi nữa nên Cao Ủy mới đánh rớt thanh lọc. Giờ đây lại có thêm tin bên đảo tị nạn Pulau Bidong của Malaysia, ở đó Cao Ủy đã đánh rớt thuyền nhân là một sĩ quan cấp trung tá tên Nguyễn Văn Trọng đã làm ai nấy trong trại bàng hoàng. Rồi chúng tôi lại biết thêm tin bên Phi Luật Tân đã có vụ Cao Ủy tước quyền tị nạn một loạt 32 sĩ quan thuộc quân đội miền Nam VNCH mà trong số họ có những người từng là trung tá, thiếu tá… và bị Việt Cộng bỏ tù cải tạo nhiều năm trước khi xuống ghe bỏ nước vượt biên. Không lẽ các tù nhân học tập cải tạo này khi được thả đã được Việt Cộng kiếm cho việc làm như kiểu ông Tuyến, cựu đại úy pháo binh? Bên Hongkong còn ghê hơn, chính quyền ở đó chi ra cả hàng triệu đô la thuê máy bay vận tải Hercules C130 để chở người bị cưỡng bức hồi hương về lại nước Việt cho nhanh chóng càng làm thuyền nhân trại tị nạn Galang chúng tôi mất ăn mất ngủ. Đã vậy, như một hổ trợ cho việc khuyến khích thêm người tự nguyện hồi hương, Cao Ủy trong trại tị nạn Galang lại cho dán ở cạnh các tấm bảng báo list thư của phòng TMS, PKL của Galang 1 và Galang 2 những tấm hình hai mầu đen trắng mà họ in lại từ báo chí ngoại quốc về người hồi hương Việt. Những tấm ảnh ghi cảnh người trở về tự nguyện đã hội nhập ngay với đời sống bên quê nhà. Cảnh sống chen chúc chật chội của thuyền nhân trong hàng rào kẽm gai ở các trại tị nạn trông không khác gì trại tù. Cảnh police của các nước như Mayalaysia, Thái Lan, Hongkong đã dùng vũ lực để cưỡng bức thuyền nhân phải hồi hương bắt buộc. Những tấm ảnh như quảng cáo như đe dọa về số phận thuyền nhân cho các chọn lựa tương lai. Trong các tấm ảnh đó là một em bé tị nạn Việt Nam ngơ ngác đi giữa hai hàng nam nữ police Hongkong đang giăng tay nhau làm thành hàng rào người khi em bị cưỡng bức về quê nhà đã làm bất cứ thuyền nhân nào trong chúng tôi khi xem thấy cũng phải bần thần hết cả hồn vì lo vì buồn cho số phận.

hinhtinan_zpsce9a2319

Thuyền nhân tị nạn chúng tôi đang lạc lối trong lần mò tìm tương lai dù đã đến được bên cạnh bờ tự do.

 

Yến báo tin vợ chồng chủ gia căn nhà tên Sang đã thông báo cho nàng hay về chuyến định cư của gia đình họ. Như đã kể ở phần trên, xuất thân là công an Việt Cộng, hai vợ chồng chủ gia này bỏ nước vượt biên đến được trại tị nạn Galang và sau đó khi qua được cuộc thanh lọc thì họ muốn được định cư tại Úc nhưng lại phải đi Mỹ. Dù đã được anh Khảm trấn an, bảo đảm sang sống bên Mỹ thì rồi sẽ chẳng có ai buồn để ý đến ai nhưng họ vẫn sợ. Muốn định cư ở Úc, họ thổ lộ với Yến vì sẽ không xa Việt Nam và nhất là sống ở đó, một quốc gia rộng bao la thì sẽ có thể tiếp tục nghề làm rẫy hoặc chăn nuôi gia súc. Yến kể:

 

– Chị ấy bảo với em là ở Úc có chính sách giúp đỡ người định cư nhiều hơn các nước khác. Người dân muốn lập trang trại chăn nuôi hay trồng trọt thì chính phủ cho mượn tiền dễ lắm. Chị còn nói có nhiều người Việt mình sang đó chẳng lâu đã giàu sụ, thấy mà ham. Sống ở Mỹ cũng không tốt bằng. Anh chồng thì bảo do hoàn cảnh bị kẹt vì phòng định cư triệt buộc bắt đi Mỹ thì phải chịu và còn khuyên em sau này nếu có đậu thanh lọc thì bằng mọi giá khi định cư phải là Úc.

 

Lời khuyên của vợ chồng tay Sang bằng thừa. Yến có anh trai ruột sống ở Úc đã làm giấy bảo lãnh cho từ lâu rồi thì nàng còn đi nước nào khác nữa. Tôi nghĩ thầm.

 

Ngày vợ chồng anh chị Sang này lên đường rời trại, tôi bận đi làm nên để mình Yến theo chân những người khác đi tiễn cho phải phép. Xế chiều hôm đó, tôi và nàng đến tiếp thu căn nhà bé xíu trong niềm vui vì từ giờ phút này hai đứa tôi đã có một chỗ trú chân riêng. Một tổ ấm thật sự. Đến trước căn nhà vẫn còn đóng kín, Yến lấy chìa ra mở khóa cánh cổng thấp để cả hai đứa tôi cùng vào. Dưới giàn dưa Tây đã cỗi chẳng còn hoa trái gì ngoài cái bóng mát, Yến mở tiếp ổ khóa cánh cửa nhà. Đồ đạc bên trong như bàn, ghế, tủ, giường… vẫn còn nguyên chỗ cũ. Ít giấy tờ, sách vở tạp nhạp nằm vương vãi đây đó và cả trên nền nhà. Trước đó, Yến đã báo với hai vợ chồng chủ gia cứ đem cho người khác mùng, mền, quần áo cá nhân bỏ lại của họ. Yến không bao giờ mặc y trang cũng như dùng vật dụng riêng tư của người khác. Tôi và nàng đi xuống phần sau căn nhà. Chén bát, cái bếp dầu nấu ăn cùng hai cái chậu nhựa được xếp gọn trong một góc gần chỗ tắm giặt. Yến mở chốt gài của cánh cửa gian phòng, cười vui:

 

– Từ nay mình sẽ khỏi phải lo vụ nước nôi nấu ăn tắm giặt rồi. Sáng nay em ra coi lại cái giếng thấy nước nhiều hơn trước và vẫn trong vắt anh à.

 

Tôi theo chân nàng bước hẳn ra ngoài sân. Nhìn vào con heo đựng nước mưa còn khá đầy và cái thùng múc nằm trên sàn xi măng sát cạnh miệng giếng, thầm nghĩ sẽ không phải cảnh mỗi buổi sáng trên vai quẳng đôi thùng gánh nước từ dưới suối về lại barrack nữa. Yến mua căn nhà này cũng vì nó có cái giếng riêng đầy nước rất trong. Tôi đảo mắt nhìn các bụi xả, vạt rau thơm ở cuối vườn và nói với nàng:

 

– Mình phải dọn lại cho gọn bên trong nhà. Ngoài vườn có thể anh sẽ trồng thêm ít rau muống, rau cải hay mướp, bầu… gì gì đó cho vui.

 

Chợt có tiếng của Yến kêu khẽ và nàng lấy tay chỉ về một hướng của cái vườn. Tôi bước đến nhìn và nhận ra các gốc mía sắc cạnh của vết dao chém vát và gần đó là các lỗ lởm chởm cùng những thân khoai mì rũ lá nằm vương vãi kề bên trên mặt đất. Bụi mía thân tím thẫm mọc xum xuê cùng luống khoai mì cao xanh ngày trước nay đã biến mất. Yến bước vội một mình đến gần cánh cửa sổ cạnh căn buồng ngủ. Thấy cây đu đủ thân cằn giờ chỉ còn vài trái nhỏ xíu non xanh, nàng lẩm bẩm:

 

– Sáng nay trước khi ra khỏi nhà em thấy bụi mía, luống khoai mì và cây đu đủ vẫn còn nguyên… Sao bây giờ lại vậy? Kỳ quá! Có ai đó đã lén vào nhà mình rồi anh ơi!

 

Tôi nhìn kỹ các dấu vết còn mới nguyên. Chắc chắn có ai đó vừa vào cái vườn nhà này trước cả hai đứa tôi. Nhập nha rồi! Tôi nghĩ ngay trong đầu nhưng ở chỗ nào? Kia! Nguyên một vạt hàng rào ở cuối vườn đổ rạp nằm chỏng chơ trên mặt đất. Tôi lấy tay chỉ cho Yến thấy và nói:

 

– Chủ vắng nhà, gà vọc niêu tôm… Vậy là món bánh tầm coi như xong ha em!

 

Mấy hôm trước, Yến bảo khi nào làm chủ căn nhà này thì nàng sẽ nhổ luống khoai mì để lấy củ bào nát làm món bánh tầm ngào dừa nạo cùng đậu lạc rang để hai đứa tôi ăn cho vui. Còn mía. Nàng sẽ tước vỏ, chẻ nhỏ từng đốt để làm món mía hấp hơi nóng. Nghe tôi nói vậy, Yến thì thào:

 

– Không biết người nào làm nữa. Có lấy trộm của người ta thì cũng để lại một ít chứ. Nhổ sạch, bẻ sạch không còn một cái gì. Quá tệ.

 

Tôi kéo tay Yến quay trở vào căn nhà thầm nghĩ vụ trộm phải xẩy ra ngay sau khi vợ chồng chủ gia cùng người tiễn chân vừa rời khỏi căn nhà. Ít nhất cũng phải hai người thì mới làm gọn được bụi mía, luống khoai mì cùng vặt sạch quả ở cây đu đủ. Người có máu tham khi gặp dịp thuận tiện sẽ thành kẻ trộm dễ dàng và cũng vì căn nhà này ở nơi vắng, ít người qua lại. Dẫu sao cũng là điều để tôi và Yến biết mà cảnh giác khi sống ở đây. Hôm trao tiền cho gia chủ xong thì hai đứa tôi cũng đã báo cho ban Đại diện zone 2 biết về việc mua lại căn nhà này. Kể từ hôm nay, hai đứa tôi đã chính thức là cư dân của zone 2 và sau khi dọn tư trang về đây ở thì sẽ không còn dính líu gì đến căn phòng chung trong bararck lá ở zone 4 nữa. Căn phòng đó sẽ chỉ còn Đỉnh và cô Bẩy ở thôi. Không biết ở các trại tị nạn bên các nước khác ra sao chứ ở đảo tị nạn Galang, thuyền nhân muốn cất chỗ cư trú riêng thì chỉ việc ghi tên báo cho phòng An ninh P3V biết vị trí rồi đóng 15.000 Rupiad lệ phí nhà là xong. Ai có sẵn tiền, cứ ra shop của người bản xứ mua vật dụng như cây, giấy dầu, tấm nhựa plastic… về dựng nhà. Không tiền thì bỏ công đi vào rừng chặt cây đốn lá về làm cũng xong. Lệ phí 15.000 Rupiad đó chỉ bằng giá vé của một chuyến đi sang đảo Tanjung Pinang và rất rẻ so với tiền bỏ ra để mua các vật dụng làm nhà. Nhà của thuyền nhân nằm san sát gần nhau ở các zone đều không được phòng An ninh P3V ghi số vì thực tế như đã kể, trong trại có nhân viên thư tín thật nhưng không bao giờ họ đi đến từng chỗ ở của thuyền nhân để trao thư. Thay vào đó, thuyền nhân phải tự mình nghe loa phóng thanh vào buổi sáng để biết mình có thư hay không mà đến phòng phát thư nhận lấy. Thuyền nhân muốn ở trong Galang 2 hay Galang 1, nhà riêng, barrack hay trong các cơ sở tôn giáo như chùa, thánh thất Cao Đài… thì phòng An ninh P3V chẳng quan tâm. Họ chỉ cần thuyền nhân phải tuân giữ nội quy và lắng nghe thông báo trên loa phóng thanh để biết các sự vụ trong trại. Muốn cư trú chỗ nào, trước tiên thuyền nhân đó phải có sự đồng ý của chủ gia căn nhà, phòng riêng hoặc barrack trưởng rồi sau đó chỉ báo lại cho ban Đại diện zone nơi đó biết là được. Trại tị nạn không có vụ hộ khẩu thường trú giống kiểu làm quản lý người dân như của Việt Cộng bên quê nhà.

 

Tối nay do chị Phượng đến nhà chỉ thêm cho Yến cách thức đo, cắt vải của vài kiểu y phục từ lớp may nàng đang theo học ở trường huấn nghệ Consortium Galang 1 nên tôi bỏ đi ra ngoài phố. Phố đây là các con đường chính của Galang 1 với các tiệm bán hàng, quán cà phê, quán ăn… trải dài theo các barrack của khu vực zone 3 và zone 4.  Tôi xuống barrack lá cũ kiếm thằng Đỉnh cho có bạn mà không gặp nên lòng vòng đây đó trong chốc lát thì chân lại đến gần quán cà phê Dạ Lý của bác sĩ Luân. ” Mình thử vào đây, may ra sẽ gặp được nó”, tôi nghĩ vậy và bước vào. Quán cà phê này nay đã đổi chủ ngay sau khi bác sĩ Luân rời trại đi định cư bên Pháp. Bước vào sân quán tối lờ mờ, đứng yên tại chỗ tôi dõi mắt nhìn từng chiếc bàn mong sẽ gặp được thằng Đỉnh. Quán vẫn khung cảnh như ngày trước nhưng tấp nập đông khách hơn vì Galang đã thêm người nhập trại từ bên Malaysia chuyển qua. Không thấy Đỉnh có ở đây nên tôi lách người qua các chiếc bàn để vào thẳng vào căn phòng bên trong. Một bóng người tiến đến trước mặt tôi kèm theo câu nói chung với tiếng nhạc loa xập xình nho nhỏ:

 

– Anh Vũ! Nay mới thấy lại anh… Sao không đến quán tui cho vui. Uống đâu cũng vậy thôi… Tui mong anh mà… Đi có một mình hả? Lại đây, lại đây… tui giới thiệu anh với các bạn của tui. Cũng chẳng xa lạ gì với anh đâu.

 

Thì ra là anh Nhân chủ quán. Anh ta xoa hai tay, miệng cười rất tươi như đang hội ngộ với một cố nhân rất thân làm tôi thoáng ngạc nhiên. Tôi theo chân anh đến một chiếc bàn nằm sát bên quầy tính tiền nơi có hai người khách đang ngồi từ trước. Kéo chiếc ghế cho tôi ngồi xong xuôi anh Nhân búng tay kêu cái choóc và gọi:

 

– Bạch Liên! Bạch Liên! Ra đây em… Anh Vũ ghé quán mình nè.

 

Một thiếu nữ từ bên trong quầy tính tiến bước lại ngay bên cái bàn rồi nàng mỉm cười, khẽ cúi đầu chào tôi cùng lí nhí:

 

– Chào anh Vũ! Nay em mới biết mặt… Anh dùng thức gì, nói để em làm cho.

 

Việc xẩy đến thật bất ngờ làm tôi lúng túng trong giây lát rồi mới bật miệng trả lời cô gái có tên Bạch Liên đó. Nàng khẽ gật đầu chào tôi thêm lần nữa trước khi quay gót bỏ đi. Tôi nhìn vào các người ngồi tại bàn và thật bất ngờ vì trong số họ có ông Thái, khách đi cùng ghe vượt biên với tôi. Người còn lại thấy quen mặt nhưng tôi nhớ không ra. Vừa cúi đầu chào hai người họ thì anh Phước cất tiếng với tôi:

 

– Anh Thái thì tui biết anh Vũ không lạ lẫm gì. Còn đây là anh Tân… đi cùng một chuyến với anh từ cầu tàu bên Tanjung Pinang sang đảo tị nạn Galang này đó. Anh nhận ra chưa? Người quen cả phải không?

 

Thì ra anh Tân là người của chiếc ghe VT 233 trong nhóm uống trà Blao ướp hoa lài thơm lừng mà tài công Thuận gọi tôi xuống ngồi chung bọn trong cái đêm trước ngày cùng nhập trại tị nạn Galang đây. Tôi đã nhớ ra. Còn anh Thái! Người đi cùng với tôi trong nhóm vào rừng chặt cây về chữa lại cái hàng rào hồi mới đến ở trại lính trong rừng bên Malaysia đây mà. Hồi đó, nghĩ ông ta lớn tuổi nên khi trò chuyện với nhau, tôi đã xưng hô chú-cháu nhưng rồi ông gạt đi, bảo cứ gọi bằng anh-em cho thân mật. Thực ra khi nhìn mặt, rõ ràng ông Thái lớn tuổi hơn cả anh Khảm nên tôi vẫn thấy áy náy, vô phép khi trò chuyện cứ gọi ông bằng anh xưng em. Vì thế tôi cũng tránh mặt ít tiếp xúc riêng với ông. Còn anh Tân thì chắc chắn hơn tôi vài tuổi vì trong buổi khai lý lịch tại cầu tàu Galang hôm nhập trại, anh đã nói là quân nhân miền Nam VNCH gần ba năm trước ngày đứt phim. Tôi gật đầu và đáp lời anh Nhân:

 

– Đúng vậy anh Nhân! Anh Thái, anh Tân đây với tôi thì đã biết mặt nhau từ trước. Còn anh, bác sĩ Luân đã giới thiệu cho tôi hôm đó rồi. Tôi rất vui được làm bạn với các anh. Chúng ta đã biết nhau thì sẽ biết nhau hơn.

 

Cả ba người họ mở miệng cười như một xác nhận. Nhìn mặt anh Phước, tôi nghĩ cũng trạc đồng tuổi với tôi và nhớ lại vẻ thân thiện của anh mới vừa rồi nên buông lời thăm dò:

 

– Chỉ gặp nhau thoáng chốc trong buổi tối hôm đó mà không ngờ anh vẫn nhớ cái tên tôi. Anh giỏi thật!

 

– Mấy anh là khách nên không biết điều này… Chủ quán luôn luôn nhớ mặt từng khách hàng của mình dù người ấy đến quán chỉ một lần. Anh Nhân mỉm cười sau câu nói rồi anh ngập ngừng: ” Sau đêm hôm đó thì tui nghĩ nhóm của anh sẽ đến tiếp trong các ngày kế mà chờ mãi không thấy… Cho đến hôm nay mới gặp lại anh nên tui vui vì quán chắc chắn có thêm khách “.

 

Cô gái tên Bạch Liên mang đến cho tôi tách cà phê sữa nóng xong cũng kéo một chiếc ghế ngồi cạnh bên anh Nhân. Thấy vậy anh Nhân mỉm cười, nói:

 

– Bạch Liên là bạn thân của tui ở đây… xin giới thiệu với anh Vũ.

 

Thêm lần nữa tôi gật đầu chào cô gái tên Bạch Liên. Nàng cũng cúi đầu chào lại tôi. Khuôn mặt của Bạch Liên hình trái soan thật đẹp, mái tóc nàng xoăn thành từng lọn nhỏ buông nhẹ trên bờ vai trần của bộ đồ lụa có cổ áo rộng đính một cánh hoa hồng bằng vải đỏ. Tuổi Bạch Liên chắc cũng cỡ cô Bẩy, cô Đào là cùng và như vậy rất trẻ nếu so đôi với anh chàng Nhân.

 

– Nghe các anh đây bảo là anh Vũ dịch các giấy tờ của thuyền nhân nên em muốn anh giúp… Bạch Liên nói nho nhỏ với tôi.

 

Tôi gật đầu với Bạch Liên. Chút tài lẻ dịch thuật ở trại tị nạn kể cũng vui vì nhiều người khi gặp tôi, đã nhờ tôi giúp tương tự như điều nàng cần bây giờ. Chợt ông Thái cười cười với tôi và nói:

 

– Cậu Vũ! Tháng tới ghe mình sẽ lập lý lịch Cao Ủy rồi, cậu biết không? Lão Thăng barrack trưởng thông báo mà tôi lo không biết sẽ phải khai như thể nào đây? Cậu làm ở phòng Dịch thuật, ra vào gặp mặt luật sư Cao Ủy, nhân viên Indo chắc biết nhiều chiêu… vui lòng cố vấn cho anh em ở đây nha.

 

Nghe ông lời ông Thái nói, tôi than thầm vì bản thân mình đang lo chưa biết sẽ phải khai ra sao trong bản lý lịch Cao Ủy sắp tới. Tôi đáp lời ông:

 

– Anh Thái nói vậy làm em chẳng biết trả lời sao nữa. Tiếng là nhân viên phòng Dịch thuật nhưng làm sao em quen được với những người đó. Em không biết gì đâu, nói thật với anh đấy.

 

Tôi nhủ trong lòng ” Ốc còn mang chưa nổi mình ốc thì làm sao dám đèo thêm rêu cho nặng cái thân ” nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt khẩn khoản, thoáng vẻ buồn của ông Thái vì việc nhờ cậy đã bị từ chối, tôi mềm mỏng:

 

– Anh Thái là cựu quân nhân chế độ cũ thì thử hỏi thăm mấy ông bạn lính cùng binh chủng ở trại này xem sao. Với lại em nghĩ anh chắc bị Việt Cộng bỏ tù cải tạo mà…

 

Ông Thái đột ngột phát tay lên như một cử chỉ phản bác làm tôi ngưng bặt. Trong chúng tôi không ai nói với ai một lời. Anh Tân khẽ cầm ly cà phê đưa lên miệng còn anh Nhân thì rít từng hơi thuốc lá rồi ngửa mặt nhả khói lên hướng trần nhà. Bạch Liên đứng lên, lách người bước ra khi có tiếng khách ngoài sân quán gọi tính tiền nước. Chút im lặng qua đi khi ông Thái chậm rãi:

 

– Tôi lý lịch là cựu quân nhân miền Nam VNCH thật nhưng không thể có sao khai vậy vì xét thấy sẽ chẳng có lợi gì cho mình.

 

Tôi tròn xoe mắt nhìn ông Thái. Vậy là sao! Trong im lặng như cần thận trọng, cân nhắc việc sẽ nói, ông Thái chậm rãi từng đoạn vừa đủ cho ba người trong bàn chúng tôi nghe:

 

– Là cựu quân nhân miền Nam VNCH thật nhưng tôi không bị Việt Cộng bỏ tù cải tạo như các anh em binh sĩ khác. Trước đó, tôi còn bị chính quyền của chế độ VNCH mình bắt bỏ tù trong quân lao Gò Vấp cả hàng năm trời rồi mới bị buộc giải ngũ.

 

Ông Thái kể nguyên là một hạ sĩ quan thuộc Tổng cục Tiếp Vận quân đội miền Nam VNCH và đơn vị nơi ông làm việc là kho đạn Thành Tuy Hạ. Vũ khí cùng đạn dược từ máy bay hay từ các tàu vận tải viễn duyên do quân đội Hoa Kỳ chở đến miền Nam VN sẽ được các đoàn xe convoy GMC chuyển tiếp đến kho đạn Thành Tuy Hạ này. Đơn vị ông nhận hàng, xếp lưu kho và sẽ cấp phát theo yêu cầu của từng quân khu, mặt trận hay chiến trường theo yêu cầu từ bộ Tổng tham mưu quân đội. Trong một phiên trực, khi vào kiểm tra một nhà kho chứa đạn pháo, ông thấy một kíp nổ nằm trên mặt đất. Cúi xuống nhặt nó lên thì phát nổ và làm mất ngón tay trỏ của bàn tay phải ông. Điều trị ở Tổng y viện Cộng Hòa xong rồi trở về đơn vị cũ, an ninh quân đội đã đến tận nơi và bắt giam ông để điều tra vì họ nghi ngờ kíp nổ đó do ông mang vào nhằm kích nổ tan tành kho đạn pháo. An ninh quân đội cho ông là nội tuyến của Việt Cộng. Ông Thái cố chứng minh bản thân vì sự an toàn của kho đạn, sinh mạng của cá nhân ông cùng các binh sĩ khác nên ông mới nhặt nó đế nộp cho cấp chỉ huy biết. Kíp mìn đó nổ là chuyện ông không ngờ đến và còn làm ông bị thương nữa. Sau đó thì an ninh quân đội lại cho ông cố tình hủy hoại thân thể và họ tống ông vào quân lao Gò Vấp. Hết thời hạn tù ở quân lao thì ông bị buộc giải ngũ khỏi quân đội. Làm một thường dân, cũng như các quân nhân giải ngũ khác, ông Thái cố sức xin các việc ở các nha-sở hành chánh dân sự nhưng đều bị bác đơn. Ông phải làm nhiều nghề khác nhau để mưu sinh và khi Việt Cộng chiếm được toàn miền Nam VNCH thì ông cũng chẳng bị tù cải tạo một ngày nào.

 

Tôi tủm tỉm cười vì nghĩ mình giống như một gã công an chấp pháp Việt Cộng khi hỏi ông:

 

– Anh Thái có bị Việt Cộng bỏ tù vượt biên lần nào không? Đánh bao nhiêu chuyến rồi và làm việc gì trước khi ra đi? Nói cho em biết.

 

– Chuyến đi vừa qua là lần đầu tiên và duy nhất của tôi đó cậu Vũ. Việt Cộng vào Sài Gòn rồi thì tôi làm đủ nghề từ bán hàng chợ trời ở Tân Bình đến cả Huỳnh Thúc Kháng… Sau đó lại đạp xích lô và cuối cùng là bán sách báo chế độ cũ ở phố Calmet. Cậu Vũ thấy tôi nên khai như thể nào? Cố vấn cho tôi nha.

 

Ông Thái đáp lời rồi xòe bàn tay phải ra cho ba người chúng tôi xem. Tôi nhìn bàn tay bốn ngón của ông khép vào nhau trông thật bình thường và khó nhận ra  nếu không nhìn kỹ. Tôi định hỏi ông Thái dám can đảm… nói láo không khi nghĩ nếu đã từng bán chợ trời cùng sách báo chế độ cũ thì ông ta có thể vịn vào đó để khai lý lịch Cao Ủy là bản thân bị Việt Cộng bắt giam nhiều lần đến phải vượt biên. Nghĩ vậy nhưng thấy thật vô lễ, thất thố với cá nhân ông nên tôi thôi. Thực sự nếu ông Thái có dựng chuyện lý lịch cũng không ổn. Thông thường khi nói láo nếu bị hỏi vặn mãi vặn mãi thì rồi cùng đường và luật sư Cao Ủy cũng như nhân viên bộ Nội vụ Indo sẽ dễ dàng nhận ra lý lịch thật của ông. Chợt tôi nhớ ra một điều mà anh Đoàn Thạnh Nam đã nói Cao Ủy biết lý lịch thuyền nhân ở trại khai giống như nhau và giấy tờ chứng minh lại thật giả lẫn lộn nên lắc đầu, trả lời ông:

 

– Anh Thái này! Em giữ chuyện anh vừa kể trong bụng và sẽ không nói lại cho người khác biết. Việc anh hỏi thì thú thật em chẳng biết trả lời anh thế nào. Em hiện thời còn bối rối chưa biết lý lịch của riêng em sẽ phải dàn dựng ra sao thì nói gì dám cố vấn cho anh.

 

Nói xong câu, tôi ngồi im thầm nghĩ lúc này đây luật sư Cao Ủy ở bất cứ trại tị nạn người Việt nào cũng đã đánh rớt rất nhiều sĩ quan miền Nam VNCH dù người đó bị Việt Cộng bỏ tù cải tạo nhiều năm. Thêm vào đó, gia đình cùng bản thân họ phải dở sống dở chết đến phải vượt biên thì rõ ràng, đây là sự cố tình mà Cao Ủy muốn làm nản lòng thuyền nhân cũng như gửi một tín hiệu xấu đến với những người còn ở bên quê nhà đang định bỏ nước ra đi.

 

Tiếng ông Thái cất lên đã cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi.

 

– Tôi biết cậu từ hồi còn bên Mã Lai mà… Cũng như với anh Nhân và anh Tân đây… Có tin tưởng nhau thì mình mới kể lý lịch cho nghe chứ.

 

Đúng như lời ông Thái vừa nói. Ở trại tị nạn Galang trong thời giai đoạn này vì phải đối phó với việc thanh lọc của luật sư Cao Ủy cùng nhân viên bộ Nội vụ Indo nên hầu như ai cũng dấu kín lý lịch của bản thân mình vì sợ người khác biết được sẽ… bắt chước. Từ các buổi Cao Ủy công bố kết quả thanh lọc, người trong trại nhận thấy có là thành phần chống đối Việt Cộng trong các tổ chức phục quốc bên quê nhà, cựu tù học tập cải tạo lâu năm, bộ đội đào ngũ từ chiến trường bên Kampuchia về, giáo lý viên của các tôn giáo Thiên Chúa, Cao Đài, Hòa Hảo… đều cầm vé đậu dễ dàng thì đã có người khai lý lịch tương tự. Bắt chước lý lịch người khác xong thuyền nhân còn thư về quê  nhà để nhờ thân nhân làm giả giấy tờ cần thiết gửi sang trại cho nữa. Nghe lời ông Thái vừa nói, tôi nhìn ông:

 

– Anh Thái giải ngũ khỏi quân đội khi nào?

 

– Năm 1970. Ông trả lời ngay rồi tâm sự: ” Năm đó tôi mới hơn hai mươi nhăm tuổi… còn quá trẻ vậy mà phải rời bỏ quân đội. Có những bạn đồng ngũ nghĩ tôi đã bày ra vụ kíp nổ để được giải ngũ. Về đời sống dân sự, tôi đi xin việc ở các nha sở  hành chánh như bộ Thông tin, Sài Gòn Thủy Cục, nha Quan thuế… mà không được nên đành phải làm linh tinh bên ngoài “. Ông Thái yên lặng rồi sau đó tự vấn cùng trả lời: ” Mình là Việt Cộng à? Không đời nào. Tôi người làng Hải Hậu thuộc giáo phận Bùi Chu, dân đạo gốc mà. Bố tôi là lính dù thuộc quân đội Liên Hiệp Pháp chẳng may phải nằm xuống trong trận đánh ở Ninh Bình. Đến năm di cư, tôi theo mẹ và anh trai cùng đứa em gái vào Nam khi mới tuổi thiếu niên. Đến lúc trưởng thành thì đăng lính tình nguyện chứ không tìm cách trốn tránh gì sất. Tôi thích đời lính mà phần lớn cũng từ hình ảnh của bố tôi ra. Tòng sự ở kho đạn là do sắp xếp ở quân trường khi mãn khóa huấn luyện chứ thực lòng mình lúc nào cũng sẵn sàng ra chiến trường. Tôi đâu ngán… tuổi trẻ mà “.

 

Tôi nhớ hồi còn ở trại lính bên rừng Mã Lai, hàng đêm trước giờ ngủ trong căn nhà lều, ông Thái lúc nào cũng lầm thầm nguyện kinh rồi mới ngả lưng.Tôi quay lại câu chuyện.

 

– Cái kíp nổ anh kể đó… Thực sự nó ở đâu mà có?

 

– Nào ai biết! Ông Thái lắc đầu rồi tiếp: ” An ninh quân đội truy vấn tôi câu này biết bao nhiêu lần… nay có thêm cậu. Bị thương mất một phần thân thể, bị giải ngũ oan uổng… đã làm tôi buồn rồi phải buồn hơn khi vì việc này mà chuyện lập gia đình riêng của tôi không thành. Khi chưa bị thương, mẹ tôi đã làm mối cho một cô gái rồi và dự tính cuối năm đó sẽ ăn hỏi. Gia đình cô gái cũng dân Bắc di cư 54 cả.  Ra khỏi quân lao Gò Vấp, tôi buồn chuyện mình nên chẳng thiết cứ ậm ừ bảo mẹ hãy từ từ, thư thả đã. Đến khi mình chịu thì gia đình cô gái lại trù trừ, xin hoãn. Thấy thái độ gia đình cô gái nên tôi bảo mẹ tôi thôi. Họ muốn vậy thì mình rút luôn, không đám này sẽ có đám khác, cần gì vội. Nói vậy nhưng không dễ. Mẹ tôi lo mấy chỗ nữa mà không đâu vào đâu, làm như có cái huông theo nhau từ chuyện đầu. Ở đời, có khi tai họa bất ngờ ập đến với mình mà mình chẳng tính trước được… như vụ thanh lọc của Cao Ủy dành cho dân vượt biên Việt Nam bây giờ. Anh trai tôi do sức khỏe kém được hoãn dịch từ lâu. Anh lấy vợ rồi vì gia đình bên đó có nghề làm giò chả nên khi thấy tôi giải ngũ, bảo đi bỏ mối cho bạn hàng. Tôi làm được thời gian ngắn thì ngưng cũng bởi gia đình nghe xì xào nói hết anh nay lại đến em đều phải nhờ vả. Tôi cứ linh tinh nay nghề này mai lại nghề khác mà lòng lúc nào cũng buồn. Đang thời chiến, giặc Cộng quấy phá khắp chỗ mà mình thanh niên thích đời quân nhân thì lại bị giải ngũ ngang xương. Thời gian ở quân lao tôi đã biết có các sĩ quan quân phạm bị bắt vì nội tuyến cho Việt Cộng. Có người buôn bán quân trang hoặc chở cả xe thuốc tây vào mật khu nữa. Ngoài đời, dân biểu Hạ Nghị Viện còn hoạt động cho Việt Cộng như mấy tay Trần Ngọc Châu, Hoàng Hồ kìa. “.

 

– Sao người ta biết mấy vụ đó, ai phát giác ra?  Anh Phước chủ quán hỏi.

 

– Do CIA Mỹ báo thì chính quyền mình mới biết còn không thì chưa chắc. Đây chính là bọn đâm sau lưng chiến sĩ, ăn cơm Quốc gia nhưng thờ ma Cộng sản. Cả mấy năm trời tôi lẳng lặng đi làm kiếm sống và không bạn bè gì với ai hết. Mẹ tôi biết tâm tư nên cứ theo an ủi, bảo biết đâu lại may vì nếu còn ở lính, cũng có khi phải chết. Cứ nhìn nghĩa trang quân đội bên ven đường ở Gò Vấp kìa. Bia mộ trắng xóa nối tiếp nhau mọc như nấm. Tôi hiểu đó là tấm lòng người mẹ lo cho sinh mệnh con trai mình nhưng buồn thì vẫn buồn. Khi Việt Cộng chiếm được miền Nam, tôi vui không phải vì chung niềm hoan hỉ thắng trận của họ mà nghĩ sau cùng, chiến tranh đã dứt. Ai mất thì đã mất, còn từ nay, cảnh người chết vì đạn vì bom sẽ không còn nữa. Đất nước hòa bình… cứ yên ổn mà sống, lập lại cuộc đời trong xã hội mới.

 

Lời ông Thái kể đã kéo tôi trở về khung cảnh năm xưa khi mệt mỏi lê thân về nhà từ bến cảng Bạch Đằng sau khi hơn nửa ngày trời tìm mọi cách để thoát ra khỏi nước nhưng bất thành. Đường phố Sài Gòn tràn ngập bộ đội Việt Cộng miền Bắc chung với đoàn xe quân sự Molotova, tank T 54, xe kéo pháo Phòng không… trong ánh mắt bàng hoàng, chua xót lẫn lo buồn của người dân đô thị vì Việt Cộng vào tới thủ đô miền Nam VNCH thật rồi. Không ai nghĩ phe miền Nam VNCH lại thua trận quá nhanh, kể cả các cán bộ Việt Cộng.

 

Ông Thái rít nhẹ hơi thuốc lá, kể tiếp:

 

– Đất nước an lành, hết nỗi sợ đối mặt với thần chết trong giao tranh thì lại gặp những cảnh khổ mới, không ngờ được. Nhà nước Việt Cộng quản lý gần hết cả hàng hóa làm cái gì cũng thành khan hiếm. Thêm chuyện cán bộ miền Bắc được đưa vào Nam sống đã tranh luôn nghề nghiệp của dân chế độ cũ nên số người hành nghề tự do như tôi tăng lên. Ai cũng cố kiếm việc gì làm để cầm cự qua ngày mà đôi lúc không có nên đành phải bán dần mòn vật dụng trong nhà. Đi buôn đi bán thì gặp các trạm kiểm soát kinh tế chận ở các giao lộ. Ký thịt heo, cân gạo… là các vật thực bình thường thời trước nay thành hàng quốc cấm. Đám công an cùng nhân viên quản lý thị trường chận xe, khám xét mà thấy có thì sẽ tịch thu ngay bất kể chủ nhân khóc lóc, van tha. Sống được hôm nay trước đã, ngày mai sẽ tính sau cho ngày mai. Mấy cái chuyện như nhà nước Việt Cộng bỏ tù cải tạo, đày dân đi vùng kinh tế mới rồi đánh tư sản cùng truy đuổi người gốc Ba Tàu… ở thời kỳ thê thảm đó thì các cậu đã biết cả, tôi chẳng cần kể lại. Gia đình anh tôi cũng vậy. Thịt heo mua không ra thì làm gì có cái để thành giò chả. Cảnh nhà lao đao lắm. Anh em tôi ra chợ trời mưu sinh bằng cách mua đi bán lại kiếm chút đồng lời. Chợ trời cũng bị dẹp bỏ thì phải thuê xích lô đạp để rước khách lòng vòng. Không việc nào giống việc nào. Chưa bao giờ xã hội miền Nam VNCH bị cảnh sống như vậy. May cái, ông anh tôi có bạn quen bán sách báo cũ ở con phố Calmet xuất cảnh đi Pháp thì sang lại cho cái sập hàng ở đấy. Tôi ra phụ trông hàng và thời gian rảnh rỗi nhiều nên tôi mới để ý đến sách báo chế độ cũ. Sách báo cũ nhiều quyển có giá rất cao vì hiếm mà người mua lại hầu như từ miền Bắc vào lùng. Nói giá bao nhiêu họ cũng gật rồi còn đặt mua hàng mới thêm nữa. Thoạt đầu, nhìn bộ dạng thì anh em tôi cũng đoán khách là cán bộ nên cũng sợ bị chính quyền Việt Cộng gài cho có bằng cớ mà bắt. Phố Calmet này khi trước đã có vụ công an đến tận sạp của một chủ sách tên Bùi Đình Hòa bắt rồi tống giam vào Chí Hòa nên anh em tôi cũng phải dò xét. Sau thấy yên ổn, khách lại ở xa… cả nhiều tháng mới có dịp ghé đến nên anh em tôi phải trữ sách để dành riêng biệt. Khi thành bạn rồi thì khách mới cho biết là cán bộ văn hóa cần sách thời miền Nam VNCH để nghiên cứu. Có lẽ vậy mà phố sách báo cũ này được chính quyền Việt Cộng tạm thời để yên. Nhưng như mọi thứ hàng hóa có cầu mà không nguồn cung cấp, sách báo chế độ cũ trở nên khan hiếm kiếm không ra thì vừa lúc mấy người khách cũ vào và cho biết tin nhà nước sẽ dẹp bỏ con phố này. Nhìn lại bản thân thấy mình sắp sửa bước vào tuổi già, tài sản cá nhân không có chi đáng giá thì tôi sẽ làm việc gì mưu sinh trong mai hậu. Chưa biết sẽ định làm gì thì anh tôi kiếm được mối vượt biên. Mẹ tôi lúc đó đã cao tuổi, bị bệnh lâu ngày nên sức bà cũng yếu. Là con trai kề cận gần bên phụng dưỡng nên khi anh tôi hỏi mà mình phân vân, không quyết. Nhưng rồi chuyện vượt biên đến tai mẹ tôi và bà dục nên nhận lời ngay khi nói: ” Con đi thoát thì mới có cơ giúp cho mẹ cùng anh em trong nhà” . Nghe vậy, tôi mới xuống ghe để rồi sang được tới đây thì vướng vụ thanh lọc. Cậu Vũ bảo tôi sẽ phải khai như thể nào trong bản lý lịch Cao Ủy sắp tới đây? “.

 

Từ hồi gặp nhau ở bên Mã Lai, tôi thấy ông Thái hạn chế trong giao tiếp và ít  bắt chuyện với bất cứ người nào chung chuyến ghe. Nhớ lời anh Khảm từng bảo: ” Khi thấy người ít nói, thường không biết gì thật nhưng cũng có thể lại là tay tổ, sở học bao la… chớ khinh thường “. Có thời gian khá dài ngồi sạp bán sách báo chế độ cũ thì chắc ông này chẳng phải tay vừa. Chuyện ông vừa kể như một giải tỏa tâm tình riêng đã dấu kín lâu nay và phải thật lòng, mới thổ lộ cho tôi biết. Tôi trân trọng tấm chân tình của ông nhưng chuyện ông nhờ thì không thể giúp được. Thoáng chút suy nghĩ, tôi đáp:

 

– Anh Thái ơi! Thật sự em chẳng biết gì nhiều đâu mà dám bảo anh.

 

Nói ra điều đó nhưng khi nhìn mắt ông Thái, thấy vẻ khẩn khoản của người đã tin cậy mình sẽ nhận lời, tôi phân vân chưa biết tính sao thì anh chàng Tân cắt ngang:

 

– Không phải đến ngày 30 tháng 4 thì mới thấy phe miền Nam VNCH mình thua mà tôi đã thấy Việt Cộng sẽ thắng từ sau trận chiến Phước Long lận. Tôi có dự trận đánh đó nè… rồi bị Việt Cộng bắt sống và trên đường đến trại giam mới thấy cái sẽ làm nên chiến thắng của bọn chúng.

 

Trận Phước Long xẩy ra vào cuối năm 1974, một cuộc giao tranh chớp nhoáng chỉ mấy ngày để, lần đầu tiên chính quyền miền Nam VNCH mất nguyên một tỉnh vào tay phe Việt Cộng. Ký ức tôi nhớ lại hình ảnh trên màn ảnh truyền hình, báo chí… về các cuộc biểu tình khắp nơi trên toàn quốc để lên án sự vi phạm trắng trợn thỏa ước ngưng bắn từ Hiệp định Ba Lê mà phe Việt Cộng đã ký. Cũng từ việc chiếm được tỉnh Phước Long này, đám đầu lãnh Việt Cộng ở Hà Nội biết chắc chính phủ Hoa Kỳ sẽ không bao giờ can thiệp trở lại với miền Nam VNCH như trước. Nói trắng là họ sẽ bỏ rơi đồng minh, để tự chính quyền miền Nam VNCH xoay sở lấy.  Anh Tân kể tiếp:

 

– Tôi thuộc tiểu đoàn 2/7 của Sư đoàn 5 bộ binh. Khi Việt Cộng tấn công và chiếm được hai quận Đức Phong và Bố Đức của Phước Long trong ngày 14 tháng 12 thì hai ngày sau đơn vị tôi được trực thăng vận tăng phái đến chiếm lại được Bố Đức ngay. Bố Đức có vị trí nằm sát với biên giới Kamphuchia. Giải tỏa được Bố Đức rồi phe mình cũng không giữ được lâu vì hỏa lực kém cùng thiếu lực lượng tiếp viện mới nên chỉ sáu ngày sau thì quận đó bị Việt Cộng chiếm lại được. Tôi bị Việt Cộng bắt sống vì súng trên tay không còn viên đạn nào ở trận Bố Đức này. Trận Phước Long mình thua là việc đương nhiên vì tỉnh này đã bị Việt Cộng cô lập từ nhiều tháng trước và các tiếp tế đều phải thực hiện bằng phi cơ hoặc bằng các đoàn xe vận tải GMC convoy có bảo vệ hùng hậu đi kèm mở đường. Khi đánh vào tỉnh Phước Long, Việt Cộng huy động tới hai sư đoàn bộ đội chính quy miền Bắc rồi thêm các trung đoàn pháo, xe tăng hổ trợ… trong khi bên phe mình chỉ có gần mười tiểu đoàn Địa phương quân và Nghĩa quân thì làm sao cự lại. Tăng viện bên phe mình thì nhỏ giọt, chỉ có mỗi tiểu đoàn 2/7 bộ binh của đơn vị tôi cộng thêm mấy đại đội Trinh sát, Biệt cách dù 81 thì không thể lật được thế trận. Việt Cộng giải tôi chung trong nhóm tù binh khác băng qua biên giới Kampuchia rồi đi dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh lên hướng Bắc. Dọc đường đi, tôi đã thấy những đoàn xe tank T 54, xe kéo đại bác 122 ly, 130 ly của chúng chạy đầy trên đường nhưng ấn tượng làm cho tôi bàng hoàng nhất là những dàn hỏa tiễn SAM nằm dài theo thân xe quân sự được ẩn kín trong các tán cây rậm ven rừng. Bọn tù chúng tôi kháo nhau thứ SAM này ngoài miền Bắc khi lâm trận trong các lần bị không kích, phi cơ bay cao như B 52, nhanh như F 4 Phantom của không lực Mỹ mà còn bị nó bắn rớt thì chắc chắn, sẽ ăn gỏi dễ dàng các chiến đấu cơ F5, A 37 bé tí hon của phe mình. Mình gọi nó là hỏa tiễn SAM nhưng đám Việt Cộng lại đặt tên là S-75 Dvina và thế giới coi nó là vũ khí lợi hại nhất của khối Cộng Sản để chống lại phi cơ. Trước đó không quân miền Nam VNCH đã phải khốn đốn khi Việt Cộng sử dụng hỏa tiễn tầm nhiệt SA 7 nên khi nhìn thấy các đoàn xe kéo hỏa tiễn SAM vào tới gần Phước Long thì nhóm tù chúng tôi biết chiến thắng của bọn chúng đã gần kề. Đoàn xe quân sự của Việt Cộng đi khơi khơi trên đường như chỗ không người mà bọn chúng còn thiết kế cả một hệ thống ống dẫn nhiên liệu từ tuốt ngoài miền Bắc vào tận đây, cuối con đường Hồ Chí Minh mà không sợ bị đánh phá gì cả. Đến những trạm nghỉ, đám tù binh chúng tôi còn thấy những đoàn xe vận tải chở đầy đạn pháo, thực phẩm của Việt Cộng kìn kìn trên đường tiếp liệu tới các mặt trận ở Phước Long, ở Bình Tuy. Khi đó, nhìn lên trời cao qua tán lá cây rừng, chúng tôi không thấy bóng chiếc máy bay nào của mình cả. Nếu còn pháo đài bay chiến lược B 52 của Mỹ như khi xưa thì sẽ không có cảnh trước mắt này. Buồn vì là tù binh, thân không biết sống chết sẽ ra sao trong khi mắt thấy Việt Cộng đã dồi dào vũ khí mà vũ khí đó còn tối tân hơn bên phe mình.

 

– Đại bác bên phe mình chỉ vài loại cổ lỗ như 105 ly, 155 ly có từ thời Đệ Nhị Thế Chiến… sau này quân đội Mỹ rút lui mới để lại cho đại bác tự hành 175 ly nhưng cây 175 ly này so với khẩu pháo 130 ly của phía Việt Cộng thì thua xa. Ông Thái nói.

 

– Đúng vậy anh! Anh Tân gật đầu rồi tiếp lời: ” Mỗi viên đạn pháo 130 ly của Việt Cộng nặng gần 100 kg nên sức công phá khủng khiếp, không một công sự chiến đấu hay hầm bê tông cốt sắt nào có thể chịu nổi với nó. Trên đường bị giải tù, tôi còn thấy những cây súng cối khổng lồ 240 ly có cái mâm đế lớn hơn cả cái bàn tròn nhà hàng và chỉ di chuyển được bằng xe vận tải kéo… trong khi  bên phe mình chỉ vỏn vẹn có hai loại súng cối 60 ly và 81 ly mà thôi.

 

– Lần đó anh thấy nó bắt mình làm tù binh nhiều không? Trại giam nằm ở đâu? Anh có lần nào tiếp xúc với cán binh Việt Cộng miền Bắc không? Ông Thái hỏi tiếp.

 

– Nhiều lắm. Có cả những anh từng bị Việt Cộng bắt ở các mặt trận thời Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 rồi được trao trả tù binh theo Hiệp định Ba Lê 1973 mà nay lại bị bắt lần nữa. Bọn Việt Cộng chỉ đường cho đoàn tù binh chúng tôi hướng đi rồi để mình tự thân đến trại giam… Không ai trong chúng tôi dám bỏ trốn cả vì biết sẽ không thoát trong trùng trùng điệp điệp cây rừng mà chỗ nào cũng có mặt bọn nó. Đến trại giam rồi khi tiếp xúc nhiều với bọn cán binh Việt Cộng miền Bắc thì tôi thấy tinh thần của họ đều cuồng tín, sẵn sàng húc đầu vào lửa đạn… cần phải quét sạch binh lính miền Nam VNCH mình.

 

– Tuyên truyền mà… chính trị viên bảo đi là đi, bảo đánh là đánh thôi… Không tuân lệnh là phản động ngay. Ông Thái xác nhận.

 

– Có anh trong trại giam chúng tôi nói tụi cán binh miền Bắc bị chính quyền Việt Cộng nhồi sọ lâu năm thành ra trên dưới một lòng tin vào lời nói của cấp trên như dân lành tin Sấm Trạng. Bởi vậy khi chúng quyết định làm cái gì thì sẽ dễ viên thành nhưng rủi chiến lược hay lý thuyết của chúng sai ngay từ đầu mà đám bên dưới cứ nhắm mắt tuân theo thì hậu quả rồi không biết thiệt hại sẽ ra sao. Anh Tân đáp chuyện.

 

Lời anh Tân làm tôi nhớ lại điều mà ông tiến sĩ Tôn đã kể trước đây trong một buổi tối gặp gỡ có cả anh chị Khảm-Phượng tại quán cà phê Đại Dương: ” Miền Nam VNCH bị mất vào tay phe Việt Cộng là vì bị chính quyền Mỹ bỏ rơi. Một hành động mà họ đã từng làm với phe Quốc Dân Đảng bên Trung Hoa trong cuộc chiến Quốc-Cộng cũng như với quân đội viễn chinh Liên Hiệp Pháp tại mặt trận Điện Biên Phủ trong năm 1954 “.

 

– Vậy ra anh bị tù từ trước ngày 30 tháng 4… Bao nhiêu lâu thì anh được họ trả tự do. Tôi nhìn anh Tân, hỏi:

 

– Cuối năm 1977. Tính ra là 2 năm 11 tháng 3 ngày. Không biết tần ấy ngày tù thì liệu mình có qua được thanh lọc không hả anh Vũ? Mình cũng đã làm mất cái giấy tha tù đó rồi. Thế mới chết…  Khai mà không giấy tờ chứng minh… Liệu có sao không anh?

 

Tôi im lặng trong chốc lát. Nhớ lúc mới gặp anh Đoàn Thạnh Nam trong tuần lễ vừa rồi khi anh có công việc đến phòng Dịch thuật nhờ giúp việc riêng. Anh đã nói thời gian bị Việt Cộng bỏ tù bao nhiêu lâu không phải là việc người khai cần phải lo. Cái lo là làm sao để luật sư Cao Ủy tin về câu chuyện đời mình đã sống ra sao, đã bị Việt Cộng đối xử như thể nào để đến nỗi, cá nhân đó phải làm ngay một chuyến vượt biên. Còn giấy tờ chứng minh, anh tiết lộ: ” Lúc trước, thấy đám luật sư còn tin vào các giấy tờ thì ngay tại trại này, người mình đã nghĩ cách làm giả cho thật giống vì thực tế thân nhân bên quê nhà cũng khó chạy vạy cho được. Biết giấy tờ bên Việt Nam toàn loại chất lượng xấu, có mầu vàng vàng thì người mình tìm loại giấy lót trong các thùng hàng hóa carton ở các shop vì rất giống. Giấy có rồi thì khéo cắt cho bằng khổ A 4 xong mới đem in Typo bằng mẫu là các tờ giấy sáp stencil. Cứ làm tờ bản mẫu như bên quê nhà trên giấy sáp stencil này xong thì gắn nó vào cái trục gỗ tròn rồi đem vỗ mực và sau đó lăn nó trên các tờ giấy A 4 đó là xong. Phông chữ thì may làm sao, văn phòng Hướng Đạo ở trại còn sót một máy đánh chữ Remington cũ có đủ các dấu huyền hỏi ngã nặng  cùng các con chữ đ ư ơ của Việt ngữ. Cần các chi tiết gì như tên tuổi… thì chỉ việc lấy bút điền vô “.

 

– Giấy thì vậy nhưng còn con dấu cùng mực đỏ nữa… Làm sao có được? Tôi hỏi.

 

– Lấy tờ giấy có in con dấu của trại giam hay con dấu hành chánh địa phương bên quê nhà mình cần copy rồi đáp tàu cao tốc sang Tanjung Pinang kiếm thợ khắc ở gần chợ là xong ngay. Khắc bằng máy kỹ thuật mới kiểu CNC thì chỉ một loáng là có con dấu giả nhưng lại xịn hơn dấu thật. Mực đỏ thì kiếm mua ở các shop bán hàng văn phòng phẩm, dễ ợt. Anh Đoàn Thạnh Nam trả lời.

 

Thật nghề chơi cũng lắm công phu nhưng anh Đoàn Thạnh Nam đã lưu ý khi dặn: ” Rồi ra luật sư Cao Ủy cùng nhân viên bộ Nội vụ Indo sẽ biết  cách thức thuyền nhân làm giấy tờ và con dấu giả. Cảnh sát bên Tanjung Pinang sớm muộn sẽ báo cáo cho phòng An ninh P3V ở trại tị nạn Galang biết về công việc riêng của thuyền nhân khi đáp tàu cao tốc sang đó. Tôi nghĩ sau này Cao ủy sẽ chẳng đòi thuyền nhân chưng giấy tờ gì nữa đâu. Ăn thua là phải khai làm sao để khi vào phòng vấn cho luật sư tin thì được. Có Tin nhau thì mới Biết cũng như có Biết nhau thì mới Tin “. Anh Đoàn Thạnh Nam còn nói cách thức tốt nhất để qua được cuộc thanh lọc trong giai đoạn này là làm sao để Cao Ủy phải chấp nhận cá nhân nào đó thành nhân viên của họ vì một công việc riêng cần kíp như trường hợp của anh Đoàn Thạnh Nam trong nhóm viết đơn kháng cáo cho thuyền nhân khi bị rớt thanh lọc hoặc là thông dịch viên Anh ngữ trong các buổi phỏng vấn. Cần người đó thì một vé tị nạn Cao Ủy cấp cho dễ dàng. Thực ra phòng Dịch thuật cũng đã có một dịp may như vậy từ Cao Ủy nhưng nhóm thiện nguyện viên chúng tôi lại chịu chết vì không thể. Ông Bửu kể khi thấy số lượng thuyền nhân trong trại đã hơn con số 20.000 người thì luật sư Cao Ủy trưởng Peter đã ngỏ ý tìm hai thuyền nhân biết sử dụng computer cho việc soạn thảo văn bản, làm các danh sách báo cáo hàng kỳ. ” Ông ta sẽ cho thanh lọc đặc biệt và ban quy chế tị nạn cho hai người đó ngay nếu như hội đủ yêu cầu việc Cao Ủy cần “, ông Bửu thuật lại. Không ai trong số nhân viên thiện nguyện của phòng Dịch thuật mà ngay tất cả thuyền nhân tại trại tị nạn Galang lại biết sử dụng computer, một phương tiện văn phòng quá mới với người Việt khi đó. Computer mới du nhập vào Việt Nam từ những năm 1989, 1990 thì lấy đâu ra giáo trình, trường lớp cũng như thầy dạy để người dân biết sử dụng thành thạo trước khi bước xuống ghe vượt biên. Cơ hội qua đi khi ông luật sư Cao Ủy trưởng Peter thuê hai người bản xứ từ Tanjung Pinang sang làm việc trong trại và phải trả lương hàng tuần.

 

Giờ đây, khi nghe anh Tân hỏi về tờ giấy tha cùng thời gian tù binh, tôi phân vân vì lời hứa sẽ giữ kín chuyện được nghe kể với anh Đoàn Thạnh Nam. Anh chàng Nhân đột ngột nói:

 

– Thấy hai cha này dồn dập hỏi chuyện thì tui nói ngay để anh yên tâm, tui thanh lọc xong lâu rồi, đang chờ Cao Ủy thông báo đây. Nếu anh cố vấn cho anh Thái, anh Tân để khai báo lý lịch… sao sao đó thì tiện thể, chỉ dẫn luôn cho cả Bạch Liên bạn tui nha.

 

Cả Bạch Liên nữa. Tôi quay qua anh Tân có chút bối rối vì vẫn chưa trả lời câu anh hỏi. Chợt nhớ đến một vụ giả mạo giấy tờ của thuyền nhân chiếc ghe VT 233 người trong ngày nhập trại ở ngoài cầu tàu Galang nên lảng chuyện:

 

– Ê! Cái ông đi cùng ghe với anh, đóng vai cựu quân nhân miền Nam VNCH khi đó giờ ra sao rồi?  Anh còn nhớ vụ của ông ta không?

 

– Ô! Cha nội khai thuộc binh chủng Phòng không-Không quân đó hả? Anh Tân hỏi lại.

 

– Đúng! Hôm đó tôi thấy ông ta bị nhân viên trật tự ban Đại diện trại lật tẩy rồi… mà có đúng là như vậy không? Tôi thắc mắc.

 

– Việt Cộng một trăm phần trăm. Không biết anh Vũ  biết chuyện này chưa? Năm ngoái có một thuyền nhân vào khu rừng đối diện với chùa Quan Âm hướng ra biển để kiếm cây về làm chòi riêng thì bắt gặp một đám người tụ họp trong rừng. Khi về, thuyền nhân đó đã báo cho trật tự ban Đại diện trại biết. Một số nhân viên thiện nguyện theo chỉ dẫn, mò vào đến nơi xem thì mới biết đám người ngồi thành vòng tròn đang nhậu nhẹt cho công việc gì đó. Xem lịch đúng là ngày 2 tháng 9. Thuyền nhân kể đám Việt Cộng bỏ nước vượt biên đến trại tị nạn rồi nhưng vẫn lén lút mừng lễ Quốc Khánh trong rừng là từ vụ này mà ra. Ban Đại diện người Việt của Galang 1 và Galang 2 đều có danh sách từng tên Việt Cộng vượt biên đang sống trong trại. Đám Việt Cộng từ bên quê nhà vượt biên đến đây bữa trước thì vài hôm sau họ đã nhận ra nhau ngay. Đủ mặt từ cựu bộ đội, công an Việt Cộng, trưởng-phó phòng cơ quan hành chánh mà cả công nhân lao động hợp tác từ mấy nước bên Đông Âu về. Đám người này trong trại có tên gọi chung là thuyền nhân Việt Cộng và hầu hết đều sống ở chòi. Khi ổn định rồi thì họ sinh hoạt chung thành nhóm riêng biệt ngay. Ông người Bắc hai nút mà anh hỏi đó, cũng có mặt trong nhóm Việt Cộng này.

 

Không biết cậu Dũng, cựu bộ đội của Trung đoàn Gia Định, đi cùng ghe CL 135 với tôi có trong đám thuyền nhân Việt Cộng này không?

 

Bạch Liên, bạn gái của anh Nhân vẫn thỉnh thoảng đảo qua đảo lại trong quán để tiếp khách rồi nàng lại quay trở vào ngồi ở cái quầy tính tiền. Lời anh Phước vừa nói làm tôi lo vì thực sự biết khả năng của mình. Ngay cả với Yến, dù biết ít nhiều lý lịch bản thân nàng mà tôi còn chưa nghĩ ra cách sẽ giúp như thế nào. Yến biết tôi lo cho nàng nên đã một hai lý lịch có sao thì sẽ khai như vậy. ” Em không nói khác được, nó ngượng miệng lắm “, nàng bảo. Tôi hiểu Yến, nàng hiền lành quá nên không thể gian trá được. Kẻ gian giảo sẽ rất khó để giữ sự thành thật tương tự như người ngay thẳng, sẽ bối rối khi nói ra lời trí trá. Luật sư Cao Ủy đều được huấn luyện các kỹ thuật phỏng vấn thuyền nhân trước khi nhận việc rồi với tiếp xúc từng sự vụ ở đây thì chắc chắn với kinh nghiệm riêng, họ sẽ dễ dàng nhận ra ai ngay ai gian liền. Yến từng thổ lộ với tôi:

 

– Em đã nói với anh rồi. Anh cứ lo cho lý lịch của cá nhân anh đi. Còn em, nếu rủi bị Cao Ủy đánh rớt thì em sẽ hồi hương ngay để chờ ngày đi sang bên Úc.

 

Cũng như thằng Đỉnh đã thủ sẵn giấy bảo lãnh từ cha mẹ sống bên Mỹ, tôi biết anh trai ruột của Yến đã làm xong các thủ tục bảo lãnh cho nàng từ lâu. Chính vì có giấy bảo lãnh nên Yến có gặp trục trặc trong thanh lọc thì sẽ về lại quê nhà để chờ đi sang Úc. Nàng còn tiết lộ: ” Cứ theo đợt thì không chừng giữa năm tới thì em sẽ được phỏng vần để đi Úc nếu như còn ở Việt Nam. Em chỉ đi Úc thôi, không nước nào khác “. Kể ra như vậy cũng ổn cho nàng nhưng với cá nhân tôi thì thực buồn vì nếu qua được thanh lọc, tôi sẽ chọn định cư ở Hoa Kỳ. Mình bên Hoa Kỳ và nếu Yến cứ khăng khăng ở Úc… rồi cuộc tình này sẽ ra sao? Có lúc tôi phân vân.

 

Nhẩm thấy thời gian gần đến ngày khai lý lịch, một buổi tối một thân một mình đến quán cà phê Dạ Lý, tôi quyết định kể lại cho các anh Thái và Tân  biết về các chuyện bản thân đã nghe được từ anh Đoàn Thạnh Nam. Những mẫu tin có thể nói được nhưng coi vậy, cũng cả gần hai tiếng đồng hồ mới dứt câu chuyện.

 

– Những gì em biết về thanh lọc, tối nay đã nói ra hết cả rồi. Cá nhân em nghĩ với anh Thái cũng như anh Tân đây thì sẽ tìm ra cách khai báo cho riêng mình. Hai anh có điểm lợi từng là quân nhân chế độ miền Nam VNCH nên trong bản khai lý lịch, chuyện bị Việt Cộng ngược đãi chắc chắn luật sư Cao Ủy dễ tin hơn bản thân em, một học sinh trung học trong thời điểm 1975.

 

Anh Nhân ngồi im chăm chú nghe từ lúc đầu, bây giờ mới cất giọng:

 

– Nghe anh nói các chuyện này làm tui suy nghĩ vì thấy mình đã quá hớ trong cuộc phỏng vấn vừa rồi. Không biết rồi kết quả của mình sẽ ra sao đây?

 

Anh kể bản thân đã từng đi tu trong dòng Chúa Cứu Thế gần xứ đạo Tân Định-Sài Gòn từ lúc còn nhỏ, khi Việt Cộng chiếm được miền Nam VNCH không lâu thì phải trở về gia đình vì nhà dòng bị áp lực buộc phải giải tán. Chủng sinh, cứ nhà ở đâu thì phải về đấy để làm dân thường. Anh thêm:

 

– Gia đình tui người miền Nam ở xứ đạo Rạch Gừa gần Bình Dương thuộc giáo phận Phú Cường. Các anh biết thời trước thì xứ đạo Công giáo nào cũng có việc cha quản nhiệm khuyến khích giáo dân gửi con vào chủng viện từ khi còn tuổi niên thiếu. Tui đi tu từ Tiểu chủng viện rồi lên được Đại chủng viện thì nhà dòng không còn. Về nhà cha mẹ một thời gian ở không, tui xin được việc làm trong một trại cưa gần ngã tư An Sương-Hóc Môn. Ở trại cưa, tui quen các bạn thợ rồi theo họ xuống tận Long Xuyên làm nghề đóng ghe-tàu cho dân buôn thương hồ. Chính nhờ cái nghề đóng ghe-tàu này đã giúp tui vượt biên đến được đây đó.

 

–  Rời khỏi nhà dòng rồi về nhà anh có tiếp tục vừa làm vừa tu như các chủng sinh khác không? Tôi hỏi anh Nhân khi nhớ đến một số thầy tu của các tôn giáo Công Giáo, Cao Đài, Phật… vừa đi làm các việc đời thường vừa cố giữ đời sống tu trì  tại địa phương nhưng anh ta lắc đầu:

 

– Anh nói tu kiểu đó là tu chui… một số anh em đồng lớp với tui vẫn tiếp tục nhưng bản thân mình lại không.

 

– Tại sao? Cứ êm ả thì biết đâu giờ này anh là cha cố coi xứ đạo rồi chứ đâu phải ngồi đây bán cà phê mà lo ngay ngáy kết quả thanh lọc.

 

Anh Tân cười, góp lời.

 

– Không tu chui nữa thì cậu rồi lập gia đình chứ? Và… kia kìa thì sao? Ông Thái khe khẽ hỏi anh Nhân khi đảo đôi mắt nhìn Bạch Liên, đang lúi húi ghi chép ở quầy tính tiền.

 

– Có tình cảm với cô này cô kia trong địa phương thật nhưng sau cùng cũng không đâu ra đâu. Tính ra, tui đã hỏng đường tu rồi đường trần cũng vụng. Bạch Liên, tui mới quen ở đây thôi. Anh Nhân ấp úng.

 

Rời khỏi dòng tu từ lâu nay lại kết bạn gái khi ở đây, chắc chắn anh Nhân đã không lên nhà thờ giúp việc nhà xứ như các thầy từng tu hành chui khác đang ở trại. Anh không thể! Đúng vậy. Chắp nối các mẫu chuyện thanh lọc tôi nghe được từ anh Đoàn Thạnh Nam kể, trường hợp của anh Nhân thật đáng lo. Nghĩ vậy nhưng còn phải chờ ngày anh đi nhận kết quả thì mới thật đích xác.

 

Gần đến ngày đoàn ghe làm lý lịch Cao Uy thì một buổi chiều chị Phượng đi cùng một phụ nữ khác đến tận căn chòi của hai đứa tôi để rủ Yến đi vào zone 1 gặp cụ Hoàng nhờ xem số. Cụ Hoàng như đã kể ở các đoạn truyện trước, anh Khảm biết được cụ Hoàng qua lá thư giới thiệu từ một người bạn ở bên Mỹ. Quen rồi dần dà thành người thân thuộc thì mới biết cụ Hoàng có nhiều biệt tài đáng nể như đoán trúng phóc vận hạn người nào đó bằng cách nhìn vào một nhánh lá nhỏ bẻ từ ngoài sân mang vào. Tôi đã có dịp may được biết tài cụ nhân trong một tối ghé quán cà phê Dạ Lý của bác sĩ Luân chung với anh Khảm. Hôm đó, cụ Hoàng đã cao hứng đọc vanh vách các câu phú đoán số tử vi làm ai có mặt đều thán phục thầm. Những câu phú trong Ma Y Thần Tướng, anh Khảm bảo vậy. Khi về barrack và kể lại cho Yến nghe thì nàng muốn có dịp gặp cụ Hoàng để xin được đoán số cho thỏa tính tò mò. Ý định của Yến là vậy nhưng liệu cụ Hoàng có bằng lòng tiếp hay lại không? Cứ theo như anh Khảm kể, cụ Hoàng là người rất khó bắt chuyện thì dễ gì ai nhờ vả được chuyện lý số. Nếu có anh Khảm đi cùng thì may ra. Tôi đã định nhờ anh Khảm dẫn Yến đến gặp cụ Hoàng một lần nhưng rồi vì bận bịu công việc riêng mà không thể. Giờ đây, thấy chị Phượng cùng người bạn đến tận chòi rủ thì Yến nhận lời ngay. Nghe tôi nói đi theo cùng trong nhóm, chị Phượng gật đầu đồng ý nhưng dặn:

 

– Vũ có đến thì cứ ở bên ngoài trước, đừng để cụ Hoàng biết. Khi nào chị bước ra sân vẫy tay, em mới vào được. Lộp chộp không khéo thì cả nhóm mình sẽ hỏng việc.

 

Là người thì hầu như ai cũng muốn biết về tương lai của cuộc đời mình và muốn được vậy, phải gặp cao nhân là người có tài đoán số. Thông thường, bậc cao nhân dấu kín khả năng thiên phú của mình đi. Thiên cơ bất khả lậu… không thể nói ra được, nhưng để người khác cậy nhờ mãi, họ cũng khó từ chối. Không biết khi còn ở đây, có lần nào anh Khảm đưa chị Phượng đến gặp cụ Hoàng chưa mà hôm nay lại thấy chị với một người bạn đến rủ Yến đi cùng. Tôi đã từng riêng một mình mình tìm đến nhà cụ nhưng không gặp may vì, hôm đó cụ Hoàng vắng nhà.

 

Nhóm bốn người chúng tôi theo chân nhau rời khỏi căn nhà để bước từng bước trên con đường đất nhỏ dẫn ra con lộ chính cách đó cả mấy trăm mét. Đất ở đảo Galang là đất sét đỏ nên mỗi khi trời vừa mưa xong thì hầu như con đường mòn nào ở đây cũng nhanh chóng thành bãi bùn mỏng và vì vậy, làm việc đi lại của thuyền nhân khó hơn do đất nhão bám chặt vào giầy dép. Để thuận tiện, thuyền nhân dùng các mảnh bê tông vỡ lấy ra từ các nền nhà hoang và đem lót chúng trên mặt đường. Cơn mưa to từ mấy hôm trước làm mặt đường vẫn lầy lội nên bốn người chúng tôi phải chật vật mới đi ra được con lộ chính. Ở đảo tị nạn này, cứ hết mưa thì lại nắng nóng nên khi chiều xuống, không khí dịu lại thì thuyền nhân đổ ra đường. Người thì trần xì xà lỏn tay cầm quần áo, khăn lau… đi về hướng có suối để kiếm nước tắm. Người thì áo quần bảnh bao, lững thững thả bộ hóng gió đây đó. Hàng quán hai bên vệ đường lác đác đã bắt đầu bày hàng ra để chuẩn bị cho buổi chiều tối kiếm thêm thu nhập. Mới chỉ gần hai năm trời tôi đến đây mà nay khung cảnh chung quanh các zone của Galang 1 đã thay đổi khác trước. Barrack lá được Cao Ủy cấp tốc cho dựng thêm lên ở dọc theo hai bên đường để có chỗ cho thuyền nhân ở. Ghe vượt biên đổ vào trại liên tục đến nỗi ngay lá dừa nước lợp mái barrack cũng không đủ nên nhà thầu Titan đành phải lấy các tấm plastic lớn thay thế. Các bãi đất hoang hôm nào, nay là những căn chòi mới của thuyền nhân trông không khác một xóm nhỏ của người tản cư sau một cuộc giao tranh nào đó. Thêm người nhập trại thì có thêm các quán cà phê mới mở cùng các tiệm tạp hóa nhỏ khác. Đặc biệt, một thuyền nhân đã bỏ tiền túi mua mấy chục chiếc xe đạp cũ từ bên đảo Tanjung Pinang về để cho thuê. Một việc kinh doanh chưa từng có ở trại tị nạn người Việt từ trước tới giờ.

 

Thuyền nhân nào cũng sợ bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc vì như vậy, người ấy sẽ phải kéo dài thêm thời gian tạm trú trong trại. Sợ, nhưng họ lại chuẩn bị cho mình một cuộc sống trong hoàn cảnh sẽ phải tạm dung lâu dài. Chợt tôi nhớ đến lời anh Đoàn Thạnh Nam trong một lần trò chuyện.

 

– Nếu như một thuyền nhân nào đó bị kẹt ở đây, chắc chắn người ấy sẽ khổ lắm vì ít nhất cũng mất cả 4 hoặc 5 năm trời thì mới may ra…

 

Chữ may ra mà anh Đoàn Thạnh Nam từng nói với tôi như vậy là được Cao Ủy giải quyết cho định cư ở nước thứ ba. Đây là hy vọng khi thuyền nhân quyết định ở lỳ lại trại. Anh tiếp: ” Quê nhà vẫn do bọn Cộng Sản cai trị thì cộng đồng quốc tế cũng phải có một giải pháp sau cùng nào đó cho thuyền nhân Việt chứ. Không lẽ họ cưỡng bức hồi hương hết tất cả “. Còn khổ lắm thì anh cho rồi ra thì phòng An ninh P3V sẽ làm các biện pháp o ép tại trại như không cho thuyền nhân buôn bán, trồng trọt và đánh cá ngoài biển nữa. Cũng có thể sẽ có hàng rào kẽm gai vây chung quanh các barrack y như cảnh ở các trại tị nạn bên Hồng Kông.

 

Chợt chị Phượng cắt ngang giòng suy nghĩ của tôi khi nói:

 

– Để chị giới thiệu với hai em… Đây là chị Tin… Chỉ ấy đi chung ghe với chị và anh Khảm. Còn đây là Vũ và Yến.

 

Yến bước chậm hẳn lại và nàng gật đầu cùng mỉm cười với chị Tin. Nhìn mặt chị phụ nữ, tôi thấy có vẻ trẻ tuổi hơn so với chị Phượng. Đi chung ghe với nhau nhưng sao trước giờ tôi và Yến không hề nghe anh Khảm hay chị Phượng nói gì về chị Tin này. Từ khi anh Khảm lên đường định cư, phải sống một mình nên chị Phượng có lúc rủ Yến đi chơi suốt cả buổi tối và có khi, còn giữ lại ngủ đêm trong căn buồng ở barrack nữa. ” Chị bảo chỉ còn có một mình buồn và sợ nên mới bảo em ở lại ” , Yến kể với tôi.

 

Tôi gật đầu chào chị phụ nữ thì chị Phượng ngập ngừng:

 

– Chị Tin cũng bị rớt rồi nên muốn nhờ ông cụ đoán tương lai xem có khá không. Mong sao hôm nay bọn mình sẽ gặp được ông cụ.

 

– Ta cứ thử đến xem! Nói thật lòng nếu chị không đến rủ thì chắc hai đứa em cũng chẳng đi đâu. Đường xá thấy mà nản. Tôi trả lời.

 

– Ừ. Ông cụ có tuổi mà khỏe chân thiệt. Không biết làm công việc gì mà cứ vắng nhà hoài. Chị cầu hôm nay bọn mình đến thì sẽ gặp được. Mình đi lẹ lẹ hơn đi mấy em.

 

Chúng tôi rảo chân nhanh hơn trên con lộ chính chung ý nghĩ phải nhanh chân thì sẽ gặp được cụ Hoàng. Có lần anh Khảm nói cụ Hoàng thường vắng nhà là để gặp gỡ, sinh hoạt với các đồng chí trong tổ chức của cụ. Tổ chức mà anh nói lần đó là lực lượng phục quốc bên quê nhà nhưng sau này thì anh bảo không phải khi nói:

 

– Việt Nam Quốc Dân Đảng đó em. Có dịp đến nhà cụ, em sẽ thấy trên bàn thờ lá cờ mầu đỏ chính giữa là ngôi sao mầu trắng nằm trong vòng tròn xanh dương. Ở trại Galang, mấy ông trong tổ chức khẩn khoản mời mà cụ Hoàng có chịu sống chung với ai đâu. Cụ ta thích sống thong dong một mình không dựa vào ai hết. Còn mấy cái chữ Tàu treo ở nhà cụ Hoàng nữa. Các chữ đó là Độc Lập-Tự Do-Hạnh Phúc đấy. Ông cụ bảo anh đó là tôn chỉ của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nghe thấy quen quá phải không Vũ. Bọn Việt Cộng nó cũng dùng các chữ này ở dưới cái tên nước từ hồi năm 45 cho tới tận bây giờ.

 

Đến được đầu zone 1 giáp với khu vực Galang 2, nhóm chúng tôi rẽ vào ngõ hẻm phía tay trái rồi theo con đường đất nhỏ dẫn thẳng hướng vào rừng. Lần tôi đến đây trong vài tháng trước thôi mà bây giờ, khung cảnh đã thay đổi khác. Những vạt rừng thưa hôm nào nay đã thành xóm nhà chòi chung với mầu xanh của các giàn bầu bí cùng luống rau quả y hệt cảnh ở vùng rừng cho dân đi kinh tế mới bên quê nhà.  Nhóm chúng tôi dừng lại nơi một căn chòi nhỏ, chỗ ở của cụ Hoàng là đây. Căn chòi có một cánh cổng nhỏ và đã được gài chốt chặt bằng một cái vòng sắt. Thất vọng rồi! Chúng tôi nhìn nhau và, ngần ngừ một chút, chị Phượng cất tiếng:

 

– Cụ ơi! Cụ Hoàng ơi! Thưa cụ! Có tụi cháu đến thăm cụ đây. Cụ Hoàng ơi! Cụ khỏe không? Cháu là Phượng bạn của anh Khảm đó.

 

Không một tiếng người trả lời. Tôi nhìn lại căn chòi. Cũng vẫn căn chòi như lần trước tôi đã đến đây, không chút thay đổi. Căn chòi của cụ Hoàng nó khác với những chòi nằm gần bên ở chỗ nhỏ tí xíu và hàng rào làm bằng cây rừng bao bọc chung quanh chỉ cách vách khoảng một vài thước. Đây chỉ là chỗ để cụ Hoàng trú ngụ vì chẳng hề có bất kỳ luống rau, cây gia vị như ớt, xả gì ngoài các bụi vạn thọ, hoa cúc ngày, dâm bụt, huệ tây… trồng gần cái bàn thiên bằng gỗ mỏng manh đứng ngay phía trước căn chòi. Chúng tôi lòng vòng chung quanh và gọi thêm, cầu may có cụ Hoàng ở bên trong căn chòi nhưng không một tiếng người trả lời. Chị Phượng lẩm bẩm:

 

– Khó gặp ông cụ này ghê. Chỉ tội cho cô Tin đi từ trong Galang 2 ra tận đây mà không được việc. Giờ mình tính sao?

 

Dọc theo con đường đất dẫn tuốt vào trong hướng rừng, chòi của thuyền nhân nằm nối tiếp nhau ở khoảng cách vài thước và kéo dài đến xa xa sát chân đồi. Ghe vượt biên liên tục đến trại thì chẳng mấy chốc, đảo Galang này sẽ không khác gì một vùng thôn quê nào đó ở bên quê nhà. Ngay trong zone 2 sau chỗ ở của tôi và Yến, thuyền nhân đã phá rừng dựng thêm các chòi mới. Ở các chòi này là chỗ thuyền nhân gói bánh ú bán buổi sáng hoặc nấu sữa đậu nành đem bỏ mối ở chợ và trong các barrack. Thuyền nhân cần chòi để có chỗ ở cùng làm hàng bán giúp cho đời sống thường nhật và có chòi là có giếng nước riêng, một việc không thể nếu tiếp tục trụ lại trong barrack chật chội. Cất chòi thì thuyền nhân phải chặt cây rừng. Hai lần tôi vào rừng để chặt cây về gia cố cái hàng rào của căn nhà mua lại thì mới thấy khó mà tìm được thân cây thẳng. Có đi kiếm cây, mới biết thuyền nhân còn trồng rau trái ở ngay cả những bãi đất trống giữa rừng nữa. Thực ra thì không phải thuyền nhân dám tự ý phá rừng để trồng rau mà chính là nhà thầu Titan của người địa phương gây ra. Như đã kể ở các đoạn trước, nhà thầu Titan nhận tiền của Cao Ủy để cất barrack cho thuyền nhân sống trong trại. Ngoại trừ lá dừa nước lợp mái từ nơi khác chở đến đảo còn tất cả cột kèo của bộ khung barrack thì họ đều dùng cây rừng. Nhân viên của nhà thầu Titan quần nát các khu rừng chung quanh trại để chặt cây. Họ chọn các thân cây rừng thẳng tắp to từ cỡ bắp chân, cườm tay cho đến nhỏ như chuôi dao để làm rui mè và các cây cột cái. Thuyền nhân mới, vào ở trong barrack mới xong cũng phải vô rừng chặt cây để chữa lại lô đất vừa được chia phần. Thuyền nhân muốn ra ở riêng, có giấy phép của phòng An ninh P3V cho cất chòi rồi thì gần như họ cũng vào rừng chặt cây. Tiệm tạp hóa của người địa phương cũng có bán các thanh gỗ thẳng từ trại cưa nhưng thuyền nhân chỉ mua chúng để làm tủ làm giường hoặc bàn ghế. Tóm lại, cần cây gỗ để làm chòi hoặc bất cứ việc gì thì thuyền nhân cứ vào thẳng rừng mà kiếm. Cả những bếp lửa của tiệm cà phê, lò bánh mì hay quán ăn trong trại cũng do nguồn củi đốn lấy từ rừng. Đảo tị nạn Galang mà không có rừng chung quanh các barrack thì thuyền nhân sẽ rất chật vật trong cuộc sống nếu như phải sống lâu hơn, một việc mà sau này ai cũng thấy khi Cao Ủy thiết lập xong các hàng rào kẽm gai có cổng sắt bao bọc, cách ly từng zone với nhau và không được vào rừng như trước nữa.

 

Có chòi thì có đất trồng rau quả và thuyền nhân ở chòi nhiều thì cũng có cái lợi vì nhờ vậy, rau trái đã rẻ hơn trước. Rau trái dư dả nên việc mang biếu cho người khác là chuyện thường. Ở đây cũng vậy. Từ ngoài đường lộ chính cho đến khu vực có căn chòi của cụ Hoàng, chòi và các mảnh vườn trồng rau quả đã thế chỗ cho các vạt rừng thưa. Xa xa, một vệt trắng của khói đang tan loãng vì gió chiều trên bờ dốc của ngọn đồi. Khói đó, chắc chắn từ vụn cây mà thuyền nhân ở đấy đã đốt khi dọn xong bãi đất trống cho vụ trồng rau quả sắp tới.

 

– Chắc mình đi về thôi há anh? Chị Phượng hỏi kìa. Yến kéo tay áo tôi khi nói.

 

– Ừ! Em. Tôi gật đầu với nàng và trả lời chị Phượng: ” Đi về thôi hai chị ơi! Mình có đợi cũng chẳng biết lúc nào ông cụ này mới về “.

 

Sở dĩ tôi nói như vậy là vì lúc anh Khảm còn ở trại đã từng nói cụ Hoàng có khi vắng nhà cả vài ngày. ” Đi vào nhà mấy ông trong tổ chức ở Galang 2 rồi bị họ giữ lại ở đó. Ăn uống thì thất thường mà ông cụ lại không coi đó là trọng… Qua loa vài miếng cũng xong bữa “. Anh Khảm từng kể chưa bao giờ được nghe ông cụ đả động gì về chuyện riêng bản thân. Không ai biết cụ Hoàng độc thân, hoàn cảnh gia đình ra sao nữa? Nếu cụ Hoàng là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng thì đã thành kẻ thù bất cộng đái thiên của bọn Việt Cộng rồi. Lăn thân vào cơn gió bụi để rồi thui thủi một mình ở đây nơi xứ lạ, hỏi có gì vui nếu không vì lý tưởng. Phải chi hôm nay tôi vào được trong căn chòi để thấy các điều mà anh Khảm đã kể.

 

– Thôi bái bai ông cụ này. Khó kiếm quá… Mai mốt nếu Tin có muốn gặp nữa thì đi với hai cô cậu này nha. Biết chỗ rồi đó. Chị Phượng vừa nói vừa vẫy bàn tay.

 

Tôi bất chợt bật cười khi nghĩ lời chị Phượng đã dặn trước khi đi. ” Vũ phải ở bên ngoài, chỉ được vào bên trong căn chòi khi thấy chị bước ra và vẫy tay “. Tôi nói:

 

– Cả bọn bốn người mình ở bên ngoài căn chòi này hết cả chẳng riêng một mình em mà chị cũng chẳng cần phải vẫy tay báo hiệu nữa ha chị Phượng.

 

Thực ra khi dặn điều đó, chị Phượng cũng mong chỉ có ba người họ trước mặt thì cụ Hoàng sẽ nhận lời. Tâm lý con người, ai mà nỡ từ chối lời cầu của người khác phái khi họ xin mình điều gì đó như trong ngày hôm nay, nếu có cuộc hội ngộ giữa một cụ ông già với ba cô gái trẻ.

 

Đi ra được con lộ chính, chị Tin chia tay với nhóm ba người chúng tôi để quay về Galang 2. Yến sởi lởi:

 

– Biết chòi của em và anh Vũ rồi thì khi nào có dịp ra Galang 1, chị cứ ghé lại cho vui.

 

Ba người chúng tôi quay về đường cũ. Yến nói nhỏ với tôi lẽ ra không có vụ đi gặp cụ Hoàng thì nàng đã đi lễ buổi chiều nay ở nhà thờ. Giờ thì trễ rồi. Vừa đến ngay chân dốc nhà thờ Galang 1 thì cả bọn phải một phen hốt hoảng khi có chiếc xe đạp từ bên hướng ngược chiều lao đến và thắng gấp trước mặt. Nhìn ra thì là anh Đoàn Thạnh Nam.

 

– Kiếm anh nãy giờ mà không gặp. Đang trên đường về lại Galang 2 mà không ngờ thấy anh ở đây. Đi đâu với hai người đẹp này vậy hả anh Vũ?

 

– Bọn này đi có chút công việc mà cũng chẳng đâu ra đâu. Kiếm tôi có việc gì vậy hả anh? Tôi đáp lời.

 

– Mình ghé chỗ quán nào đi. Tôi sẽ cho anh biết. Anh Đoàn Thạnh Nam nói.

 

Rảo chân thêm chục mét đường nữa thì đến ngay chỗ rẽ dẫn vào căn chòi nhỏ của hai đứa tôi, cả Yến lẫn chị Phượng đều từ chối vụ đến quán. Chị Phượng nói:

 

– Anh Nam và Vũ cứ thoải mái đi cà phê cà pháo cho vui. Tôi và nhỏ em này cũng có chuyện riêng cần đi đây ngay.

 

Thấy vậy, tôi đỡ tay lái chiếc xe đạp và bảo:

 

– Anh để tôi chở cho. Mình đi đến quán này được lắm.

 

Đạp xe, tôi định chạy đến quán cà phê Dạ Lý và sẽ giới thiệu anh Đoàn Thạnh Nam cho các anh Thái, Tân để may ra nếu họ gặp nhau, sẽ cố vấn cho bản khai sơ vấn Cao Ủy sắp tới nhưng khi nghĩ đến lời anh đã dặn khi trước ” Anh Vũ đừng giới thiệu các bạn mới cho tôi. Sẽ phiền lắm ” nên tôi chạy qua luôn rồi đánh một đường vòng xuống con dốc và ngừng xe ngay tại quán cà phê Cam Ly. Quán này nằm ngay trên đường về hướng Galang 2 và cũng khá xa với quán cà phê Dạ Lý. Hai chúng tôi len chân qua các hàng ghế và vào cái bàn trống ở tuốt một góc sân, nơi tiếng loa nhạc vẳng đến rất nhỏ.

 

Ngồi gọn chỗ, anh Đoàn Thạnh Nam cho biết nhân đi thắp nhang trên chùa Quan Âm ở Galang 1 nên tiện thể muốn gặp tôi để chia tay vì đã có tên trong chuyến định cư đi CANADA rồi. Dù đã biết trước sau gì anh Đoàn Thạnh Nam sẽ rời trại nhưng không ngờ lại quá sớm như vậy vì thâm tâm tôi vẫn mong gặp anh thêm nhiều lần nữa. Nhìn trân trân anh, tôi ấp úng:

 

– Trời ơi! Nhanh vậy… Cũng mừng cho anh.

 

Thấy thái độ của tôi anh Đoàn Thạnh Nam nói:

 

– Tôi phải lên đường đi càng sớm càng tốt anh à. Ở lâu nơi đây sẽ thêm bất lợi cho bản thân mình. Anh có biết vụ luật sư Michael phải bỏ của chạy lấy người trong tuần lễ vừa rồi không? Kim Chi thì dứt ngang hợp đồng với Cao Ủy. Họ đã về bên Mỹ hết cả rồi. Không biết Michael có phải là đảng viên đảng Dân Chủ bên Mỹ không nhưng hình như ông ta biết phòng thanh lọc thuộc bộ Nội vụ Indo ở đảo này làm vụ gì đó và vì vậy ông ta phải rời khỏi trại khẩn cấp trong ngày thứ Ba vừa rồi.

 

Kim Chi là nữ luật sư người Việt có quốc tịch Hoa Kỳ và Michael là luật sư người Mỹ da đen. Hai luật sư này đến trại nhận công việc phỏng vấn thuyền nhân mới được vài tháng mà tại sao lại thôi việc quá đột ngột như vậy. Thấy ánh mắt thắc mắc của tôi, anh Đoàn Thạnh Nam tiếp:

 

– Một mảnh giấy nặc danh nói sẽ không bảo đảm tính mạng cho ông ta trong vòng 24 giờ đồng hồ nếu còn ở Galang được ai đó để lại trong giường ngủ và vì vậy, ông ta bỏ đi gấp đến nỗi quên mang cả quần áo còn phơi ở trên dây ngoài sân.

 

– Sao anh biết chuyện ông luật sư Michael và vụ ở phòng thanh lọc thuộc bộ Nội vụ Indo thực sự là gì? Tôi hỏi anh.

 

Anh Đoàn Thạnh Nam nói sở dĩ biết chuyện này là do luật sư Larry kể lại khi đến phòng riêng của anh ăn món chả giò như đã hứa trước. Ở đảo tị nạn Galang, người ngoại quốc da trắng từ luật sư cho đến ngay cả bản thân ông Peter Cao Ủy trưởng đều rất thích món chả giò của người Việt làm. Như một kiểu kết thân, thuyền nhân thường làm món chả giò để đãi ăn cho các nhân viên ngoại quốc mà mình quen biết. Anh Đoàn Thạnh Nam khi viết đơn kháng cáo cho thuyền nhân bị rớt thanh lọc, biết thuyền nhân đã gặp luật sư nào ở các buổi phỏng vấn thì đôi khi anh đã chủ động đi gặp luật sư đó để hỏi thêm về các chi tiết đã làm thuyền nhân bị rớt. Có luật sư từ chối thẳng nhưng cũng có người sẵn sàng giúp như các ông Larry, Michael… Anh thì thào:

 

– Tiền… Tiền! Tụi nhân viên phòng thanh lọc thuộc bộ Nội vụ Indo bắt đầu chịu nhận hối lộ rồi. Tôi cho anh biết để mà liệu chuyện sau này.

 

Trước kia, ở một lần trò chuyện thì anh Đoàn Thạnh Nam đã nghĩ sẽ có ngày thuyền nhân tại đảo tị nạn Galang phải bỏ tiền túi để lo lót cái vé đậu thanh lọc. Nay thì chuyện anh nói đó đã đến rồi và anh thêm: ” Hình như luật sư Michael biết vụ tiền bạc này và làm báo cáo với ông Peter Cao Ủy trưởng nên bọn thanh lọc Indo phản ứng lại “. Nghe vậy tôi hỏi:

 

– Anh nói tiền nhưng cụ thể là bao nhiêu?

 

– Hiện thời chỉ mấy trăm đô thôi nhưng tương lai thì sẽ nhiều hơn con số đấy. Có thể là con số ngàn chứ chẳng ít đâu.

 

– Còn cô Kim Chi thì tại sao lại ngưng ngang hợp đồng?

 

– Cũng do thuyền nhân mình mà ra. Thật tiếc! Anh Đoàn Thạnh Nam trả lời sau tiếng chép miệng.

 

Theo đó, anh kể cô luật sư này là người Mỹ gốc Việt và rất nhân đạo khi chọn làm luật sư phỏng vấn thuyền nhân ở trại tị nạn của Cao Ủy. Thâm tâm Kim Chi muốn giúp thuyền nhân Việt vì dù sao cũng cùng dòng giống nhưng không thể cho đậu thanh lọc với tất cả thuyền nhân cô gặp khi làm cuộc phỏng vấn. Anh Đoàn Thạnh Nam tiếp:

 

– Tỉ lệ thuyền nhân được công nhận là người tị nạn khi vào gặp Kim Chi rất cao nhưng ít có ai biết được việc đó. Hễ cứ bị rớt thanh lọc thì rủa xả luật sư này ác độc quá, người Việt mà không biết thương người Việt nên khi Kim Chi biết và, cô ta bỏ ngang việc đang làm.

 

Nghe anh Đoàn Thạnh Nam kể mà tôi buồn và lo. Buồn vì những luật sư có lòng với tình cảnh thuyền nhân Việt như luật sư Michael, Kim Chi phải rút lui trước các áp lực đè lên tình cảm, bầu nhiệt huyết của họ. Thuyền nhân trong giai đoạn bị Cao Ủy thanh lọc này khác gì các bị đơn trước phiên tòa rất cần gặp được luật sư có cái tâm để giúp. Michael và Kim Chi là những luật sư trẻ nên thực sự không rõ tài trí của họ ra sao, nhưng với sự việc phải bỏ ngang công việc gấp rút thì rõ ràng là một bất lợi cho thuyền nhân chưa đến lượt thanh lọc như tôi. Còn lo vì phải dùng tiền để có vé đậu thanh lọc thì rồi sau này, những thuyền nhân sẽ phải đối phó, liệu chuyện ra sao khi không có tiền?  Đô la Mỹ đâu phải dễ kiếm được trong trại tị nạn mà ngay cả thuyền nhân có thân nhân ruột thịt đang sống ở hải ngoại nữa. Tiền đâu mà họ sẵn sàng giúp? Anh Đoàn Thạnh Nam lại tiếp:

 

– Bên Hongkong thì do áp lực của Tàu Cộng nên chính quyền ở đó đã ký một thỏa ước riêng với bọn Việt Cộng để sẵn sàng nhận tất cả thuyền nhân bị cưỡng bức hồi hương về quê nhà trong vòng 3 năm trời. Họ muốn giải tỏa sạch tất cả các trại tị nạn người Việt trước khi  lãnh địa này được hoàn trả cho lục địa Trung Hoa. Bên Thái Lan thì không còn trại Phanat Nikhom nữa vì tất cả thuyền nhân đã bị dồn vào trại cấm Sikiew rồi. Thuyền nhân bên trại Palawan ở Phi Luật Tân đã bắt đầu có những vụ tuyệt thực sau khi đơn thỉnh nguyện của họ gửi cho Tổng thống Aquino nhưng bị bác, không xét… kể cả những trường hợp bị rớt thanh lọc như các sĩ quan trung tá Phạm Nhã, thiếu tá Huỳnh Văn Giai. Ở trại Sungei Besi bên Malaysia thì chỉ huy trại cho chiếu các phim mới làm của Việt Cộng như cách quảng cáo về các thay đổi bên Việt Nam nhằm khuyến khích, làm tăng con số người hồi hương tự nguyện. Anh Vũ chắc còn nhớ Cao Ủy bên Malaysia trong mấy tháng trước đã từng đánh rớt một thuyền nhân cựu trung tá Lê Văn Trọng dù ông này bị Việt Cộng bỏ tù cải tạo cả 8 năm trời.

 

Nghe anh nói mà thêm rầu, tôi ngồi thừ ra và chợt nhớ đến việc làm thiện nguyện của anh nên cất tiếng:

 

– Các anh được thanh lọc đặc biệt khi Cao Ủy lập phòng viết đơn kháng cáo, vậy nay như trường hợp anh đi định cư thì họ sẽ tuyển người khác thế chỗ? Có không anh. Bao giờ vậy?

 

– Không! Anh Đoàn Thạnh Nam lắc đầu và nói: ” Như hồi đó tôi kể với anh, Cao Ủy bày ra phòng viết đơn kháng cáo cho thuyền nhân bị rớt thanh lọc như để có lệ, cho đủ thủ tục theo luật. Anh thấy, bây giờ thuyền nhân nào trong trại này kha khá Anh ngữ thì cũng có thể viết tờ kháng cáo giống y như việc tôi đã làm và thực tế là như vậy. Ngần đấy người bị rớt thanh lọc mà chỉ có một nhúm nhỏ nhân viên viết đơn kháng cáo trong vòng 15 ngày thì sao mà làm cho xuể. Nội cái buồn, thất vọng khi cầm quyết định bị bác tư cách tị nạn đã mất cha nó một tuần lễ của thuyền nhân không may đó rồi. Những ngày còn lại, phải kiếm giấy tờ bổ sung cho hồ sơ rồi cả tìm người viết đơn cho nữa… Cao Ủy cũng biết điều đó chứ, nhưng họ không cần thêm người thay thế. Cao Ủy cứ  im lặng và rồi thì cái phòng viết đơn kháng cáo này cũng sẽ chìm mất sau khi tất cả nhân viên như tôi, như các anh Trần Đắc Danh, Phạm Hồng Thắm lên đường định cư hết cả “.

 

Ngay sáng ngày thứ Hai đầu tuần thì loa phóng thanh của phòng thông tin ban Đại diện người Việt loan đi những lời từ giã của ông Bùi Thế Dung trước khi rời trại để lên đường định cư ở đệ tam quốc gia. Tiếng loa vang vang lời ông nói: ” Tôi mong đồng bào đoàn kết, chia sẻ ngọt bùi bên nhau trong hoàn cảnh khó khăn tại trại tị nạn này. Với những đồng bào chưa qua thanh lọc, tôi xin chúc quý vị thành công. Với những đồng bào không may đã bị Cao Ủy đánh rớt, xin hãy bình tĩnh trong chờ đợi và đừng bỏ cuộc sớm. Tôi hy vọng sẽ có một giải pháp mới, tốt đẹp của cộng đồng quốc tế dành cho quý vị “.

 

Vậy là ông Bùi Thế Dung sẽ lên đường nhưng không thấy ông nói đi quốc gia nào và cũng chưa nghe tin ai là người thay thế chức vụ Chủ tịch ban Đại diện người Việt của ông? Ngày đoàn ghe chúng tôi nhập trại, ông Bùi Thế Dung trong phong thái điềm đạm, hiền lành khi tiếp xúc với thuyền nhân mới đến và cách ông giải quyết vụ một đồng bào gốc Bắc phe Việt Cộng giả dạng là cựu quân nhân miền Nam VNCH đã làm ai nấy có mặt khi đó phải phục thầm. Ở khu vực thanh lọc của bộ Nội vụ Indo thì trụ sở ban Đại diện người Việt nằm gần bên phòng Dịch thuật của nhóm thiện nguyện chúng tôi làm việc. Có những lần ông Bùi Thế Dung đã ghé vào phòng Dịch thuật và ngồi đó trò chuyện với nhóm thiện nguyên viên chúng tôi cùng với các thuyền nhân đến nhờ dịch giấy tờ. Một lần, trong buổi chiều của ngày cuối tuần, ông Bùi Thế Dung gặp ông Bửu trong phòng Dịch thuật và khi đề cập về chuyện định cư thì ông nói:

 

– Anh Bửu ơi! Hay tôi với anh xin định cư ở Pháp đi. Nước Pháp coi vậy mà còn có tình hơn bọn Mỹ.

 

Nghe ông Bùi Thế Dung nói thì ông Bửu kể khi miền Nam VNCH mất vào tay bọn Việt Cộng rồi,  chính phủ Pháp trong các năm 1976, 1977 đã nhận định cư vào nước họ những người Việt trước kia từng có thời gian cộng tác như cựu chiến binh nhẩy dù người Việt ở trận Điện Biên Phủ hoặc người lai Tây… sau cuộc phỏng vấn gấp rút ở tòa Tổng lãnh sự Pháp tại Sài Gòn. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì bọn Việt Cộng đã đổi ý không chịu nữa, làm nước Pháp phải chấm dứt cái vụ xuất cảnh này lại. Ông Bùi Thế Dung trả lời có nghe nói vụ tòa Tổng lãnh sự Pháp đã cứu thêm được người Việt năm đó khi bản thân đang ở trại tù cải tạo và rồi ông ta nhắc lại việc muốn ông Bửu cùng đi định cư ở Pháp nhưng ông Bửu lại chọn đi CANADA khi nói:

 

– Pháp hay Mỹ cũng chẳng nước nào tốt, có tình thật với nước mình cả. Giúp được một số người ra khỏi Sài Gòn năm đó cũng chẳng thấm với cái mà họ đã làm thiệt hại cho nước Việt. Anh cứ nghĩ xem… Chính bọn Pháp đã khiến cho tụi Việt Cộng chiếm được nửa nước thời năm 1954 rồi sau này đến phiên người Mỹ vào thì cũng phủi tay với miền Nam VNCH mình nên mới có ngày 30 tháng 4. Tôi thấy chỉ có đi CANADA là được.

 

Khi nói lời từ biệt với thuyền nhân trong trại, ông Bùi Thế Dung không đả động đến chuyện hồi hương nhưng lại âm thầm khuyến khích hai cô cháu gái ruột nên về lại quê nhà. Có lẽ bản thân ông biết những ngày khó khăn sắp đến cho thuyền nhân tại đảo mà hai người cháu gái ông lại đang tuổi thiếu niên. Cha mẹ ở đâu thì con cái phải ở đấy, đó là lẽ thường. Gia đình hai cô cháu gái này hiện đang còn bên Việt Nam.

 

Ký ức tôi quay về buổi nhập trại ở cầu tàu đảo Galang ngày hôm đó khi nhớ chính ông Bùi Thế Dung đã xưng bản thân dù là Thứ trưởng Quốc phòng trong nội các của Tổng thống Dương Văn Minh nhưng vẫn bị bọn Việt Cộng bỏ tù cải tạo cả chục năm trời thì tai lại nghe ông Bửu hỏi:

 

– Lúc Việt Cộng vào dinh Độc Lập trong buổi trưa ngày 30 tháng 4 thì anh có mặt ở đó không? Có chuyện gì hay hay kể cho tôi biết với.

 

– Có chứ! Tôi là thành viên trong nội các mà. Nhưng chẳng hay ho gì cho cái ngày hôm đó cả vì… Ông Dung gật đầu rồi ngưng ngang đột ngột. Ông ngồi yên, mắt nhìn xuống nền phòng như đang hồi tưởng lại ngày tháng cũ và sau đó ngẩng đầu lên, tiếp: ” Thực ra thì ông Dương Văn Minh muốn bàn giao chính quyền cho đám gọi là Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tức Mặt Trận Giải Phóng trước kia nhưng đã bị bọn Cộng Sản Bắc Việt phổng tay trên lấy mất. Khi đám cán binh của lữ đoàn xe tăng 203 Cộng Sản Bắc Việt vào chiếm dinh Độc Lập rồi thì ông Minh và thành viên nội các chúng tôi vẫn chờ gặp người đại diện Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đến để nhận bàn giao chính quyền từ tay ông Dương Văn Minh. Đang chờ thì đột ngột xuất hiện một gã cán bộ miền Bắc xưng danh là chính ủy của lữ đoàn xe tăng 203 này. Gã chính ủy mới đến đó đã bắt ông Dương Văn Minh phải đầu hàng vô điều kiện chứ không bàn giao bàn giếc chính quyền cái gì hết. Mấy việc kế tiếp thì anh cũng biết cả rồi. Chiều tối hôm đó khi nhân vật đại diện cho Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam vào được dinh Độc Lập thì mọi việc đã xong hết cả “.

 

– Tâm trạng của anh khi đấy thế nào? Còn ông Dương Văn Minh? Ông Bửu hỏi.

 

– Chán nản, thất vọng từ hoàn cảnh đến người tiếp xúc… Từ ông Dương Văn Minh cho đến thành viên nội các chúng tôi vì nếu bàn giao chính quyền thì sự việc sẽ khác. Đằng này họ lại buộc bên phía mình phải đầu hàng rồi áp giải ông Dương Văn Minh đi đọc tin trên đài phát thanh. Khi quay trở về lại dinh Độc Lập thì ông Dương Văn Minh mời gã cán bộ chính ủy cùng đám lâu la vây chung quanh dùng bữa cơm trưa… vì biết ai cũng đói bụng cả rồi.  Gọi là dùng cơm trưa mà đúng ra là bữa tiệc vì nhân viên lễ tân trong dinh đã đặt trước từ nhà hàng Á Đông Tửu Lầu trong Chợ Lớn mang đến. Gã cán bộ chính ủy đã không ăn thì chớ lại còn bảo chúng tôi chẳng còn quyền hành gì ở cái dinh Độc Lập này nữa, đừng lên giọng ông chủ. Anh có thể ngờ được không, kể từ lúc xuất hiện tại dinh Độc Lập, gã cán bộ chính ủy này khi nói chuyện với ông Dương Văn Minh hay bất kỳ thành viên nào trong nội các chúng tôi thì chỉ một giọng xưng hô mày-tao “.

 

– Tôi  nhớ ông Dương Văn Minh là nhân vật mà bọn Việt Cộng đòi hỏi chỉ duy nhất họ sẽ tiếp xúc khi muốn bàn chuyện hòa bình hòa giải ở thời điểm đó nhưng lúc vào được dinh Độc Lập rồi thì lại giở quẻ. Ông Bửu lắc đầu.

 

– Đúng vậy. Đầu tiên thì cả bọn Cộng Sản Bắc Việt lẫn Việt Cộng miền Nam đòi phải thay thế ông Nguyễn Văn Thiệu thì họ mới chịu nói chuyện hòa giải. Đến khi ông Nguyễn Văn Thiệu từ chức trao quyền cho ông Trần Văn Hương rồi, họ lại bảo chỉ có ông Dương Văn Minh thôi và nói ông Trần Văn Hương phải từ chức trước 12 giờ khuya ngày 27 thì mới có vụ ngưng bắn bàn chuyện hòa bình. Bên mình lúc bấy giờ lực lượng yếu quá chỉ còn hơn 3 sư đoàn lại phân tán ở xa thì làm sao chống lại bọn họ với 16 sư đoàn có cả lực lượng pháo binh, thiết giáp hùng hậu đang bao quanh thủ đô Sài Gòn nên nghĩ tới nghĩ lui đành phải thuận theo ý họ để tránh đổ máu cho dân lành. Lúc 5 giờ chiều ngày hôm sau sau khi ông Dương Văn Minh nhận chức tổng thống rồi mà phe bên họ có chịu ngưng chiến đâu… cứ tiếp tục lẳng lặng tấn công bên phía miền Nam VNCH mình. Pháo binh của họ từ Nhơn Trạch bắn cả trăm phát đại bác 130 ly vào phi trường Tân Sơn Nhất, bộ Tổng Tham Mưu, bộ tư lệnh Hải Quân và vào cả các khu nhà dân chúng nữa. Chung quanh thủ đô Sài Gòn thì họ tấn công căn cứ sư đoàn 25 bộ binh ở Củ Chi, ở Hóc Môn và gần Chợ Lớn nữa. Tôi vẫn nhớ ngay khi vừa chấm dứt lễ bàn giao đó thì phe Việt Cộng đã cho máy bay phóng pháo A 37 lấy được ở ngoài miền Trung vào oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất lúc gần chiều. Ông Bùi Thế Dung trả lời.

 

– Báo chí ở thời điểm đó có đăng ảnh tướng Trần Văn Trà thay mặt lực lượng Cách Mạng trao trả tự do cho nội các của các anh tại Dinh Độc  Lập… rồi họ còn bảo cả hai phía người Việt trong cuộc chiến không ai thua ai mà chỉ có bọn Mỹ thua thôi. Có phải vậy không anh? Ông Bửu hỏi.

 

– Ối trời! Làm gì có việc đó, bọn họ đóng kịch với nhau cả đấy anh. Bọn đầu lãnh Cộng Sản ở Hà Nội không những đã dối trá với cộng đồng thế giới rồi mà còn lừa gạt ngay với cả cái gọi là Chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam nữa. Anh biết tấm ảnh mà anh nói đó là ảnh chụp tướng Trần Văn Trà ngồi nói chuyện với ông Dương Văn Minh cùng một ít thành viên trong nội các chúng tôi trong ngày hôm sau tại dinh Độc Lập. Ông ta đến dinh rồi gặp chúng tôi và hỏi chuyện vụn vặt bình thường về xã hội miền Nam VNCH chứ chẳng thay mặt cho phe nào của Việt Cộng để trả tự do cho ai cả. Bằng chứng là thành viên nội các chúng tôi sau đó ít tuần lễ đã phải khăn gói đi tù cải tạo hết. Có ai thoát tay bọn họ đâu. Cá nhân tôi, thứ trưởng quốc phòng thì mười năm tù… ông Nguyễn Hữu Có phụ tá tổng tham mưu trưởng thì mười hai năm… Có người khi được thả tự do về tới nhà chỉ một thời gian ngắn thì chết như anh Bùi Tường Huân, một Giám Sát viên. Còn ông Dương Văn Minh, ông Trần Văn Hương thì bị giam lỏng trong nhà có công an canh gác cẩn thận và mấy ông này cũng không được phép đi đâu ra bên ngoài nữa. Chiếm được miền Nam VNCH rồi thì sau này bọn  Việt Cộng nói hươu nói vượn gì trên báo trên đài… bố ai biết được sự thật. Ông Bùi Thế Dung đáp lại.

 

Khi đó, thấy ông Bửu cùng nhóm dịch thuật viên chúng tôi lắng nghe và như một khích lệ, ông Bùi Thế Dung ngồi thẳng người lên, hai tay đặt trên đầu gối bắt chéo rồi tiếp:

 

– Đám xe tăng T54 tiến chiếm dinh Độc Lập thuộc lữ đoàn 203 của bọn Cộng Sản Bắc Việt nhưng họ vẫn nói họ là lực lượng quân giải phóng tức đám Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Có lúc thì chúng lại bảo là quân cách mạng, quân khởi nghĩa… Cứ kiểu nói vòng vo-quanh co như vậy. Cái gã cán bộ chính ủy mà tôi vừa kể chính là tư lệnh của lữ đoàn xe tăng này. Từ ngày hôm trước cho đến tận những giờ phút cuối, ngồi ở dinh Độc Lập thì ông Dương Văn Minh đã cho phát thanh trên làn sóng truyền thông sẵn sàng bàn giao chính quyền chứ có chống lại phe bên họ nữa đâu mà bắt phải đầu hàng vô điều kiện. Ý định bàn giao chính quyền, chính ông Dương Văn Minh đã nói nhiều lần rồi thì họ cứ đến dinh Độc Lập mà nhận rồi điều hành việc nước. Binh sĩ miền Nam VNCH cũng được thông báo ngưng bắn, ở đâu yên đấy tránh nổ súng để giới hạn đổ máu đáng tiếc. Dễ vậy thôi! Thế mà trước mặt ông Dương Văn Minh và thành viên nội các chúng tôi, gã cán bộ chính ủy này luôn miệng quát tháo, chửi rủa và còn giảng giải chính trị nữa… bằng cái giọng mày-tao của lũ du côn, thất học:  ” Tụi bay đầu hàng vô điều kiện, không bàn giao cái gì hết “.

 

– Chỉ có gã cán bộ chính ủy đó nói năng như vậy thôi hả anh. Ông Bửu xen vào.

 

– Không! Mấy tay cán bộ khác có mặt ở dinh lúc đó cũng một phách như vậy anh à. Khi biết tin ông Trần Văn Hương vẫn còn có mặt tại dinh Độc Lập thì tai tôi đã nghe một gã cán bộ nào đó buột miệng: ” Lôi cổ thằng giặc già xuống đây, trốn trên đấy cũng không thoát tội “. Ông Trần Văn Hương đang ở một phòng trên tầng lầu hai hay lầu ba gì đấy. Anh biết khi ông ta di chuyển cũng phải chống gậy vì hình như ông bị bệnh phong thấp đi đứng rất khó khăn nên nằm nghỉ ở trên phòng. Ông Trần Văn Hương nghĩ bàn giao chức vụ tổng thống xong thì cá nhân đã hết nhiệm vụ nên lánh mặt chứ đâu có trốn tránh gì ngay cả di tản ra nước ngoài còn không nghĩ tới nữa. Đám cán bộ Việt Cộng chiếm lĩnh dinh buộc ông Trần Văn Hương phải đi xuống tầng dưới nhà, đứng chung trong hàng với nội các chúng tôi để trình diện cho đủ trước mặt họ.

 

– Vậy là phía mình đầu hàng bọn Cộng Sản Bắc Việt thay vì bàn giao chính quyền cho đám Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Ông Bửu hỏi lại.

 

– Chính xác. Ông Dung gật đầu xác nhận rồi sau đó tiếp lời: ” Chúng tôi ngồi ở dinh, thâm tâm chờ bàn giao chính quyền cho đại diện của Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam dù biết là lực lượng chính phía bên Việt Cộng trong tất cả các trận giao tranh lớn nhỏ tại miền Nam Việt Nam đều là cán binh Cộng Sản Bắc Việt. Hôm đó, nghĩ bọn xe tăng T54 này vào tiến chiếm dinh rồi sau đó thì họ sẽ chờ cho đến khi có đại diện của Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đến để nhận lễ bàn giao từ tay chúng tôi. Không ngờ đảo lộn hết cả mọi việc đã định như tôi vừa kể ra. Khi việc đầu hàng xong xuôi thì cho đến tận chiều tối hôm đó chúng tôi mới thấy người đại diện thật sự của Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam xuất hiện… nhưng lúc đó đã trễ quá rồi “.

 

– Người đại diện đó tên gì? Ông còn nhớ không? Ông Bửu hỏi.

 

Khẽ nhăn vầng trán như để tìm lại ký ức của ngày tháng cũ, ông Bùi Thế Dung đảo mắt nhìn ông Bửu cùng nhóm dịch thuật viên chúng tôi rồi tiếp: ” Sáu Hoàng… Tên ông đại diện đó là Sáu Hoàng. Đúng rồi! Tất nhiên cũng chỉ là cái bí danh thôi chứ tên thật của ông ta thì tôi không biết. Sau này chúng tôi mới biết việc ông Sáu Hoàng đến dinh Độc Lập quá trễ thì cũng do sắp xếp cố ý của phe Cộng Sản Bắc Việt… Ông ta là cán bộ trong dàn lãnh đạo của Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam mà những người này  ẩn thân trong rừng sâu nơi gọi là Bộ Chỉ Huy Miền… quái quỷ gì gì đó, đi đâu cũng cần phải có xe hơi của phe Cộng Sản Bắc Việt đưa đón. Tôi còn nghe kể là ngay bản thân các ông Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát… cũng bị phe Cộng Sản Bắc Việt giam lỏng ở mật khu kín đáo nên các anh thấy là mãi đến những ngày sau trong tháng Năm thì mấy lãnh tụ này mới lò dò ló mặt ra “.

 

– Phe Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam chắc cũng biết đã bị phe Cộng Sản Bắc Việt phỗng tay trên chứ anh? Ông Bửu khẽ hỏi.

 

– Họ biết hết nhưng làm gì được nhau vì cái gì cũng phải dựa vào người ta. Đau đấy chứ! Ông Bùi Thế Dung cười nhẹ rồi tiếp: ” Có mặt tại chỗ thì mới thấy mối quan hệ giữa cán bộ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam với cán bộ Cộng Sản Bắc Việt y hệt như thầy với trò, như chủ với đầy tớ. Nguyễn Hữu Thọ hay Huỳnh Tấn Phát thì tôi không biết vì chưa thấy chứ còn cỡ như tướng Trần Văn Trà, cán bộ Sáu Hoàng hết sức xun xoe, xu phụ với các cán bộ Cộng Sản Bắc Việt. Nhất nhất cái gì thì phe Việt Cộng miền Nam này cũng phải thỉnh thị, xin quyết định của phe Việt Cộng miền Bắc “.

 

– Đầu hàng rồi thì anh ở trong dinh Độc Lập bao lâu… còn bữa tiệc của nhà hàng mà anh kể đó thì sao? Ông Bửu hỏi.

 

– Ngày hôm sau thì họ bảo chúng tôi về nhà. Anh hỏi bữa tiệc thì chúng tôi ăn chỉ có cơm trắng với thịt lợn kho đóng hộp hàng viện trợ của Tàu Cộng thôi. ” Bữa cơm trận mạc, để cho biết cái khổ của giải phóng quân, không có súp cua-vi cá gì sất “. Gã cán bộ chính ủy đó nói và bắt chúng tôi phải ăn uống như vậy. Nhân viên nhà hàng Á Đông Tửu Lầu đành phải cho dọn mang về. Có gã cán bộ thấy ông gì đó trong thành viên nội các chúng tôi mặc quân phục miền Nam VNCH với ngôi sao trắng trên ve áo thì còn hỏi xỏ ông chuẩn tướng đó đã làm hết nhiệm vụ của mình chưa? Có gã sau khi hỏi tên, chức vụ của từng thành viên trong nội các chúng tôi rồi còn mỉa mai như đã nói với anh Bùi Hòe Thực… Viện trưởng viện Giám Sát….

 

Nói đến đây thì ông Bùi Thế Dung ngồi yên trong chốc lát rồi sau đó ông giơ ngón tay trỏ phải lên hướng trần phòng và nói:

 

– Khi nghe anh Bùi Hòe Thực bảo hiện diện tại dinh Độc Lập để thay mặt Giám Sát Viện chứng thực việc bàn giao chính quyền là hợp hiến-hợp pháp thì gã cán bộ Việt Cộng đã cười khẩy và hỏi lại: ” Thế việc mày bị chúng tao bắt ở đây có hợp hiến-hợp pháp hay không? “. Tôi không biết trong Hiến Pháp miền Nam VNCH có điều khoản nào ghi việc làm của anh Bùi Hòe Thực cho việc chứng thực bàn giao chính quyền. Chắc là không vì các dân biểu lập hiến khi soạn thảo bản Hiến Pháp đâu ngờ được có ngày xẩy ra chuyện chính quyền miền Nam VNCH phải đầu hàng phe Việt Cộng. Chúng tôi rất thất vọng khi tiếp xúc với những cán bộ thay mặt cho phe bên kia trong ngày lịch sử của năm đó ngay tại nơi thượng tầng kiến trúc của xã hội miền Nam. Ở đây, tại dinh Độc Lập… thành viên trong nội các tổng thống mà còn bị họ đối xử vô lễ như vậy thì ở bên ngoài, rồi ra dân lành miền Nam sẽ phải hứng chịu như thể nào dưới sự cai trị thô lỗ của bọn người chế độ mới. Mà… nói đâu cho xa xôi, ngoài sân cỏ của dinh Độc Lập kia kìa. Anh biết, khi dân chúng vì tò mò, đã ùa vào dinh khá đông rồi thì các anh em quân nhân trong lực lượng phòng vệ mới được phép của cán binh Cộng Sản Bắc Việt cho về nhà. Các anh em quân nhân này đã xin phép các gã cán bộ chỉ huy có mặt ở đó cho họ liên lạc với gia đình mang y phục dân sự cá nhân đến, để họ thay cho bộ quân phục chế độ miền Nam VNCH mình nhưng không được. Tất cả họ đều đành phải trần xì quần tà lỏn bước hàng một ra khỏi dinh trước bao cặp mắt của đồng bào đây đó khá đông chung quanh. Hành sử như vậy, người ta nói Việt Cộng là một lũ người mục hạ vô nhân và nước Việt mình thật không may khi gặp phải thời vận của bọn chúng.

 

Buổi tối hôm đó khi tôi đến quán cà phê Dạ Lý thì các anh Thái, Tân và Nhân cho là khi ông Bùi Thế Dung lên đường định cư rồi, ở trại tị nạn Galang sẽ không thể nào tìm ra được một thuyền nhân tầm cỡ ông để có thể khiến đám sĩ quan Indo từ trưởng trại cho đến phòng An ninh P3V nể vì. Ông Bùi Thế Dung có cấp bực là đại tá trong quân đội miền Nam VNCH và bên phía sĩ quan Indo trên đảo Galang thì thiếu tá Kamiso trưởng trại là người có cấp bực cao nhất. Hệ thống quân giai trong bất kỳ quân đội của quốc gia nào cũng giống nhau ở chỗ sĩ quan cấp bực thấp thì phải tuân phục người có cấp bực cao hơn và vì vậy, đám sĩ quan Indo coi trọng ông Dung thì họ cũng bớt khe khắt trong giao tiếp với thuyền nhân Việt tạm dung ở trại. Anh Nhân kể:

 

– Tui không biết chính xác câu chuyện… nhưng mấy anh em đến trước kể là hồi mới nhập trại tị nạn được mấy tháng thì có hai ông trung tướng Indo từ tận thủ đô Jakarta đi tàu máy canoe đến đảo Galang để thăm ông Bùi Thế Dung. Hình như ông Bùi Thế Dung với hai ông trung tướng Indo đó từng là bạn đồng khóa học trong trường Thiết Giáp Fort Knox ở tiểu bang Kentucky bên Hoa Kỳ. Mấy ông sĩ quan Indo ở trại tị nạn này biết vụ viếng thăm của hai ông tướng quân đội nước họ nên đã nể vì ông Bùi Thế Dung và nhờ vậy mà thuyền nhân mình cũng được hưởng ké. Đó cũng là lý do tại sao ông Bùi Thế Dung được đám an ninh phòng P3V cấp cho xe gắn máy hai bánh cùng phone điện đàm walkie-talkie cá nhân.

 

Nghe tôi kể về câu chuyện cũ của ông Bùi Thế Dung thì ông Thái chen vào:

 

– Hồi có trận Lam Sơn 719 bên Hạ Lào, ông Bùi Thế Dung từng là một Thiết đoàn trưởng kỵ binh chứ đâu phải vừa. Còn ông Sáu Hoàng đại diện cho bọn Việt Cộng miền Nam mà ông Bùi Thế Dung thuật chuyện chính tên thật ông ta là Cao Đăng Chiếm. Cao Đăng Chiếm từng cùng băng với Trần Văn Giàu trong vụ giết chết giáo chủ đạo Hòa Hảo năm 1947 rồi cũng chính ông ta đã ký tên vào các tờ giấy chứng nhận đã học tập cải tạo của cấp hạ sĩ quan quân lực miền Nam VNCH đó. Tôi cũng có tờ giấy cùng chữ ký của ông ta đây… Không biết bây giờ Cao Đăng Chiếm còn sống hay đã chết. Ông Thái ngồi yên trầm ngâm trong giây lát rồi sau đó kể tiếp: ” Khi còn bán sách cũ ở phố Calmet tôi đã đọc được các bài viết về buổi hỏi cung tù binh Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ của một số nhà báo Cộng Sản miền Bắc tường thuật. Sĩ quan Pháp cấp tá cỡ Christrian de Castries, Marcel Bigeard, Pierre Langlais… khi đầu hàng rồi vào trại giam thì họ chỉ được gặp các sĩ quan cấp thiếu úy, trung úy Cộng Sản hỏi cung thôi. Mấy ông tướng miền Nam VNCH mình cũng bị y chang như vậy… Các ông tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Phạm Ngọc Sang lúc bị bắt ở mặt trận Phan Rang thì cũng chỉ có sĩ quan cấp thiếu tá Việt Cộng hỏi cung là cùng. Tại sao họ chỉ cho sĩ quan cấp thấp làm việc đó mà không phải là sĩ quan đồng cấp? Cũng có khi do thực tế bên phe Việt Cộng, sĩ quan tuy mang lon tướng thật nhưng trình độ văn hóa của họ rất xoàng, chẳng biết gì ngoài việc dồn binh sĩ đi đánh trận. Nếu đi gặp phe đối phương đồng cấp với mình để hỏi cung thì có thể sẽ lòi cái dốt của họ ra nên thôi, đành phải sắp xếp cho bọn thuộc cấp có văn hóa kha khá… đi thế chỗ của mình. Cũng có thể do sự tự mãn, kiêu căng… nên họ nghĩ không cần phải gặp đối phương thua cuộc. Người có trình độ thật thì lại bị đồng đội cấp trên trong hàng ngũ sĩ quan đì cho sói trán. Chế độ của phe Việt Cộng chủ trương cứ Hồng thì dứt khoát phải hơn hẳn Chuyên, người có học vấn dù giỏi mà không chung giai cấp thợ thuyền, nghèo khổ… thì sẽ chịu cảnh lẹt đẹt suốt đời, khó mà ngóc đầu lên nổi trong xã hội. Vì vậy, cách nhục mạ đối phương của các cán bộ Cộng Sản Bắc Việt thì ai cũng biết từ lòng đố kỵ, tiểu nhân mà ra. Không hiểu sao có nhiều trí thức ở thủ đô Sài Gòn ngày trước vẫn cứ cho thành phần tinh hoa, nhân tài nước Việt đều nằm trong hàng ngũ của đảng Cộng Sản “.

 

4303009898_8a0d9753e6Feb1971AmericansoldiershelpingtheSouthVietnameseduringtheLaosinvasionbyLarryBurrows_O_zpse074eaaa

Trung tá Bùi Thế Dung, thiết đoàn trưởng kỵ binh trong trận Lam Sơn 719.

Nói xong câu thì ông Thái khẽ nghiêng người để  móc từ bóp ra và cho tôi xem tờ giấy chứng nhận đã học tập cải tạo của ông. Tờ giấy đó, thật không ngờ nó nhỏ cỡ một gang tay với hàng chữ in tên nước Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cùng hàng chữ Độc Lập-Dân Chủ-Hòa Bình-Trung Lập ở ngay bên dưới. Tôi xem rồi nhớ lại buổi trò chuyện của ông Bùi Thế Dung khi trước. Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng phe Cộng Sản Bắc Việt nhưng các hạ sĩ quan, binh sĩ miền Nam VNCH lại do phe Việt Cộng miền Nam cấp giấy chứng nhận đã học tập cải tạo. Lật mặt sau của tờ giấy, chữ ký của Cao Đăng Chiếm trên con dấu đỏ dưới danh xưng Ban An Ninh Nội Chính thay mặt cho cái gọi là Ủy Ban Quân Quản. Tờ giấy có in hai dấu vân tay ngón cái và bên dưới cùng là các hàng chữ:

 

– Khi về phải xuất trình giấy chứng nhận này cho địa phương.

– Nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương chính sách của chính quyền cách mạng.

– Luôn luôn chịu sự giáo dục của chính quyền, nhân dân địa phương và tự học tập cải tạo để mau chóng trở thành người dân lương thiện.

– Mất phải báo cáo ngay cho chính quyền và an ninh địa phương.

 

Tôi đưa tờ giấy đó cho anh Nhân xem rồi lần lượt chuyền đến tay anh Tân. Khi xem xong, anh Tân trả tờ giấy đó lại cho anh Thái và nói:

 

– Tôi có Giấy Ra Trại… tiếc cái cất nó ở barrack, không có ở đây để cho anh xem nhưng tôi nghĩ anh làm ở phòng Dịch thuật thì chắc cũng đã thấy loại giấy này rồi. Mấy anh bạn tù binh chung với tôi được Việt Cộng thả về sớm hơn thì được cấp giấy phóng thích khác với tờ giấy ra trại của tôi.

 

Tôi đã thấy tờ giấy ra trại này do thuyền nhân mang đến phòng để nhờ dịch sang Anh ngữ. Giấy ra trại hầu như các chi tiết đều giống nhau còn giấy phóng thích thì lại khác biệt. Giấy Phóng Thích là văn bản của phe Việt Cộng cấp cho các tù binh miền Nam VNCH bị họ bắt sống từ sau Hiệp Định Ba Lê 1973. Lãnh thổ miền Nam VNCH bắt đầu từ cầu Hiền Lương thuộc tỉnh Quảng Trị kéo dài đến Cà Mau của tỉnh An Xuyên. Trên vùng đất này, về mặt hành chính thì chính quyền miền Nam VNCH chia thành 4 quân khu mà người ta thường gọi là 4 vùng chiến thuật. Trong các lần giao tranh, quân nhân công chức của miền Nam VNCH khi bị phe Việt Cộng bắt được ở đâu trong 4 vùng quân khu này thì do lực lượng Việt Cộng tại địa phương đó giam giữ. Họ cũng di chuyển tù binh miền Nam VNCH từ nơi này sang nơi khác để sau cùng tập trung ở các trại giam nằm sâu trong rừng rậm của miền trung nước Việt. Bên phe Việt Cộng, họ gọi đây là quân khu 5 tính từ miền Bắc vào. Vì bị bắt sau các đợt trao trả tù binh theo Hiệp Định Ba Lê 1973 nên những tù binh này chỉ được thả tù sau khi phe Việt Cộng chiếm được hoàn toàn miền Nam VNCH. Các giấy phóng thích trên danh nghĩa do Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cấp nhưng trong các con dấu của trại giam thì ta thấy ở trại giam nào cũng do Quân Đội Nhân Dân Việt Nam quản lý. Giấy phóng thích chỉ cấp cho tù binh được thả trước khi hai phe Cộng Sản Bắc Việt và Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam thống nhất làm một trong ngày 3 tháng 7 năm 1976. Sau ngày này, giấy phóng thích không còn sử dụng nữa, tù binh nếu được thả tự do sẽ được chính quyền Việt Cộng cấp cho Giấy Ra Trại. Anh Đoàn Thạnh Nam đã từng nói với tôi, Cao Ủy cũng biết về lai lịch của từng loại giấy tờ của phe Việt Cộng… nên nếu thuyền nhân nào sơ suất không biết khi làm giấy giả mạo thì chắc chắn sẽ thua đậm trong cuộc thanh lọc với luật sư Cao Ủy.

 

Ông Thái cầm lại tờ giấy Chứng Nhận Đã Học Tập Cải Tạo rồi gấp nó cẩn thận trước khi bỏ vào cái bóp nhỏ. Xong xuôi, ông ta vừa cười vừa nói:

 

– Nghe chuyện cậu vừa kể thì tôi nghĩ chính phe Cộng Sản Bắc Việt đã sắp xếp để cho Cao Đăng Chiếm ký tên vào tờ giấy chứng nhận đã học tập cải tạo này như là một đền bù cho phe Việt Cộng miền Nam. Dù sao thì các anh cũng có quyền hành đấy chứ… Không phải cái gì chúng tôi cũng đoạt hết cả nha. Đểu thật!

 

Còn một tuần lễ nữa thì đến lượt người trong ghe chúng tôi đi khai lý lịch Cao Ủy, tôi bỏ ít thì giờ ra soát lại bản thân mình để chuẩn bị. Gia đình tôi từng bị chính quyền mới buộc đi vùng kinh tế mới hai lần, lần đầu ở vùng Trị An-Đồng Nai và lần sau là Rừng Lá gần Bình Tuy. Tôi cũng từng bị công an bắt giam nhưng do chuyện vượt biên không thành mà ra và cũng chỉ vài tháng tù. Còn chuyện phục quốc-phản cách mạng thì trong đời tôi chưa hề biết đến vì có gặp ai giới thiệu cho đâu.  Khi sống trên vùng kinh tế mới của huyện Vĩnh Cửu, tôi nghe vài người kể đã gặp được một số tàn quân miền Nam VNCH khi họ đi tìm phế liệu chiến tranh trong các cánh rừng rậm ở Mã Đà. Tôi cũng từng nghe báo chí trong nước tường thuật vụ án phản cách mạng trong nhà thờ Vinh Sơn tại quân 3 Sài Gòn vào đầu năm 1976. Ngay trên vùng kinh tế mới Rừng Lá, gần khu rẫy của gia đình tôi ở trong rừng, một ngày cuối năm 1982, công an đã ập vào bắt hai cha con ông Thành vì liên can với tổ chức phục quốc của linh mục Nguyễn Văn Vàng. Giờ đây, với bản khai lý lịch Cao Ủy sắp tới, tôi có thể dựa vào chuyện phản cách mạng-phục quốc năm đó cũng như câu chuyện về tàn quân miền Nam VNCH trên vùng rừng Đồng Nai để khai mình đã hoạt động chung và rồi bị công an phát giác và bắt giam? Nghĩ như vậy nhưng tôi thấy rất khó vì nếu luật sư Cao Ủy hỏi dồn thêm thì mình sẽ bí và họ sẽ biết thật, giả. Còn việc học hành, vì theo gia đình đi vùng kinh tế mới đã khiến tôi phải bỏ ngang. Khai làm sao đây khi mà tôi nghĩ đến lời anh Đoàn Thạnh Nam kể là luật sư Cao Ủy hiện đang bối rối vì bản khai của thuyền nhân trong trại rất giống nhau. Họ phân vân trong quyết định ai là người tị nạn và ai là di dân kinh tế. Rồi tôi lại nhớ đến các trường hợp của các thuyền nhân cựu tù học tập cải tạo như đại úy Tuyến, binh chủng pháo binh của miền Nam VNCH đã bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc dù bản thân ông ta từng ngồi tù Cộng Sản cả 7 năm trời. Người thật việc thật đây mà ông Tuyến còn không ăn ảnh được với Cao Ủy thì chuyện đời mình có xá gì kể cả nếu thực sự là thành phần phục quốc-phản cách mạng. Khó lập cho mình bản lý lịch Cao Ủy quá… Còn Yến, nàng vẫn hồn nhiên, nói lý lịch bản thân có sao thì khai vậy và sẽ trình ra tờ giấy bảo lãnh của anh trai ruột đang sống bên Úc. Nàng bảo với tôi:

 

– Em đã nói với anh rồi. Cao Ủy cho em đậu thì tốt. Có rớt thì em về lại quê nhà chờ ngày đi đoàn tụ chung với gia đình sang Úc. Anh bảo em coi lại lý lịch… nghĩ nhiều thêm rối.

 

Còn Đỉnh thì thời gian này nó đã rời khỏi barrack lá để công khai sống chung trong shop tạp hóa với Ánh Diễm ở zone D thuộc Galang 2. Giờ đây, căn phòng chung của cả nhóm trong barrack lá đó bỏ lại cho một mình cô Bẩy ở mà thực tế nó đã bắt đầu hư nát vì các trận mưa cuồng gió bạo trên đảo. Vì bận rộn trong việc đi tải hàng bên Tanjung Pinang về bán lại kiếm đồng lời hoặc vì phải trông coi căn shop tạp hóa mà thằng Đỉnh gần như ít thấy ló mặt ở Galang 1 chỉ trừ lúc vào nhận lương thực cấp phát trong ngày thứ Ba hàng tuần. Không gặp thằng Đỉnh để cùng nhau bàn chuyện khai báo lý lịch sắp tới thì tôi nhớ đến nó từng nói bản thân như thể nào thì sẽ khai y như vậy và còn tin chắc sẽ thắng. ” Em có giấy bảo lãnh của gia đình ở bên Hoa Kỳ gửi sang. Nếu Cao Ủy không cho em đậu thanh lọc thì có về Việt Nam, em sẽ ở đâu? Cả gia đình em định cư hết ở bên Mỹ rồi. “.

 

Hai cô Đào và Bẩy cũng một ý định chung như suy nghĩ của Yến. ” Nếu Cao Ủy cho đậu thanh lọc thì hai đứa em tiếp tục ở lại trại để chờ ngày đi định cư nước thứ ba, còn rủi bị họ đánh rớt thì sẽ ghi danh hồi hương ngay “. Nghe cả nhóm nói như vậy, tôi nghĩ thân ai nấy lo trong con sóng thanh lọc này.

 

Một buổi chiều về lại căn chòi, Yến báo cho tôi biết Ánh Diễm đã có thai với Đỉnh, nàng kể:

 

– Hồi quá trưa khi ra tiệm tạp hóa của bà người Indo để mua ít bột năn tính nấu chè ngày cuối tuần thì em tình cờ gặp được chị Bẩy. Chị cho em biết tin này và nói nghe được từ chị Đào kể lại. Bụng chị Diễm đã lúp lúp cỡ 3, 4 tháng rồi anh à. Chẳng biết trai hay gái đây?

 

Thôi vậy thì xong chuyện đời thằng Đỉnh rồi. Coi như Đỉnh và Ánh Diễm sẽ phải ghép chung form vợ chồng với nhau và rồi sẽ phải cần thêm giấy bảo lãnh mới của gia đình gửi sang thay thế ngay để có cái phòng hờ khi cần chưng ra cho luật sư Cao Ủy biết.

 

Trong thời gian này, Cao Ủy đã gia tăng thêm một số luật sư để gấp rút thanh lọc thuyền nhân tạm dung đầy nghẹt trong trại. Hai luật sư người Phi Luật Tân, một luật sư ngưới Ấn và thêm cả luật sư người Indonesia nữa đã đến trại và họ bắt đầu nhận việc trong tuần lễ vừa rồi. Cao Ủy cũng tuyển thêm một số thông dịch viên người Việt có quốc tịch Hoa Kỳ giúp việc với luật sư khi thanh lọc thuyền nhân. Các cuộc phỏng vấn đã nhanh hơn trước và những lần xổ thanh lọc cũng đều đặn xẩy ra trong tháng nên đã kém thu hút sự chú ý của thuyền nhân như ở những buổi đầu. Còn hai ngày nữa đến phiên đoàn ghe của tôi, ông Thái và anh Tân đi lập lý lịch Cao Ủy thì một buổi chiếu khi về nhà, Yến báo là hai người họ muốn gặp tôi ở quán cà phê Dạ Lý có việc cần.

 

Tôi đến quán thì gặp anh Tân cùng anh Thái ngồi chờ ở cái bàn chung của cả nhóm như  trong các lần trước. Chờ khi cô Bạch Liên mang thức uống ra bàn xong xuôi thì anh Tân mở lời trước:

 

– Anh Vũ thấy tôi bị Việt Cộng giam tù hết 2 năm 11 tháng 3 ngày như vậy có đủ để cho Cao Ủy coi mình là người tị nạn không?

 

– Tôi chỉ có 3 ngày học tập cải tạo thôi vì thực sự đã giải ngũ từ trước rồi… Mưu sinh hàng ngày thì rất chật vật. Cậu Vũ thấy tôi nên khai làm sao đây? Ông Thái chen vào, lập lại câu hỏi cũ.

 

Tôi ngồi yên, thì ra là các việc cũ mà hai người họ nhờ cậy và tôi đã từ chối. Cá nhân tôi hiện bối rối chưa quyết định sẽ phải khai lý lịch bản thân ra sao khi mà thời gian gặp nhân viên lập lý lịch Cao Ủy đang đến gần chỉ trong vài ngày nữa. Tôi ngồi yên nhìn hai người họ đang chờ câu trả lời. Sự bồn chồn hiện hiển ở cặp mắt của anh Tân cũng như vẻ luống cuống trên đôi bàn tay của ông Thái đã làm tôi đồng cảm với nỗi lo của hai người họ. Có tin cậy thì họ mới nhờ đến mình. Thôi thì biết cái gì mình sẽ nói ra như vậy. Hít nhẹ một hơi thở, tôi khẽ khàng:

 

– Cá nhân em thì thấy anh Tân có thời gian là tù binh thì thuận lợi hơn so với hoàn cảnh của anh Thái vì không bị tù một ngày nào. Tôi giật mình vì thấy đương không lại kết luận quá vội nên chữa ngay: ” Nhưng bán sách báo chế độ cũ thì anh Thái cũng có thể dựa vào đấy mà lập cho mình một con đường binh. Em nhớ có lần nghe anh kể có tay chủ sạp báo nào đó bị công an tó vì ông ta dính vào các sách báo quốc cấm của thời trước. Trong trại này em biết có nhiều người chẳng bị Việt Cộng bỏ tù một ngày nào mà họ vẫn lấy được vé tị nạn dễ dàng. Trong số người đậu thanh lọc, em còn thấy có cả công an của chế độ Việt Cộng nữa “.

 

– Tay đó là Bùi Đình Hà… Sạp y bán gần lối vào khu phố và khá xa chỗ ngồi của tôi. Lãnh án chung thân đấy cậu Vũ. Chẳng biết bây giờ số phận ông ta ra sao rồi?

 

Hai người này thực sự chưa biết việc đã có thuyền nhân bắt đầu hối lộ cho luật sư trong cuộc phỏng vấn và Cao Ủy hiện đang bối rối vì không thể quyết định về hồ sơ của thuyền nhân do lời khai rất giống nhau. Tỉ lệ cho phép để Cao Ủy ban tư cách tị nạn rất thấp mà con số này lại phải san sẻ cho các trường hợp đoàn tụ gia đình nữa. Những lần Cao Ủy xổ thanh lọc vừa rồi, thiếu gì thuyền nhân nhận vé đậu dễ dàng chỉ vì người ấy có vợ hay chồng đang cư trú ở nước thứ ba.

 

Bàn việc lý lịch với hai anh Tân và Thái cho đến khi có tiếng còi báo hiệu giờ giới nghiêm sắp đến thì tôi rời quán ra về. Ai cũng phải tự lo và chịu trách nhiệm về bản lý lịch của bản thân mình khi đối diện với luật sư Cao Ủy. Đôi khi cái hay cái giỏi của người này cũng không bằng vận hên điều may của kẻ khác.

 

Đoàn người trong hai ghe VT 233 và CL 135 chúng tôi đã lập xong lý lịch Cao Ủy và 3 tháng sau thì cùng đi nhận kết quả thanh lọc. Yến và hai cô  Đào, Bẩy  ghi danh hồi hương ngay sau khi nhận được kết quả rớt thanh lọc mà không thèm làm đơn kháng cáo. Đỉnh thì phòng thanh lọc Cao Ủy đòi nó phải bổ sung giấy bảo lãnh vì đã khai có gia đình định cư tại Hoa Kỳ.

 

Một buổi sáng tại cầu tàu Galang, Yến đứng bên tôi trong làn mi ướt nước mắt khi chờ nhân viên trật tự trại kiểm danh lần cuối trước khi nàng theo chân các thuyền nhân khác bước xuống con tàu máy cao tốc chở người hồi hương.

 

– Anh Vũ ơi… Em buồn lắm!

 

Yến nói nho nhỏ rồi sau đó là tiếng sụt sùi, tôi đưa hai bàn tay mình ra, đặt lên bờ vai của Yến và nhìn vào khuôn mặt nàng. Hai vệt nước mắt trên đôi mắt hoe đỏ đang thành ngấn ở gò má cạnh mũi nàng trên bờ mí mắt thâm đen, dấu vết suốt cả đêm qua Yến đã gần như thức trắng với tôi trong căn chòi riêng của hai đứa. Nàng nói và khóc:

 

– Em không muốn xa anh. Nhưng em không thể ở lại đây được… anh hiểu cho! Hu hu!

 

Không thể ở lại đây được. Tôi biết điều Yến vừa nói ra. Cả hai ghe CL 135 và VT 233 chúng tôi có bao nhiêu người được Cao Ủy coi là người tị nạn hay đã bị đánh rớt vì cho là thành phần di dân kinh tế? Không có con số chính xác. Khác với những buổi đầu khi phòng Thanh lọc Galang 1 công bố kết quả thì ngay ngày hôm đó hoặc chậm lắm chỉ vài ngày sau, người đi chung trong bất cứ chiếc  ghe vượt biên nào cũng đều biết ngay chóc con số người đậu người rớt trong ghe của mình. Trước đây, người cầm giấy đậu khi đi ra tới chỗ thuyền nhân tập trung thường thì họ tay giơ cao chiến thắng của mình trong tiếng ồn ào phấn khích của đám đông. Ai rủi bị rớt thanh lọc thì lủi thủi im lặng bước từng bước trong sự thông cảm như một chia buồn của những người đồng cảnh. Chỉ cần nhìn qua khuôn mặt hay cử chỉ của thuyền nhân khi vừa từ trong căn phòng nhận kết quả bước ra bên ngoài thì ai cũng biết người đó đã đậu hay bị rớt thanh lọc. Giờ thì khác trước vì thuyền nhân dấu chuyện đậu hay rớt của bản thân mình. Khi đi ra ngoài, họ thản nhiên như là một nhân viên thiện nguyện của ban Đại diện trại người Việt có mặt ở khu vực này để góp sức với lực lượng police, phòng An ninh P3V trong việc giữ gìn trật tự. Gặp đám đông chờ sẵn tại khu vực công viên chỗ thuyền nhân tập trung chờ thân nhân, có ai hỏi kết quả… họ chỉ ậm ừ rồi lẳng lặng tiếp tục bước chân ra khỏi khu vực. Thuyền nhân đó, đậu hay rớt thanh lọc, không ai biết. Có thuyền nhân, tuy chưa thấy ló mặt ra bên ngoài nhưng trong đám đông người đứng chờ ở đây đã biết trước kết quả qua các lời họ trao đổi với nhau: ” Lát mày coi nha, nó ra bây giờ… Bốn ngàn đô la Mỹ đã chung đủ cho papa rồi thì làm sao mà rớt được. Mày cứ chờ đi rồi sẽ thấy lời tao nói! “.

 

Yến ghi danh hồi hương ngay khi vừa nhận kết quả rớt thanh lọc trong tháng vừa qua. Nàng bỏ ngang vụ viết đơn kháng cáo và còn xin nhân viên Cao Ủy điền hồ sơ cho hồi hương càng sớm càng tốt. Yến phải về quê nhà ngay vì anh trai nàng bên Úc thúc hối gấp gáp. Những thuyền nhân đậu thanh lọc khi sang bên Úc định cư đã kể lại cho báo chí Việt ngữ về thảm trạng của đồng bào ở các trại tị nạn nên anh trai của Yến cũng đã biết về tình hình ở Galang. Yến đã cho tôi đọc lá thư của anh trai nàng từ chối gửi tiền để lo lót thanh lọc. Trong thư, người anh trai còn buộc nàng phải hồi hương gấp vì hồ sơ bảo lãnh sắp đến ngày phỏng vấn. Nếu Yến vắng mặt trong ngày hẹn đó, anh trai nàng nghĩ sứ quán Úc tại Sài Gòn sẽ xếp hồ sơ đó lại thì cả gia đình sẽ phải mất thêm thời gian nữa mới mong đến lượt.

 

Một thân một mình sống ở Úc với một gánh nặng phải lo bên quê nhà và nay thêm số tiền cả năm ngàn đô la Mỹ cho vụ lo lót thanh lọc, thực sự là con số rất lớn, đâu dễ dàng gì để anh trai của Yến có thể xoay ra ngay được. ” Bó tay, đành chịu anh ơi! ” Yến bảo với tôi. Nàng không muốn xa tôi và tôi cũng không muốn chia tay với nàng. Cả hai đứa tôi giờ đây đã quen hơi nhau rồi, đó là sự thật. Tôi xoa tay trên gò má ướt nước mắt của Yến mà ráng cầm lòng để khỏi khóc theo.

 

– Anh hiểu chứ! Em về bên đó thì ở đây anh cũng đâu có vui gì. Buồn lắm!

 

Yến nấc to hơn khi tiếng còi hơi của tàu cao tốc vang lên như thúc hồi hành khách mau mau thu xếp hành lý cho chuyến rời trại chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi còn lại. Nàng vuốt lại mái tóc, bóp nhẹ tay tôi, thì thầm từng chữ.

 

– Không bao giờ em quên cái ngày hôm nay. Anh Vũ! Không bao giờ!

 

Tôi cũng không bao giờ quên được nàng và thực tế là vậy cho đến tận bây giờ. Tôi xích lại gần hơn, lấy hai tay nâng khuôn mặt Yến lên và bất chấp đám đông người trong chuyến hồi hương đang hiện diện đó đây, tôi hôn nàng. Ai có nhìn thì mặc kệ, tôi hôn lên trán rồi lên gò má và tìm bờ môi của Yến. Nàng choàng tay ôm chặt lấy tôi như muốn cả hai đứa hòa vào nhau làm một. Tôi và nàng cứ yên lặng trong nụ hôn ngọt ngào như chưa bao giờ được hôn nhau. Rồi hai cánh tay tôi bỏ xuống để ôm trọn vòng eo của Yến và xiết cả thân hình nàng thật chặt, thật chặt. Chỉ còn những giây phút này, tôi phải giữ và muốn giữ mãi Yến trong đôi bàn tay. Thời gian! Xin đừng trôi… Tôi sẽ nhớ mãi giây phút này cũng như lời Yến vừa thổ lộ. Nàng phải hồi hương, không thể ở lại đây được. Còi hơi của tàu cao tốc lại thét lên lần nữa như lời thúc dục cho hai đứa tôi và những đôi người khác tại khu vực cầu tàu Galang phải chia tay ngay, giờ biệt ly đến rồi. Tiếng chân người, tiếng thúc hối mau mau đi ra con tàu cao tốc làm hai chúng tôi phải buông nhau ra. Yến cầm lại túi xách nhỏ, khoác nó lên vai và thầm thì những lời cuối:

 

– Mong rằng mình sẽ gặp lại nhau… Nơi nào đó em không cần biết, chỉ biết sẽ không tiếc với anh… Cầu xin ơn trên cho anh luôn an mạnh và may mắn. Em đi rồi, anh ráng giữ gìn sức khỏe nha.

 

May mắn, điều mà Yến mong chính là nỗi lo của bản thân tôi. Người trong tàu đã thanh lọc xong và đã nhận kết quả hết rồi nhưng chỉ còn tôi và thằng Đỉnh thì chưa. Đỉnh kể là phòng Thanh lọc đòi nó tờ giấy bảo lãnh của cha mẹ ruột bên Mỹ thì mới có kết quả. Thực ra thì nó đã có tờ giấy bảo lãnh rồi nhưng vì việc sống chung với Ánh Diễm đã làm ba mẹ nó bực mình. Ba mẹ Đỉnh biết chuyện giữa nó với Ánh Diễm và đã gửi thư ngăn cản. Đỉnh làm sao bỏ Ánh Diễm được khi cả hai vừa có đứa con trai đỏ hỏn và vì vậy, nó bị gia đình trừng phạt không cho tiền chu cấp như trước. Sau một trận cãi nhau giữa Ánh Diễm và Đỉnh, tờ giấy bảo lãnh đã bị cả hai xé bỏ mất. Nhớ lại hôm tôi và Yến đi dự buổi sơ vấn của Cao Ủy trong các tháng trước. Khi vừa đến trước dãy phòng sơ vấn Cao Ủy nằm gần các barrack của thuyền nhân ở Galang 2, Yến và tôi đã sững sờ khi thấy một miễu thờ nhỏ do ai đó gắn chặt nó vào thân cây Tràm bông vàng ngay trước cổng ra vào. Miễu thờ người vừa tự thiêu ngay tại đây trong mấy ngày trước. Gió buổi sớm mai đẩy những làn khói trắng từ những đầu cọng nhang cong queo làm cho Yến sợ khi nghe một bà trong đoàn ghe nói linh hồn cậu thanh niên đang lảng vảng ở đây. Mấy hôm trước ở Galang 1, tôi và Yến đã nghe chuyện về tin có cậu thanh niên trẻ tự kết liễu đời mình vì người cha đã bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc. Nay thấy cái miễu thờ, đoàn người trong ghe chúng tôi thêm chi tiết: ” Cậu này tên là Huy, coi như là thuyền nhân đầu tiên tự sát để phản đối việc Cao Ủy thanh lọc bất công tại trại Galang này “. Ngồi bên tôi mà tay chân Yến run rẩy vì sợ, đến nỗi khi nhân viên thông dịch ra gọi tên để vào gặp luật sư sơ vấn mà nàng phải mất cả mấy phút mới đứng lên được. Yến rất mẫn cảm với các sự việc có kịch tích gây hồi hộp trước mắt. Chúng tôi ngồi đó, chờ đến phiên mình vào gặp luật sư mà ai cũng lo lắng cho số phận. Liệu sẽ còn người Việt nào tự sát nữa không? Cầu mong thuyền nhân trong trại sẽ không còn ai quá rối trí mà hành động như cậu thanh niên này. Nghĩ như vậy nhưng khi con người ta tuyệt vọng và trong bước đường cùng thì khó mà kiểm soát được lý trí đúng hay sai. Trước giờ, qua tin tức trên báo chí Việt ngữ hải ngoại cũng như qua các đài truyền thông BBC, VOA… thì chúng tôi cũng nghe về các vụ thuyền nhân tự sát ở các trại tị nạn bên Malaysia, Thái Lan, Hồng Kông, Phi Luật Tân rồi và bây giờ là tại đảo Galang của Indonesia. Xong thủ tục sơ vấn Cao Ủy thì bước kế tiếp sẽ là thanh lọc của nước chủ nhà. Chính cái buổi đi thanh lọc đã làm cho Yến mất tinh thần và làm nàng quyết định hồi hương sớm. Hôm đó, cả đoàn người trong ghe CL 135 vào dự cuộc thanh lọc, khi đang ngồi chờ đến lượt gọi thì chúng tôi lại nghe thêm tin về một cô gái trẻ vừa mới tự thiêu chết tươi trước văn phòng Cao Ủy tại Galang 2. Cũng ngay tại chỗ cũ, gần cây Tràm bông vàng có cái miễu thờ nhỏ kỳ trước. Yến nghe vậy, thì thào bên tai tôi: ” Lại thêm người thứ hai tự sát thì rồi ra sẽ có người thứ ba, thứ bốn… Em sợ quá anh ơi! Galang bây giờ làm sao đó, không còn là chỗ an toàn cho người vượt biên nữa “. Các nạn nhân đã chọn lựa giữa hai điều sinh-tử, sống hay là chết. Cô gái này tên là Lưu Thị Hồng Hạnh, một thiếu nữ tuổi choai choai, tìm đến cái chết vì bị Cao Ủy thu hồi tờ giấy đậu thanh lọc. Bị lấy lại tờ giấy đó, có nghĩa cô Hạnh thấy mình đã mất quyền tị nạn và bị họ xếp vào thành phần di dân kinh tế. Rồi ra, cô sẽ phải hồi hương về lại quê nhà trong mai hậu nên cô đã chấp nhận cái chết hơn là sống trong xã hội do Việt Cộng cai trị. Yến sợ vì mới hơn hai tháng trước, cũng qua tin radio của đài BBC, VOA… chúng tôi nghe tin bên trại Sikiew-Thái Lan, một cô gái 26 tuổi tên Hoàng Thị Thu Cúc đã treo cổ tự kết liễu đời mình sau khi bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc.

 

Hôm dự buổi thanh lọc đó, tôi đang ngồi với Yến chung với các người khác trên băng ghế gỗ dài thì một nhân viên trật tự gọi tên và dẫn vào phòng của một luật sư người địa phương lớn tuổi đang chờ sẵn tại bàn. Thấy chỉ có một mình ông ta trong phòng, tôi nghĩ ông này cũng thuộc dạng người như papa Phước. Đúng y boong, ông ta phát âm bằng tiếng Việt giọng lơ lớ, xưng tên là Wano rồi bảo tôi trình thẻ ID tạm dung ra. Sau khoảnh khắc quan sát khuôn mặt tôi cùng xem kỹ cái thẻ, papa Wano gật đầu và hỏi:

 

– Anh có thân nhân sống ở bên Hoa Kỳ, phải không?

 

Thấy tôi gật đầu xác nhận, ông ta tiếp ngay:

 

–  Người đó liên hệ họ hàng thế nào với anh?

 

–  Ông ta là chú ruột của tôi, thưa ông luật sư. Tôi trả lời.

 

Luật sư Wano mở tập hồ sơ có sẵn từ trước ra xem rồi sau đó ông ta ngồi yên ngó tôi chăm chú. Tôi nhìn tập hồ sơ đang bày trên mặt bàn. Đúng là giấy tờ của tôi vì bản sao khai sinh, tờ hộ khẩu vùng kinh tế mới… lòi ra ở cạnh bìa giấy. Phòng sơ vấn Cao Ủy đã chuyển nó đến đây, tôi nhìn lại luật sư Wano mà có chút thắc mắc trong lòng. Sao ông lại không truy vấn về lý lịch, chỉ hỏi mối quan hệ thân nhân của mình. Số phần mình sẽ ra sao trong ngày hôm nay. Quyền ở trong tay ông ta, nếu thương tình cảnh thuyền nhân Việt thì tôi được nhờ, bằng không thì đành chịu. Với sự hiểu biết cá nhân, tôi cũng đã khai hết sức có thể của bản thân mình rồi. Không thể hơn nữa, thêm thắt lý lịch thì sẽ lộ tẩy là giả. Biết vậy nhưng tôi rất lo vì trong thời gian này, tin tức ở trại đồn đại rằng bên phía sơ vấn Cao Ủy, luật sư đã bỏ ngỏ việc kết luận tư cách tị nạn hay di dân kinh tế trong rất nhiều hồ sơ thuyền nhân. Họ chuyển các hồ sơ đó cho phòng thanh lọc Indo quyết định. Đậu hay rớt thanh lọc phần lớn do định đoạt của nước chủ nhà. Đây là áp lực của các quốc gia đang có thuyền nhân Việt tạm dung đối với Cao Ủy trong cái gọi là quyết định sau cùng của tiến trình thanh lọc.

 

Luật sư Wano lấy thuốc lá ra hút và ông chìa gói thuốc cho tôi nhưng tôi lắc đầu, bảo đã bỏ nó từ lâu. Căn phòng yên lặng như vậy cho đến khi điếu thuốc lá gần tàn hết thì một việc không ngờ đã xẩy ra, luật sư Wano hỏi tôi về số phone cùng số trương mục ngân hàng của người chú ruột. Như các thuyền nhân khác đang tạm dung trong trại tị nạn Galang, chỉ liên lạc được với thân nhân ở nước thứ ba hay bên quê nhà bằng thư từ, nên, tôi không thể biết cái mà luật sư Wano đang cần biết. Tôi lại lắc đầu lần nữa. Luật sư Wano cầm bộ hồ sơ bỏ vào ngăn bàn rồi bảo tôi phải viết thư hỏi thân nhân ngay, ông ta sẽ chờ. Hai tuần hoặc tối đa là một tháng thì phải có hồi báo cho ông. Khi khoát tay ra dấu cho tôi rời khỏi căn phòng, ông ta còn nhắc vói: ” Có số phone và số tài khoản của thân nhân thì anh phải gặp tôi ngay. Càng sớm càng tốt. Nhớ chưa ? “. Tôi đã hiểu ý muốn của luật sư Wano trong ngày hôm nay. Trong trại tị nạn, thuyền nhân đồn đại không sai: ” Gặp papa, chỉ có tiền mới mong thoát mạng “. Vừa đi tôi vừa nghĩ, chú ruột mình cũng mới định cư tại Hoa Kỳ hơn nửa năm nay sau khi bị Việt Cộng bỏ tù cải tạo cả mười năm trời. Ông lấy tiền ở đâu ra để lo lót cho thằng cháu ở trại tị nạn?

 

Ra đến chỗ cũ thì không thấy Yến đâu, hỏi những người ngồi gần bên tôi mới biết nàng cũng mới vừa vào phòng của một luật sư nào đó. Được một lát thì Yến đi ra và đến chỗ tôi ngồi. Thấy Yến thở hắt từng hơi như vừa qua một chặng đường dài lội bộ, tôi định hỏi thì nàng dục đi về ngay. Dọc đường, đến chỗ vắng người nàng mới bảo:

 

– Em gặp ông luật sư già… nói được tiếng Việt, còn anh?

 

Tôi kể vắn tắt chuyện mình rồi khi nghe xong thì Yến nói nàng cũng bị luật sư đó vòi tiền. Yến chậm rãi, kể: ” Bảo em phải có đủ năm ngàn đô la Mỹ cho lão ta ngay thì mới giúp thành người tị nạn được. Không biết sao lão papa biết em có anh trai ở bên Úc khi nói gửi thư từ đây qua lại bên đó chỉ độ một tuần lễ là cùng… Em nói anh trai đi làm, lãnh lương ít lắm mà còn phải giúp cho gia đình bên Việt Nam nữa thì lão ta một hai nói phải có tiền. Không tiền sẽ không có vụ đậu thanh lọc được “.

 

Nghe Yến nói vậy, tôi nghĩ nàng đã gặp papa Phước nhưng khi hỏi thì không phải. Yến bảo:

 

– Papa Phước thì em biết mặt chứ! Trong những lần ở quán cà phê đi chung với cô gì đó… nhưng đây là ông khác anh ơi.

 

– Ông ta có nói tên cho em biết không?

 

Yến gật đầu, bảo papa đó có xưng danh lúc vừa gặp mặt nhưng cái tên khá dài nghe các âm u âm i và nàng đã quên ngay. Như vậy, trong mười mấy luật sư Indo làm việc ở đây, số biết tiếng Việt và không cần thông dịch viên khi thanh lọc thuyền nhân thì nay có cả thẩy ba người, kể cả papa Phước. Trước giờ ngoài papa Phước ra thì tôi biết phía thanh lọc Indo còn có ông Ô Ma, cô Lan và thằng Sari Mun là những người bản xứ biết tiếng Việt. Ông Ô Ma, cô Lan và thằng Sari Mun từng sống tại Sài Gòn ở vùng Cầu Ông Lãnh gần bến Chương Dương trong quận 1. Người trong vùng gọi đám dân ngoại quốc này bằng cái tên chung là bọn Chà Và-Ma Ní hay Ma Rốc cốc ken. Sau khi bọn Việt Cộng chiếm được miền Nam VNCH một thời gian, vì không thể mưu sinh trong xã hội mới nên họ đã hồi hương về lại thủ đô Jakarta của Indo. Đầu năm 1990 khi nước chủ nhà Indo hợp tác với Cao Ủy trong vụ thanh lọc thuyền nhân Việt nên đã tuyển họ đến đảo Galang để giúp việc. Tôi hỏi thêm nàng:

 

– Em bảo papa đó già. Vậy nhân dạng, tướng tá ông ta thế nào?

 

– Thôi anh! Em còn chưa hết sợ đây này. Sẽ không bao giờ em đặt chân đến khu vực đó lần thứ hai.

 

Nói như thế thôi và nàng bỏ lửng câu chuyện rồi đến khi gần hồi hương thì mới kể hết cho tôi biết về buổi thanh lọc trong ngày hôm đó. Yến nói lão papa già ngồi ngó nàng chăm chăm, khen đẹp và hỏi có sống chung với ai ở trong trại này không. Sau đó, lão rời chỗ, đến sát bên nàng và cúi đầu hôn lên mái tóc khiến Yến phát sợ đến mức tê liệt cả người. Thấy nàng bất động, lão papa còn cả gan cầm lấy tay nàng, vuốt ve lên nó rồi đề nghị nếu chịu hẹn vào phòng riêng trong ngày Chủ Nhật thì sẽ bớt giá, chỉ một hai ngàn đô thôi. ” Papa giữ hồ sơ của em. Hãy nhớ, em không thể nhờ luật sư nào khác được đâu. Muốn đi Úc thì phải đậu thanh lọc. Có chút chút tiền thì cứ đến đây rồi nói với trật tự dẫn vào phòng số 5, papa sẽ giúp cho “, Yến nói khi nghe lão papa lải nhải sát bên tai như vậy, nàng định đứng phắt lên, bỏ đi ra ngoài. May vừa lúc, có bóng người lướt ngang qua căn phòng đã làm cho lão papa quay trở lại ghế ngối và cũng giúp Yến hoàn hồn, qua cơn sợ. Nàng tiếp:

 

– Khi nghe lão papa dọa cưỡng bức hồi hương thì em nhìn thẳng vào mặt lão, nói tôi không sợ, không có tiền lo thanh lọc và cũng không có vụ ngày Chủ Nhật. Ông quyết định như thế nào thì tùy ý.  Nghe thế, mặt lão papa nhăn lại và nhìn em trông khiếp lắm anh. Không biết diễn tả nó như thể nào nhưng thực sự đã làm em kinh tởm cái bọn papa này.

 

Không có tiền và vì lời nói của lão papa già nên khi vừa nhận kết quả thanh lọc, Yến đã xin hồi hương sớm hơn dự định.

 

Khi về lại căn chòi riêng của hai đứa, tôi đã thảo ngay một lá thư kể về buổi gặp gỡ với luật sư Wano cho chú tôi biết. Yến bảo:

 

– Việc của anh thì papa muốn liên lạc trực tiếp với ông chú, không như vụ của em. Hình như các papa khác nhau trong cách lấy tiền vì mấy chị trong lớp cắt may em học thì kể giá cả do thân nhân mình và luật sư thỏa thuận riêng với nhau. Đồng ý giá cả rồi thì tiền ở các ngân hàng sẽ chuyển qua lại trong các trương mục của từng người cho an toàn, để khó thấy các vết tích hà lạm. Anh Vũ nghĩ papa Wano đòi chú ruột anh bao nhiêu tiền không?

 

Tôi lắc đầu với Yến rồi kể lại suy nghĩ của mình. Anh trai ruột của Yến tuổi còn trẻ, sống ở nước Úc đã lâu mà còn không có tiền để gửi cho nàng lo thanh lọc thì với một ông chú cao tuổi, mới sang định cư ở Hoa Kỳ, có đi làm kiếm được miếng ăn đã mừng. Lấy đâu ra cả mấy ngàn đô la liền một lúc để giúp cho đứa cháu trong một vụ hối lộ. Tuy nói như thế nhưng tôi vẫn gửi lá thư, biết đâu có một phép mầu nào đó sẽ xẩy đến cho hoàn cảnh của mình. Hầu như hễ ai có ở trong hoàn cảnh tuyệt vọng thì đều mong một sự may mắn xuất hiện đúng lúc. Tôi cũng hy vọng chú tôi… tự dưng có tiền để giúp và như vậy, tôi sẽ thoát nạn. Vẫn biết rằng kẻ hối lộ cũng phạm tội y như người nhận hối lộ và trong tôi, có lúc đã cảm thấy xấu hổ khi để lộ ra cho Yến thấy điều mong ước có tiền để lo lót với papa Wano về hồ sơ thanh lọc của mình. Tôi tự bào chữa, giữa cái xấu và cái tồi tệ để phải chọn, mình phải chọn cái xấu. Thuyền nhân khi vượt biên đến được trại tị nạn thì hầu như không ai muốn cảnh phải hồi hương về lại quê nhà. Gặp giai đoạn Cao Ủy thanh lọc, tôi cũng như các thuyền nhân khác đều muốn là người tị nạn hơn là di dân kinh tế. Luật sư thanh lọc là người có quyền ban phát vé tị nạn nhưng cần tiền và nếu thuyền nhân có tiền thì đành phải chấp nhận trao đổi với nhau.

 

Sau lần thanh lọc đó, một đêm khuya, tôi nằm mơ thấy papa Wano cho gọi tôi đến phòng thanh lọc và đưa cho tờ giấy công nhận tị nạn. Tôi làm thủ tục định cư rồi rời đảo Galang chóng vánh mà không có bất kỳ người quen nào đi tiễn. Máy bay chở tôi đến một phi trường xa lạ và rồi chỉ có một mình ông chú ruột chờ sẵn ở cổng ra vào. Chú tôi trông thật còm cõi, khác hẳn với hình ảnh cũ tôi biết. Tôi hỏi chú đã mất bao nhiêu tiền lo lót cho papa Wano trong vụ của cháu và thật ngạc nhiên khi nghe ông trả lời: ” Chú có đồng nào mà đưa cho ông luật sư Nam Dương đó hả cháu. Cháu sang đây là do chính phủ Hoa Kỳ thấy Cao Ủy thanh lọc bất công quá nên họ nhận hết những thuyền nhân còn sót lại ở các trại tị nạn “. Tôi kể cho Yến nghe giấc mơ này thì nàng cười rũ ra và bảo: ” Hay là anh muốn em ở lại đây chờ đến ngày định cư cả đám ấy nên mới có giấc mơ hay như vậy “. Còn tôi thì nghĩ tại bản thân quá lo lắng nên mình khi ngủ say mới có một giấc mơ như thế.

 

Khi mà có quá đông thuyền nhân công khai đi tìm papa để lo lót cho vụ thanh lọc thì người ta không cần phải kín đáo như trước nữa. Thực ra thì cũng khó dấu diếm chuyện đó vì thuyền nhân lãnh được tờ ngân phiếu cả mấy ngàn đô la Mỹ và phải đi đổi lấy ngay tiền mặt tại một ngân hàng dã chiến công khai tại đảo Galang, trước mặt nhiều người. Tại sao nhận cả ngàn đô la Mỹ khi đang sống cảnh tạm dung trong trại tị nạn và thân nhân gửi cho số tiền lớn như vậy để làm gì? Hỏi thì tự khắc có câu trả lời. Tiền để thuyền nhân lo lót thanh lọc, lấy vé tị nạn để đi định cư và tránh cảnh bị police bản xứ cưỡng bức hồi hương sau này. Thêm vào đó, thuyền nhân có tiền cũng phải kiếm được đường dây để gặp mặt papa mà thỏa thuận. Đâu phải thuyền nhân nào cũng có thể tự do đi khơi khơi vào khu vực thanh lọc, phòng an ninh P3V… gặp mặt các papa mà tính chuyện. Đành phải tìm các chân rết, đầu mối… là các tay trật tự viên người Việt làm việc riêng với các papa trước. Hầu như papa ngồi kín ở trong phòng riêng và chỉ biết đến các tay cò, đầu mối môi giới. Cũng có khi tình cờ gặp mặt papa ở ngoài đường, bãi biển để thuyền nhân trực tiếp bàn chuyện nhưng thật sự rất hiếm. Thuyền nhân khi đưa tiền cho các tay mối lái, cò này đều muốn những người khác biết chuyện mình đang lo lót thanh lọc để tránh trường hợp bị… quỵt mất không tiền. Người biết vụ lo lót chính là các nhân chứng, nếu cần. Giá cả tăng giảm, khác biệt tùy từng trường hợp. Có người mất năm ngàn, người thì bẩy ngàn hoặc chỉ có hai ngàn đô la Mỹ là xong, nhất là các cô gái trẻ đẹp. Cứ có tiền là xong. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, ngay cả các papa cũng biết nói câu châm ngôn đó. Cái đám trật tự người Việt chịu đi làm cò, môi giới cho bọn papa này là thứ dòi bọ tay sai. Người trong trại bảo nhau papa biết thuyền nhân nào có tiền để chạy thanh lọc cũng từ tin tức của bọn nhà băng PKL cho danh sách. Còn giá cả, chính bọn tay sai đã nâng giá lo lót càng lúc càng cao và có khi, còn báo cho papa biết thuyền nhân đang định hối lộ đó là con gái trẻ đẹp nữa. Chỉ vì một vé tị nạn mà đám tay sai này đã nhắm mắt cộng tác với bọn papa trong chuyện hành hạ thuyền nhân ở trại.

 

Trong ghe CL 135 chúng tôi thì Tám Kiệt sẵn tiền, chính vì vậy y đã lấy vé tị nạn dễ dàng. Giờ đây, Tám Kiệt chỉ bận tâm học Anh ngữ và sáng sáng, y diện bộ quần short-áo thun để chạy bộ cả quãng đường dài như một cải thiện cho sức khỏe bản thân trong khi chờ đợi ngày đặt chân đến Mỹ. Ngoài ra thì còn có cậu Dũng, một cựu bộ đội trong trung đoàn Gia Định của Việt Cộng cũng đang làm hồ sơ xin đi Úc. Người trong ghe hỏi chuyện mất bao nhiêu tiền thì cậu Dũng này chỉ cười cười, không nói.

 

Thời gian này tôi không thấy ông Peter, Cao ủy trưởng ở trong trại tị nạn nữa. Thuyền nhân kháo nhau là ông ta bất mãn vì không thể ngăn cản được các vụ nhũng lạm của phía phòng thanh lọc nước chủ nhà nên đã tự ý rời bỏ nhiệm sở ở Galang để về nước. Phần người Việt, ai cũng thấy sau khi ông Bùi Thế Dung lên đường định cư rồi thì những người kế nhiệm trong ban Đại diện trại như cựu thiếu tá Phan Thanh Miên, cựu đại úy Ngô Chí Đức… không đủ uy tín để khiến đám papa, police, phòng An ninh P3V e dè như trước. Lý do cũng dễ hiểu, với cấp bậc cũ trong quân đội miền Nam VNCH,  những thuyền nhân kể trên còn dưới cơ so với hàng trung tá, đại tá người bản xứ đang điều hành tại đảo Galang. Không rõ các tu sĩ người bản xứ chăm sóc tinh thần của thuyền nhân đạo Thiên Chúa, Tin Lành, Hồi giáo ở trong trại như linh mục Padmo, mục sư Carrel, mục sư Tampunang và giáo sĩ Abduhlab… có biết về các vụ hối lộ thanh lọc này không? Có thể họ biết, biết rõ nhưng không chống lại được quyền hành trong tay những viên chức ở đảo này nên đành im lặng. Hình ảnh Micheal, luật sư da đen người Mỹ đã phải bỏ của chạy thục mạng cứu thân trong mấy tháng trước lại về trong tâm trí tôi.

 

Thư gửi đi rồi mà vẫn chưa thấy hồi báo của chú tôi đến trại. Hàng ngày, tôi vẫn đi làm thiện nguyện ở phòng Dịch thuật và một buổi chiều thì papa Wano đi ngang qua. Thấy tôi, ông ta dừng lại, khẽ hất cầm lên như một câu hỏi về lời dặn dò cũ. Tôi hiểu ý và lắc đầu cùng xoay tay báo hiệu đáp trả. Papa Wano ngần ngừ trong giây lát rồi sau đó ông ta bước đi và mất bóng sau dãy nhà của khu vực thanh lọc. Giờ đây, ở trại tị nạn Galang, trong những lần xổ thanh lọc vừa rồi đã có thuyền nhân được papa âm thầm gọi lên gặp và phát cho giấy tị nạn dù rằng người đó đã qua hai lần nạp đơn kháng cáo. Ai cũng biết những thuyền nhân này phải mất khá nhiều tiền lo lót vì, cứ theo nguyên tắc của Cao Ủy, người bị rớt chỉ được nạp đơn kháng cáo một lần và chỉ một lần duy nhất. Thấy thái độ của papa Wano, tôi không biết hoàn cảnh của bản thân mình rồi sẽ ra sao? Tôi sẽ bị rớt thanh lọc như các người khác vì trong tay không có tiền để lo. Chú ruột tôi ở quá xa thêm hoàn cảnh rất khó để có thể giúp. Nếu sự may mắn không đến và bị papa Wano đánh rớt thanh lọc thì chắc chắn tôi sẽ phải viết đơn kháng cáo. Đó là một thủ tục mà bất kỳ thuyền nhân bị rớt thanh lọc nào cũng phải làm. Nộp đơn kháng cáo như một hy vọng sẽ có sự thay đổi tốt đẹp hơn trong mai hậu dù niềm tin đó thật mờ nhạt. Những người bị rớt từ lâu vẫn bảo nhau cứ ở lỳ, đừng tự nguyện hồi hương thì sau cùng Cao Ủy cũng phải giải quyết tìm cách cho tất cả thuyền nhân còn sót lại trong trại đi định cư nước thứ ba hết cả. Họ an ủi, khích lệ nhau.

 

–  Phải cố trụ lại, dù có chật vật cách mấy cũng đừng bỏ cuộc. Phải giữ niềm tin như đốm lửa nhỏ chống chọi với cơn gió lớn. Điều tốt lành sau cùng rồi sẽ đến với chúng ta. Không lẽ họ đem vất cả bọn mình xuống biển.

 

Làm sao dám hồi hương được khi đọc tin trên báo chí Việt ngữ hải ngoại nói nhà nước Việt Cộng vẫn duy trì các trại tù cải tạo cũ và xây thêm nhà tù mới cũng như còn giam gần mười ngàn tù nhân chính trị, trong đó có người bị bỏ tù trên 16, 17 năm trời mà không hề được xét xử.

 

Giờ đây trước mắt tôi, Yến chầm chậm từng bước chân theo đuôi dòng người đi đến cầu tàu bê tông nơi con tàu cao tốc đang ầm ì chờ khách. Yến mặc bộ quần áo mới toanh. Cái áo mầu vàng do chính tay nàng mua vải và tự may lấy sau khi học xong khóa may cắt tại trường dạy nghề Consortitum. Còn quần thì jean xanh dương, đã mua tại chợ bên đảo Tanjung Pinang trong dịp hai đứa tôi đi chơi ở lần trước đó. Yến cũng đã tự tay may cho tôi một cái áo sơ mi trắng, bảo tôi mặc ngay nhưng tôi đã cất, nói giữ nó như thể có nàng bên cạnh. Chỉ trong chốc lát nữa thôi… bờ vai, mái tóc và vóc dáng thân quen của nàng sẽ biến mất khỏi tầm mắt tôi. Nghĩ vậy khiến tôi thảng thốt, vội bước gần hơn về phía cầu tàu, tay luống cuống đưa lên đưa xuống như muốn níu kéo Yến ở lại với mình. Một khoảng cách thật gần nhưng lại quá xa để tôi làm điều đang mong muốn. Yến vẫn chầm chậm từng bước trên sàn tàu bê tông và chợt nàng đứng khựng lại rồi quay nhìn vào bờ. Nàng trông buồn lắm khi bắt được ánh mắt của tôi trong số người đưa tiễn. Yến lại khóc hay sao khi khuôn mặt nàng mờ nhạt quá và tôi nghe cả âm thanh sụt sùi, tiếng nấc xa xa đó. Còn tôi bây giờ, những dòng nước mắt đang chảy trên má, thấm vào môi vào miệng một vị mặn trên lưỡi và ngay cả trong lòng mình.

 

Có sự biệt ly nào lại không buồn. Yến giơ tay chào tôi lần cuối rồi lại cười trong vẻ mặt vời vợi khó tả trước khi nàng cúi thân mình xuống để chui tọt vào lòng con tàu cao tốc. Mắt tôi nhìn đăm đăm giây phút đó rồi nhắm lại, cố lưu giữ hình ảnh còn lại sau cùng của Yến… cho đến tận bây giờ.

 

Tiếng máy của con tàu cao tốc nổ to hơn khi trên sàn cầu bê tông vắng lặng không một bóng khách hồi hương nào nữa. Tàu sắp khởi hành thật rồi. Từ lúc này, mình sẽ sống cô đơn không còn Yến bên cạnh, tôi nhủ lòng. ” Khi em hồi hương về Việt Nam rồi… Sống một mình, anh có buồn không? “, câu Yến hỏi tôi nhiều lần trong những ngày vừa qua lại về trong trí nhớ tôi làm tôi buột miệng lập lại lời nàng. Làm sao mà anh không buồn hả em, nhất là như trong lúc này đây. Thấy vài người rời khỏi căn nhà tiếp đón và bước hẳn đến bên mép bờ nước gần với cầu tàu bê tông, tôi liền theo chân họ. Đứng ở đây, đảo mắt nhìn các khung cửa sổ của con tàu cao tốc, tôi nghĩ họ cũng như bản thân mình, mong bắt gặp lại khuôn mặt của người thương trong khoang hầm đó. Tiếng động cơ ầm ì khiến tôi nhớ lại lần đi cùng với Yến sang đảo Tanjung Pinang hôm nào. Đột nhiên tôi lo cho nàng. Từ trại tị nạn Galang sang tới đảo Ba Tam để lên máy bay hồi hương về quê nhà, hải trình này xa hơn so với khoảng cách đến Tanjung Pinang thì làm sao Yến chịu được những cơn say sóng. Tôi muốn đến bên Yến ngay bây giờ, để nhắc nàng bôi chút dầu gió Song Thập lên hai thái dương cùng phải ngửa mặt về hướng trần tàu cao tốc trong chuyến đi. Không biết nàng có làm điều đó không? Tôi ngó dáo dác con tàu cao tốc mong bắt gặp được Yến. Mầu áo vàng đâu rồi? Thời gian gấp lắm mà chẳng thấy nàng đâu. Làm sao bây giờ! Chợt một tiếng ùm thật lớn kéo theo một quầng tròn sóng ngay chính giữa vùng nước rộng không xa cầu tàu bê tông. Tiếng động đó làm giật cả mình, kéo tôi trở về với thực tại. Lại con cá lớn đớp bóng nước như các lần trước đây, tôi nhủ thầm. Nhìn các quầng nước rộng nổi lăn tăn thành các lọn sóng đập ì à vào mép đất cạnh bờ giống y như lần trước đã cùng anh Khảm đứng ngay chỗ này trong buổi tối khi vừa từ bên đảo Tanjung Pinang trở về. Anh Khảm đã lên đường đi Mỹ và bây giờ, đến lượt Yến bỏ tôi để quay về Việt Nam. Chị Phượng cũng đã chia tay hai đứa tôi để đi Úc sau khi xong thời hạn uống thuốc trừ bệnh phổi. Những người thân yêu trong nhóm ngày nào từ từ rồi sẽ rời trại hết cả. Hôm nay là Yến thì sắp tới sẽ đến lượt cô Bẩy và cô Đào. Còn Đỉnh! Tuy hiện thời nó chưa có giấy bảo lãnh nhưng rồi mọi sự sẽ hanh thông, sẽ xuôi lọt. Cha mẹ nào mà không thương đứa con của mình, nhất là khi nó ở xa gia đình và lại đang trong một trại tị nạn. Nó sẽ có giấy bảo lãnh và sẽ nhận kết quả đậu thanh lọc. Rồi nó và Ánh Diễm sẽ lên đường để định cư tại Hoa Kỳ. Những người thân yêu của tôi sẽ biến mất khỏi trại tị nạn này như những vòng nước nhỏ tan loãng khi chạy vào tới cạnh bờ đất. Nhìn những vòng nước nhỏ đang đuổi nhau chạy lăn tăn vào bờ, làm  tôi nhớ đến khuôn mặt của Yến với đôi mắt mở to khi nghe anh Khảm nói để tạo ra được tiếng động lớn khi đớp bóng nước như vậy, con kình ngư dưới cầu tàu Galang này phải khiếp lắm. Khi đó, nàng đã hỏi:

 

– Kình ngư! Là giống cá gì vậy anh Vũ? Dân địa phương ở đây có biết đến con cá này không?

 

– Anh chẳng biết con này là giống cá gì nữa? Kình ngư là tiếng người ta gọi chung các loài cá hung dữ thật lớn ở biển ở sông hay hồ rộng. Nó có thể là cá mập, cá  nhà táng, cá ông, cá hô… như bên nước Việt mình. Dân địa phương ở khu vực này cũng biết có con cá rất lớn nhưng anh nghĩ họ chẳng động đến đâu.

 

Tôi nói như vậy với nàng và rồi nhớ đến lời anh Khảm bảo người Indo họ cũng tin vào các chuyện huyền bí, tâm linh. Anh Khảm nói:

 

– Họ cũng tin tưởng về thế giới siêu hình có chim thần, rắn thần hay cá thần… hiển hiện ngay trên cõi đời hữu hình này. Garuda là chim thần trong tôn giáo của người Indo và cả của các quốc gia khác nữa đó Vũ.

 

Quay đầu để bước trở lại căn nhà tiếp đón, chợt tôi để ý đến một người đàn ông đứng không xa ngay phía sau lưng tôi. Hai tay ông ta chấp vào nhau để trước ngực, mắt nhắm nghiền và miệng thì lẩm bẩm như đang cầu nguyện. Nghe tiếng chân tôi bước, ông ta mở mắt nhìn rồi khẽ cúi đầu chào. Thấy ông ta đã lớn tuổi, tôi cất tiếng trước để làm quen:

 

– Chào chú! Chú tiễn thân nhân hồi hương hả?

 

– Dạ cậu! Ông ta gật đầu, trả lời tôi.

 

– Người đó là bà con làm sao với chú vậy? Lớn hay còn nhỏ tuổi, có gia đình gì không?

 

– Nó còn trai trẻ măng à. Là cháu ruột, gọi tui bằng cậu. Nó dìa bển tui buồn lắm. Ở đây có hai cậu cháu hủ hỉ với nhau mà nay vắng nó còn lại mình ên tui. Khuyên nó ráng chờ xem Cao Ủy giải quyết ra sao nhưng lại không nghe lời. Cứ nhất định hồi hương, cản không được. Còn cậu?

 

Tôi kể sơ qua về bản thân mình cùng mối liên hệ với Yến rồi nhìn kỹ người đàn ông, đoán tuổi chắc ngoài sáu mươi rồi. Da trên khuôn mặt ông nhăn nheo, hai gò má cao làm cái miệng hơi hóp cùng mái tóc loăn quăn sợi bạc sợi trắng xen kẽ nhau. Cứ như lời ông ta nói thì chắc cũng đã bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc. Và đúng như vậy khi ông tiếp lời:

 

– Mình sống không nổi với bọn Cộng Sản, chạy thoát qua được tới đây thì bị người ta cho là di dân kinh tế, nằng nặc bảo mình phải hồi hương. Bây giờ còn nói ở bển thay đổi rồi. Liên Xô sụp đổ, chính quyền Việt Nam đổi mới không như trước nữa. Người ngoại quốc làm sao mà rành bọn Cộng Sản bằng dân Việt mình.

 

Lời ông ta nói làm tôi nhớ đến Cao Ủy đã cho các nhân viên của họ vào trại tị nạn Galang tiếp xúc với thuyền nhân để khuyến khích người bị rớt thanh lọc nên hồi hương càng sớm càng tốt. Có người nhận được thư từ thân nhân bên trại tị nạn ở Mã Lai, Thái Lan nói Cao Ủy còn mang cả sách báo của Việt Cộng từ quê nhà sang để cho thuyền nhân xem như một quảng cáo các thay đổi kinh tế đã khác trước lúc vượt biên. Tôi gật đầu như một đồng tình với ông. Băng đảng Việt Cộng đã bao phen xí gạt các quốc gia tự do và nay với chiêu bài đổi mới lại muốn mượn tay Cao Ủy đánh lừa thuyền nhân ở các trại tị nạn. Chưa kịp nói thêm gì với ông ta thì có tiếng người nói lớn làm tôi phải nhìn lại cầu tàu bê tông.

 

– Tàu cao tốc chạy rồi kìa bà con ơi. Thôi! Vậy là xong. Tan hàng thật rồi.

 

Phải! Thuyền nhân nào chịu hồi hương, coi như cá nhân đó đã bỏ cuộc và tan hàng trong cuộc đua tìm tự do cho bản thân. Yến đã có mặt trong số những người chấp nhận tan hàng trước mặt tôi. Những người đang có mặt đi tiễn thân nhân hồi hương ở đây rồi sẽ thêm vào con số tan hàng trong nay mai? Vượt biên đâu phải là một chuyến đi dễ dàng như du lịch trên biển, ai cũng biết như vậy. Tìm cái sống trong cái chết, nguy hiểm lắm chứ. Không kể những người đã bỏ xác  vì tàu đắm trong các cơn bão, vì tay hải tặc… người thoát được đến trại tị nạn có khi vừa qua được cơn hút chết như trường hợp của chiếc ghe CL 135 chúng tôi thì nay lại phải quay về lại quê nhà nơi mà mình đã cố hết sức để vượt biên. Tôi mất Yến thật rồi và mất cả niềm tin vào thế giới tự do nữa.

 

Tiếng máy tàu cao tốc đột nhiên lớn hơn sau khi đã làm một cú xoay thân, hướng mũi về phía Bắc trực chỉ đảo BaTam. Tôi và người đàn ông theo chân những thuyền nhân khác cùng đi thẳng ra cầu tàu bê tông bất chấp những police bản xứ đang đứng canh gác gần đó. Con tàu cao tốc càng lúc càng xa khỏi tầm mắt của lũ chúng tôi để rồi sau cùng khuất hẳn sau mỏm bờ của một hòn đảo.

 

Trong bầu không khí trong lành của buổi ban mai, tôi nhìn xuống dưới làn nước xanh ngát sát cạnh các cột bê tông cầu tàu. Nước biển hôm nay trong vắt có thể thấy các hòn đá, lon đồ hộp rỉ cũ nằm vật vờ trên mặt cát sát với chân các hàng cột. Nhìn ra xa hơn về phía đối diện hòn đảo trước mặt là một vùng nước rộng tím thẫm, nơi đó phải sâu lắm và có thể là chỗ con kình ngư náu mình bên dưới trong các hang đá. Lời anh Khảm nói khi trước về con kình ngư này làm tôi có chút phân vân không biết thật sự có các hang động dưới nước như lời anh đã tiên đoán không. Có tiếng còi tu huýt của một tay police bản xứ rúc lên làm cả đám người chúng tôi lục tục kéo nhau đi trở lại vào hướng bờ. Một police bản xứ khác tiến đến bảo đám người chúng tôi tụ họp chung trong căn nhà tiếp đón để chờ có xe tải chở hết tất cả về lại trại và y ta còn ra lệnh không ai được lảng vảng đến gần nhà của dân địa phương gần đó. Những căn nhà lúc nào cũng đóng im ỉm kín cửa mỗi khi có thuyền nhân Việt xuất hiện ở khu vực cầu tàu Galang này. Thấy người đàn ông ban nãy đứng một mình ở gần góc căn nhà tiếp đón và quay mặt nhìn về hướng ngoài cầu tàu, tôi tiến đến bắt chuyện.

 

– Mỗi lần có công việc ra cầu tàu, cháu đều thấy con cá đớp bóng như lúc vừa rồi… Chú có thấy như vậy không?  Sao dân ở đây không bắt nó xem coi.

 

– Cá thần đó. Cậu đừng nói bậy. Người đàn ông nho nhỏ đáp lại.

 

Cá thần! Tôi lập lại câu vừa nghe và nhìn vào mặt người đàn ông như một dò hỏi, thắc mắc. Thấy thái độ tôi như vậy, người đàn ông liền bảo:

 

– Đất có Thổ công, sông có Hà Bá… Cá thần ở đây y như ở quê nhà tui hồi năm xưa. Tin hay không do tùy cậu nhưng là sự thực.

 

– Chú nói cái gì vậy? Con cá đớp bóng… đó đó hả ? Ở Việt Nam… năm xưa. Tôi lắp bắp miệng.

 

– Phải!

 

Người đàn ông trả lời gọn lọn rồi như ngập ngừng, như ngần ngại không muốn kể thêm và có thể vì thấy đã lỡ nói ra cho tôi biết nên sau một hơi thở dài, ông ta tiếp:

 

– Cá thần… trong một vụ trục tàu Tây chìm trên sông Cần Thơ lúc bọn Nhựt Bổn cầm quyền thời năm 45 ngay trước đình Tân An. Khi đó tui mới 13, 14 tuổi.

 

Nhìn Lại Cách Mạng Tháng Tám 1945

Tháng Tám là tháng mùa Thu trong mùa mưa của nước Việt Nam (dù là miền Bắc, Trung hay Nam) và hàng năm đến tháng này thì hầu như người Việt ai ai cũng biết đến sự kiện Cách Mạng Tháng Tám (còn gọi là Cách Mạng Mùa Thu năm 1945) trong lịch sử cận đại. Cách Mạng Tháng Tám, với ngành Sử tại quê nhà hiện nay (do băng đảng Việt Cộng cai trị) định nghĩa như sau: Để chỉ việc phong trào Việt Minh tiến hành khởi nghĩa chống lại lực lượng quân đội của Đế quốc Nhật Bản, BUỘC Đế quốc Việt Nam (do vua Bảo Đại lãnh đạo) phải BÀN GIAO chính quyền trung ương và các địa phương và BUỘC vua Bảo Đại phải THOÁI VỊ trong tháng 8 năm 1945 để từ đó, dẫn đến sự kiện ngày 2 tháng 9, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đồng thời cũng chấm dứt hoàn toàn chế độ quân chủ chuyên chế đã tồn tại suốt 2000 năm trong lịch sử Việt Nam.

 

Điều này đúng hay sai, người viết bài này quay lại thời điểm cũ để xin được nhắc lại các sự kiện, các nhân vật lịch sử liên quan của thời cuộc năm đó cũng như các hệ luỵ còn kéo dài đến tận ngày hôm nay.

 

Trước tiên phải nói về danh xưng Việt Minh trong bài viết là tên gọi tắt của tổ chức Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội tức Cộng Sản Việt Nam. Kế tiếp là việc có mặt quân đội Nhật tại Việt Nam. Cuối tháng 9 năm 1940, nhằm mục đích cắt đứt một trong các tuyến đường viện trợ của Hoa Kỳ tại Việt Nam (từ cảng Hải Phòng, đường hoả xa Hải Phòng-Vân Nam) cho quân đội Trung Hoa do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945); từ thành phố Long Châu thuộc tỉnh Quảng Tây miền Nam Trung Hoa, quân đội Nhật tràn vào miền Bắc-Việt Nam và giao tranh với quân đội Pháp trú đóng tại Đồng Đăng-Lạng Sơn cùng các vùng dọc theo biên giới Việt-Hoa. Quân đội Nhật thắng quân đội Pháp dễ dàng và dần dần chiếm các địa điểm trọng yếu (sân bay, đường hoả xa…) cùng các thành phố ở các tỉnh trong vùng biên giới này. Thua trận trước quân đội Nhật, người Pháp buộc phải ký Hiệp ước Tokyo 1941 mà theo đó, phải để cho quân đội Nhật được sử dụng mọi phương tiện giao thông, kiểm soát hệ thống đường sắt, tàu biển tại các cảng ở Đông Dương (gồm 3 nước Việt-Miên-Lào) với trọng tải 200.000 tấn. Từ ngày ký hiệp ước này cho đến năm 1945 chính quyền Pháp phải nộp cho Nhật một số tiền là 723.786.000 đồng. Ngoài ra, Nhật cũng yêu cầu Pháp phải nhượng 50% giá trị nhập cảng và 15% giá trị xuất cảng của Đông Dương cho các công ty thương mãi của Nhật. Chính vì vậy, hầu hết các mặt hàng xuất cảng của Đông Dương trong hai năm 1942-1943 như gạo, than, kẽm, cao su, xi măng đều được xuất cảng sang Nhật. Tính đến năm 1941 các ngành khai thác khoáng sản chính ở Đông Dương như: măng-gan, sắt, phốt-phát, quặng crôm… tư bản Nhật chiếm gần 50% số vốn đầu tư của các công ty nước ngoài. Thêm vào đó, về quân sự, Pháp phải có trách nhiệm hỗ trợ quân đội Nhật trong các trận chiến tại Á Châu. Đổi lại, về chính trị, Nhật để yên cho Pháp được tiếp tục việc quản lý (cai trị) Đông Dương trong hoà bình (tuy trong thực tế, Nhật dần dần từng bước làm giảm ảnh hưởng chính trị của Pháp và các phe nhóm thân Pháp).

 

Xin liệt kê các sự việc đã xẩy ra theo từng năm như sau:

 

Năm 1941:

Vào ngày 7 tháng 12, hải quân Nhật (gồm 6 hàng không mẫu hạm, 2 thiết giáp hạm, 3 tuần dương hạm, 11 khu trục hạm, 3 tiềm thuỷ đỉnh cùng 423 máy bay hải quân) đã bất ngờ tấn công lực lượng hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng (Pearl Habor) ở quần đảo Hawaii. Mục đích đầu tiên của cuộc tấn công là nhằm vô hiệu hóa hải quân Hoa Kỳ một thời gian đủ để Nhật có thể thiết lập cái gọi là Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á đã được họ trù tính từ lâu (thành lập ngày 1 tháng 8 năm 1940). Tiếp đó trong 3 tháng liền, quân đội Nhật tiến chiếm toàn vùng Đông Nam Á Châu, quét sạch hệ thống cai trị của Hoa Kỳ tại Phi Luật Tân; của Anh Quốc tại Singapore, Mã Lai Á, Miến Điện và của Hoà Lan tại Nam Dương…

 

Năm 1942:

Sau chiến thắng ở Trân Châu Cảng, bắt đầu từ đầu tháng 5 cho đến tháng 6, hải quân Nhật lần lượt thất trận trước hải quân Hoa Kỳ trong các trận hải chiến then chốt tại vùng biển Thái Binh Dương. Xin kể lần lượt như sau: Đầu tiên là trận hải chiến tại vùng biển San Hô (Coral Sea) diễn ra từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 5. Trong trận hải chiến này, hải quân Nhật mất 1 hàng không mẫu hạm (Shoho) và 1 khu trục hạm, 69 máy bay. Trận thứ hai xẩy ra ngay tháng kế là Midway (diễn ra từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 6) và hải quân Nhật bị đánh chìm 4 hàng không mẫu hạm (Kaga, Agaki, Soryu và Hiryu), 1 tuần dương hạm và mất 248 máy bay. Trận hải chiến Midway này mở đầu cho các thất trận khác của hải quân Nhật không lâu sau đó là trận hải chiến thứ ba ở vùng biển Đông Solomon (diễn ra trong hai ngày 24-25 tháng 8), trận Guadalcanal và ở vùng biển quần đảo Santa Cruz (diễn ra ngày 26 tháng 10). Trong trận hải chiến này, hải quân Nhật bị chìm 1 hàng không mẫu hạm (Ryujo), 1 khu trục hạm, 1 tuần dương hạm và mất 75 máy bay. Kể từ đây, hải quân Nhật bắt đầu yếu thế trên mặt biển trước lực lượng hải quân Hoa Kỳ.

 

Năm 1944:

Ngày 19 tháng 6 trong năm này đã xẩy ra trận hải chiến thứ tư giữa lực lượng hải quân Nhật và hải quân Hoa Kỳ tại vùng biển Phi Luật Tân và vùng quần đảo Mariana mà kết quả là sự đại bại của hải quân Nhật (chìm 3 hàng không mẫu hạm là Taiho, Shokaku và Hiyo, mất 475 máy bay trong trận đánh). Thua trận hải chiến, cùng với việc thất trận tại trận đảo Saipan trước đó đã khiến lực lượng hải quân Nhật gần như mất hết ưu thế trên các chiến trường tại các mặt trận thuộc vùng Thái Bình Dương trước quân đội Hoa Kỳ (Nhật không thể nào chạm trán với hải quân Hoa Kỳ được nữa vì con số chiến hạm quá chênh lệch, bên nhiều bên ít). Trận hải chiến cuối cùng giữa hai bên là trận chiến tại vịnh Leyte trong vùng biển Phi Luật Tân xẩy ra mấy tháng sau đó (từ ngày 23 đến ngày 26 tháng 10). Lực lượng Hoa Kỳ tham dự trận đánh gồm 34 hàng không mẫu hạm lớn nhỏ, 12 thiết giáp hạm, 24 tuần dương hạm, 141 khu trục hạm cùng 1500 máy bay. Lực lượng hải quân Nhật gồm 4 hàng không mẫu hạm lớn nhỏ, 9 thiết giáp hạm, 20 tuần dương hạm, 35 khu trục hạm cùng 300 máy bay. Trong trận hải chiến này, lần đầu tiên máy bay Nhật (bao gồm máy bay trên hàng không mẫu hạm lẫn máy bay từ các phi trường trên mặt đất) đã thực hiện các cuộc tấn công tự sát (Kamikaze) một cách có tổ chức hẳn hoi (các trận hải chiến trước cũng đã có nhưng chỉ lẻ tẻ). Dù anh dũng nhưng các phi công Kamikaze cũng khó hoàn thành sứ mạng Thần Phong của họ vì thiếu kinh nghiệm tác chiến (phi công tân tuyển) và nhất là hoả lực phòng không từ các chiến hạm hải quân Hoa Kỳ đã ngăn chận kịp thời các vụ đâm máy bay tự sát (máy bay Kamikaze bị bắn tan trên không trước khi kịp đến được chiến hạm Mỹ). Sau trận hải chiến này, hải quân phát xít Nhật chỉ còn khoảng 10% tổng số máy bay đã có từ trước cùng 3 hàng không mẫu hạm còn lại (Zuikaku, Junyo, Chyoda). Nhật không đủ còn máy bay để bố trí trên các hàng không mẫu hạm nữa và họ chỉ còn các thiết giáp hạm, tuần dương hạm để đương đầu với hải quân Hoa Kỳ thôi. Cũng trong năm 1944, tại chiến trường Âu Châu, ngày 6 tháng 6 quân đội Đồng Minh (cầm đầu bởi Hoa Kỳ) đổ bộ thành công Normandie mở thêm một mặt trận thứ hai chống lại quân lực Đức Quốc Xã. Ta biết là trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, ba nước Đức, Ý Đại Lợi và Nhật đã ký hiệp ước đồng minh quân sự và chính trị ở Berlin (ngày 27 tháng 9 năm 1940) mà lịch sử gọi là phe Trục. Hiệp ước này trước hết nhằm chống Liên Xô, nhưng còn chống cả Anh, Hoa Kỳ nữa. Hiệp ước đề ra việc phân chia thế giới mà theo đó: Đức, Ý sẽ chia nhau thống trị toàn châu Âu, Phi Châu và Nhật làm chủ vùng Thái Bình Dương cùng Viễn Đông…

 

Năm 1945:

Chính vì thua trận trong các hải chiến ở Thái Bình Dương thêm mất mát ở các mặt trận khác trong vùng Đông Nam Á như trận Saipan, quần đảo Mariana… cũng để rảnh tay  đối phó với liên quân Hoa Kỳ-Anh Quốc sắp tiến vào Đông Dương nên Nhật tiến hành một cuộc  tổng tiến công (chiến dịch Meigo) trong đêm ngày 9 tháng 3 và bắt nhốt hết các công chức, binh lính Pháp trên toàn cõi Đông Dương (ước tính khi đó phía Pháp có khoảng 38.000 người mà trong đó chỉ khoảng 7500 là người Pháp chính gốc và số còn lại là lính mộ tại các xứ thuộc địa bên Phi Châu). Thực ra tại Đông Dương khi đó, binh lực Pháp không phải là đối thủ của Nhật, một đội quân dày dạn trong lửa đạn. Lúc đầu khi vào được Đông Dương, người Nhật để yên cho Pháp toàn quyền về hành chính nhưng sau này vì biết Pháp (do đô đốc Jean, Decoux làm toàn quyền) cố tình gây trở ngại trong việc cung ứng lương thực cho quân đội Nhật, che dấu không trao cho phía Nhật các phi công Mỹ bị bắn rớt lại thêm cung cấp các tin tức cùng vị trí đồn trú (của phía Nhật) để phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc… nên buộc lòng Nhật phải ra tay lật đổ Pháp.  Ngày 9 tháng 3, lúc 7 giờ chiều tại Sài Gòn (ở dinh Norodom sau này là dinh Độc Lập), đại sứ Nhật là Matsumoto Shinichi đưa tối hậu thư cho toàn quyền Pháp Jean Decoux, hẹn trong vòng 2 tiếng đồng hồ phải trao quyền chỉ huy tất cả các lực lượng quân sự, an ninh của Pháp cho Nhật. Sau thời hạn ấn định ngắn ngủi, quân đội Nhật mở cuộc tấn công vào các vị trí đóng quân của Pháp trong toàn cõi Đông Dương. Trong vài ngày kế tiếp, hàng ngàn người Pháp đã bị lính Nhật giết chết và một số rất đông bị bắt làm tù binh.

 

Ngày hôm sau, 10 tháng 3 năm tại Huế, vua Bảo Đại tiếp kiến đại sứ Nhật Matsumoto Shinichi. Ông đại sứ Matsumoto cho vua Bảo Đại biết Nhật đã lật đổ Pháp rồi và nhân dịp này, trao trả độc lập cho 3 nước Việt-Miên-Lào (Đông Dương) để tự thiết lập một thể chế chính phủ mới (lấp vào chỗ trống hành chính của Pháp). Ông ta cũng mong có sự cộng tác của 3 nước Việt-Miên-Lào mật thiết với nước Nhật trong Khối Thịnh Vương Chung Đại Đông Á. Nhân đây xin được nhắc sơ về thân thế của vua Bảo Đại. Vua Bảo Đại tên thật (trong giấy khai sinh) là Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913), là vị hoàng đế thứ 13 và là vị vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn (1802-1945) tại Việt Nam.

 

Ngày 11 tháng 3, vua Bảo Đại cùng các toàn thể quan thượng thư trong nội các Nam triều ký bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên cho nước Việt Nam sau 80 năm đô hộ của Pháp. Tuyên ngôn này được coi là Dụ số 1 của vua Bảo Đại và cũng là công văn hành chính đầu tiên của hoàng đế nước Việt Nam. Trong đó có đoạn:

 

“… Chiếu tình hình thế giới nói chung và tình hình Á châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia… “.

 

Điều này có nghĩa vua Bảo Đại đã huỷ bỏ Hoà ước Patennotre 1884 (còn gọi là Hoà ước Giáp Thân (gồm 19 điều) mà điều 1 trong đó quy định:  Nước An Nam thừa nhận và chấp thuận nền bảo hộ của nước Pháp. Nước Pháp sẽ đại diện cho nước An Nam trên mọi quan hệ ngoại giao. Những người dân An Nam sống ở nước ngoài đều đặt dưới quyền bảo hộ của nước Pháp),  khôi phục chủ quyền Việt Nam và thống nhất 3 kỳ (Nam-Trung-Bắc) làm một thực thể. Tất nhiên người Pháp không công nhận bản tuyên bố này vì không muốn mất một thuộc địa. Phe Cộng Sản Việt Nam cũng tẩy chay luôn khi cố tình mập mờ nói người Nhật dựng lại triều đình Huế. Tại sao ? Lý do, băng đảng Việt Cộng dành công khi nói chính các cuộc cướp chính quyền tại các địa phương cả nước trong tháng 8 năm 1945 mới dẫn đến ngày 2 tháng 9 năm 1945 tức là ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc Lập tại Ba Đình-Hà Nội, khai sinh thể chế cộng hoà đầu tiên của nước Việt Nam.

 

Sau tuyên bố độc lập, vua Bảo Đại uỷ cho học giả Trần Trọng Kim lập chính phủ gồm các bộ theo hình thức Tây phương (đứng đầu mỗi bộ là một vị phụ trách chuyên ngành bộ mình) và ngày 19 tháng 4 năm 1945 (có tài liệu nói ngày 17 tháng 4 nội các này ra mắt gồm:

 

– Thủ tướng (Tổng lý nội các)    : Trần Trọng Kim

– Bộ trưởng Ngoại giao               : Trần Văn Chương

– Bộ trưởng Nội Vụ                     : Trần Đình Nam

– Bộ trưởng Kinh tế                     : Hồ Tá Khanh

– Bộ trưởng Tài chánh                 : Vũ Văn Hiền

– Bộ trưởng Tiếp tế                      : Nguyễn Hữu Thí

– Bộ trưởng Giáo dục-Mỹ Thuật : Hoàng Xuân Hãn

– Bộ trưởng Tư pháp                    : Trịnh Đình Thảo

– Bộ trưởng Thanh Niên              : Phan Anh

– Bộ trưởng G. thông-C. chánh    :  Lưu Văn Lang

– Bộ trưởng Y tế-Cứu tế               : Vũ Ngọc Anh

– Khâm sai Bắc bộ                        : Phan Kế Toại

– Khâm sai Nam bộ                       : Nguyễn Văn Sâm

 

Đây là chính phủ dân sự đầu tiên của nước Việt Nam mà thường được gọi là chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ này lao ngay vào các việc: Giải quyết nạn đói ở miền Bắc (thường gọi là nạn đói năm Ất Dậu 1945) và đặt định những cơ sở đầu tiên cho một quốc gia vừa thu hồi độc lập như tổ chức chính quyền, luật pháp, y tế, giáo dục… Tại sao có nạn đói?. Ta biết nạn đói tại miền Bắc Việt Nam xẩy ra từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 đã làm chết khoảng 2 triệu người. Có nhiều nguyên nhân:

 

  1. Pháp và Nhật cùng thu gom lúa gạo dự trữ để dùng cho riêng phe mình (Nhật nuôi lính tại chỗ và chuyển vận về tiếp tế cho chính quốc. Pháp tích trữ sẵn chờ cho phe Đồng Minh khi đổ bộ vào Đông Dương sẽ có ngay lương thực để dùng).
  2. Máy bay phe Đồng Minh oanh tạc tàu thuyền, cầu cống, đường hoả xa… tại Việt Nam làm cản trở việc chuyển vận lương thực từ miền Nam ra miền Bắc.
  3. Thiên tai do hạn hán và côn trùng phá hoại hoa màu làm giảm 20% sản lượng thu hoạch trong thời kỳ đó.

 

Chính phủ Trần Trọng Kim ra lệnh bãi bỏ việc bắt buộc nông gia phải bán lúa gạo cho nhà nước và người dân được tự do mua bán lúa gạo, được chuyển vận gạo dưới 50kg mà không cần xin giấy phép như trước. Để có ngay gạo cứu đói cho dân chúng, chính phủ Trần Trọng Kim thay đổi cách chuyển vận gạo từ miền Nam ra miền Bắc bằng các đoàn thuyền buồm thuê của tư nhân (tránh máy bay phe Đồng Minh oanh tạc). Nhờ những biện pháp của chính phủ (cùng sự tiếp tay của đồng bào toàn quốc) mà nạn đói tại miền Bắc đã giảm hẳn đi.

Chính trong thời gian này thì Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống 2 thành phố bên Nhật (Hiroshima ngày 6 tháng 8 và Nagasaki ngày 9 tháng 8) buộc vua Nhật là Hiro Hito phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào ngày 14 tháng 8. Khi biết được tin Nhật đầu hàng, tại Sài Gòn các hội đoàn (Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tịnh Độ cư sĩ, Phật giáo, Công chức, Thanh niên…) họp nhau thành lập Mặt Trận Quốc Gia Việt Nam Thống Nhất tuyên cáo ủng hộ chính phủ. Tại Hà nội, ngày 17 tháng 8 Tổng Hội Công Chức tổ chức cuộc mít tinh (tại nhà hát lớn) để ủng hộ chính phủ. Tổng Hội Công Chức chính là lực lượng bao gồm thanh niên, sinh viên-học sinh và các đoàn thể dân chúng… đã tiếp tay cho chính phủ Trần Trọng Kim trong việc cứu đói vừa qua. Theo tinh thần của các cuộc mít tinh kể trên là tuy nước Nhật đầu hàng nhưng dân Việt Nam vẫn tiếp tục ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim. Tiếc thay cuộc mít tinh tại Hà Nội này đã bị cán bộ Việt Minh len lỏi được vào hàng ngũ người lãnh đạo, biến cuộc mít tinh thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh.

 

Tại Huế, ngày hôm sau 18 tháng 8 vua Bảo Đại nhờ Nhật trợ giúp kỹ thuật để gửi công hàm kêu gọi sự ủng hộ từ các quốc gia Trung Hoa, Anh Quốc và Hoa Kỳ cho sự độc lập của nước Việt Nam. Riêng với Pháp, bản công hàm kêu gọi Pháp đừng tái lập nền cai trị dưới bất cứ hình thức nào. Bản công hàm đã được đài phát thanh của Nhật ở Sài Gòn, Hà Nội và ở Tokyo công bố rộng rãi. Rất tiếc là các nước đồng minh được vua Bảo Đại kêu gọi trong bản công hàm lại hoàn toàn im lặng, không đáp trả.

 

Dân chúng Hà Nội tiếp tục tổ chức các buổi mít tinh tuần hành qua các đường phố, tỏ ý chí bảo vệ đất nước, chống lại mưu toan của Pháp muốn quay trở lại cai trị Việt Nam. Ngày 19 tháng 8, khi cuộc mít tinh xẩy ra ở dinh Khâm sai Bắc bộ (dinh Thống Đốc Pháp cũ), viên quan khâm sai Phan Kế Toại đã lánh mặt và loan tin từ chức. Cán bộ Việt Minh (có vũ trang súng) đã len lỏi vào nhóm tổ chức rồi sau đó họ treo cờ Đỏ sao Vàng lên. Băng đảng Việt Cộng vẫn thường gọi ngày này là ngày Cướp Chính Quyền.(Nên nhớ lúc đó quân đội Nhật vẫn còn canh gác trên nhiều đường phố ở Hà Nội). Thực sự là vì nguồn tin Nhật đầu hàng, dân chúng Hà Nội rủ nhau đi mít tinh tuần hành nhằm mục đích ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, tỏ ý chí sẵn sàng bảo vệ đất nước mà vô tình bị cán bộ Việt Minh lợi dụng. Với danh xưng Việt Minh khi đó, băng đảng Việt Cộng mập mờ với dân chúng Hà Nội là tổ chức này thuộc phe Đồng Minh, những quốc gia thắng trận đệ nhị thế chiến. Cán bộ Việt Minh (có thủ súng trong người) khi họ len lỏi vào hàng ngũ người lãnh đạo các cuộc biểu tình rồi dần dà lái việc ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim thành ủng hộ Việt Minh và hễ ai chống trả lại, bị chúng trấn áp nhanh chóng. Ngày hôm sau, đám người này lại toả ra các nơi trong Hà Nội,  đi chiếm các cơ sở của chính phủ Trần Trọng Kim (bỏ không) và tiếp tục treo cờ Đỏ sao Vàng lên rồi bàn giao cho các thanh niên cư ngụ gần đó canh gác. Và cứ vậy, những thanh niên này vô tình trở thành người của Việt Minh.

 

CMT8b

Dinh Khâm sai Hà Nội

Ngày 21 tháng 8, một nhóm thanh niên trí thức nhóm họp tại đại học xá Hà Nội và gửi điện văn vào Huế yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị. Đại sứ Nhật ở Huế là Yokohama (ghé thăm vua Bảo Đại vào lúc chiều tối) thấy tình cảnh vua nao núng vì Pháp cùng các nước thuộc phe Đồng Minh không đáp ứng nguyện vọng độc lập của Việt Nam và nay lại nhận bức điện văn yêu cầu thoái vị này, ông ta đề nghị giúp vua Bảo Đại bằng cách bắt giam toàn bộ đảng viên Cộng Sản Việt Nam khi đó (theo lời kể của ông Phan Văn Vỹ, thị vệ của vua Bảo Đại, người có mặt trong buổi tối tiếp kiến với đại sứ Yokohama). Sách báo viết về việc này đã ước tính khoảng 5000 người nhưng sau này chính Hồ Chí Minh (nói miệng với Trần Đĩnh) cho biết họ chỉ có độ 500 mà thôi (Đèn Cù 2 trang 376-Trần Đĩnh). Tuy thất trận trước Hoa Kỳ nhưng tại Việt Nam, quân đội Nhật vẫn còn nguyên vẹn nên chuyện bắt giam khoảng 5000 người này là việc quá dễ dàng với họ. Vua Bảo Đại đã từ chối lời đề nghị của đại sứ Yokohama khi nói: ” Ta không muốn một quân đội nước ngoài làm đổ máu thần dân ta ”  rồi sau đó vua chấp nhận thoái vị.

 

Băng đảng Việt Cộng rêu rao chính phủ Trần Trọng Kim do quân đội Nhật dựng nên sau cuộc hành quân Meigo của họ, do đó chính phủ này sẽ phải giải thể trước quân đội phe Đồng Minh sau khi nước Nhật đầu hàng. Băng đảng Việt Cộng viện dẫn Tuyên Bố Cairo, Tối Hậu Thư Potsdam khi gán hình ảnh nhà nước Đế Quốc Việt Nam (do chính phủ Trần Trọng Kim cai quản) tương tự như các chính phủ Mãn Châu Quốc, chính phủ Uông Tinh Vệ, chính phủ Mông Cương, chính phủ Đệ nhị Cộng Hoà Phi Luật Tân và cho là nếu chính phủ Trần Trọng Kim không chịu rút lui, vua Bảo Đại không chịu thoái vị thì rồi thực thể Đế Quốc Việt Nam sẽ không được phe Đồng Minh công nhận. Thực tế là quân đội Nhật sau khi lật đổ Pháp tại Đông Dương thì họ không hề tạo dựng ra nhà nước Đế Quốc Việt Nam mà chỉ trao trả sự độc lập cho vua Bảo Đại và chính vua Bảo Đại đã tuyên bố độc lập và thiết lập chính quyền mới. Đế Quốc Việt Nam đã có từ trước rồi và vua Bảo Đại vẫn đang là vua của Đế Quốc Việt Nam này. Nếu quân đội Nhật lập ra Đế quốc Việt Nam thì binh lực của họ đã bóp chết từ trong trứng các tiểu tổ đảng bộ Cộng Sản ở bất kỳ địa phương nào trong nước Việt.

 

Tại sao lời kêu gọi của vua Bảo Đại lại bị các quốc gia phe Đồng Minh tảng lờ? Nguyên trước khi Nhật đầu hàng, lãnh tụ các nước phe Đồng Minh đã gặp nhau ở Potsdam (1 thị trấn nhỏ ở ngoại ô Berlin-Đức Quốc) từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945 để thảo luận chuyện tương lai cho các vùng thế giới. Với hiện trạng nước Việt Nam, các lãnh tụ phe Đồng Minh quyết định (cái gọi là Tối Hậu Thư Potsdam) quân đội Nhật sẽ bị giải giới bởi lực lượng Trung Hoa (lãnh đạo bởi Tưởng Giới Thạch) ở phía Bắc vĩ tuyến 16 và bởi quân đội Anh Quốc ở phía Nam vĩ tuyến 16. Trong Tối Hậu Thư Potsdam này, không có đề cập đến: Ai Sẽ Thực Sự Cai Trị Đông Dương?. Sự thiếu sót này, người ta cho là sự thoả thuận ngầm giữa Hoa Kỳ và Anh Quốc muốn giao Đông Dương lại cho Pháp.

 

Trở lại việc cán bộ Việt Minh đã len lỏi vào hàng ngũ dân chúng trong các cuộc tuần hành biểu dương tinh thần ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim tại Hà Nội để biến thành cuộc biểu tình có lợi cho phe mình. Cán bộ Việt Minh này là số 100 người đã được một phân nhánh tình báo Hoa Kỳ OSS (Office of Strategic Services, hoạt động tại vùng biên giới Việt-Hoa để giải cứu tù binh phi công Mỹ và chuẩn bị cho việc giải giới quân đội Nhật tại Việt Nam theo Tối Hậu Thư Potsdam) huấn luyện tác chiến từ trước nên khi được người Mỹ báo tin Nhật đã đầu hàng, họ liền kéo nhau về Hà Nội (do Võ Nguyên Giáp chỉ huy) vào ngày 16 tháng 8 (tất nhiên có mang theo vũ khí cá nhân). Ở thị xã Hà Đông (ngoại thành Hà Nội) theo hồi ức của tướng Lê Trọng Tấn thì:

 

” Ngày 18 tháng 8 vẫn chưa thống nhất được phong trào thị xã. Lực lượng chủ yếu trong thị xã vẫn là thanh niên cứu quốc do một đồng chí thành uỷ viên Hà Nội phụ trách. Kế hoạch khởi nghĩa chưa cụ thề  (trích từ quyển Từ Đồng Quan Đến Điện Biên, trang 22) “.

 

Điều này chứng tỏ cho tới trước ngày 19 tháng 8 lực lượng Việt Minh tại Hà Nội và các vùng phụ cận chỉ chộn rộn do tin nước Nhật đầu hàng chứ họ cũng chưa có đường lối rõ rệt vì phần lớn cán bộ (có kinh nghiệm hành động) của họ lớp ở tù lớp thì đang ở Tân Trào để chờ khai mạc Đại Hội đảng toàn quốc bàn kế hoạch Tổng Khởi Nghĩa.

 

Ngày 23 tháng 8 tại Huế, một cán bộ Việt Minh gặp Phạm Khắc Hoè (thư ký của vua Bảo Đại) đưa một thư yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị. Vua Bảo Đại họp cùng với Trần Trọng Kim (có mặt một số bộ trưởng còn lại) và đồng ý thoái vị. Cũng ngày này, nội các của chính phủ Trần Trọng Kim họp phiên họp cuối cùng rồi giải tán. Cho đến khi đó, tuy chỉ hoạt động trong thời gian ngắn nhưng chính phủ thủ tướng Trần Trọng Kim đã làm được các việc:

 

– Lập lại quốc hiệu Việt Nam.

– Dùng tiếng Việt làm Quốc ngữ và Việt hóa giáo dục (trước kia dạy học bằng tiếng Pháp).

– Lấy lại Nam bộ để thống nhất lãnh thổ.

– Soạn thảo Hiến pháp nhấn mạnh vào sự tự do và độc lập.

– Rút lui và trao quyền cho thế hệ cách mạng nhằm tránh đổ máu  (không ngờ trong các thế hệ cách  mạng này có mặt cả băng đảng Việt

Cộng).

 

Ngày 24 tháng 8, lễ thoái vị của vua Bảo Đại trước cửa Ngọ Môn quan ở Huế có sự chứng kiến của cán bộ Việt Minh là Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận (1945-1964 Việc Từng Ngày trang 12-Đoàn Thêm). Các sử gia băng đảng Việt Cộng viết lễ thoái vị xẩy ra trong ngày 30 tháng 8. Hồi ký của Phạm Khắc Hoè  cũng ghi là ngày 30 tháng 8 này (Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc trang 77-Phạm Khắc Hoè). Lý do tại sao băng đảng Việt Cộng sửa lại ngày lễ thoái vị này thì thực không rõ.

 

Ngày 2 tháng 9, Hồ Chí Minh ra mắt công chúng tại bãi Cột Cờ -Hà Nội, tuyên bố độc lập và hô các lời thề chống Pháp. Theo hồi ký của thiếu tá Archimedes Patti (1914-1998), người cầm đầu phái bộ OSS cho biết, ông có giúp Hồ Chí Minh soạn bài diễn văn này (vì vậy mới có đoạn trích dẫn Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ). Hồ Chí Minh công bố thành lập Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời nước Việt Nam mới  (gồm đa số đảng viên Cộng Sản) gấp rút như vậy nhằm tạo ra Tình Trạng Đã Rồi  trong thế chính quyền chuyển tiếp liên tục từ vua Bảo Đại qua chính phủ Trần Trọng Kim và nay là chính phủ Hồ Chí Minh. Một việc khiến các đảng phái quốc gia, dân chúng Việt Nam, nước Pháp và các nước khác trên thế giới không trở tay kịp.

 

Việc Hồ Chí Minh nhanh chóng thành lập chính phủ trong ngày 2 tháng 9 không phải từ ý nguyện của toàn thể dân chúng Việt Nam mà là sự toan tính riêng của Việt Minh. Vì cộng tác mật thiết với tổ chức OSS nên Việt Minh được các sĩ quan Hoa Kỳ thông báo tin tức thế giới hàng ngày (tình hình chiến sự, tin chính trị…) nên đã biết về Tối Hậu Thư Potsdam gửi cho Nhật ngày 26 tháng 7 này rồi. Do đó, Việt Minh lo ngại khi quân đội Trung Hoa (do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo) tràn vào Việt Nam (miền Bắc) thì các đảng phái quốc gia của người Việt (ở bên nước Tàu) sẽ nhân đó trở về nước (thực tế đã xẩy ra như vậy). Ở miền Nam, nếu quân đội Anh đổ bộ thì người Pháp thế nào cũng đi theo. Lúc đó thì cán bộ Việt Minh chỉ có khoảng 5000 người  thôi nên họ sợ sẽ khó nắm được ưu thế chính trị với các đảng phái khác vừa được hậu thuẫn của dân chúng, vừa của quân đội Trung Hoa vừa của Pháp. Đó là đối nội, đối ngoại thì Việt Minh sợ quân đội Trung Hoa và quân đội Anh-Pháp sẽ hợp tác với các lãnh tụ chính trị trong nước tái lập lại chế độ quân chủ hoặc một chế độ nửa quân chủ nửa dân chủ và đó là lý do Hồ Chí Minh phải nhanh chóng thành lập chính phủ ngay. Thành lập chính phủ rồi, chính Hồ Chí Minh đã mời vua Bảo Đại nhận chức vụ Cố Vấn Tối Cao Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam nhằm mục đích vô hiệu hoá hoạt động của vua Bảo Đại cùng để mà mắt người dân thấy trong chế độ mới (do băng đảng Việt Cộng thao túng) có cả vua Bảo Đại tham gia lãnh đạo. Băng đảng Việt Cộng còn dấu biến cái lý lịch Cộng Sản bằng cách tuyên bố giái tán đảng Cộng Sản Đông Dương (ngày 11 tháng 11), biến nó thành hội Nghiên cứu Mác Xít và sau cùng, đã tìm mọi cách để bắt giết các chính khách đối lập, các trí thức không phục tùng chúng từ khắp mọi miền trong nước Việt Nam. Thủ tiêu các chính khách đối lập, các trí thức không phục tùng, băng đảng Việt Cộng muốn các đảng phái khác tại Việt Nam sẽ không còn lãnh tụ để chống lại chúng nữa (quân đội Trung Hoa và quân đội Pháp không thể tìm người ra Việt để liên kết hoạt động).

 

 

1656146_10154091415390112_9037926278603713088_n

Cố Vấn Tối Cao Vĩnh Thuỵ (vua Bảo Đại) và Hồ Chí Minh.

Đó là sự kiện, còn sau đây là người. Trước hết xin kể về vua Bảo Đại. Ông được theo học (từ 1922 đến 1932) và thành đạt tại Paris, thủ đô nước Pháp mà thời kỳ đó trào lưu tư tưởng chính trị tại đây đang hướng tới cách mạng vô sản của Cộng Sản Đệ Tam và Đệ Tứ. Nhiều nước trên thế giới đã, đang dẹp bỏ hình ảnh ông vua để thành lập chế độ Cộng Hoà. Khi trưởng thành, vua Bảo Đại chắc cũng biết điều đó nên khi bị Việt Minh yêu cầu thoái vị, ông đã thoái vị. Nhiều người cũng đã viết về sự kiện này bảo nếu năm 1945 vua Bảo Đại không chịu thoái vị thì cũng sẽ bị người dân hạ bệ và rồi triều đình nhà Nguyễn cũng phải chấm dứt (Thực ra thì người Pháp đã chấm dứt triều đình nhà Nguyễn từ lâu rồi với Hiệp ước Patennotre 1884). Trào lưu chính trị trên toàn thế giới sau đệ nhị thế chiến cho thấy chế độ quân chủ không có lý do để tiếp tục tồn tại đối với các nước dành lại độc lập từ tay thực dân như Phi Luật Tân, Ấn Độ, Miến Điện, Mã Lai Á, Nam Dương, Việt Nam… Các cây bút của băng đảng Việt Cộng thường tả vua Bảo Đại chỉ chăm chú vào gái đẹp, nhẩy đầm và đánh bạc hoặc nghe kể về ông là người hào hoa, lịch lãm và sành điệu, thích săn bắn, lái xe hơi, đánh golf, chơi quần vợt…

 

Cái gì ông cũng biết nhưng cái cần ông phải biết là Làm Vua  thì lại không biết. Nhà Nguyễn mất ngôi tại nước Việt Nam, một phần trách nhiệm do nơi ông.

 

Cá nhân vua Bảo Đại thì nói:

 

” Người Pháp lúc nào cũng muốn tôi ngồi yên một chỗ, không cho thân mật với dân nên trong hai mươi năm trời làm vua tôi ra Bắc một lần, vào Nam kỳ một lần, cũng là đi lướt qua, không thấy rõ ràng một điều gì. Xung quanh tôi họ đặt toàn những người mật thám. Tôi rất buồn biết mình không thể làm chi có ích cho đất nước “.

 

Vua Bảo Đại dường như chưa bao giờ nghĩ đến việc đi tìm độc lập bằng con đường nếm mật nằm gai như các vua Hàm Nghi, Duy Tân trước ông hoặc có thể chịu đựng được những cảnh trốn chạy, đói khát (để khôi phục cơ nghiệp của dòng tộc) như vua Nguyễn Thế Tổ-Gia Long (1762-1820). Có người bảo ông hiền lành đến độ nhu nhược khi dẫn ra việc từ chối lời đề nghị của đại sứ Yokohama trong việc bắt giam toàn bộ đảng viên Cộng Sản trong đêm 21 tháng 8 năm 1945, một cơ hội bằng vàng. Khi biết các thủ đoạn của Hồ Chí Minh chỉ muốn lợi dụng tên tuổi của ông cho sự nghiệp của băng đảng Việt Cộng cũng như ở giai đoạn lịch sử về sau (các năm 1954-1955) lúc mà Hoa Kỳ chính thức yểm trợ Ngô Đình Diệm lật đổ quyền làm chủ đất nước của triều đình nhà Nguyễn. Soát qua các thời kỳ cùng xem trong hồi ký của ông cho ta thấy: vua Bảo Đại không thiết tha với việc dành lại quyền lực và cũng không oán trách Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm. Tóm lại, là con người của lịch sử nhưng ông lại nương theo từng chiều hướng (giai đoạn) lịch sử để sống. Cách thức của ông chọn lựa cuối cùng đã dẫn đến kết cục: Bản thân ông bị thời thế quét đi như quét một hạt bụi vô giá trị.

 

Về nhân vật Hồ Chí Minh. Với nhân vật này, đã có quá nhiều huyền thoại do băng đảng Việt Cộng dựng nên để đánh bóng tên tuổi từ tiểu sử của người cha đẻ, việc ra đi tìm đường cứu nước, cuộc sống độc thân giản dị, đoàn kết dân tộc, giải phóng đất nước, nhà tư tưởng, danh nhân văn hoá… nên không bàn đến nữa mà chỉ tóm gọn: Từ khi giữ chức vụ chủ tịch nước  sau ngày 2 tháng 9 năm 1945 cho đến khi chết (ngày 2 tháng 9 năm 1969), Hồ Chí Minh luôn tỏ lộ cá nhân của một con người mộc mạc, giản dị như một cụ già miền quê trước các biến động chính trị. Vẻ bề ngoài này đã giúp ông thu phục được cảm tình của các nhân vật quốc tế, các chính trị gia và các nhà báo. Với bất cứ ai và trong bất kỳ khi nào, ông cũng đều tỏ ra chân tình cởi mở. Nhiều người nói về ánh mắt của ông khiến làm người đối diện có cảm giác an tâm, ưu ái (khi được ông tiếp chuyện). Với dân chúng, ông tỏ lộ vẻ ân cần với người già và từ ái với trẻ em nên mọi người cảm thấy ông thật gần gũi, hiền lành, dễ cảm thông. Nhiều người nhận xét: Đây Là Con Người Thật Của Ông Mà Ông Muốn Hướng Tới nhưng không thể được. Nhìn lại những giai đoạn của cuộc đời ông rõ là một người tàn ác, gian xảo, bội bạc và không hề có sự hối hận, nhân hậu. Ông vẫn thường viện dẫn nhiều điều nhân lễ trong các sách thánh hiền (bên Tàu) nhưng lại không hề là một quân tử.

 

Ít người biết trong dịp 2 tháng 9 năm 1945 chính Đặng Xuân Khu (Trường Chinh sau này) đã phong cho Hồ Chí Minh chức vụ chủ tịch nước (Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Nước Việt Nam mới). Xin kể như sau: Ngày 23 tháng 8 năm 1945, khi biết tin vua Bảo Đại chấp thuận thoái vị thì băng đảng Việt Cộng (khi đó do Đặng Xuân Khu giữ chức quyền Tổng Bí Thư đảng) đều bất ngờ vì họ còn chưa nghĩ đến việc ra làm minh chủ cho toàn quốc (đang họp Đại Hội Đảng ở Tân Trào để bàn chuyện Tổng Khởi Nghĩa). Tại Hà Nội khi đó diễn ra tình hình dân biểu tình tuần hành khắp các phố phường và dù cờ Đỏ sao Vàng đã thấy treo ở nhiều nơi nhưng người thực sự (tạm thời) làm chủ chính là thiếu tá Archimedes Patti, đại diện cho chính phủ Hoa Kỳ, đang có mặt tại Hà Nội (trong khách sạn Métropol) chờ xem việc giải giới quân đội Nhật. Đặng Xuân Khu cùng một số đồng chí liền trở về Hà Nội và khi gặp mặt được thiếu tá Archimedes Patti thì thấy bên cạnh là thiếu tá Jean Sainteny, đại diện của phe De Gaulle. Điều này có nghĩa Hoa Kỳ có thể chấp thuận cho Pháp quay trở lại Đông Dương. Sau đó, gặp riêng thiếu tá Archimedes Patti thì biết tin nếu chính phủ Hoa Kỳ chủ trương buộc Pháp phải trao trả độc lập cho nước Việt Nam thì băng đảng Việt Cộng cần phải hứng lấy ngay và như vậy họ phải có cái gọi là chính phủ. Danh sách nội các được băng đảng Việt Cộng thảo ra cấp tốc  nhưng chưa biết ai trong đám sẽ là chủ tịch? Duyệt đi xét lại mãi, thấy chỉ có Hồ Chí Minh hội đủ tiêu chuẩn vì: Hồ Chí Minh là người của tướng Tiêu Văn đưa về nước (tháng 9 năm 1943), là công tác viên mật thiết với tổ chức OSS Hoa Kỳ (bí danh Lucius), từng cứu một phi công Mỹ, có quen biết với tướng Chennault Clair, tư lệnh không đoàn 14 Mỹ tại Vân Nam (Hồ Chí Minh có giữ 1 tấm ảnh+chữ ký đề tặng của viên tướng này) và nhất là Hồ Chí Minh lớn tuổi nhất trong đám. Đó là lý do mà Đăng Xuân Khu chọn Hồ Chí Minh cho chức vụ chủ tịch dù khi đó Hồ Chí Minh đang ở Tân Trào và sau buổi lễ tuyên bố Tổng Khởi Nghĩa mới kéo nhau về Hà Nội (ở làng Gạ, ngày 25 tháng 8) thì mới biết mình được chức vụ chủ tịch Chánh Phủ Cách mạng Lâm Thời nước Việt Nam mới. Lúc đầu thì Hồ Chí Minh từ chối. Hồi ký của Hoàng Tùng, một lãnh tụ băng đảng Việt Cộng kể:

 

” Sau này anh Thọ nói với tôi rằng khi đề nghị bác làm chủ tịch nước, bác từ chối mãi. Bác nói: mình là chủ tịch nước à, mình chỉ đứng đằng sau thôi, còn tìm người khác làm, bác còn nói nếu tìm khó quá thì đưa Bảo Đại ra làm rồi mình thu xếp “.

 

Qua đó ta thấy chuyện làm chủ tịch nước thật bất ngờ đối với Hồ Chí Minh. Ngày nay, xem lại hành trình lưu lạc xứ người của Hồ Chí Minh thì ta thấy khả năng ông, nhất là trình độ học vấn, rất hạn chế. Ông chỉ có bằng Tiểu học rồi khi ra nước ngoài, chỉ làm các công việc như bồi tàu, phụ bếp, thợ ảnh… Với các công việc này, Hồ Chí Minh không có điều kiện tiếp xúc hay làm quen với các tư tưởng cùng lề thói chính trị. Ông bất ngờ là phải vì biết khi phải diễn thuyết liên tục trong cả tiếng đồng hồ (nếu có) sẽ lòi ra hết. Tiếng Pháp của Hồ Chí Minh cũng do tự học mà có thì tất nhiên không thể lưu loát, văn mạch rõ ràng được (xem lại các clip video cũ về ông). Ngay cả tiếng Việt ông cũng đã quên nhiều (bỏ ra nước ngoài sống cả 34 năm rồi) nên trình độ tiếng Việt của ông đã đứng lại so với phát triển tiếng Việt trong thời kỳ đó (do công của hội Trí Tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Báo chí và Tự Lực Văn Đoàn…) mà bằng chứng, cứ xem lại các đoạn viết bằng tiếng Việt của ông. Vậy mà Hồ Chí Minh làm chủ tịch nước được, mọi việc diễn tiến sau đó vẫn trôi. Có lẽ vì điều này mà về sau, băng đảng Việt Cộng lấy đó làm gương khi chọn người chỉ cần tiêu chuẩn lý lịch là chính còn trình độ thì có cũng được mà không có thì cũng chẳng sao.

 

Trước kia khi nước Việt nam còn trong vòng cai trị của nước Pháp, tuy tách biệt làm 3 miền Nam-Trung-Bắc (do người Pháp bày ra nhằm phân chia vùng miền để người Việt mất tình đoàn kết) nhưng người Việt dù sống ở miền nào cũng đều coi nhau là anh em trong nhà và đối tượng để đề phòng, để coi là kẻ thù chỉ có một duy nhất là người Pháp, chủ nhân ông của đất nước. Từ khi băng đảng Việt Cộng cầm quyền mới có việc phân chia người Việt giữa người Việt. Phân chia ở đây là trong xã hội hình thành 2 giai cấp đối chọi nhau. Một bên là chính quyền và bên kia là toàn thể dân chúng trong cả nước. Xem lại lịch sử cận đại ta thấy, lúc mới bắt đầu hoạt động thì băng đảng Việt Cộng chưa hề hé lộ chủ trương đấu tranh giai cấp, chia rẽ dân chúng mà còn kêu gọi mọi tầng lớp trong dân chúng cùng nhau đoàn kết chống ngoại xâm. Khi dành  được chính quyền rồi hay ở các vùng do họ chiếm giữ (hoặc ở địa phương hoạt động ngầm) thì công khai tiêu diệt những người bất đồng chính kiến, gây hận thù-chia rẽ giữa tầng lớp này với tầng lớp khác theo lý thuyết Mác xít. Cải cách ruộng đất ở miền Bắc (1953-1956) đã phá vỡ tình làng nghĩa xóm, anh em, bà con ruột thịt trong họ hàng đã gây biết bao oan khuất (với các nạn nhân) cùng oán thù (với các cán bộ băng đảng Việt Cộng) không thể nào quên trong tâm trí người dân. Tại miền Nam, sau ngày 30-5-1975 băng đảng Việt Cộng đã lừa (hay bắt công khai) gần như tất cả các sĩ quan-viên chức chế độ VNCH đi tù lao động khổ sai ở các vùng xa xôi hiểm trở (ở các tỉnh địa đầu miền Bắc). Bách khoa tự điển về chiến tranh Việt Nam (Encyclopedia of the Vietnam War) ước lượng băng đảng Việt Cộng bỏ tù trên 1 triệu người thuộc chế độ VNCH tại 150 trại giam. Người bị tù ít nhất là gần 3 năm và người bị tù lâu nhất trên 17 năm. Có người bị chết trong thời gian giam giữ mà con số chính xác vẫn không được biết (ước lượng trên 50.000 người). Cách đối xử này còn ác độc hơn so với cách đối xử của nước Pháp đối với người Việt. Ngày nay, sau 72 năm kể từ ngày 2 tháng 9 năm 1945, tình cảnh hai giai cấp: bị trị (toàn thể dân chúng) và thống trị (băng đảng Việt Cộng) hiện hữu tại Việt Nam càng lúc càng thêm trầm trọng. Dân chúng dù sống đúng theo hiến pháp-pháp luật nhưng vẫn có thể bị tai vạ bất ngờ không đoán trước được (như thiên tai ) mà chẳng được ai bảo vệ. Còn băng đảng Việt Cộng (cán bộ nhà nước cùng gia đình) lại công khai vi phạm hiến pháp-pháp luật mà họ vẫn nhởn nhơ an toàn.

 

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 khai sinh ra nhà nước của băng đảng Việt Cộng để từ ngày đấy dần theo thời gian, nguy cơ mất nước về tay Tàu Cộng càng lúc càng rõ. Từ những khoản nợ chiến phí khi băng đảng Việt Cộng ngửa tay xin nhận trợ giúp từ Tàu Cộng trong chiến tranh với Pháp (1945-1954) rồi việc xâm lăng miền Nam VNCH (1954-1975) cho đến trận chiến biên giới Việt-Trung (1979) và sau cùng là sự kiện sụp đổ Liên Xô-Đông Âu (1989) đã gắn nước Việt Nam phải dính chặt vào Tàu Cộng mà việc dính chặt này đã khiến Việt Nam phải cắt mất nhiều km lãnh thổ ở vùng biên giới Việt-Trung, trên vùng biển Đông (con số chính xác không được công bố) để trả nợ. Tàu Cộng đâu có giúp không cho băng đảng Việt Cộng.

 

Đây là các hệ luỵ phát sinh do sự có mặt của băng đảng Việt Cộng tại nước Việt Nam trong cái gọi là Cách Mạng Tháng Tám và rồi trong tương lai sẽ còn thêm nhiều hệ luỵ mới nữa. Chắc chắn như vậy nếu băng đảng Việt Cộng vẫn còn tiếp tục cai trị nước Việt Nam./.

 

Phạm Thắng Vũ

August 06, 2017.

Image

Chuyện Kể Đêm Mùa Đông Năm Ấy

 

 

Lại một mùa Giáng sinh đang đến gần, câu chuyện dưới đây là của 4 thuyền nhân sống rải rác trong các barrack tại một trại tị nạn thuộc vùng Đông Nam Á.

Ở đâu cũng vậy, tuy là trại tị nạn nhưng từ hơn cả tuần nay,  không khí Giáng sinh đã rõ nét qua các giai điệu nhạc Noel trong các quán cà phê, trên màn hình ti vi khi chiếu cảnh mùa đông tuyết phủ với lò sưởi ấm cúng bên cạnh cây thông xanh – chùm đèn lấp lánh đặt trang trí ở góc phòng trong các gia đình bên trời Tây. Sẩm tối hôm đó, bốn người họ gặp nhau ở một bàn trong góc quán cà phê. Họ là: ông già nhất, vợ con còn lại bên quê nhà, từng đi dạy học và mua bán sách báo cũ mưu sinh trước khi vượt biên, ông thứ hai, gốc là một quân nhân từng coi tù binh chiến tranh tại Phú Quốc, vợ chết khi vượt biên nhưng hai đứa con đang sống ở Mỹ, anh thứ ba, khoảng ba mươi, bộ đội đào ngũ từ đơn vị ở Campuchia và người cuối cùng là dân mua bán ở chợ trời, trẻ tuổi nhất trong số họ.

Anh bộ đội nói với ông già nhất:

– Năm nào cứ đến những ngày lễ như Giáng sinh này làm cháu nhớ lại những kỷ niệm cũ bên quê nhà. Nhớ và buồn quá bác.

Ông già nhất gật đầu nhè nhẹ để ông quân nhân đáp lời thay:

– Ai mà không cùng tâm trạng như cậu, mình ở đây xa cách quê nhà làm sao mà không nhớ thân nhân cho được. Hồi tôi ở Phú Quốc kìa, ngay trên quê hương mình đấy mà nhớ gia đình vô kể. Vài hôm nữa là Giáng sinh rồi lẩm nhẩm tháng hơn, lại đến tết ta.

Anh trẻ nhất gật đầu:

– Tui cũng vậy. Nhớ gia đình quá mấy ông ơi!

Ông già nhất nói với ba người họ:

– Nghe ai nói cũng buồn và nhớ nhà nên tôi có cái ý này, không biết mấy ông thì sao?

– Ý gì vậy! Nói ra đi… Cả ba người hỏi.

– Ngồi nhớ nhà mãi thêm buồn rồi cứ vậy thì sẽ rất chán nên tôi đề nghị tối hôm nay: mỗi người trong chúng ta hãy kể câu chuyện cũ hoặc một kỷ niệm gì gì đó đã xẩy trong đời mình ở cái đêm Giáng sinh cho cả nhóm biết, xem coi chuyện ai hay nhất, quý vị nghĩ sao?

– Còn nghĩ sao nữa, tui đồng ý với ý kiến của bác. Anh trẻ nhất trả lời rồi sau đó quay qua hỏi ông quân nhân và anh bộ đội: ” Không biết chú và anh đây thế nào? “.

– Tôi là một Phật tử  nên nếu bảo kể chuyện về ngày Giáng sinh đạo Chúa thì chịu chết… Nhưng anh giáo (ông quân nhân thường ngày vẫn gọi ông già nhất là anh giáo) đã nói vậy thì ai có chuyện rồi cứ kể ra trước đi. Có người kể thì cũng cần có người nghe chứ, phải không nào? Nếu đồng ý cả thì xin anh giáo là người đầu tiên vì dầu sao đây cũng là đề nghị của anh và anh cũng thuộc hàng ” trưởng thượng ” trong nhóm mình, tôi nghĩ vậy.

Trưởng thượng ở đây là do sự hiểu biết cùng tuổi tác của ông già nhất mà ba người còn lại trong nhóm đã đồng ý từ khi họ làm bạn cà phê – thuốc lá với nhau.

Anh trẻ nhất tán đồng:

– Đúng quá! Kính lão đắc thọ! Người lớn tuổi kể trước rồi hàng em hàng cháu mới dám theo sau chứ.

Ông già nhất gật gật cái đầu như xác nhận mình ” người lớn tuổi ” ở cái bàn này nhưng lại bảo:

– Đáng lẽ tôi đầu tiên nhưng tuổi trẻ bao giờ cũng là tương lai của dân tộc. Vậy, tôi đề nghị người trẻ nhất kể trước rồi cứ thế dần dần lên cho đến lượt tôi, đi sau cùng. Mình lớn tuổi rồi… lót tót theo sau thanh niên vậy. Đồng ý nha! Không bàn cãi tới lui gì nữa.

Anh trẻ nhất nghe vậy, trả lời liền:

– Không cho bàn cãi tới lui! Vậy nói tui mở màn trước. Được! Nhưng tui có một thắc mắc này xin muốn hỏi bác, chú và anh đây. Mới ban nãy, nghía qua cái ti vi, tui thấy trên đài chiếu quảng cáo về ngày Giáng sinh lúc thì Christmas lúc lại Xmas mà không biết tại sao. Chữ nào đúng, chữ nào sai và có phải chữ X là viết tắt của chữ Christ không?

Anh chàng này người miền Nam nên nhân xưng đại danh từ của anh ta khi nói chuyện với người khác đều một chữ: tui, không biết khi anh nói chuyện với các thân nhân ruột thịt trong nhà thì cách xưng hô ra sao? Câu hỏi coi vậy mà khó trả lời ngay, ông quân nhân và anh bộ đội đều đưa mắt nhìn về ông già nhất, họ cũng chờ câu giải đáp. Ông già nhất nhìn cả ba người họ rồi nhăn nhăn vầng trán như khởi động bộ não của mình:

– À! Christmas là tiếng Anh. Christ là Chúa Cứu Thế còn mas là tiếp vĩ ngữ của chữ Christ. Mas xuất xứ từ chữ cổ Latin Âu châu là Missa mà ra. Missa là thánh lễ… Vậy Christmas là lễ mừng Chúa giáng sinh. Còn Xmas thì tôi đã từng nghe bảo X là một hàm số của mas do đám trí thức trẻ thuộc đạo Thiên Chúa bên trời Tây đặt ra cho money, amusement và self. Xmas coi vậy mà có ý nghĩa ngầm đấy. Cũng hay ra phết.

Thấy ba người họ trơ mắt nhìn vì chưa hiểu ý, ông ta tiếp:

– Trong chữ mas thì các chữ m, a, s được viết tắt từ money tiền bạc, amusement thú vui và self cái tôi hay cái ta. Chúng ta hãy tự xét mình rồi đối chiếu nó với ba chữ này thì sẽ tìm ra đáp số của X. X là ẩn số của ngày Giáng sinh đối với từng người.

Nghe như vậy, ông quân nhân cắt ngang:

– Ý anh giáo nói Xmas là đạo Chúa dạy ta nên sống theo kiểu biết xài đồng tiền cho đúng chỗ, đem niềm vui đến cho người khác và quên cái tôi mình đi, chỉ nên nghĩ cho tha nhân phải không?

– Phải! Đó là thông điệp của mỗi mùa Giáng sinh hàng năm. Ông già nhất gật đầu.

– Lạ nha! Lần đầu cháu mới nghe chuyện này đó. Hay quá bác! Anh bộ đội tán thưởng.

Nghe lời khen, ông già nhất khẽ cười như tự thưởng công cho niềm hãnh diện riêng cá nhân mình và quay qua bảo với anh mua bán chợ trời:

– Giải đáp thắc mắc cho rồi thì kể chuyện của cậu đi.

Lời nhắc của ông già nhất đã kéo anh trẻ nhất trở về ” phận sự ” của mình. Anh ta sửa lại thế ngồi và đằng hẵng ứ ừ ít câu trong cuống họng rồi nói:

– Bảo ai trẻ nhất thì phải kể trước tiên nhưng tui lại không biết chuyện gì về nhà thờ, về ngày lễ Giáng sinh đạo Chúa cả để mà tám ra đây. Gia đình tui theo đạo ông bà, thờ cúng tổ tiên bao đời rồi. Khó à nha. Thôi, có chuyện này gần gần với ngày Giáng sinh trong đời tui, không biết có thể kể ra được không nữa.

– Được! Được!… Kể ra đi! Ba người còn lại nhao nhao miệng.

Anh trẻ nhất bắt đầu:

– OK! Năm đó, đám tổ chức vượt biên dẫn tui xuống một vùng gần biển của tỉnh Trà Vinh để chờ taxi đưa ra cá lớn. Gọi là gần biển nhưng thực sự còn xa lắm vì chỗ họ ém tui ở lại nằm trong một cù lao heo hút không biết có phải thuộc huyện Trà Cú không nữa. Chủ nhà bảo từ đây ra được đến biển phải chạy ghe mất cả hàng giờ đồng hồ mới xong. Ém trong nhà đó vài ngày, tui lại được họ chuyển đến ở chung với ba cô gái khác trong căn chòi nằm giữa khu vườn cây ăn trái. Ở chung với người khác phái cũng đỡ buồn dù chẳng có gì với nhau. Khi đó là tháng 12 gần cuối năm rồi, mùa mưa cũng vừa hết nên đám tổ chức dự định sẽ đánh chuyến ngay trong đêm 22 là ngày kỷ niệm thành lập quân đội Việt Cộng. Đám tổ chức tính trong ngày lễ này, mấy tay bộ đội biên phòng vùng duyên hải Trà Vinh vì mải ăn uống nhậu nhẹt trong ngày lễ, sẽ lơ là việc canh gác nên có thể làm chuyến vượt biên thành công. Tính vậy mà không xong, bộ đội biên phòng tuy ăn nhậu nhưng họ vẫn canh gác chặt chẽ. Tui và ba cổ đã ra bãi ngồi chờ taxi rồi mà không xong. Đám tổ chức không đánh chuyến được nên họ lại tách cả nhóm ra, đưa mình ên tui đến trốn trong một xóm nhà dân rất lạ. Ba cô kia, họ đưa đi đâu thì tui không rõ. Đổi chỗ ẩn náu để an toàn và cũng để chờ chuyến mới thôi. Xóm dân cư đó chỉ độ gần hai chục căn nhà, người không nhiều lắm nhưng cái lạ ở đây là có những gia đình trong xóm, thân thể họ cao lớn hơn người mình, làn da họ đen hơn người Miên, mắt họ có khoen dưới mí và môi thì đỏ chót. Khi cười, hầu như ai trong số họ cũng phô hàm răng rất trắng nên trông giống như dân Phi Châu mà thực ra không phải. Họ nói chuyện với nhau và với cả tui nữa đều bằng tiếng Việt rất rành rẽ. Tụi ba Tàu bán hàng ở chợ trời Tân Thành trong Chợ Lớn tui gặp hàng ngày tuy nói rành tiếng Việt nhưng cái âm còn lơ lớ ngọng nghịu không được như đám dân này đâu. Ở trong nhà họ mà tui chẳng thấy trưng bàn thờ, bàn thiên gì cả. Không biết họ là giống dân gì? Người Chàm hay bà con của dân tộc Phù Nam mà lịch sử mình kể đã từng tồn tại ở vùng Óc Eo ngày xưa?

– Tôi nghĩ họ không phải là người Chàm. Ông già nhất chen vào và nói tiếp: ” Người Chàm mà họ còn có tên khác Chiêm Thành thì chỉ ở ngoài miền Trung là chính vì đây là cố đô của họ. Tỉnh Trà Vinh chỉ có người Khmer tức người Miên, người Việt và dân ba Tàu thôi. Người Chàm ở miền Nam thì ta thấy họ sống ở vùng Châu Đốc mà bây giờ mình gọi là tỉnh An Giang đó. Tôi cũng không nghĩ đám dân đó là người Phù Nam vì theo lịch sử kể, quốc gia này đã biến mất từ thế kỷ thứ 7 rồi. Xa tít mù so với thời đại bây giờ lắm lắm. Óc Eo chỉ là một địa danh trong vùng núi Ba Thê ngày nay mà có lúc dân khảo cổ bảo đấy từng là một hải cảng sầm uất nhưng đối chiếu trên thực địa, hiện nó cách bờ biển rất xa “.

Nghe như thế, anh trẻ nhất hỏi:

– Vậy dân sống ở xóm tui kể đó là người nào hả bác?

– Cậu kể thì tôi nghe vậy chứ khó biết lắm vì tới bây giờ giới khảo cổ vẫn chưa xác định chắc chắn về sắc tộc của dân gọi là Phù Nam xưa. Có thể đám dân này đến nước Việt từ thời xa xưa nào đó… mà cũng có thể chỉ mới khoảng trong một hai trăm năm gần đây thôi. Biết đâu họ gốc gác là dân Ấn hay một sắc tộc Hồi nào đó thuộc vùng Nam Á Châu đã phải bỏ chạy khỏi quê hương họ để tìm nơi trú thân sau một cuộc binh lửa tranh giành ngôi báu, quyền hành. Thời xưa, cách chạy trốn tốt nhất thì cũng chỉ bằng phương tiện ghe thuyền vì nó vừa nhanh vừa mang được nhiều người cùng một lúc. Thời nhà Lý, mấy ông hoàng cũng dùng ghe thuyền chạy trốn thái sư Trần Thủ Độ mà bây giờ, lịch sử bảo còn tung tích ở tận đâu bên nước Đại Hàn. Mấy người đó cũng vậy, họ đi bằng ghe thuyền và khi đến được vùng ven biển nước mình để ẩn náu, bảo tồn tấm thân trước đã, chuyện quay trở về xứ phục hận sẽ tính sau. Cứ vậy rồi dần dà theo thời gian, con cháu họ lần hồi đã quên hết các tập tục ông bà để lại. Và, trong giao tiếp với dân địa phương là người Việt mình ở chung quanh, họ từ từ mất dần luôn ngôn ngữ riêng. Chỉ có hình hài, dòng giống… là tồn tại thôi. “.

Ông quân nhân hỏi:

– Xóm nhà đó ở đâu trong vùng Trà Cú – Trà Vinh vậy cậu?

Anh trẻ nhất lắc đầu, nói:

– Đám tổ chức đưa đón trong đêm trong hôm nên tui không biết. Nghĩ lại lúc đó tui thấy mình cũng dở ẹt ở chỗ không chịu hỏi người ta.

Ông quân nhân tiếp:

– Cuối cùng thì chuyến vượt biên đó ra sao? Cậu bảo cái gì gần gần với ngày Giáng sinh đó mà nghe thấy gì đâu.

Anh trẻ nhất ngồi yên giây lát rồi kể:

– Nấn ná hơn tuần lễ ở đó mà không thành, sau cùng phải quay về nhà thôi chú… Ai từng bị ém kín chờ lúc xuống taxi thì có gì hay ho đâu mà kể. Hồi hộp thấy mẹ. Nghe tiếng chân người đến gần thì cầu mong đó không phải công an, du kích đi tuần. Có một việc mà tui không biết nói như thế nào. Đám tổ chức đưa tui đi ẩn náu trong một căn nhà gần như bỏ hoang không có người ở… căn nhà đó có mấy buồng thì không biết nhưng họ đưa tui vào trong một buồng có cái lẫm chứa lúa khá lớn. Họ bắc cái thang tre sát vách buồng, bảo tui trèo vào lẫm và ngồi im trong đó, chờ họ. Trong cái lẫm đó, lúa cạn gần sát đáy và đã có một ông ngồi thù lù từ trước rồi. Xong, họ lấy tấm nắp đậy kín lẫm lại để không ai biết có tụi tui rồi bỏ đi mất tiêu. Ở chung, hỏi tên nhau thì tui được biết ông đó tên Phi, cũng vượt biên chung chuyến. Ở im trong căn buồng, cứ đến giấc trưa, chiều tối thì có người họ đến đưa đồ ăn và cho hai đứa tui ra ngoài vệ sinh tắm rửa một lát rồi trèo trở lại vào cái lẫm trốn. Cái lẫm chứa lúa làm bằng tấm tre đan nên tuy ngồi bên trong nhưng tụi tui vẫn có thể thấy bên ngoài qua các khe hở của mắt lưới. Có người ở chung thì mình cũng vui nhưng mệt vẫn mệt dù chẳng làm việc gì, có lẽ vì sợ mà ra. Một buổi quá trưa, cơm nước xong xuôi rồi, đang thiu thiu ngủ thì nghe có tiếng chân người bước phía bên ngoài nhà, tui tỉnh giấc ngay. Ông tên Phi đó cũng vậy. Hai đứa tui choàng dậy và qua các mắt lưới tre, một cô gái đẩy cửa vào trong căn buồng. Cô ta nhìn cái lẫm lúa, nhìn chung quanh căn phòng rồi từ từ… cởi quần áo mình ra. Trời! hai đứa tui nín thở luôn nhưng vẫn nhòm. Cô gái thoát y, thay bộ quần áo khác xong rồi nhanh chóng bỏ đi ra ngoài. Hai đứa tui nhìn nhau vì sợ mà cũng thích nữa. Sợ vì rủi cô này biết có tụi tui trong lẫm lúa nhòm lén thay đồ thì mặt mũi mình ra sao. Thích thì bản năng con người, ai mà chẳng thế. Sự việc mới xẩy ra trước mắt nên tuy nằm xuống trở lại khá lâu rồi mà trong trí hai đứa tui vẫn lởn vởn hình ảnh người con gái đó làm không tên nào ngủ được nữa. Cứ như vậy cho đến khi con mắt muốn sụp xuống thì tụi tui lại nghe tiếng động mới nên khẽ nhoài người lên để nhòm ra ngoài. Lần này tới hai cô gái khác theo nhau vào trong buồng và hình ảnh cũ lại tái diễn. Hai cô này là bạn nên họ vừa thay quần áo lại vừa trửng giỡn thân thể nhau nữa, thế mới chết tụi tui. Khi hai cô gái ra khỏi căn buồng rồi thì tui nghĩ, họ vào đây để thay quần áo thì chắc là dân ở thành phố xuống để vượt biên. Hỏi ông Phi, tui mới biết hôm nay là ngày Giáng sinh đạo Chúa và đám tổ chức định đánh chuyến vào dịp này. Đó! Câu chuyện tui nói gần gần với ngày Giáng sinh là vậy.

Tay bộ đội quay qua, đối mặt với anh trẻ nhất và hỏi:

– Chuyến đi không thành thế rồi sau mày có gặp lại mấy cô gái đó không?

– Không! Tui không gặp họ lần nào nữa và ngay cả với cái ông tên Phi. Đám tổ chức đưa từng người tụi tui ra khỏi căn buồng để về lại bến xe, ông Phi đó đi ra trước cả lúc lâu rồi mới tới phiên tui. Tui chẳng biết nhà cửa ông ta ở đâu chỉ nhớ có nói sống đâu đó trong vùng Long Xuyên thôi. Mình nghe thì nghe vậy mà chắc gì thật lòng, vượt biên mà.

– Ba cô này là ba cô gái mà mày kể ở chung chỗ trước đấy đó hả?

– Không phải. Mấy cô này khác, đẹp hơn nhiều.

– Đẹp hơn nhiều. Chu choa! Vượt biên không thành mà được quay phim tới ba cô gái lận. Dễ gì có mày.

– Vậy! Về kể chuyện này cho mấy đứa bạn nghe, tụi nó bảo thấy gái ở truồng xui lắm. Chuyến vượt biên đó, tui đi xa nhà lâu nhứt may mà không bị công an nó tó đó anh.

Ông quân nhân ngồi im hút thuốc, thả ra một luồng khói trắng rồi nhìn anh trẻ nhất và anh chàng bộ đội:

– Kỳ ngộ! Hay đấy. Còn chuyện của cậu, chần chừ gì nữa?

Anh chàng bộ đội nghe vậy liền trả lời:

– Chuyện của cháu xẩy ra ngay đêm Giáng sinh và cũng khá lâu rồi trước ngày cháu đi bộ đội lận. Gia đình cháu là dân Bắc kỳ 9 nút, lại đạo Công giáo, tưởng lý lịch như vậy sẽ thoát cảnh làm lính ông già nhưng đám tuyển quân ở phường vẫn ghi tên nên đành phải tuân lệnh thôi. Rời quân trường Núi Đất rồi nhận đơn vị tận bên Camphuchia mới thấy dân nước họ ghét người Việt Nam quá dù mấy năm trước, bộ đội từng giúp họ thoát tay đám Khmer đỏ. Nghe mấy đứa cùng trung đội bảo đây là mối thù truyền kiếp giữa hai dân tộc đã có lâu rồi, y như mình với bọn ba Tàu Tung Của. Đóng quân ở gần các phum dân Campuchia mà bộ đội đi lạng quạng thì nếu không chết vì bị bắn sẻ thì cũng cụt giò do đạp mìn gài. Ai gài, ai bắn sẻ? Cũng đám dân trong phum, y chang kiểu du kích thời chiến tranh ở nước mình khi trước. Do vậy, có chuyến đi công tác ở gần Tây Ninh thì cháu vọt về nhà liền. Về nhà rồi gia đình sắp xếp cho vượt biên và đi thoát ngay được, gặp đúng chuyến mà… Trở lại chuyện đêm Giáng sinh năm đó, cháu vừa vào khuôn viên giáo đường thì cậu bé giúp lễ đến gần bên bảo cháu vào gặp cha xứ ngay. Khi đó trời mới sâm sẩm tối, giờ lễ đêm còn xa, nhà ở lại gần giáo đường nên mình mới vơ vẩn vào xem hang đá trước. Cháu hỏi cậu bé  lý do tại sao thì cậu trả lời không biết, bảo lệnh cha nói vậy thì nghe vậy. Vào nhà xứ gặp cha rồi chào và ngài hỏi: ” Anh có người bạn học cũ tại trường X tên Cách phải không? “. Đứng yên một lát thì cháu nhớ đã có bạn học tên Cách thật nên gật đầu thì ngài lại tiếp: ” Anh ta mới vào đây gặp cha và đang ngồi chờ anh ở phòng bên cạnh, anh sang gặp đi và liệu chuyện ra sao thì tuỳ ý nhưng phải nhanh vì lát nữa người đi lễ đông lắm sẽ rầy rà nếu giải quyết sự việc chậm, cha chỉ giúp được như vậy “. Cách là bạn học cũ với cháu ở trung học đệ nhị cấp nhưng khi chuyển lên lớp mười, đệ nhất cấp thì đã khác lớp vì nó theo ban B còn cháu chọn ban A… nhưng cũng xa cách cả mười năm rồi còn gì.

Anh trẻ nhất dơ tay làm cử chỉ chận mạch chuyện của anh bộ đội và xen vào:

– Đệ nhị đệ nhất cấp và ban B ba A của trung học thời đó là sao hả anh?

– Đệ nhị cấp là trung học cấp 2 và  đệ nhất cấp là trung học cấp 3 bây giờ. Ban B là ban Toán, ban A là ban Văn chương của thời tao học khi đó.

Ông già nhất góp lời:

– Khi đó là trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 đấy cậu. Việt Cộng chiếm được miền Nam đã thay mới nhiều thứ nhưng tôi nghĩ sau này, họ sẽ đổi lại theo cách sắp xếp cũ.

Anh bộ đội tiếp câu chuyện:

– Theo tay chỉ của cha xứ về hướng một cánh cửa, cháu bước vào phòng đó thì đã thấy một người ngồi chờ sẵn ở bàn. Đó là thằng Cách. Hồi còn học chung lớp, giữa cháu và nó không thân lắm. Gia đình nhà nó khá giả nên ngày nào đi học cũng bằng xe Honda riêng, mấy đứa học sinh có được. Mặt mũi sáng láng trong bộ y phục đúng mốt nên nó rất bảnh khác hẳn bây giờ ở trước mặt cháu, thằng Cách quá sức tồi tàn trong bộ dạng còm cõi với bộ quần áo cũ vừa bẩn vừa hôi. Cháu kéo ghế ngồi đối diện, nhìn chăm chăm vào mặt nó mà nghĩ: Thằng này thay đổi quá, nếu ở ngoài đường sẽ nhận không ra rồi buột miệng lầm thầm, hỏi từng câu: ” Mầy là Cách… Cách dân Tây đây mà… sao mày biết tao ở đây mà tìm… kể ra cũng lâu lắm rồi nhỉ, nay mình mới gặp lại nhau “. thằng Cách có cái biệt danh là Cách dân Tây, vì ba mẹ nó đặt tên con cái trong nhà theo thứ tự Duex, Trois, Quatre trong tiếng Pháp. Nó là con trai thứ ba trong nhà nên tên Cách, hai chị gái nó mang tên Đơ và Thoa. Thấy cháu lẩm bẩm như vậy, thằng Cách run run nắm lấy tay cháu, nói khẽ: ” Vậy là mày nhận ra tao rồi, giúp tao nhen “. Theo lời kể thì mới bốn ngày trước, nó vừa trốn khỏi trại cưỡng bức lao động ở đâu đó trên vùng tỉnh Sông Bé. Nó chạy được vào một cánh rừng rồi lòng vòng lạc đường đến cả hai ngày trời thì mới gặp một căn nhà và vào xin đồ ăn nước uống. Chủ căn nhà là một tay già cán bộ tập kết đã cho nó ăn uống lại che chở và còn giúp nó có phương tiện về lại được Sài Gòn.

Ông quân nhân nghe chuyện kể tới đây liền nói:

– Gặp người tử tế đấy nhưng cũng khó tin ở đoạn kể về tay cán bộ. Cán bộ tập kết là Việt Cộng miền Nam nhưng thường thì đám đó mà gặp tù trốn trại là vây bắt giao cho công an liền một khi.

Anh bộ đội gật đầu, đồng tình:

– Đúng chú! Thằng Cách kể tiếp: ” Tay cán bộ tập kết đó bảo mấy năm trước chú mầy mà ló mặt đến đây thì tao sẽ bắt ngay. Tao đã từng bắt mấy đứa tù trốn trại như vậy rồi nhưng nay thì đã khác “. Tuy gã cán bộ không nói lý do tại sao đã khác nhưng thằng Cách đoán có lẽ bọn Việt Cộng miền Bắc ào ào vô Nam quá đông rồi vì tranh dành địa vị với nhau nên đẩy ra rìa đám miền Nam tập kết năm xưa, nay không cần nữa, cho về vườn hết cả. Thêm vào đó, va chạm với xã hội còn lại của miền Nam trong giao tiếp, tâm tính của rất nhiều tên cán bộ tập kết như trường hợp của gã ân nhân thằng Cách đã thay đổi. Không còn tiếp tay cho bọn Việt Cộng làm điều ác như trước nữa, gã cựu cán bộ đó đã dấu thằng Cách trong nhà khi bọn công an lần theo dấu vết và mò vào tận nơi dò hỏi. Gã bảo không thấy tên tù trốn trại và bọn công an tin ngay lời nói đó do cái quá khứ cộng tác cũ. Đến ngày thứ năm kể từ lúc chạy trốn, chính tay già tập kết đã dùng xe bò chở than, ém thằng Cách nằm ở chính giữa đống hàng để lọc cọc ra được quốc lộ 13 và rồi thẳng tới trạm xe đò chạy tuyến đường Sài Gòn – Sông Bé trong chuyến chót an toàn. Ông ta còn cho nó ít tiền phòng thân dọc đường nữa.

Anh trẻ nhất hỏi vặn anh bộ đội:

– Mấy ngày ở trong rừng, bạn Cách của anh sống bằng cái gì? Nước thì uống nước suối, nước lạch đi… mình không kể nhưng đồ ăn kìa. Chắc chỉ trái cây rừng, mà sao biết thứ nào ăn được?

– Tao cũng hỏi như mày bây giờ và nó kể là trước lúc bỏ trốn thì đã dò dẫm chuyện đó từ một bạn tù trong phòng giam từng sống ở vùng rừng núi. Tổng quát, cứ trái cây rừng nào mà vị ngọt và chua thì ăn được. Với loại trái cây có vị vừa ngọt vừa đắng, ngọt không thôi hoặc ngọt nhưng cái hậu có vị beo béo thì mình phải cẩn thận. Nói là nói vậy nhưng khi đói quá thì cũng phải liều mạng và thằng Cách đã thử ăn  một loại trái cây rừng nó gặp được, trông giống như quả nhãn mình thường trồng ở nhà. Quả nhãn rừng này khác ở chỗ phần cơm bọc chung quanh hạt đen ở giữa thay vì trắng lại có mầu đỏ và cũng có vị ngọt. Không dám ăn nhiều nhưng mới nuốt vài trái thì nó hoa mắt rồi lăn ra xỉu, miệng sùi bọt. Nằm ngay đơ trên đất cho đến khi cơn đau bụng đã đánh thức nó dậy. Nó cố lết đi, may gặp một con suối và đã uống nước cho có cái để ói ra nhằm làm dịu cơn đau đang cồn cào ruột gan. Nó ói ra nước bầy nhầy kèm với chút máu và nhờ vậy mới gượng đi được. Có suối, nó phải quay lại cái nghĩa địa cũ để lấy một bát cắm hương ở một mả hoang mà thủ làm đồ trữ nước uống. Muỗi trong rừng nhiều vô kể, trời bắt đầu sụp tối thì nó phải trèo lên cây cao, kiếm chỗ chạc ba ngồi ngủ để tránh thú dữ và mong gió khuya sẽ xua bớt đàn muỗi rừng lúc nào cũng vo ve điếc cả tai. Cứ lòng vòng lạc lối trong rừng như vậy cho đến khi nó trông thấy căn nhà của tay cán bộ.

Ông già nhất ngồi nghe nãy giờ, thốt lên:

– Nhân chi sơ tính bản thiện, người ở đâu, thời đại nào cũng có kẻ giống nhau. Bạn cậu và ông cha xứ làm tôi nhớ hình ảnh tay tù Jean Valjean và giám mục Myriel trong truyện Les Miserables của nhà văn Victor Hugo đấy. Kể tiếp chuyện đi.

Anh bộ đội nhìn ông già nhất trong giây lát rồi tiếp:

– Khi thấy cha xứ lấp ló ở cửa phòng, chỉ vào đồng hồ trên tay ngài thì cháu liền đứng lên, đi ra cảm ơn cha và bảo với ngài sẽ lo cho thằng Cách ngay. Rồi cháu dẫn nó về nhà, nói sơ với mẹ về hoàn cảnh. Mẹ cháu nói gần tới giờ lễ đêm rồi, trước mắt bảo bạn con tắm rửa, ăn uống và nghỉ ngơi đi, mai sẽ tính sau.  Nó đi tắm, thay quần áo của cháu rồi ra ngồi ăn cơm chung bàn với gia đình. Sau đó cháu hỏi nó: ” Sao mày biết tao ở đây mà tìm? “. Nó bảo hồi còn học chung, nhớ có lần đã nghe cháu nói nhà ở trong xứ đạo này nên khi về được tới Sài Gòn thì liền tìm đến ngay. Cũng từ kinh nghiệm của bạn tù dặn rằng: ” Thời bây giờ, nếu cần tìm chỗ trú thân trong đêm tối, nên đến nhà thờ gặp mấy ông cha cố đạo Chúa thì hy vọng còn có lối thoát, đừng vô Chùa, mấy ông sư giờ không như ngày trước đâu “, tao đâu biết nhà mày và cũng không chắc mày còn ở đây hay đã chuyển đi nơi khác, cả mười năm rồi chứ ít gì nhưng cứ thử xem mới biết.

Ông quân nhân lấy tay khoa khoa trước mặt như không đồng ý với đoạn chuyện anh bộ đội vừa kể:

– Cha hay sư thì cũng tuỳ người tuỳ nơi chứ không phải đều một ruột như nhau hết cả đâu. Mà thôi, cậu cứ kể tiếp đi, tôi sẽ nói sau vậy

Nghe thế, anh bộ đội nói:

– Ăn xong, thằng Cách xin đi ngủ ngay, cháu đưa nó lên gác vào phòng riêng của mình và bảo: ” Mày ngủ đi, lát tan lễ đêm về mình sẽ nói chuyện nhiều hơn “, nhưng nó ngủ một lèo cho tới quá trưa ngày hôm sau mới thức dậy được. Cũng dễ hiểu, nó mệt quá, trốn chạy trong rừng rồi đi cả ngày với tay cán bộ thì có nhắm mắt được là bao. Khi thằng Cách tỉnh ngủ rồi, nhìn mặt mũi nó, cháu phải kêu ông thợ hớt dạo vào nhà, tăm tia cho gọn đầu tóc rồi mới kéo nhau ra quán. Hai đứa ngồi ở cái bàn trong góc vườn cho kín đáo, thằng Cách kể: ” Tao theo chuyến xe cuối về tới bến Miền Đông ở Thủ Đức thì trời đã quá chiều. Ra khỏi bến, đi lòng vòng mà lo tối nay chưa biết sẽ ngủ ở đâu, nhà thì xa, sợ mò về thì có thể sẽ bị bắt trở lại vì chắc chắn công an khu vực đã được tin báo rồi. Tao vào một quán cà phê ngồi nghỉ chân và nhớ đến mày, đến cái địa chỉ đã nghe khi trước. ” Mình không thể lang thang cả đêm ngoài đường được, công an sẽ chận hỏi và rồi rắc rối chứ chẳng chơi “, tao nghĩ vậy nên mới hỏi thăm bà chủ quán nước về đường đi rồi đón xe ôm đến được xứ đạo và xin vào gặp ông cha “.

Anh trẻ nhất hỏi:

– Bạn Cách của anh nhà ở đâu, chắc cũng đâu đó trong Sài Gòn?

Anh bộ đội lắc đầu, đáp lại:

– Không! Nó tận trên vùng Củ Chi-Hậu Nghĩa lận… mày cũng biết chỗ đó mà.

Ông quân nhân nói:

– Củ Chi-Hậu Nghĩa nằm về hướng đi Tây Ninh-Campuchia, cách Sài Gòn cũng cả trăm cây số chứ ít gì. Thời còn chiến tranh, vùng này là địa bàn hoạt động của bọn Việt Cộng đó.

– Đúng chú. Anh bộ đội gật đầu và tiếp: ” thằng Cách kể sau ngày 30 tháng Tư thì bố mẹ nó bán căn nhà ở Sài Gòn và về quê cũ ở trong vùng Củ Chi này. Những năm có chiến tranh với Khmer Đỏ, nhà nước bắt lính dữ lắm nhưng vì là con trai duy nhất trong gia đình nên nó thoát cảnh bộ đội, chỉ lòng vòng ở nhà  phụ cha mẹ làm ruộng thôi. Ngoài ruộng rẫy, nhà nó còn nuôi khá nhiều gà vịt. Đám ấp đội rồi cả bọn công an sống chung trong xóm thường bắt trộm gà vịt nhà nó nên ông bà già mới làm đơn thưa nhưng chính quyền địa phương chẳng xử. Tánh nó nóng, ức lòng cái vụ gà vịt mất trộm nên khi gặp đám công an-ấp đội thì chửi đổng. Dịp lễ 30-4 của năm trước đó, nó đi chơi bài ở mấy nhà gần gần thì bị đám này rình bắt và giải giao cho trại cưỡng bức lao động Bố Lá với tội danh thành phần cờ bạc-quậy phá làng xóm. Trong trại lao động này, có một gã quản giáo là anh ruột của tên ấp đội bắt giữ thằng Cách. Tên quản giáo đó đì nó sát ván, sơ hở một chút là bị phạt và có khi còn không cho gia đình tiếp tế thăm nuôi nữa “.

Ba người ngồi chung bàn nghe anh bộ đội kể, họ im lặng như đang thả hồn về các cảnh sống cũ bên quê nhà và rồi ông già nhất khơi lại câu chuyện:

– Ở nước mình, ai bị tù giam đã khổ mà sống trong trại cưỡng bức lao động thì còn thê thảm hơn vì không rõ ngày nào mới được thả ra. Đã thế, tù nhân lại còn phải đi lao động nặng hàng ngày nữa.

Nghe ông già nhất nói, anh bộ đội gật đầu đồng tình và kết thúc:

– Vậy! Thằng Cách đã quyết định phải trốn trại sau khi dò hỏi từ các người bị giam cùng phòng với nó. Có người đã ba năm, người thì năm năm rồi mà họ không chút hy vọng sẽ bao giờ được thả khỏi trại nên nó phải bùng thôi. Chuyện kể đêm Giáng sinh của cháu là vậy… Bây giờ thì tới phiên người khác.

Anh bộ đội dứt lời, đưa mắt nhìn về phía ông quân nhân nhưng anh trẻ nhất khoát tay:

– Tui thấy chưa xong nhen… anh ngưng ngang xương vậy đâu được. Kể thêm đi huynh, tui muốn biết anh bạn Cách cuối cùng ra sao, không lẽ cứ trốn trong nhà anh?

Nghe anh trẻ nhất hỏi, ông già nhất gật đầu còn ông quân nhân hùa theo:

– Phải đó! Chuyện coi như chưa có hồi kết thúc… rồi anh chàng trốn trại đó đi đâu? Kể tiếp đi mà.

Thấy phản ứng của ba người họ, anh bộ đội khẽ lắc đầu, trả lời:

– Thôi được rồi… mà cũng đúng. Để cháu kể tiếp đây. Anh ta khẽ hắng giọng trước khi nói: ” Ở được vài ngày thì nhân lúc cháu vắng nhà, mẹ cháu hỏi chuyện và thằng Cách đã nói thật hết cả. Khi cháu về, bà cho gọi cả hai xuống nhà và bảo với thằng Cách: ” Dân xứ đạo ở vùng Gò Vấp này, chẳng ai ưa đám công an nên gia đình không lo vụ bị hàng xóm chỉ chọt, mách lẻo gì. Bác nói vậy để cháu an tâm nhưng mình phải tính sao cho gọn chứ cứ trốn tránh mãi thì cũng kẹt “. Nói là tính mà có ai trong nhà nghĩ ra được gì đâu nên cuối cùng, cháu đành phải vào vấn kế với cha xứ. Ngài nghe xong chuyện mới bảo cháu và thằng Cách đi gặp báo Tuổi Trẻ. ” Báo này có nhóm phóng viên chuyên săn tin về các vụ oan sai của dân, hai anh thử đến trình bày với họ, may ra “, cha góp ý như thế nên cháu mới lấy xe chở thằng Cách đến tận toà soạn của báo. Nó vào gặp và được đám phóng viên ở đó chịu  giúp… Chuyện thì dài lắm, không phải một sớm một chiều là xong ngay được đâu. Tóm tắt, đám phóng viên đó đưa thằng Cách quay về trại cưỡng bức lao động và rồi nó đã được thả tự do không lâu sau đó.

– Thế mấy tên công an, ấp đội chơi đểu… tụi nó có bị gì không? Anh trẻ nhất hỏi.

– Thằng Cách không kể thêm gì nữa nhưng tao nghĩ đám lưu manh đó chắc cũng sợ mà bớt tự tung tự tác hại người. Anh bộ đội trả lời.

Ông già nhất gật gù cái đầu, bảo:

– Cậu làm việc lành trong đêm Giáng sinh thật quá hay, coi như món quà dâng lên Chúa vậy. Nhiều người khi gặp nạn, họ chạy cầu cứu bạn bè mà chẳng mấy ai chịu giúp cho.

Ông quân nhân gật đầu, đế vào:

– Giúp người ở bước hoạn nạn là đạo lý trên đời, tôi thật lòng khen cậu đấy. Thời bây giờ, mấy vùng quê hẻo lánh càng xa thành phố chừng nào thì người dân càng khổ chừng nấy với cái bọn công an địa phương lộng quyền.

Anh bộ đội tít mắt hài lòng, quay qua nói với ông quân nhân:

– Bố mẹ cháu vẫn dạy con cái trong nhà phải giúp người hoạn nạn, cơ nhỡ cho dù chẳng phải bà con, bạn bè gì cả. Chính vì vậy mà đêm Giáng sinh năm đó cháu mới dám dẫn thằng Cách về nhà. Chuyện cháu kể xong rồi thì bây giờ đến lượt chú chứ.

Ông quân nhân khẽ lấy tay dúi dúi cán điếu thuốc lá vào cái gạt tàn và ậm ừ:

– Lượt tôi ư! Phải rồi. Nhưng tôi đã nói có biết chuyện gì về đạo Chúa đâu mà kể. Anh giáo ác quá… Hai cậu này kể chuyện thì cũng cần có tôi ngồi nghe chứ. Cho tôi qua phà nha, anh giáo và hai cậu nghĩ sao?

Ông già nhất nghe vậy liền ngồi hẳn lên, lắc đầu:

– Không được! Tôi có bảo anh kể chuyện đạo Chúa đâu mà cứ từ chối mãi… Nhớ được chuyện gì liên quan đến anh trong đêm Giáng sinh là OK. Quân nhân thì chắc anh phải biết chuyện gì hay hay chứ. Anh bảo tôi cho qua phà nhưng còn hai cậu này thì sao?

– Không! Không được. Đã nghe chuyện người khác thì mình cũng phải kể chuyện của mình ra chứ, vậy mới công bằng. Chú phải kể thôi. Hai cậu trẻ tuổi lần lượt nói.

Ông quân nhân gục gặc cái đầu, đảo mắt qua ba người họ rồi chậm rãi từng tiếng:

– Á à! Mấy người nhất định không tha tôi ha. Thôi… để tôi kể vậy. Tôi đã từng là lính gác tù tại đảo Phú Quốc đấy. Tù đây là bọn phiến Cộng bị phe mình bắt được và nhốt chung trong một cái trại giam lớn lắm… lúc đông nhất có tới gần bốn mươi ngàn tù binh lận. Gần bốn mươi ngàn tù binh. Ông quân nhân lập lại câu nói và tiếp: ” Chuyện tôi sắp kể đây, đã xẩy ra trong một đêm Giáng sinh ở đó nhưng khá lâu rồi “.

Nghe đến đây thì ông già nhất cười dòn:

– Thấy chưa, tôi đã bảo anh là quân nhân thì chắc chắn biết nhiều chuyện hay rồi. Giờ lòi ra chuyện ở trại giam tù binh Việt Cộng thì còn gì hơn.

– Tôi khi đó là một hạ sĩ thuộc tiểu đoàn 7 quân cảnh, tòng sự trong ban tiếp liệu.

Ông quân nhân nói tới đây thì ngưng lại trong chốc lát như để hồi tưởng về câu chuyện sắp kể, ba người ngồi chung bàn chăm chăm nhìn ông chờ đợi. Một khoảng khắc trôi qua, ông quân nhân rít một hơi thuốc lá rồi chậm rãi: ” Trại giam tù binh Phú Quốc là cái tên sau này chứ trước kia phe Việt Nam Cộng Hoà mình gọi nó là trại giam phiến Cộng. Mình vẫn coi bọn Việt Cộng là cái đám thổ phỉ, phiến loạn qua các hành động bắt giữ, tra tấn và giết dân lành vô tội ở các vùng nông thôn. Trại giam này nằm ở thung lũng An Thới thuộc ấp 5 của xã Dương Tơ thuộc tỉnh Hà Tiên cũ… bây giờ nó có tên mới là tỉnh Kiên Giang. Như can nãy tôi vừa kể, trại giam từng chứa tới gần bốn mươi ngàn tù binh nên nó rộng tới cả 400 mẫu tây và có tới 4 tiểu đoàn quân cảnh để canh gác bọn tù. Bốn tiểu đoàn quân cảnh đó là tiểu đoàn 7, 8, 9 và 14. Chuyện tôi kể xẩy ra trong đêm 24 tháng 12 của năm 1971 là một cuộc vượt ngục của tù binh Việt Cộng “.

– Anh nói đúng! Trước kia mình vẫn coi bọn Việt Cộng là đám thổ phỉ, phiến loạn. Báo chí đăng tin thời sự cũng gọi bằng cái tên Cộng phỉ hay phiến Cộng. Ông già nhất góp lời:

– Đám tù binh đào một đường hầm từ trong căn phòng giam và trổ lối ra khỏi bên ngoài hàng rào kẽm gai của trại. Tối hôm đó vì là ngày Giáng sinh nên một số lính quân cảnh có đạo Chúa do bận việc đi lễ nủa đêm, đã bỏ việc kiểm danh các phòng giam như thường lệ và vì vậy, đám tù binh đã chui ra khỏi trại giam bằng đường hầm này. Chúng đi thoát hết cả phòng rồi thì mãi đến gần 2 giờ sáng lính gác vào đổi phiên mới phát giác khi họ đi kiểm danh. Khi đó tôi đang ngủ thì nghe còi báo động nên choàng dậy mới biết sự việc vừa xẩy ra.

Anh bộ đội hỏi:

– Chú kể thì đường hầm đã được bọn họ đào từ trước rồi. Đào hầm từ phòng giam ra tới bên ngoài hàng rào thì chắc phải lâu lắm mới xong. Vậy mà mấy chú không biết?

Ông quân nhân gật đầu, tiếp:

– Thế mới nói! Cái này thì mình phải nhận là bọn tù khéo che mắt lính gác bên phe mình. Cái phòng giam đó nằm gần hàng rào nhất nên chúng mới chọn để đào hầm. Sau này khi quân cảnh bắt được lại một số tù thì mới biết cách thức của bọn chúng. Cái đường hầm đó dài trên 70 mét, ngầm sâu dưới đất hơn 1 mét và chạy thẳng ra khỏi hàng rào. Theo lời cung khai thì khi ló đầu lên khỏi cửa hầm ở bên ngoài hàng rào, tên tù ra trước cột sợi dây để những gã theo sau cứ thế lần theo lối mà vào rừng. Sợi dây này dài tới cả hai trăm thước và là cách để bọn tù khỏi bị lạc nhau trong đêm tối. Dây thì bọn chúng bện bằng sợi xé nhỏ từ các bao nylon đựng thực phẩm. Rồi khi tập trung hết cả ở chỗ cuối của đoạn dây, bọn tù vượt ngục kiểm danh thấy đủ người thì mới chẩu. Phòng giam đó có 40 tên và chúng chia làm 3 hướng để thoát.

– Thật không khác trong phim Cuộc Vượt Ngục Vĩ Đại mà năm xưa mấy rạp Rex, Eden từng chiếu. Ở hoàn cảnh giống nhau thì hành sự sẽ tương tự thôi. Ông già nhất buột miệng.

– Nghe hay quá chú. Rồi mình có bắt được tụi nó không? Anh trẻ nhất hỏi:

– Có bắt được. Ông quân nhân gật đầu rồi tiếp: ” Khi phát giác ra vụ đào tẩu, quân cảnh trại giam liền phối hợp với cảnh sát địa phương làm cuộc lục soát liền nhưng mãi bốn ngày sau mới bắt được 8 tên thôi, số còn lại thì thoát hết cả. Từ lời khai của 8 tên tù này thì mình mới biết bọn tù đào đường hầm cả nửa năm trời mới xong. Mỗi lần đào thì đất được chuyển lên mặt phòng, bọn tù cho vào túi nhỏ rồi lén đem đi rải mỏng ở ngoài sân hay đổ xuống mương nước nằm gần các phòng giam “.

Anh trẻ tuổi hỏi ông quân nhân:

– Tụi tù lấy cái gì để đào đất?

– Bằng muỗng ăn cơm thôi. Thấy nó nho nhỏ vậy chứ khoét đất dễ lắm tuy hơi chậm.

Ông già nhất hỏi:

– Tôi nghe bảo có vài vụ thanh toán giữa tụi tù binh với nhau nữa, phải không anh?

Ông quân nhân đáp:

– Nhiều và ghê rợn lắm anh giáo. Thỉnh thoảng lính gác trại giam vẫn bắt gặp một xác người nào đó nằm chết với cây đũa xuyên qua hai tai. Có khi giữa khuya, nghe tiếng hét ở phòng giam, lính gác chạy đến thì lại một người mặt mũi đầy máu đang gào la, quờ quạng trên sàn… Coi lại thì người đó đã bị móc mất hai con ngươi rồi. Có người khi đang tắm, bị đồng bọn xô chúi xuống giếng vỡ đầu mà chết tươi nữa. Tới giờ, nghĩ lại các chuyện bọn tù binh làm, tôi còn rùng mình.

– Sát nhất nhân vạn nhân cụ. Ông già nhất chen vào: ” Đây là cách hành động của bọn Việt Cộng với dân chúng. Cứ làm các sự ác công khai cho dân thấy thì sẽ phải sợ chúng mà im răm rắp vâng lời. Anh tính xem, giết người bằng cách đâm chiếc đũa vào tai thì ít nhất chúng phải có 5, 6 thằng mới làm được nên không thể nói do thù hằn cá nhân gì cả. Một hành động có sắp xếp sẵn từ trước. Này nhé, bốn thằng giữ hai tay hai chân, một thằng giữ chặt cái đầu, một thằng bịt kín miệng không cho la cầu cứu… để cho đứa khác đóng chiếc đũa vào lỗ tai nạn nhân. Còn lấy bóng đèn giữa đêm khuya như anh kể thì chỉ cần một tên có nghề bò đến sát bên nạn nhân đang ngủ say và rồi tung ra như chớp ngón Bạch Cốt Trảo. Ôi thôi! “.

– Đã vào tù rồi, sao họ lại thanh toán nhau khiếp vậy hả chú? Anh trẻ nhất le lưỡi khi hỏi.

– Đám Việt Cộng trong tù vẫn bào chữa cho các vụ thanh toán này bằng điệp khúc: phải giết tên đó vì nó là một gián điệp của CIA gài vào giả làm tù binh ta để theo dõi các hoạt động trong phòng giam mà báo cáo ra ngoài cho bọn Nguỵ. Cậu biết là tuy ở tù nhưng đám Việt Cộng đầu sỏ vẫn tổ chức ngầm các cấp uỷ đảng để chúng kiểm soát và chỉ huy tất cả tù nhân. Những nạn nhân của chúng, đơn thuần chỉ là người đã chán cảnh ở tù, nay muốn ra hồi chánh với chính quyền nên đó là lý do họ bị giết chết. Gián điệp CIA nào mà vô trong mấy phòng giam tù binh đó để kiếm tin tức. Bất cứ tù binh Việt Cộng nào khi bị bắt, phía an ninh quân đội Việt Nam Cộng Hoà đã điều tra tên đó xong hết cả rồi thì mới đưa đi giam ở Phú Quốc.

Anh bộ đội xen vào:

– Hồi còn ở đơn vị bộ đội, cháu nghe mấy ông chính trị viên bảo tù binh ở Phú Quốc bị quân cảnh chế độ cũ cưỡng bức lao động nặng, bị bỏ đói, bị tra tấn dữ lắm đến nỗi Hồng Thập Tự quốc tế phải can thiệp thì mới bớt. Lại có nhà báo đòi phải cải thiện chuyện giam giữ tù binh nữa. Có đúng vậy không?

Ông quân nhân nghe vậy, buột miệng cười khẩy:

– Cậu từng là bộ đội nên mới hồ nghi những việc tôi vừa kể.  Hãy nghe tôi đây. Thứ nhất, bọn chính trị viên đó từng nghe ai đó tuyên truyền như cậu đã nghe và chúng tin nên nói lại như cái loa. Thứ hai, bọn đó biết tất cả sự thật nhưng vẫn phải nói láo vì đây là bổn phận của chúng. Tù binh Việt Cộng trong trại giam Phú Quốc không hề phải lao động gì cả nha cậu. Trong vòng rào kẽm gai thì lao động cái gì đây? Ba cái vụ trồng rau là do tù binh xin tự cải thiện vì xuất thân của chúng hầu như là dân quê. Bọn tù binh muốn siêng thì cũng chẳng có việc để làm. Những khi bị quân cảnh bắt buộc phải nhổ cỏ sân trại giam, gia cố làm lại hàng rào, khơi thông cống rãnh hôi thối cho thoáng thì chúng nghe lệnh rồi ngồi ì ra cả đám trên sân. Hỏi, chúng nại cớ không tiếp tay làm các công việc phục vụ quân sự của phía đối phương. Cậu có biết một lần tù binh Việt Cộng trong trại hè nhau tuyệt thực đến ngất xỉu thì bọn cố vấn Mỹ đến trại buộc tụi tôi phải nấu cháo bồi dưỡng chúng nó nữa đó. Nghe không thể tin được phải không, mà đó là sự thật.

– Sao tụi Mỹ nó biết  mà đến trại làm chuyện ruồi bu vậy. Rồi mình có nấu cháo cho tụi nó ăn không. Anh trẻ tuổi hỏi:

Ông quân nhân gật đầu:

– Có gì lạ! Bọn cố vấn Mỹ sống ở thị trấn Dương Đông, xa xôi gì. Trong trại mà xẩy ra chuyện gì thì đám tay chân báo tin cho biết ngay. Vụ tuyệt thực kỳ đó, tụi tôi nhận lệnh phải nấu cháo mà cháo gà mới tức chứ. Mình sống ở đảo, món ăn mặn quanh năm gần như chỉ là cá với tôm-cua thôi. Thịt heo cũng có mà ít còn gà thì thôi, quá sang dễ gì. Vậy mà bọn cố vấn Mỹ mang gà đến tận trại giam, buộc tụi tôi phải nấu cháo cho bọn tù ăn để mau lại sức sau cú tuyệt thực. Lý do: sợ đám Việt Cộng ngoài Hà Nội sẽ đối xử tệ với bọn tù binh phi công Mỹ đang bị nhốt ở Hoả Lò. Gà bọn cố vấn Mỹ đưa đến nhiều lắm, cả trăm con và đã làm sẵn sạch sẽ hết rồi. Đám cố vấn Mỹ áp lực tụi tôi phải nấu cháo ngay vì muốn tận mắt xem tù binh Việt Cộng ăn nữa. Cháo nấu bằng mấy cái nồi lớn như cái phi đựng xăng và khi chín thì đám nhà bếp hè nhau đứng vạch chim đái thẳng vào cho bõ ghét. Bọn cố vấn Mỹ đến kiểm tra rồi thì bọn tù binh xúm lại ăn cháo vì cho là thắng lợi. Bọn tù binh cũng biết đói chứ bộ, tuyệt thực để làm màu với bọn cố vấn Mỹ thôi. Kể cũng tức cười, mình biết tỏng mà chẳng làm gì được. Còn cái vụ Hồng Thập Tự thì cậu phải biết là tổ chức đó lúc nào cũng thiên Cộng… Bây giờ thì đám này sáng mắt rồi vì Việt Cộng đã lộ bộ mặt thật. Tôi kể đến đâu rồi nhỉ? À! Tụi nhân viên Hồng Thập Tự quốc tế đến Sài Gòn, đề nghị với chính quyền phải cho họ đi thăm trại giam Phú Quốc. Vụ này hình như là giữa năm 1970 gì đó. Thăm rồi, khi trở về Sài Gòn, họ lôi mấy quy ước Geneva ra, cáo buộc chính phủ ngược đãi tù binh Việt Cộng: Nhốt quá nhiều người trong phòng giam và lại không có phương tiện giải trí như phim ảnh, truyền hình nữa. Có bố láo không! Cũng trong thời gian đó, bọn trùm Việt Cộng ở Hà Nội không cho mấy nhân viên Hồng Thập Tự này đi thăm đám tù binh phi công Mỹ và bọn Mặt trận trong Nam thì chối phắt: Cách Mạng không có trại giam như bọn Nguỵ, ở các địa phương giải phóng chỉ có nhốt lẻ tẻ vài người thôi và nếu Hồng Thập Tự đòi đi thì cứ tự tiện, không bảo đảm an ninh. Xong! Vậy mà đám nhân viên Hồng Thập Tự quốc tế im re, chẳng phản đối gì sất. Còn cái vụ đòi cải thiện lao tù cho tù binh trong các trại giam nữa. À ha! Chính mấy ông cha đạo Chúa ở Sài Gòn bày ra nhằm phá thối chính quyền thời đó đấy. Can nãy, tôi đã bảo với  mấy cậu cha hay sư có thực tâm tốt lành không là còn tuỳ từng người.

Ông già nhất, góp lời:

– Mấy ông linh mục đó thiên Cộng anh ơi, giờ họ cũng lộ mặt mo hết cả rồi. Ngẫm lại mấy chuyện anh vừa kể, mình thấy chính quyền Việt Nam Cộng Hoà thời đó gần như một mình mà tứ bề thọ địch. Ngoài Việt Cộng là chính thì còn phải đối phó với bọn cố vấn Mỹ, bọn mang danh tổ chức quốc tế như báo chí và Hồng Thập Tự này… Thêm vào đó là bọn trí thức nằm vùng xưng tên thành phần thứ ba. Nói đến đây ông già nhất lắc đầu: ” Tất cả hè nhau mà phá phe quốc gia mình, hỏi sao mà không mất nước “.

Ông quân nhân hít một hơi thuốc lá, thở ra làn khói trắng rồi đáp:

– Chính xác! Tứ bề thọ địch như vậy, nếu miền Nam Việt Nam Cộng Hoà mình không mất nước thì mới là chuyện lạ. Thôi, chuyện tôi kể đêm Giáng sinh chỉ vậy, coi như xong nhiệm vụ nha anh giáo. Ráng hết sức rồi đó.

Ông già nhất phát một tay lên như chận lời, giọng vui:

– Mới tiết lộ có chút xíu xìu xiu mà nói ráng hết sức… Gác tù Việt Cộng lại để cho chúng vượt ngục chạy thoát được mà nói xong nhiệm vụ. Kể thêm đi… Chuyện tù binh dễ gì có ai biết ngoài mấy ông quân cảnh, tụi này có nghe cũng giữ bí mật cho mà. Bảo đảm.

Hai cậu trẻ tuổi nghe ông già nhất nói vậy, liền a tòng:

– Phải! Phải a! Chú cứ dấu chuyện xưa thì đám hậu sinh làm sao mà biết. Kể thêm đi chú ơi, năn nỉ đó.

– Kể thêm… Ừ thôi cũng được. Nhưng tôi biết kể thêm cái chi đây?  Anh giáo và hai cậu đây thử hỏi cái gì liên can đến tù binh thì may ra nhớ đâu tôi xâu đấy. Ông quân nhân ngập ngừng.

Nghe ông quân nhân nói vậy, ba người còn lại khẽ nhìn nhau bối rối. Chắc trong trí họ cũng không biết phải hỏi cái gì đây? Vừa lúc, một người hầu quán đến bàn, mang thêm cho họ bình trà mới thay cho ấm cũ đã cạn. Anh trẻ nhất với tay lấy bình trà và lần lượt rót đầy cốc của từng người. Trà nóng gặp không khí lạnh của ban đêm nên bốc hơi trắng thơm lừng. Ông già nhất cầm cốc lên, nhấp một ngụm rồi khơi lại chuyện:

– Tôi nghe bảo tù Việt Cộng ở Phú Quốc gồm cả bộ đội chính quy miền Bắc với đám giải phóng miền Nam phải không anh. Mình nhốt tụi nó chung với nhau hết hả.

Ông quân nhân:

– Phải mà cũng không phải anh giáo. Lúc mới đầu mình không phân biệt tù binh miền Bắc miền Nam gì, coi chung là phiến Cộng cả. Cứ bên an ninh quân đội điều tra tên tù nào xong, chuyển sang thì mình giam thôi nhưng sau mình tách ra nhốt riêng hết. Bắc ra Bắc, Nam ra Nam không có chung đụng gì với nhau.

– Sao vậy anh?

– Cũng do tụi nó mà ra. Anh biết bọn tù bộ đội miền Bắc lúc nào cũng coi thường đám tù giải phóng miền Nam. Bề ngoài thì bọn chúng cùng là tù binh Việt Cộng nhưng bề trong, chẳng bên nào ưa bên nào. Chính vì vậy mà xẩy ra những vụ ấu đả giữa tụi nó với nhau nên chính phủ mình phải phân loại Bắc ra Bắc, Nam ra Nam và giam giữ riêng biệt. Bắc đây là bọn bộ đội chính quy như đám cán binh của sư đoàn Sao Vàng, sư đoàn 308 hay trung đoàn Bông lau bông liếc gì gì đó thuộc bên kia cầu Hiền Lương-Bến Hải. Còn Nam là đám tập kết năm xưa giờ vượt Trường Sơn, vượt đường mòn Hồ Chí Minh trở về hay bọn dân sống ở miền quê trong này đi theo mà chúng gọi là thoát ly như tụi trong Công trường 7, Công trường 9 hoặc  trung đoàn Quyết Thắng, tiểu đoàn Tây Đô… Khi trao trả tù binh, chính phủ mình thả đám miền Bắc ở bờ sông Thạch Hãn của tỉnh Quảng Trị còn đám miền Nam thì tại phi trường Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long.

– Họ có bị bỏ đói, tra tấn không chú. Cháu nghe người ta vẫn bảo… Anh bộ đội ngưng ngang câu hỏi.

Ông quân nhân thấy thái độ của anh bộ đội, cười gằn:

– Cậu vẫn còn tin lời của mấy tay chính trị viên kể, tôi biết nhiều người cũng nghĩ như cậu. Với lại, ở thời điểm đó cậu cũng còn nhỏ nên không biết sự thật là phải, chẳng trách. Cả một bộ máy chính quyền đồng thanh nói láo, nói láo mãi về một chuyện thì người dân cũng ít nhiều phải mắc bẫy chứ. Lúc trao trả tù binh cho phe chúng ở Lộc Ninh và ở bờ sông Thạch Hãn, Việt Cộng tên nào tên nấy béo tốt mà đám cán bộ đại diện đi nhận người vẫn lu loa: ” Tù binh ta bị chính quyền Nguỵ bỏ đói, vi phạm công ước Geneva… “. Những ngày trao trả tù binh, đài truyền hình Sài Gòn cử nhân viên đến tận các nơi quay phim về làm phóng sự tình hình. Buổi tối, màn hình ti vi đài số 9 chiếu đi chiếu lại các phóng sự đó nhưng nhiều người xem mà vẫn tin lời chúng nói. Báo chí cũng đăng tin kèm ảnh mà có người vẫn không chịu nghĩ: ” Nếu thực sự bị chính quyền miền Nam VNCH bỏ đói, làm sao bọn tù binh Việt Cộng lại mập mạp hơn cả đám cán bộ đi nhận người “. Còn tra tấn ư! Bắt được mấy thằng tù bỏ trốn như tôi kể 8 thằng vừa rồi, mang về trại, tra hỏi mà cứ im lặng thì tụi an ninh phải đục sặc máu ra thôi. Không khai thì đánh, đánh cho lòi chuyện mới thôi. Trị an thì phải vậy. Ngay cả ở trại Galang này, cậu cũng biết thuyền nhân mình tuy là người của Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thật nhưng ai nhập nha trộm đồ của người khác hay đánh nhau xem thử, police Indo khi bắt được, chúng có dợt người đó cho phù mỏ không?

Nghe đến đây thì ông già nhất gật gù đầu, thẽ thọt:

– Hồi đó xem vô tuyến truyền hình thấy thân thể tù binh Việt Cộng ở địa điểm trao trả thì mới rõ họ chẳng hề bị bỏ đói đâu. Mấy thầy dạy chung trường với tôi cũng bảo chính phủ mình lo cái ăn uống cho tù binh Việt Cộng còn ngon hơn nuôi tù hình sự ở trại giam Chí Hoà. Bằng cớ là thân xác tù binh Việt Cộng, người nào tay cũng có bắp thịt, ngực nở nang và chạy thật nhanh.

– Đấy! đấy… Ông quân nhân đưa mắt nhìn ông già nhất và anh bộ đội như một đồng tình vì lời xác nhận điều ông vừa nói rồi tiếp: ” Khi mình nghe một ai đó nói kiểu tôi bị bỏ đói thì phải nhìn vào thân thể của người ấy xem coi ra sao. Có lòi xương, xanh xao gầy gò hay lại béo đỏ, vạm vỡ. Tù binh Việt Cộng ở Phú Quốc được nhà thầu giao thực phẩm là gạo trắng trong bao bố chỉ xanh mà dân mình thường gọi là gạo Mỹ hạt dài, gạo Thái Lan hạt tròn đó. Rau xanh như bầu bí, su su, cải này… cũng do nhà thầu mua từ nông dân trồng bên ngoài. Còn cá thì mua từ các chủ ghe cào ngoài biển. Trong tuần, bọn tù binh còn có một ngày ăn thịt heo nữa. Tất cả thứ, nhà thầu hàng ngày gom lại mang vào nạp cho quân cảnh rồi quân cảnh giao lại cho bọn tù nhà bếp mà chúng gọi cái tên anh nuôi tự nấu ăn lấy. Cá thì hầu hết là cá biển mà toàn là cá thu, cá ngừ, cá ngân không hà. Chim-Thu-Ngừ-Đé-Hường-Đước-Kìm-Măng… là tên các loại cá biển ngon, có nhiều thịt ai cũng biết. Một lần, nhà thầu giao loại cá chỉ vàng thì bọn nhà bếp tù binh làm reo không nhận. Lý do: cá đó ít thịt nhiều xương. Theo hợp đồng đã ấn định trước, nếu nhà thầu làm ăn không đúng thì sẽ bị ban chỉ huy trại giam huỷ khế ước ngay và thuê người khác thế chỗ liền. Chính vì vậy mà nhà thầu lúc nào cũng phải đàng hoàng khi nhận cung ứng thực phẩm cho tù binh. Họ kiếm ăn được thì tội gì phải lươn lẹo, cắt xén ăn bớt thực phẩm cung cấp cho tù binh làm gì… Ai muốn mất chỗ bở. Cứ nhìn thân thể bọn tù binh thì biết họ được quân cảnh gác tù cho ăn uống đầy đủ hay bị bỏ đói? Cũng từ cái gian xảo của bọn cán bộ Việt Cộng nên mới lộ ra sự thật. Như tôi đã kể can nãy, trước lúc được thả, đại diện bọn Việt Cộng trong uỷ ban quân sự bốn bên khi đến thăm trại tù binh Phú Quốc đã ngầm ra chỉ thị cho bọn tù đảng uỷ rồi nên khi vừa xuống khỏi máy bay C130 hay xe nhà binh GMC ở địa điểm trao trả, bọn tù binh sau tiếng hô của một gã đảng uỷ nào đó đã đồng loạt quẳng đôi dép đi, cởi bỏ bộ quần áo đang mặc trên người cùng vất túi quà tặng phẩm. Thâm ý của chúng muốn dựa vào hình ảnh tù binh Việt Cộng trần xì tà lỏn, đi chân không để vu vạ cho chính phủ miền Nam VNCH đối xử tệ bạc nhưng không ngờ lại để lộ ra hình ảnh thân thể vạm vỡ, mạnh khoẻ của người tù. Ngậm máu phun người trước đỏ miệng mình. Đến nơi trao trả, tên nào tên nấy chạy nhanh như bị ma đuổi “.

– Nghe bảo ở địa điểm trao trả, có tù binh Việt Cộng xin ở lại với chính phủ mình, phải không anh? Trong các chuyến trao trả đó, chắc anh cũng có mặt. Ông già nhất hỏi.

Ông quân nhân gật đầu, trả lời:

– Tôi có tháp tùng theo một chuyến thôi còn sau đó thì đến phiên người khác nhưng những sự việc tôi biết là do các anh em trong đơn vị kể lại. Nói đến đây thì ông quân nhân ngưng lời, hắng giọng như sắp sửa sẽ phải kể một hơi dài và đưa mắt nhìn cả ba người trong bàn, tiếp: ” Riêng anh giáo thì tôi không nói làm gì vì anh đã biết cả nhưng với hai cậu trẻ này thì cần phải nghe để hiểu sự thật. Trong những lần trao trả tù binh ở Lộc Ninh hay ở bờ sông Thạch Hãn. Chuyến nào cũng có tù binh Việt Cộng xin ở lại với chính phủ miền Nam VNCH mình. Ở lại đây là hồi chánh tại chỗ, là không muốn về với phía Việt Cộng nữa. Lúc thì một người, lúc thì vài người hoặc đông nhất cả một tập thể đến hơn trăm tù binh… xin ở lại. Nếu chính phủ mình không đồng ý tiếp nhận họ thì họ tự sát còn hơn là về với Việt Cộng. Họ nói vậy đấy. Có người thủ sẵn giấy xin hồi chánh trong người từ trước và đợi đến lúc đó mới xuỳ ra. Trong khi phía tù binh miền Nam VNCH mình thì không có ai xin ở lại với bọn Việt Cộng mà còn có người bị chúng ỉm đi không trao trả cho nữa. Sau vụ một người xin ở lại thì các chuyến kế tiếp, bọn tù binh Việt Cộng khi vừa đến nơi trao trả, chúng cứ ba người choàng tay với nhau thật chặt tiếng là để dìu nhau đi vì quá yếu sức nhưng thực tế là người này kềm người kia không cho chạy thoát. Vậy mà vẫn có người vùng chạy ra được nhưng phải vọt nhanh đến với phái đoàn kiểm tra quốc tế thì mới ổn. Người lớ ngớ chạy chậm mà đám cán bộ đi nhận người chận được thì sẽ bị đồng bọn xúm lại đánh hội đồng tơi bời, thê thảm máu me đầy mặt rồi bị kéo đi mất trước sự bất lực của đại diện phe bên mình “.

– Bên mình trao trả cho phía Việt Cộng bao nhiêu người và nhận lại bao nhiêu người… Thời gian bao nhiêu lâu mới xong? Còn anh nói có vụ bọn chúng ỉm người đi, không trao trả là sao? Ông giáo cất lời hỏi.

Nghe câu hỏi của ông già nhất, ông quân nhân ngồi yên lặng như đang lục lại ký ức cũ của mình. Một thoáng trôi qua, ông nói:

– Anh giáo hỏi vậy thì tôi chỉ biết thời gian gói gọn trong 60 ngày thôi… Tôi không rõ là ngày đầu tiên khi nào cũng như ngày cuối cùng của việc trao trả. Thật ra thì thời gian và con số bao nhiêu người đã được các bên liên quan thảo luận và chấp nhận ở các buổi họp từ trước rồi. Là một quân nhân coi tù khi đó thì tôi chỉ làm nhiệm vụ đi theo áp tải việc thực hiện trao trả thôi. Con số thì nói gọn là phe mình trao trả cho bọn Việt Cộng gần 27.000 người để nhận lại khoảng 5000 người. Chênh lệch quá mà mình cũng chẳng làm gì hơn được cũng từ sự dối trá lươn lẹo của bọn Việt Cộng và sự phủi tay của người Mỹ. Nói ra điều này thì chắc có người không tin chứ có một lần tại bờ sông Thạch Hãn, phía miền Nam VNCH trao trả 1200 tù binh Việt Cộng để chỉ nhận lại có 3 người tù phe mình mà mấy người này lại phải khiêng bằng cáng băng ca khi đưa xuống ghe.

– Lấy 3 người đổi với 1200 người. Thật tui mới nghe lần đầu. Cậu trẻ nhất thốt lên.

Ông quân nhân gật đầu, tiếp:

– Vậy! Nhưng đó là sự thật. Còn nói người Mỹ phủi tay là vì sau khi họ nhận về gần 600 tù binh ở phi trường Gia Lâm mà đa số là phi công rớt máy bay ngoài miền Bắc thì coi như đã xong chuyện tại Việt Nam nên họ cũng không làm hết trách nhiệm của một đồng minh chủ chốt với phe mình. Những tù binh mình bị bắt bên chiến trường Hạ Lào, ở các trận đánh tại Kampuchia thì phía Việt Cộng ỉm đi đâu có chịu trao trả. Mình phản đối việc đó thì bọn chúng nói để liên lạc với bọn Pathet Lào, Khmer Đỏ và sẽ can thiệp giúp đỡ trong cái tình người Việt giữa người Việt với nhau. Chắc anh giáo còn nhớ vụ ông đại tá Lữ đoàn trưởng dù Nguyễn Văn Thọ bị bắt năm xưa do chính Hà Nội đã rêu rao trên đài phát thanh mà chúng vẫn lì mặt, chối là không biết… Rồi còn cả những tù binh biệt kích Delta, Lôi Vũ nhẩy toán ra Bắc hoạt động thời cụ Ngô Đình Diệm nữa. Chúng bắt được những biệt kích quân này và cũng đưa họ lên báo lên đài phát thanh gọi là tố cáo trước nhân dân bọn Nguỵ xâm nhập, phá hoại mà rồi vẫn chối không có. Thật tội nghiệp cho những người này và cả gia đình họ. Không biết bây giờ số phần họ ra sao? Đã được tha tù chưa hay chết mất xác trong xó xỉnh nào đó ở vùng rừng núi ngoài miền Bắc rồi.

– Anh nói đến số phần làm tôi tự dưng nghĩ không biết đám tù binh Việt Cộng khi được phía mình trao trả thì số phận họ rồi sẽ ra sao? Ông già nhất ưu tư.

– Sẽ khổ lắm anh giáo… Chắc chắn là vậy mà họ chẳng tránh được đâu. Ông quân nhân chắt lưỡi tiếp: ” Trước khi được trao trả, có những tù binh đã kín đáo bộc bạch với cá nhân tôi về việc họ sẽ phải tiếp tục ở tù sau khi được thả từ trại giam Phú Quốc. Lúc đầu tôi không hiểu sau hỏi kỹ lại thì mới rõ chuyện. Những người tù này cho biết phía Việt Cộng đã làm xong một trại tù rất lớn ở vùng Sầm Sơn-Thanh Hoá rồi. Tại sao họ biết tin này? Cũng chính từ những nhân viên phía Việt Cộng trong Uỷ ban quân sự bốn bên khi đi thăm tù nhân đã tiết lộ cho biết trước. Tất  nhiên đám cán bộ này nói đó là trại an dưỡng, tẩm bổ thân xác tù binh khi được đón về từ tay giặc Nguỵ… nhưng mấy tù binh nói chuyện với tôi thì bảo đó chỉ là trại giam trá hình thôi và họ biết khi được nhận về, sẽ phải vào đó để cải tạo tư tưởng mà lần này, bọn coi tù sẽ là các đồng chí phe mình. Thể nào mà chẳng có vụ kiểm thảo, phê bình, tố cáo lẫn nhau để lập công và tránh tội đã có trong thời gian ở tù tại Phú Quốc. Khổ đó nha, chết người chứ chẳng chơi “.

– Chú ơi! Họ biết vậy mà sao lại không xin hồi chánh ngay lại phải đợi đến khi trao trả mới quyết định? Anh bộ đội vọt miệng hỏi.

– Sau này khi trại giam Phú Quốc sạch bóng tù binh rồi thì ngồi kiểm lại sự việc, mấy ông thầy trong đơn vị tôi bảo là đa số tù binh xin hồi chánh đều thuộc dân miền Nam và thật hiếm hoi mới có một cán binh miền Bắc xin ở lại. Tại sao vậy? Không phải đề cao tinh thần chiến đấu của họ đâu nếu như đặt hoàn cảnh mình là họ thì sẽ phải quyết định như thế nào giữa việc chọn ở lại miền Nam hay quay về miền Bắc để gặp mặt thân nhân sau bao ngày tù đày. Cán binh miền Bắc gần như là dân quê thì hỏi ai không nặng tình quê hương, tình gia đình trong lòng. Bị bắt ở mặt trận rồi khi sống tại trại giam Phú Quốc thì ít nhiều họ cũng biết về xã hội của miền Nam VNCH rồi đối chiếu với xã hội miền Bắc, nó kém xa. Muốn ở lại nhưng cũng muốn gặp mặt thân nhân rồi nỗi lo thân nhân nơi quê nhà sẽ gánh hậu quả từ việc hối chánh của mình mà nhiều tù binh đành phải dấu kín các ưu tư của bản thân với bạn đồng tù chung quanh. Được trao trả mà nhiều mặt anh tù binh lộ rõ vẻ buồn lẫn lo lắng thật khác với khuôn mặt rạng rỡ của tù binh miền Nam VNCH khi được phe ta đón về. Ông quân nhân nói.

Ông già nhất thêm lời:

– Như anh kể, thì tôi nghĩ tù binh Việt Cộng trong trại giam Phú Quốc còn thanh toán nhau được thì nếu ở trong cái trại cải tạo của chính bọn chúng, chúng sẽ lần lượt thịt nhau cho đến chết mà thôi. Bọn Việt Cộng ngoài miệng nói chuyện lúc nào cũng một lòng một dạ, cùng đồng tâm chí hướng nhưng trong thực tế chúng nghi ngờ chẳng tin ai hết. Cái tổ tam tam chế ta thường thấy trong các đơn vị của chúng là để tên này kèm hai thằng kia rồi cả ba đứa âm thầm báo cáo cho cán bộ chỉ huy bất cứ cái gì chúng đã nghe được, thấy được của nhau.

– Sống gần tụi tù binh Việt Cộng lâu ngày thì tôi nghiệm ra điều này anh giáo: Khi nào mình nghe tụi nó nói chuyện với nhau bằng câu cậu cậu, tớ tớ là bình yên, không có gì đáng lo. Còn khi ta nghe xưng hô với nhau bằng câu đồng chí, đồng chí thì thôi, cầm chắc chúng chuẩn bị đưa nhau lên bàn mổ đó. Hà hà! Ông quân nhân cười khá to sau câu nói.

– Lúc nãy chú kể là phía miền Nam VNCH trao trả tới gần 27.000 tù binh vậy thì cái trại an dưỡng ở Thanh Hoá, tui nghĩ chỗ đó phải rộng lắm mới chứa hết được bằng đấy người. Cậu trẻ nhất nói.

– Cháu nói đúng. Như chú đã kể rồi, trại giam tù binh ở Phú Quốc thời trước đã rộng tới cả 400 mẫu tây mà nay tất cả tù binh Việt Cộng hoặc tù chính trị Việt Cộng của tất cả các trại giam khắp 44 tỉnh thành ở miền Nam VNCH đem dồn về một chỗ thì nó phải rộng lắm, rộng lắm. Ông quân nhân vừa nói vừa khoa tay qua lại nhau.

Anh bộ đội gật đầu, đồng tình:

– Rộng lắm! Nhớ lần cháu vào thăm thằng bạn đóng quân trong Trung đoàn Gia Định ở trại Quang Trung cũ đã thấy chỉ có vài ngàn bộ đội thôi mà chỗ nó ở đã rộng khiếp. Đây lại tới cả mấy chục ngàn người kể cả quản giáo nữa.

– Nói như bác với chú đây thì sao bọn Việt Cộng lại ác quá vậy. Anh trẻ nhất hỏi.

– Tôi đã nói rồi, đó là sách lược của chúng. Việt Cộng luôn làm điều ác công khai để nhằm doạ dân thấy mà sợ rồi vì sợ nên đành phải im thin thít nghe theo lời chúng. Hai cậu còn trẻ tuổi nên không biết các chuyện ghê rợn Việt Cộng đã làm đâu. Khi Việt Cộng quyết định giết người nào, thay vì bắn người ấy một phát đạn cho xong đời thì không, chúng lại chặt nạn nhân làm ba khúc, để nằm vương vãi trên mặt đất bất kể kẻ đó là đàn ông, đàn bà hay con gái trẻ tuổi. Giữa việc dùng mã tấu chém và cầm súng bắn vào thân người thì việc nào dễ làm hơn và việc nào sẽ tạo ra hình ảnh ghê rợn hơn, hai cậu cứ nghĩ đi. Ba khúc thân người nằm đó, sáng ra người dân đi qua có trông thấy ai mà không khiếp vía. Thân nhân ở gần có trông thấy cũng chẳng dám ra dọn xác nạn nhân về chôn vì bọn nằm vùng chưa cho phép. Có khi, xác rữa nát không ai nhận thì lính miền Nam VNCH phải ra tay mới êm. Miệt vườn, dân quê theo Việt Cộng cũng vì lý do sợ chúng mà phải theo chứ tâm hồn dân quê thường chất phác, bằng lòng với cuộc sống ruộng vườn thì hơi đâu mà họ suy nghĩ đến ba cái vụ như bóc lột, đấu tranh giai cấp, lý tưởng lý tiếc gì… Việt Cộng bịa ra hết và nhồi vào đầu dân quê cả thôi. Ông già nhất nói.

– Anh giáo kể cho hai cậu này mấy chuyện Việt Cộng hành hình dân lành vùng quê đó hả? Ông quân nhân hỏi.

– Đúng! Việt Cộng làm cái gì chúng cũng tính toán với nhau trước kể cả giết người mà chúng gọi là họp đảng uỷ. Một tính toán lạnh lùng, bất nhân, vô cảm của loài thú dữ. Chúng đã từng trói tay bao nhiêu nạn nhân rồi bỏ người đó vào bao bố, rọ lợn và nhét đầy đá xong đem ném xuống sông như đã làm với nhà văn Khái Hưng, Lan Khai nè. Có khi lại mổ bụng nạn nhân còn sống rồi nhét trấu vào trước mặt bao nhiêu người đứng xem chung quanh như lúc hành hình ông cả Điệp, hương quản Bụng… ở dưới miền Tây năm xưa. Việt Cộng không coi người thuộc phía đối phương ra cái đinh gì cả khi đã xác định lập trường là kẻ thù hoặc là bạn mà không đếm xỉa đến tình cảnh của nạn nhân như người đó có một mái ấm gia đình, cha mẹ già phải phụng dưỡng, con cái nhỏ cần nuôi nấng. Chỉ biết có lệnh giết là giết… là giết thôi. Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ. Câu thơ của một thi sĩ Việt Cộng đấy. Có vậy mình mới hiểu tại sao đám cán binh Việt Cộng có thể bình thản bắn thẳng vào dòng người bỏ chạy trên các quốc lộ ở các vùng xẩy ra chiến sự. Chính phủ miền Nam VNCH mình thì lại khác. Người là người chứ không phải con vật mà ngay cả với con vật như chó, mèo thì mình cũng còn đối xử cách nhân ái kia mà. Mạng người là quý nhất nên phải trân trọng dù xuất thân của cá nhân đó không ra gì. Bởi vậy, chính phủ miền Nam VNCH mới lập ra nguyên cả một cái bộ Chiêu hồi dành cho cán binh, bộ đội, tù binh Việt Cộng muốn xin hồi chánh.

Nghe ông già nhất nói thế, ông quân nhân cất lời:

– Ồ! Anh giáo nói ra thì tôi mới nhớ, cái bộ Chiêu Hồi đó đã giúp cho nhiều người làm lại cuộc đời lắm. Nói đâu xa, riêng trại tù binh Phú Quốc không thôi, không kể mấy vụ hồi chánh tại chỗ trong các buổi trao trả, tính ra từ khi lập trại giam cho đến trước ngày thi hành Hiệp định Ba Lê thì đã có trên 10.000 tù binh ở đó xin hồi chánh với chính phủ miền Nam VNCH mình.

– Nhiều người dữ vậy chú, tui thật không ngờ. Anh trẻ nhất nói.

– Con số đó chưa thấm vào đâu so với tổng số tù binh Việt Cộng đã hồi chánh trong thời còn chiến tranh hai miền khi đó đã lên tới trên 200.000 ngàn người lận. Nói thì nói nhưng tôi vẫn thắc mắc không biết sau khi bọn Việt Cộng vào được Sài Gòn rồi thì số phận những người hồi chánh này đã ra sao nữa? Việt Cộng đã làm gì với họ hả anh giáo, anh biết gì không? Ông quân nhân hỏi.

– Có những hồi chánh viên rất nổi tiếng như nhà văn Xuân Vũ, ca sĩ Bùi Thiện, thượng tá Tám Hà… thì những người này kịp thời di tản trong dịp 30 tháng Tư năm đó nên thoát nạn. Hai cậu trẻ này chắc không biết mấy nhân vật tôi vừa nói đâu. Thôi sẵn dịp để tôi nói luôn cho biết. Xuân Vũ là tác giả quyển Đường Đi Không Đến kể chuyện đám Việt Cộng tập kết ra Bắc năm xưa rồi sau này hồi kết về miền Nam bằng cách đi bộ băng qua  vùng rừng núi Trường Sơn. Bùi Thiện là ca sĩ của đoàn văn công trung ương Hà Nội còn thượng tá Tám Hà là phó chính uỷ phân khu 1 dịp tết Mậu Thân năm 1968. Hồi chánh viên ở lại trong nước khi đó thì gần như 100% phải thu xếp hành lý đi tù cải tạo như các sĩ quan, viên chức của chính phủ miền Nam VNCH mình. Ông già nhất nói đến đây thì yên lặng như đang nghĩ về những người cũ trong câu chuyện và rồi tiếp lời ngay: ” Lúc còn bán sách cũ ở phố Calmet, tôi đã nghe mấy người chủ sạp hàng ở đó xì xào về cái tin trung tá hồi chánh viên Huỳnh Cự bị kẹt lại, phải bị tù cải tạo cả 7, 8 năm trời mới được tha về. Về nhà chưa được bao lâu thì ông này lại chết trong một vụ đụng xe mà ai cũng nói do đám thủ ác Việt Cộng dàn dựng sẵn cách nhà không xa. Nghe kể, ông Cự này cũng biết thân biết phận mình nên chẳng dám đi đâu ra ngoài vậy mà, cho đến ngày Tết ta, ông ta tưởng sẽ yên mới dám ló mặt. Nào ngờ, ra được đầu ngõ thì có chiếc ô tô từ xa phóng đến tông thẳng vào làm ông ngã lăn quay ngay trên mặt đường. Gã tài xế chiếc ô tô lui xe lại thật nhanh và chạy tới cán thêm lên người ông ta lần nữa để chắc ăn trước khi y cho xe vọt mất. Công an có đến lập biên bản rồi sau bảo vì không có tung tích chiếc xe gây nạn nên từ từ nội vụ chìm luôn. Ác và thê thảm quá nhưng theo tôi có lẽ phải dành cho số phận của liệt sĩ Nguyễn Văn Bé kìa “.

– Nguyễn Văn Bé! Phải anh nói đến Nguyễn Văn Bé mà Hà Nội từng phong là liệt sĩ trong vụ đập mìn vào thân thiết vận xa M 113 diệt trên 60 lính Mỹ và Nguỵ đứng vây chung quanh đó không? Ông quân nhân  hỏi dồn.

– Đó đa anh! Ông già nhất tiếp thêm: ” Tay Nguyễn Văn Bé này ra hồi chánh rồi mà không hiểu sao bọn Hà Nội lại đưa tin về vụ tự sát đập mìn rồi phong cho anh ta là liệt sĩ. Hà Nội còn cho in một con tem dán thư vẽ cảnh đập mìn bá vơ đó nữa… Hình như có cả vụ dựng tượng cho tay Bé này mà khi ấy ở miền Nam VNCH, anh ta đang làm việc trong bộ Chiêu Hồi. Vài ngày sau khi Việt Cộng chiếm được Sài Gòn, có người kể đã gặp Nguyễn Văn Bé tại bến phà Rạch Miễu trong một chiều sâm sẩm tối mà rồi tay hồi chánh viên này ra sao thì không ai biết. Ngay cả với gia đình anh ta cố công đi tìm mà không ra. Mấy sĩ quan miền Nam VNCH khi ở tù cải tạo kể lại họ đã nghe một quản giáo Việt Cộng nói úp úp mở mở lúc thì đảng và nhà nước ta đã giải quyết xong câu chuyện Nguyễn Văn Bé rồi sau đó lại nói biết chỗ Nguyễn Văn Bé bị giam. Cứ lấy lý mà suy theo cái tin này thì mình nghĩ bọn Việt Cộng bắt được Nguyễn Văn Bé và sau đó đã giết chết anh ta để mất béng đi câu chuyện đã phong liệt sĩ đập mìn giết giặc năm xưa. Kể cũng đáng thương cho số phận của một người tự dưng thành liệt sĩ bất đắc dĩ. Việt Cộng đã tạo ra nhân vật liệt sĩ Nguyễn Văn Bé và rồi cũng chính bọn chúng đã cho bốc hơi người này luôn “.

traotratubinh4_zpsv3mgbmov

Tù binh miền Bắc mặt buồn so, lo lắng ở địa điểm trao trả bên bờ sông Thạch Hãn.

 

– Cháu nghe kể phía chính quyền thời đó định ém một số tù binh nhưng bị phía miền Bắc phản đối quá nên phải trao trả hết. Đúng không chú? Anh bộ đội hỏi ông quân nhân.

– Nãy giờ tôi chờ câu hỏi này của cậu. Ông quân nhân cười và tiếp: ” Tôi đã trả lời câu này nhiều lần rồi cho những người y như cậu đấy. Đây! Chính quyền miền Nam VNCH không muốn duy trì cái trại giam tù binh Phú Quốc đâu. Chẳng qua hoàn cảnh chiến tranh thì phải vậy thôi. Tại sao? Như tôi đã kể rồi. Duy trì một trại giam cả mấy chục ngàn tù binh cộng thêm 4 tiểu đoàn quân cảnh canh gác thì nó sẽ ngốn vào ngân sách của chính quyền bao nhiêu tiền. Dưới sự theo dõi thường xuyên của bọn Mỹ, bọn nhà báo thiên tả nước ngoài, bọn trí thức phá rối ở Sài Gòn còn thêm tổ chức Hồng thập Tự nữa thì làm sao mà có vụ tù binh phải ăn thức ăn tồi tệ, mặc quần áo rách nát, ốm đau không có thuốc chữa bệnh… Riêng gạo không thôi, mức ấn định đầu người 700 gram một ngày thì cậu cứ tính thử sẽ biết số lượng cần dùng. Nói ra thì ít ai tin chứ tù binh có nhiều tên ăn in ít đi vì sợ mập. Ăn ở không, thực phẩm đầy đủ nếu không kiêng khem thì cơ thể béo ra có gì lạ. Nhưng để thân thể mập béo trong trại tù binh Nguỵ là điều tố cáo người cán binh đó đã đầu hàng giặc, chỉ biết ăn và ăn trong khi bao nhiêu đồng chí ngoài mặt trận phải chịu đói khát trong chiến đấu. Bọn đảng uỷ trong nhà giam nói vậy đấy. Rồi vì thức ăn bỏ thừa nhiều, nhà thầu lấy về đem nuôi heo thì chúng vịn vào đó tuyên truyền quân cảnh ăn bớt khẩu phần của tù binh. Có những đợt cấp phát hàng hoá mới cho tù vừa nhập trại như chiếu, mùng, mền đắp… còn tốt hơn cả so với thứ mà lính quân cảnh chúng tôi đang dùng. Nếu không có trại tù này thì chính phù mình thời đó có thêm tiền để chi dùng vào việc khác nên ai thèm ém giữ tù binh lại làm gì. Bọn Việt Cộng cũng biết điều đó nên thực tế chúng cũng không muốn nhận đám tù binh về đâu. Nghe kỳ quá hả. Còn trại tù binh Phú Quốc thì chính phủ mình vừa hao tốn ngân sách, mất 4 tiểu đoàn lính bận việc canh gác tù thay vì chiến đấu ngoài mặt trận mà chúng còn có chỗ để tuyên truyền ngược đãi tù binh, vi phạm công ước Geneva. Bị nhốt tù lâu ngày, tiếp xúc với binh lính miền Nam VNCH thì tinh thần tù binh đã ít nhiều thay đổi vì các sự thật hiển hiện trước mắt khác với những gì họ đã nghe được khi xưa. Nhận trao trả về một lúc cả hàng ngàn tù binh như vậy, nó sẽ gây xáo trộn tinh thần các cán binh khác nếu như bọn Việt Cộng bổ sung họ vào chung hàng ngũ các đơn vị bộ đội. Còn cho giải ngũ tập thể thì cũng kẹt vì những tù binh này về lại quê nhà sẽ gặp gỡ thân nhân, bè bạn cùng hàng xóm trong giao tiếp. Họ sẽ kể chuyện đã thấy khi ở tù trong miền Nam và đó là điều mà Hà Nội đã phải làm cấp tốc cho xong cái trại ở Sầm Sơn-Thanh Hoá để chờ sẵn “.

– Cháu hiểu rồi. Vậy là tù binh được trao trả hết… không có ém giữ ai lại. Anh bộ đội lắp bắp miệng.

– Đúng! Giữ họ lại để làm mắm à! Trại giam trống không, 4 tiểu đoàn quân cảnh tụi tôi phải rời đảo Phú Quốc về lại đất liền và bổ sung cho quân số đang thiếu hụt của các đơn vị bộ binh ở các vùng chiến thuật khi đó. Cũng có người vừa đến hạn giải ngũ thì xin ở lại Phú Quốc luôn. Cậu cứ nghĩ xem, nếu quân cảnh mà xử tệ bạc với đám tù binh như lời tuyên truyền thì mấy người đó phải cao chạy xa bay khỏi hòn đảo chứ. Ông quân nhân dứt lời, với tay lấy ra điếu thuốc mới sau câu nói và mồi lửa hít một hơi ngon lành. Một khoảnh khắc yên lặng trôi qua như chợt nhớ ra điều gì đó, ông quân nhân đưa mắt nhìn ông già nhất, giọng đùa:

– Phần của tôi xong rồi. Bây giờ đến phiên ai kể chuyện đây?

– Anh bảo tôi chứ gì nhưng tự nhiên bây giờ mình lại… quên mất câu chuyện định kể đây. Không biết làm sao nữa. Hay là thế này, cho tôi qua phà nha, được không? Ông già nhất hỏi.

Đâu được! Phải kể chuyện mình chứ… Nghe chuyện người khác thì bác phải kể chuyện mình ra. Hai cậu trẻ tuổi cùng thốt lên.

Ông già nhất nhắm khẽ đôi mắt lại. Anh bộ đội và anh trẻ tuổi nhất nhìn nhau rồi định nói điều gì đó thì ông quân nhân khẽ phát tay ra hiệu cản lại như bảo phải chờ, đừng gấp gáp. Một thoáng qua đi, ông già nhất mở mắt nhìn cả ba người họ, cười:

– Phải kể chuyện mình chứ. Muốn người khác làm điều công bằng với mình thì mình phải đối xử công bằng với họ. Nãy thì tôi quên nhưng bây giờ lại nhớ ra chuyện để kể rồi. Khổ thế đó, dấu hiệu gì đây? Mình đã già rồi, phải không?

Nghe ông già nhất nói vậy, anh trẻ nhất reo lên, vỗ tay khe khẽ vào vai anh bộ đội:

– Bác nhớ ra được là hay quá, kể ngay cho những đứa như tui và anh đây biết chuyện cũ như chú quân cảnh vừa rồi đó. Tui đã là người kể đầu tiên thì bây giờ bác là người bao chót, phải không? Bác kể đi… đặng nhóm mình còn về barrack ngủ chứ, sắp giới nghiêm rồi đó.

Giới nghiêm! Chính là giờ mà phòng an ninh P3V tại trại tị nạn quy định trong mỗi buổi tối. Khi nghe tiếng còi hụ lên từ các loa phóng thanh thì thuyền nhân phải trở về phòng của mình để ngủ, không ai được đi léng phéng hay tiếp tục la cà ngoài đường nữa và thường thì 11 giờ khuya là giới nghiêm nhưng vào những ngày lễ Tết hoặc dịp quốc khánh Indonesia, tiếng còi hụ sẽ trễ hơn vài giờ đồng hồ.

– Tôi biết chứ! Cậu đừng nhắc. Sở dĩ tôi hơi… chậm là vì ban nãy mải nghe bài hát Giáng sinh trên ti vi để nhớ lại chuyện sắp kể ra đây này.

– Bài hát Giáng sinh nào vậy? Anh giáo nói mà tôi không hiểu. Ông quân nhân ngạc nhiên.

– Từ từ! Ông già nhất giơ một cánh tay như muốn chận lời ông quân nhân rồi ông ta khẽ hắng giọng và tiếp: ” Vài hôm nữa sẽ đến ngày lễ Giáng sinh và như khởi đầu của buổi kể chuyện hôm nay, tôi bảo vì mình nhớ nhà nên ai có kỷ niệm hoặc có câu chuyện gì liên quan đến ngày lễ Giáng sinh thì hãy kể ra cho mọi người trong nhóm chúng ta cùng nghe, mong rằng sẽ bớt buồn và thử xem câu chuyện của người nào hay nhất. Phải không nào? “.

– Phải đó! Phải đó đa! Hai cậu trẻ nhất cùng thốt lên một câu còn ông quân nhân thì gật gù cái đầu, khẽ khàng: ” Nhưng anh giáo chưa kể chuyện anh mà “.

Ông già nhất khẽ hít một hơi thuốc lá rồi đảo mắt nhìn cả ba người trước mặt và bắt đầu kể sau làn khói trắng:

– Đúng! Thì đây. Năm nào cũng vậy, cứ đến dịp lễ Giáng sinh đạo Chúa thì dù muốn hay không muốn, trong ký ức của tôi vẫn nhớ lại câu chuyện của ngày hôm đó. Tôi không biết phải khởi đầu câu chuyện từ đoạn nào đây? Thôi thì như vầy. Năm 1971 vào mùa hè, học sinh ở các trường trung-tiểu học đã nghỉ hết cả và đang chờ khai trường cho niên khoá mới. Gần hết mùa nghỉ hè thì tôi và vài thầy cô khác trong trường nhận được lệnh đi dự buổi họp của Sở Giáo Dục tổ chức. Họp cũng chỉ bàn về việc chuẩn bị việc giảng dạy cho niên học mới. Tan họp thì do thấy trời còn sớm, tôi mới chạy vào nội đô Sài Gòn rồi gửi xe đi lòng vòng đây đó. Ghé nhà sách Khai Trí mua được vài quyển rồi lúc quay ra ngoài, tôi định bụng thử đến tiệm Xuân Thu xem coi có kiếm được thêm các sách mới xuất bản không. Khi băng qua ngã tư Nguyễn Huệ-Lê Lợi thì gặp lại cậu em họ của tôi cũng đang từ hướng đường đối diện phía bên kia đi tới. Gọi là anh em bà con trong họ hàng nhưng thực tế thì giữa tôi và cậu em này, ngay từ hồi còn nhỏ xíu ngoài Bắc rồi khi di cư vào Nam có gặp mặt nhau lần nào đâu. Chỉ mới trước đó vài tháng, nhân lần đi ăn cỗ cưới của một gia đình người thân trong họ tận trên vùng Thủ Đức thì mới gặp cậu em này do tình cờ ngồi chung một bàn với nhau và vì vậy mới biết cậu đi làm cho USAID, một cơ quan chuyên về viện trợ của Mỹ tại miền Nam VNCH. Cậu ta lại đi chung với 2 người Mỹ khác nên giới thiệu họ với tôi rồi thấy đứng trò chuyện giữa đường không tiện, mời đi cà phê ở một cái quán gần đó, quán Givral… ai ở Sài Gòn cũng biết chỗ này. Hết chầu nước thì cả nhóm lại thả bộ vào hành lang Eden ghé mắt xem tiệm này, vào thăm quán hàng kia một chút rồi thì chia tay. Lúc đó, một trong hai người Mỹ ngỏ ý muốn chụp vài tấm ảnh làm kỷ niệm cho buổi gặp mặt nên tôi và cậu em đồng ý. Cả bốn người chúng tôi đứng chung với nhau trước cửa ra ở hướng bên đường Tự Do đối diện với rạp cine Rex, ngó xeo xéo qua Toà Đô Chánh và nhờ một tay chụp hình dạo lảng vảng gần đó bấm máy hộ. Cái máy chụp ảnh đó là loại máy chụp hình lấy liền chỉ sau vài phút chờ và là ảnh màu. Thế mới hay! Lý do có vụ chụp ảnh kỷ niệm, tôi nghĩ bởi lúc ngồi trong quán Givral, cậu em đã giới thiệu với 2 người Mỹ tôi là giáo sư dạy các trường đại học tại Sài Gòn. Buổi hôm đó vì tôi vừa đi họp Sở về, quần áo vest bảnh bao, thắt caravat cùng giầy vớ cẩn thận thêm mấy quyển sách cầm trên tay nữa… đã làm mình có cái vẻ giáo sư đại học chứ sự thực, mình chỉ dạy làng nhàng ở các lớp trung học thôi. Trình của mình làm sao với tới bậc đại học được. Không biết tay người Mỹ đó chụp mấy kiểu nhưng khi lấy ra được ảnh thì cho hai anh em tôi mỗi người một tấm. Đưa ảnh xong thì 2 người Mỹ đó bỏ đi. Họ đi rồi, tôi hỏi ra mới biết là nhân viên của thư viện Abraham Licoln nằm ở góc đường Lê Lợi-Nguyễn Huệ cũng gần đó, không xa. Hai anh em tôi hỏi thăm nhau về công việc đang làm, tin tức vài người bà con thân thuộc… rồi thì cũng chia tay, đường ai nấy đi.

– Abrham Lincoln là ông tổng thống Mỹ bị ám sát chết đó phải không bác. Cậu trẻ nhất hỏi.

Ông già nhất gật đầu, nói:

– Đúng vậy! Abraham Lincoln là vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ trong thời nội chiến giữa hai miền Nam-Bắc khi còn vụ nô lệ người da đen gốc Phi châu. Nghe bảo ông ta bị ám sát chết khi đang ngồi xem kịch tại một hí viện. Thư viện Abraham Lincoln này có rất nhiều sách báo Anh ngữ và nơi đây cũng là toà soạn của tạp chí Thế Giới Tự Do nổi tiếng. Cậu em họ của tôi làm việc cho cơ quan USAID mà không hiểu sao lại có bạn Mỹ là nhân viên của thư viện đó vì hai cơ quan này đâu có dính dáng gì đến nhau? Lúc đó tôi thắc mắc như vậy và rồi cũng quên đi ngay. Mãi cho đến những ngày cuối tháng 4 năm 1975 thì tôi mới gặp lại cậu em họ này. Hôm đó, tôi đi dạy học lớp buổi sáng ở trường về nhà thì thấy cậu ta đã ngồi chờ sẵn từ trước. Anh em gặp lại nhau rất mừng, tôi không ngờ lại biết nhà tôi nữa, đang định hỏi thì cậu nói ngay: ” Anh còn tâm trí để dạy học được nữa sao? Phải tìm mọi cách mà dọt ngay vì sớm muộn gì, bọn Việt Cộng cũng sẽ chiếm thủ đô Sài Gòn này “. Tình hình khi đó ở thủ đô Sài Gòn hỗn loạn lắm vì rất đông nạn nhân chiến cuộc từ ngoài miền Trung đổ về sống tạm cư lây lất đầy trong các sân vận động, trong chùa và cả nhà thờ nữa… Rồi còn lính mình nữa… Họ đi nghễu nghện ở ngoài đường với quân phục tơi tả của các binh chủng tan hàng từ các tỉnh đổ về và đang chờ bổ sung quân số cho đơn vị mới. Dù cậu em không nói ra thì bản thân tôi cũng biết phải chạy ra ngoại quốc ngay vì phe ta đã bị người Mỹ bỏ rơi rồi. Mất nước tới nơi nhưng mà xuất cảnh bằng cách nào đây? Bằng đường biển thì con đường duy nhất để ra Vũng Tàu là quốc lộ 51 đã bị Việt Cộng cắt ngang do chúng chiếm được vùng Nhơn Trạch. Đi bằng máy bay thì gia đình tôi không đủ tiền mua vé và cũng chẳng có sổ passport gì cả. Ngay tại Sài Gòn đây, tôi muốn chạy xe vào bến cảng hải quân ở Bạch Đằng để xem coi có thể đi ké được chiếc tàu hàng nào không mà cũng không thể. Lính canh gác đã rào kín hết các cổng trong tình trạng giới nghiêm nội bất xuất-ngoại bất nhập. Tôi nói thật với cậu ta: ” Anh nghe tin, đọc báo biết các việc đó nhưng chẳng thể làm gì được nên cứ đành tiếp tục đến trường dạy học, chờ xem thế sự ra sao. Cậu đến nhà, anh vui quá, giúp cho gia đình anh di tản ra ngoại quốc nha “.

– Cái máy ảnh anh kể đó là loại Polaroid chụp lấy liền hình mầu chỉ trong vài phút. Tôi đã thấy đám phóng viên ngoại quốc dùng loại máy chụp ảnh này khi họ đến trại tù binh Phú Quốc và ở các buổi trao trả tại phi trường Lộc Ninh. Máy này mắc tiền đó đa anh giáo. Hãng Polaroid đánh đúng vào ý thích của khách hàng là khi chụp ảnh xong thì đều muốn coi được ngay tấm hình đó nhưng nó có một bất tiện là không có phim âm bản nên nếu chụp tấm nào, chỉ có tấm đó thôi và không thể rửa thêm lần thứ hai thứ ba được. Ông quân nhân góp lời.

Ông già nhất khẽ gật đầu như thừa nhận lời vừa nói của ông quân nhân và tiếp:

– Như vừa kể tôi rất muốn gặp lại cậu em này mà chẳng biết chỗ cậu sống ở đâu. Sau lần gặp cậu ta với 2 người Mỹ đó đến nay cả mấy năm rồi còn gì. Gặp là để mong cậu từng có thời gian làm việc với họ thì may ra có thể tìm được cách để mình níu theo mà đi nên giờ cậu ta đến nhà thì khác gì một cái phao cứu sinh cho bản thân và gia đình. Nghe tôi nhờ cậy, cậu ta nói: ” Em vừa ở ngoài Trung vào đây, tình hình bây giờ rối mù chẳng biết đường mà liệu nữa, người Mỹ thay đổi kế hoạch liền liền. Giờ phải chờ ngày mai xem có tin gì mới không. Tình hình biến chuyển lẹ quá, càng lúc càng xấu “. Tin gì? Tôi hỏi thêm thì cậu bảo: ” Minh lớn sẽ nhận chức tổng thống ngay tối hôm nay ở dinh Độc Lập. Nội các mới có thể phải chia chung một số ghế với bọn Mặt trận giải phóng nằm vùng ở Sài Gòn. Sứ quán Hoa Kỳ biết hết cả và mong có thể thêm thời gian để họ đưa hết các người cần di tản ra khỏi Sài Gòn trước khi bọn Cộng Sản Bắc Việt chiếm trọn quyền hành, gạt tất cả từ Minh lớn đến đám Mặt trận ra rìa. Em sẽ đưa gia đình anh chị đi chung chuyến bay và chắc chỉ vài ngày nữa mình sẽ lên đường. Hỏi thêm thì cậu ta bảo sẽ đưa cả nhà tôi vào trong sứ quán Mỹ và để lên xe buýt vô phi trường Tân Sơn Nhứt rồi lên máy bay C 130 bay sang Phi Luật Tân. Nghe như vậy, tôi không biết nói gì hơn vì không ngờ cậu ta còn nhớ đến mình nên kêu vợ con ra cảm tạ cái ơn. Vợ tôi cứ lắp lắp: ” Gia đình chị thật có phúc mới gặp được bà con như chú, thôi thì đành trông cậy mọi sự “. Cậu em ở lại ăn qua quýt bữa cơm với gia đình tôi xong thì bỏ đi ngay, nói sẽ quay trở lại và bảo tôi thu xếp ít quần áo phòng sẵn. Chiều tối hôm ấy, vang vang những tiếng nổ rung chuyển cả đường phố Sài Gòn rồi sau mới biết do Việt Cộng ném bom ở phi trường Tân Sơn Nhứt và pháo kích vào các khu dân cư mà ra. Điện bị cúp nữa làm cả khu phố tối hù. Cả đêm hôm đó, tôi gần như thức trắng để chờ cậu em quay lại trong tâm trạng sợ đạn pháo kích rớt xuống nhà mình thì khốn. Có lúc, tôi đi ra ngoài đầu ngõ thấy dòng người ta chạy qua lại trên đường bất chấp cả lệnh giới nghiêm. Tiếng còi hụ của xe cứu hoả, xe cứu thương trong tiếng súng nổ cùng tiếng máy bay ầm ì xa xa trên trời cao càng làm mình thêm lo thêm rối trí. Tôi quay về nhà nằm chờ đợi, lúc ngủ lúc thức vật vờ ở cái ghế dài salon phòng khách cho tới khi trời sáng rõ thì cậu ta lại đến, bảo: ” Vụ di tản bằng phi cơ ở Tân Sơn Nhứt coi như chấm dứt rồi. Bom máy bay và đạn pháo 130 ly của Việt Cộng chiều tối hôm qua đã cày nát bề mặt phi đạo nên chắc người Mỹ phải tính cách khác. Khi nào anh nghe bài hát X này trên băng tầng FM thì phải nhanh chân chạy đến sứ quán Hoa Kỳ ngay… Em ghé báo tin anh biết và bây giờ thì phải đi chút công việc gấp, nếu không thấy em trở lại đây thì cả nhà cố tự thân đến đó, anh em mình sẽ gặp lại nhau thôi. Cậu ta còn dặn nên thủ ít tiền đô trong người phòng có lúc cần dùng đến và nhớ đừng chần chờ, đi càng nhanh càng tốt “. Khi cậu ta ra khỏi nhà rồi, tôi cứ để nguyên radio mở ở cái băng tần FM mà cậu vừa chỉ dẫn và nghĩ đích thực cậu này là nhân viên CIA như người trong họ hàng đã kháo nhau từ trước. Ở thời điểm đó, hỏi có mấy người Việt mình biết đến cái vụ bài hát X hiệu lệnh di tản này của người Mỹ.

– Á à! Thì ra cái bài hát tôi nghe kể người Mỹ đã dùng trong ngày di tản hôm đó đó phải không? Nghe nói máy bay trực thăng Mỹ sẽ đón người ở sứ quán Hoa Kỳ cũng như ở các toà buyn đinh khác nữa mà. Phải không anh giáo? Ông quân nhân chen vào.

Ông già nhất chưa trả lời thì anh chàng bộ đội hỏi:

– Bài hát trên băng tần FM hả bác? Bác còn nhớ nó không?

– Nhớ chứ! Can nãy mấy người có thấy tôi ngóng xem cái ti vi chơi một khúc chung với cảnh Noel đó không. Ông già nhất gật đầu, khẽ huýt gió một đoạn nhạc ngắn rồi khẽ khàng: ” Đó! Đó! Thôi thì nói luôn cho biết. Bài hát X đó có tên là White Christmas và do nam ca sĩ Bing Crosby hát. Cậu em bảo tôi khi nào nghe thấy băng tần FM phát ra bài này thì nó chính là hiệu lệnh để di tản. Tôi chờ thì đến gần trưa mới nghe thấy bài hát này thật… Tôi đang mơ một mùa Giáng sinh tuyết trắng với các tấm thiệp Giáng sinh tôi đã viết… Lời của bài hát X. Tôi và vợ con chuẩn bị sẵn sàng chờ cậu ta đến nhưng rồi một giờ, hai giờ đồng hồ qua đi mà không thấy bóng dáng cậu này đâu cả. Vợ tôi nhớ lời dặn cũ thì lại thúc phải tự đi nhanh kẻo không kịp nên tôi lấy chiếc Honda nữ đèo vợ con chạy ngay đến sứ quán Mỹ. Dọc đường đi, tôi thấy lại cảnh chiến tranh tại Sài Gòn như hồi Tết Mậu Thân năm xưa. Từ Phú Nhuận vào nội đô không xa lắm mà tôi phải nhích từng đoạn từng đoạn trên đường nghẹt cứng người và xe. Mãi rồi khi đến được sứ quán Mỹ thì hỡi ơi… Quá đông con người ta đang xếp hàng dọc trên đường và ngay tại cánh cửa cổng ra vào, tình cảnh trông thật nản. Đám đông người xô lấn chen nhau đông đặc, không ai chịu nhường cho ai cả. Ai cũng muốn vào được bên trong toà nhà nhưng việc đó đâu có dễ dàng gì.

 

MV5BMTI2NDEzODYwNV5BMl5BanBnXkFtZTcwMTg0MjMyMQ._V1__SX1282_SY538__zpsf9ozlr5n

Ông quân nhân lại hỏi:

– Nghe nói khi đó không chỉ một sứ quán Hoa Kỳ mà còn mấy buyn đinh khác nữa chính phủ Mỹ đã chọn ra để máy bay trực thăng đáp xuống đón người. Mấy buyn đinh đó ở chỗ nào trong Sài Gòn hả anh giáo?

– Mấy gì anh! Tới mười ba cái buyn đinh lận. Cái thì ở đường Trương Minh Giảng, cái thì ở đường Tú Xương rồi ở cả đường Gia Long nữa… Tôi chẳng nhớ hết đâu! Ông già nhất đáp lời.

Nói xong thì ông già nhất ngồi thừ người ra như để dòng ký ức quay trở về ngày tháng cũ của năm đó. Ba người còn lại trong bàn yên lặng nhìn ông ta như một thông cảm cho tâm trạng riêng tư. Nhắc lại những kỷ niệm cũ, lòng ai không bồi hồi. Một lát thì ông già nhất lại tiếp:

– Thấy dòng người quá đông, tôi bảo với bà xã phải xếp hàng thôi, không cách nào khác… Trâu chậm phải uống nước đục. Mình tuy chậm nhưng sẽ là kẻ đến sớm so với các người khác còn đang ở nhà. Vất bỏ cái xe Honda nữ đi, tôi bảo vợ con chịu khó đứng trong hàng để giữ chỗ trước còn bản thân thì chạy lòng vòng tới lui chỗ này chỗ kia tìm cậu em họ. Phải có cậu ấy thì cả gia đình tôi mới mong vào bên trong toà đại sứ được. Tôi đi đến từng đám người tụm 5 tụm 3 bên kia đường và ở các con ngõ gần chung quanh sứ quán Mỹ nhưng không thấy cậu ta. Quay trở về dòng người, tôi xếp hàng lại với vợ con mình và cứ nhích từng bước cả tiếng đồng hồ sau thì gia đình cũng lần đến được cánh cửa cổng nhưng rồi lại bị lính thuỷ quân lục chiến Mỹ đẩy ra rìa ngay vì không có giấy tờ gì để vào bên trong sứ quán được. Không vào được bên trong, gia đình tôi cứ đứng ngay tại cánh cửa cổng, nghĩ cậu em tôi sẽ xuất hiện mà mãi chẳng thấy đâu. Sau thì thằng con trai tôi, khi đó nó mới khoảng 6 tuổi, bám theo chân một gia đình khác và nhờ vậy, đã âm thầm lẻn vào được bên trong sứ quán.

– Thằng bé khôn quá! Đúng con anh giáo. Ông quân nhân gật gù cái đầu và nở nụ cười.

Ông già nhất ánh lên ánh mắt tinh quái khi nghe ông quân nhân khen đứa con trai mình và tiếp ngay: ” Đấy! Vào được bên trong rồi thì thằng con tôi lại chạy trở ra phía cánh cửa cổng, lấy tay làm loa khẽ gọi và vẫy vợ chồng tôi nữa. Vợ tôi bập bẹ vài câu Anh ngữ với mấy gã lính thuỷ quân lục chiến Mỹ bảo đó là đứa con trai, nó theo chúng bạn chạy vào trong mà lại không chịu trở ra ngoài với bố mẹ. Mãi thì một gã lính cho phép vợ tôi vào trong để dẫn nó ra nhưng rồi bà ấy và đứa con trai biến mất luôn vào dòng người, chỉ còn lại mình tôi vẫn đứng bên cánh cửa cổng. Đây là một sắp xếp của vợ chồng tôi từ trước, ai cứ vào được thì vào, đi được người nào thì cứ đi còn hơn chết chùm cả đám. Vợ tôi vào được bên trong đó thì cố kiếm cậu em mà chẳng thấy rồi sau tình cờ thì bà lại gặp một cô bé gần nhà nên mới nhờ giúp. Cô bé này, có tên gọi là cô Hai cũng sống trong khu phố không xa và thỉnh thoảng đến nhờ tôi dạy thêm ít câu tiếng Anh đàm thoại. Không biết cô ta làm cái gì mà cũng có mặt trong sân sứ quán và nhận ra vợ con tôi nên mới đến hỏi chuyện. Hỏi rồi biết tôi còn kẹt ở bên ngoài thì cô bảo sẽ nhờ người chồng ra cánh cửa cổng thử gặp, may ra. Trời ơi! Cô bé này lấy chồng Mỹ từ lâu rồi mà thật khéo dấu, hàng xóm chẳng ai biết và cả gia đình tôi nữa. Vợ chồng cô bé Hai đi ra cánh cửa cổng gặp đám lính thuỷ quân lục chiến Mỹ rồi vẫy tôi lại gần hỏi xem có giấy tờ gì liên quan đến chính phủ Hoa Kỳ không. Tôi định lắc đầu thì chợt nhớ đến tấm ảnh Polaroid cũ liền vội lục trong cái túi xách tay PanAm lấy nó cho cả bọn họ xem. Cô bé Hai bảo với người chồng và các gã lính rằng tôi là nhân viên sở Mỹ ở một văn phòng ngoài miền Trung, chạy thoát tay Việt Cộng vào đây và giấy tờ đã mất hết chỉ còn duy nhất tấm ảnh. Mấy gã lính gác cổng chuyền tay nhau xem tấm ảnh và khi hỏi thêm chi tiết thì tôi lấy lý lịch của cậu em điền vào cho bản thân mình nhưng cũng chưa xong việc ngay. Khi một gã lính đòi tôi chi 500 đô thì mới cho vào bên trong thì tôi lấy ra cả một xấp tiền giấy nhưng đếm tất cả chỉ được 310 đô thôi. Lý do: Đô la Mỹ khi đó khan hiếm vô cùng, vợ tôi xoay mãi cũng chỉ đủ tiền mua ngần ấy nhưng lại toàn bạc lẻ. Lúc đầu, gã lính đó không đồng ý cứ khăng khăng phải có đủ 500 đô mới được. Cô bé Hai trổ tài thuyết phục, bảo bọn Việt Cộng mà vào đây thì chúng sẽ giết chết hoặc bỏ tù tôi ngay tức khắc nếu như còn kẹt lại, không chạy kịp. Chồng cô ta cũng nói vào và sau cùng gã lính đó mới chịu nhận xấp tiền và cho tôi đi vào bên trong. Nếu không có vợ chồng cô bé Hai này giúp thì bản thân tôi đành chịu cứ đứng ở cánh cửa cổng mãi vì làm sao mà vào bên trong toà nhà được. Nhưng sau này nghĩ lại, chẳng thà gia đình tôi đừng vào trong sứ quán Mỹ thì biết đâu sẽ hay hơn và sẽ không mất 310 đô mà cả nhà lại có thể đi thoát bằng tàu lớn ở bến Bạch Đằng. Nhiều người ở quận 4 đã di tản thoát thân ngay những phút cuối bằng tàu lớn ở đây mà chẳng mất đồng nào cả. Trở lại chuyện cũ thì vào trong sân sứ quán Mỹ rồi, tôi mới thấy cả ngàn người nam-phụ-lão-ấu đang ngồi, đứng, nằm chen chúc bên nhau trong dòng người xếp hàng rồng rắn để chờ được gọi đến lượt di tản. Hỏi thì mới hay có người đã vào đây từ mấy ngày hôm trước mà tới giờ, họ vẫn chưa nhúc nhích gì cả. Súng ngắn, ai đó vất bỏ vài khẩu nằm im phơi bóng dưới đáy cái hồ nước trong vắt. Bọn lính thuỷ quân lục chiến Mỹ cứ tách dân da trắng hoặc một số người Việt ra trước rồi đưa họ lên sân thượng để theo máy bay trực thăng UH ra hạm đội, người còn lại trong hàng thì phải chờ đi các lượt sau. Thấy cách đưa người di tản như vậy, ai cũng cho là quá chậm vì lâu lâu mới có một chiếc trực thăng đáp xuống mà chỉ chở được độ chục người trong mỗi chuyến. Cuối cùng, nhân viên làm việc ở sứ quán mới hạ lệnh cho cưa đổ cái cây to ở mé sân sau, lấy chỗ trống để trực thăng khổng lồ hạ cánh. Loại trực thăng này to lắm, tôi không biết tên nó… nhưng có thể chở được thêm khá nhiều người so với loại UH nhỏ xíu”.

– Trực thăng vận tải C47 Chinook phải không anh giáo? Ông quân nhân hỏi.

Ông già nhất nghe câu hỏi, lắc đầu:

– Không! Không phải loại Chinook sâu rọm đâu anh. Loại trực thăng này khác anh à. Nó còn to hơn Chinook nữa và cũng vì vậy mà không sử dụng được sau một chuyến bốc người ở sân sứ quán Mỹ. Sức quay từ các cánh quạt của nó đã làm bể cửa kiếng các phòng, thổi muốn bay người đứng ở dưới đất và có thể sẽ làm sập cả những bức tường vây quanh toà nhà nữa nên kế hoạch dùng loại máy bay này để di tản người trong phút cuối đành phải bỏ. Chỉ dùng duy nhất loại trực thăng UH thôi và lính thuỷ quân lục chiến Mỹ cứ lần lượt đưa từng đợt, từng đợt người lên sân thượng. Sân thượng có bãi đáp nhỏ xíu cho trực thăng UH chỉ mỗi lần xuống một chiếc nên mình có muốn nhanh hơn cũng không được. Khi đó sốt ruột lắm.

Anh chàng bộ đội chen vào:

– Nghe bác nói thì rốt cuộc cả gia đình cũng không đi thoát. Vậy mà cháu nghe kể người Mỹ đưa máy bay trực thăng đáp xuống sân thượng sứ quán đón dân Việt di tản ra hạm đội 7 hết cả.

Ông già nhất gật đầu, nhắc lại câu vừa kể:

– Khi đó sốt ruột lắm… Phải! Cứ nghĩ gia đình mình vào được sứ quán Mỹ thì rồi sẽ đi thoát. Có ai ngờ! Cứ nhích từng bước một để theo nhau lên từng tầng của toà nhà. Tầng hai rồi tầng ba, tấng bốn… thật là lâu trong dòng người xếp hàng. Chiều xuống dần và đêm tối ì ạch trôi qua nhưng đám đông người di tản vẫn còn nghẹt cứng cho đến khi cả gia đình tôi đứng được trong dòng người ở cái cầu thang dẫn lên sân thượng, nơi máy bay trực thăng UH đáp xuống đón người. Mừng muốn rớt nước mắt. Nhìn bầu trời chung quanh, Sài Gòn đã bắt đầu hưng hửng sáng, không khí buổi ban mai thổi mát mặt, làm mình tỉnh ngủ sau cả đêm dài thức trắng. Tôi nói lời an ủi khi thấy vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt của vợ mình: Ráng chịu đựng thêm chút nữa đi… Ra được hạm đội 7 thì cả nhà ta sẽ ổn. Tiếng động cơ trực thăng UH từ xa xa vọng lại chung với tiếng gầm rú đinh tai của những khu trục cơ F4 Phantom đảo lộn trên cao để bảo vệ các chuyến bay di tản và rồi một chiếc trực thăng đã xuất hiện ngay ở phía trên đầu mình. Ục… ục… ục! Tôi nhìn lên, chiếc UH đó đang xuống thấp dần để bốc người như các chuyến trước đây. Gia đình tôi rồi sẽ ngồi trên chiếc trực thăng đó chỉ trong vài phút nữa thôi và thoát nạn. Tôi nghĩ vậy thì thấy gã lính thuỷ quân lục chiến Mỹ đứng ngay trước mặt thọc hai ngón tay vào miệng y để phát ra những tiếng tuýt tuýt như một hiệu còi. Sau đó, y ta co tay làm thêm một dấu hiệu mới thì mấy gã lính khác còn lại vội tản ra và đẩy cả đám người chúng tôi đi lùi dần xuống khỏi cái cầu thang. Xuống hết cái thang thì cả dòng người vẫn phải theo lệnh của mấy tay lính thuỷ quân lục chiến Mỹ để tiếp tục đi xuống các tầng dưới toà nhà rồi sau cùng thì đến tầng trệt và ra đứng hẳn ở trên sân sứ quán. Thấy tình hình như vậy, có người hỏi lý do thì một gã lính trả lời tập trung ở sân sứ quán để lên xe buýt chở vào phi trường Tân Sơn Nhứt và máy bay C 130 sẽ đón sau. Gã lính đó nói các tàu chiến của hạm đội 7 đã đầy người, không thể chứa thêm được nên phải chuyển phương cách di tản. Xuống dưới sân của toà nhà thì mới thấy số người chờ di tản vẫn đầy nghẹt tuy không đông như hôm qua. Bây giờ thì chẳng còn hàng ngũ trật tự gì như trước nữa, mạnh ai muốn đứng, ngồi hay nằm vật xuống sàn nhà hoặc bất cứ chỗ nào tuỳ ý nhưng đều giống nhau ở khuôn mặt chung nỗi lo âu cùng mệt mỏi. Vẫn đông người như vậy thì không biết ở cánh cửa cổng có còn ai không? Tôi nghĩ những người ở bên ngoài cánh cửa cổng cố hết sức để vào được bên trong sân toà nhà mà không biết cả đống người vẫn bị dính chặt ở đây chưa di tản và cũng chẳng biết tình hình rồi sẽ ra sao? Bất chợt có tiếng ai đó nói lớn cửa dẫn lên tầng trên đã bị thuỷ quân lục chiến Mỹ khoá chặt rồi. Nghe vậy thì có người nói phải phá ổ khoá cửa. Phá ổ khoá cửa, nhằm có đường để cả bọn mình đi lên trở lại cái sân thượng, chỗ máy bay trực thăng xuống đón người thì mới thoát. Phải làm vậy thôi, bọn mình mà không có mặt ở bãi đáp trên sân thượng, máy bay trực thăng sẽ bay qua luôn và đến các buyn đinh khác. Có người lại nói các xe buýt của sứ quán từ hôm qua đã chở người vào Tân Sơn Nhứt rồi phải quay về đây thì làm gì có vụ tập trung ở đó để lên máy bay C 130 như lời gã lính thuỷ quân lục chiến Mỹ nào đó nói. Mình bị người Mỹ bỏ lại rồi, kết luận là vậy. Những người đang phá ổ khoá cửa thì phải thối lui xuống ngay vì họ chịu không nổi hơi lựu đạn cay do lính thuỷ quân lục chiến Mỹ ném xuống. Hơi khói lựu đạn cay lan dần xuống tới tầng dưới, tôi nắm tay dẫn vợ và đứa con trai theo chân những người khác chạy vội ra chỗ đất trống của toà nhà để bớt ngộp. Ở đây, nhìn ra cánh cửa cổng vẫn còn khoá chặt và vẫn có người đang cố sức trèo qua lớp hàng rào kẽm gai giăng trên cao để nhẩy vào phía bên trong. Không một bóng người lính thuỷ quân lục chiến Mỹ nào cả dù khi đó tiếng máy bay trực thăng trên sân thượng vẫn ục ục vọng xuống đất. Trực thăng đang bốc những người lính thuỷ quân lục chiến Mỹ cuối cùng và bỏ rơi bọn mình cả rồi… tiếng một ai đó thét lớn. Rồi tiếng người khóc rấm rức, tiếng người khác chửi thề chung với lời nguyền rủa bọn Mỹ đểu giả. Trời Sài Gòn khi đó đã sáng rõ mà đám người chúng tôi vẫn không ai dám bỏ ra khỏi toà nhà vì cố nuôi một niềm tin mơ hồ trong lòng: lính thuỷ quân lục chiến Mỹ cùng các trực thăng rồi sẽ quay trở lại đây và sẽ áp tải hết tất cả người Việt đến thẳng hạm đội 7. Họ sẽ giữ lời hứa như một nhân viên sứ quán đã cam kết vào chiều tối ngày hôm qua ” Tất cả các bạn người Việt hiện diện sẽ được bốc ra hạm đội 7 hết cả. Chúng tôi đang thực hiện chiến dịch di tản. Hãy yên tâm và giúp chúng tôi duy trì trật tự, đi theo hàng ngũ “. Ở góc tường sát với toà nhà bên cạnh, chút khói trắng vẫn bốc lên từ mấy thùng phi sắt mà ngày hôm qua, các nhân viên của sứ quán đã đốt rất nhiều chồng hồ sơ cùng  giấy tờ tài liệu mật. Không ai được lại gần mấy thùng phi đó và nhân viên có lúc phải rưới thêm dầu vào để ngọn lửa cháy nhanh hơn. Tình cảnh hiện tại, đám chúng tôi chẳng biết phải làm gì ngoài việc chờ đợi di tản trong vô vọng. Có người suy đoán không chừng công binh đã sửa cấp tốc xong cái phi đạo trong Tân Sơn Nhứt rồi và bọn mình sẽ được di tản bằng máy bay vận tải C 130 như lời gã lính thuỷ quân lục chiến Mỹ đã nói. Bọn mình ở đây cộng thêm số người ở các buyn đinh khác nữa sẽ rất đông, không thể dùng trực thăng di tản hết được và chỉ một cách vào Tân Sơn Nhứt thì mới xong việc. Sau mới biết các tin đó để trấn an tinh thần của nhau. Không thể phá được cái ổ khoá cửa thì vài người lại đi đập bể tấm kiếng của các gian phòng gần đó. Tôi kéo vợ con đến một chỗ kín gần góc nhà và ngồi im để chờ điều chưa biết sắp xẩy đến. Tôi yên lặng khi nghe lời thì thào của bà xã: ” Mình làm gì bây giờ anh? “. Tôi không thấy đói bụng ngoài cái mệt mỏi của thân xác. Lương khô, nước ngọt và những lon đồ hộp từ các thùng Ration C nằm lăn lóc đầy trên sàn nhà mà chẳng có ai màng đến. Tôi rối trí khi vợ tôi nhắc lại câu hỏi cũ và chỉ biết lắc đầu vì phải lo lắng nhiều thứ trong một thời gian quá ngắn ngủi.

 

di tan 29-4-1975

 

– Phải chi lúc đó gia đình anh chạy ngay đến bến Bạch Đằng thì may ra còn kịp chuyến di tản. Sau này, nghe tin trên đài VOA, BBC… tường thuật về buổi trưa hôm 30 tháng 4 năm đó, có mấy chiếc tàu thương mãi chở người vừa rời khỏi bến Bạch Đằng độ mươi mười lăm phút thì xe tăng T 54 Cộng Sản Bắc Việt mới xuất hiện ở khu vực kho 5 Khánh Hội. Mấy thương thuyền đó chạy thoát hết ra biển rồi nhập chung với đoàn tàu hải quân Mỹ luôn. Ngẫm lại, thấy do cái số cả anh giáo à. Ông quân nhân thẽ thọt.

– Vậy! Do cái số cả. Ông già nhất lập lại lời nói của ông quân nhân..

– Cuối cùng thì người di tản ở sứ quán Mỹ ra sao hả bác? Trực thăng không đón, cứ chờ mãi ở đó cho đến khi Việt Cộng vào? Anh trẻ tuổi nhất cất tiếng hỏi.

– Còn sao nữa hả cậu! Khi có tin từ ngoài phía cánh cửa cổng bảo là xe tăng T 54 Cộng Sản Bắc Việt chiếm được Ngã Tư Bẩy Hiền, rồi kế đó lại cái tin bọn chúng đã vào được bên trong bộ Tổng Tham Mưu và hiện có một đoàn xe tải Molotova đang trên đường đi đến sứ quán Mỹ này. Tin đó vừa loan ra thì ôi thôi! Không ai bảo ai đều đồng loạt đứng lên, cùng chạy đến cánh cửa cổng và phá banh nó để tìm đường thoát ra được bên ngoài cho nhanh. Tôi và vợ con ra khỏi sứ quán Mỹ và khi đi vào con hẻm nhỏ của ngày hôm trước, chiếc xe Honda nữ vất bỏ vẫn còn nằm nguyên nơi đó. Không ai thèm đụng đến vì nó cũ mèng và chung quanh, vài chiếc xe hơi, xe Vespa, xe Lambetta, xe Standard, xe Honda nam SS 50…. láng coóng còn nằm đầy ra đấy. Nước mất tới nơi, thân không biết có giữ được không thì mấy của nả này ai cần đến. Tôi lấy xâu chìa khoá còn giữ ở trong túi quần và nổ lại máy chiếc xe. Trên đường chạy xe về lại nhà mình, trước mắt tôi ở từng đoạn đường đi ngang qua là các chiếc xe tăng T 54, xe tải Molotova cắm cành lá giả trang ở các cạnh thùng… chở đầy bộ đội chính quy Cộng Sản Bắc Việt chạy ngược chiều đường để vào bên trong nội đô Sài Gòn. Ở vài giao lộ, xe thiết giáp M 113, xe tăng M 41, xe nhà binh GMC đầy vũ khí mà không một bóng lính mình chung quanh. Những gốc cây, cuối một hẻm đường… quân phục lính mình bỏ nằm gọn ở dưới đất chung với các mũ sắt, súng cùng dây ba chạc còn đầy các băng đạn… thấy mà đau lòng. Còn có cả xác lính mình nằm chết bên lề đường nữa, chẳng biết do người ấy tự sát hay bị trúng đạn khi giao tranh. Thấy một nhóm người vừa đàn ông vừa thanh niên cởi trần, quần cụt đứng lớ ngớ, thất thểu bên cạnh đường, tôi dừng xe lại nhìn họ… đoán là lính mình đây và quả thật là vậy. Tự dưng một nỗi buồn vô hạn dâng trào trong lòng tôi vì chỉ trong một thời gian có vài tháng mà đất nước mất hết vào tay giặc, tan hàng tập thể cùng một ngày. Ông già nhất khẽ chắt lưỡi, lắc đầu.

– Người em bà con cô cậu gì của bác, số phận chú ấy ra sao? Anh bộ đội hỏi.

Ông già nhất khẽ lắc đầu, đáp:

– Cậu em bà con hả? Sau cái hôm đó, tôi chẳng bao giờ gặp lại lần nữa… cho đến tận bây giờ. Không biết cậu ta có kịp di tản hay bị kẹt lại. Cậu ta có đến các buyn đinh khác? Tôi thực chẳng biết nữa. Tôi mà định cư ở  Mỹ rồi nếu có thì giờ rảnh, sẽ thử dò tìm tin tức xem sao. Hy vọng rồi sẽ gặp lại cậu ta.

– Còn cái cô me Mỹ, chắc cũng đi được hả bác? Anh bộ đội hỏi thêm.

– Khi giúp tôi vào bên trong sân rồi thì ít lâu sau, vợ chồng cô bé Hai được nhân viên toà đại sứ tách riêng rồi đưa họ lên sân thượng. Ông già nhất cười và tiếp lời: ” Kể ra thì chua chát thật, me Mỹ lại ưu tiên di tản trước cả những sĩ quan, viên chức cao cấp của chính quyền miền Nam VNCH mình “.

– Anh giáo nói sao, tôi chưa hiểu? Ông quân nhân thắc mắc.

– Thế này! Ừm… Ừm. Ông già nhất khẽ hắng giọng, tiếp: ” Khi đứng hết cả ở sân toà nhà rồi thì chúng tôi mới biết, trong số người bị kẹt lại, có một ông thiếu tướng Nam Hàn, một ông thiếu tướng Đài Loan và cả một số người Âu Châu nữa”.

– Người Âu châu! Ý bác muốn nói là dân da trắng, tóc vàng, mắt xanh lơ. Anh trẻ tuổi nhất bập bẹ lời.

– Phải! Vì có những người Âu châu này nên đã làm cả bọn chúng tôi nghĩ họ là người Mỹ thì trực thăng sẽ quay trở lại đón và mình sẽ theo chân đi cùng. Chừng hỏi ra thì mới biết họ là người Tây Đức, người Ý Đại Lợi và cả dân da đen vùng Bắc Phi, người Á Căn Đình ở Nam Mỹ nữa. Trong số họ, tuy da trắng tóc vàng hoặc tóc nâu, tóc đen… nhưng đều không phải là công dân Mỹ. Thế có bỏ mẹ không. Người Mỹ thực thụ thì đi mất hết cả rồi, đám Âu châu ở đây giờ cũng như dân Việt mình, kẹt giỏ hết cả đám. Tại sao đám người này lại có mặt ở đây? Họ là nhân viên các hãng buôn ngoại quốc, dân du lịch hoặc nhân viên các sứ quán nước khác bị kẹt lại và chạy vào đây để mong được sứ quán Mỹ giúp cho di tản hòng thoát tay bọn Việt Cộng. Mẹ kiếp! Dân Âu châu mà cũng tránh mặt bọn Việt Cộng y như người khoẻ mạnh tránh gặp bệnh nhân phong hủi. Chờ mãi mà không thấy máy bay trực thăng đến thì màn đập phá lại tiếp tục. Có một căn phòng bị đập bể cửa tan hoang và nhờ vậy, vô tình đã giải thoát cho 2 ông bộ trưởng đang bị nhốt trong đó. Thế mới hài hước! Hai ông này, ra được ngoài căn phòng rồi còn tưởng việc di tản vẫn đang tiếp tục. Hỏi, cả hai kể là đã vào sứ quán từ ngày hôm trước lận. Lính thuỷ quân lục chiến Mỹ dẫn cả hai ông vào căn phòng đó bảo ngồi chờ sẽ đến lượt gọi ra để đi và mấy cái samsonite hành lý thì phải tách ra, mang lên tập trung trước ở sân thượng. ” Các ông sẽ nhận lại khi ra tới hạm đội 7 “, một gã lính thuỷ quân lục chiến Mỹ cam đoan và thế là hai ông này tèo hết hành lý. Phòng đó có tường cách âm, có tủ lạnh và đầy đủ các thứ cần dùng không khác gì khách sạn nên hai bộ trưởng nhà ta cứ yên tâm chờ. Ta phải nhớ rằng, trước đó độ hai tuần lễ, sứ quán Mỹ ở Nam Vang bên Kampuchia cũng có cái màn trực thăng bốc người di tản sang Thái Lan rồi và, chắc cũng đã có mấy ông to-bà lớn Kampuchia bị lính thuỷ quân lục chiến Mỹ đỡ nhẹ cặp samsonite, túi xách tay kiểu như vậy. Ông già nhất khẽ cười.

– Hai ông bộ trưởng đó chắc đã mất khá nhiều tiền đô và có thể cả vàng cục, nhẫn hạt xoàn nữa. Tui thấy mấy cha nội thuỷ quân lục chiến Mỹ chơi một cú quá gọn. Cứ tham nhũng cho cố đi rồi thì cũng trắng tay. Anh chàng mua bán chợ trời nói.

Ông già nhất lắc đầu, nói:

– Bên Kampuchia tôi không biết chứ hai ông bộ trưởng đó thì nghĩ tài sản họ mang theo cũng chẳng có là bao. Giỏi lắm là chục ngàn đô, vài lượng vàng lá trong cặp là cùng, vậy thôi. Tôi nói chỉ có như thế là vì một người làm chức bộ trưởng, nếu muốn tham nhũng, người đó cũng phải ngồi ở vị trí có thể kiếm ăn được thì mới có miếng, không gặp chỗ ngon thì cũng đành chịu. Thêm nữa, hai ông này tôi nghe tiếng trên báo là những người có tư cách nên họ mới tin lời nói của mấy tay lính mà giao hành lý mang theo. Bản thân mình thành thực thì cũng nghĩ người khác thành thực như mình. Người khác mà samsonite đựng đầy nhóc tiền đô, vàng lá, nhẫn hạt xoàn thì đời nào chịu đưa cho ai giữ hộ… Đồng tiền liền với khúc ruột mà.

Ông quân nhân lại hỏi:

– Tại sao sứ quán Mỹ lại bỏ rơi không đón hết những người đã được họ chọn cho vào trong toà nhà. Có gì lấn cấn trong nội bộ không hả anh giáo?

– Lúc đầu ai cũng cho là do bộ đội chính quy Cộng Sản Bắc Việt vào tới Sài Gòn quá nhanh nên sứ quán Mỹ đành bỏ rơi người lại, không thể di tản hết cả nhưng tôi thì nghĩ cũng không hẳn là vậy. Ông già nhất ngồi yên trong chốc lát như một cân nhắc điều sẽ nói và sau đó tiếp lời: ” Anh nhớ lại đi, chiều ngày hôm trước… tức ngày 29 đó… Ở hướng Tây Bắc Sài Gòn, Bắc Việt đã chiếm được trại huấn luyện tân binh Quang Trung ở vùng ngã tư An Xương rồi. Từ nơi đó vào tới ngã tư Bẩy Hiền chỉ cách độ 6 hay 7 cây số đường là cùng. Ngã tư Bẩy Hiền thuộc quận Tân Bình và cứ thẳng đường Phạm Hồng Thái thì sẽ đến chợ Bến Thành ngay. Tự dưng bọn chúng dừng chân như cố ý… chờ. Chờ cái gì vậy? Chờ cho xong vụ di tản người từ Sài Gòn ra hạm đội 7. Tại sao có vụ chờ này? Phải chăng có một thoả thuận ngầm nào đó giữa người Mỹ và tụi Cộng Sản Bắc Việt hay không thì chẳng ai biết nhưng mình có thể dự đoán theo chiều hướng đó. Phía Cộng Sản Bắc Việt sẽ ngưng bắn từ giờ X đến giờ Y để các trực thăng Mỹ an toàn khi chở người di tản ra hạm đội 7. Các trực thăng đón người hầu như bay rất thấp về hướng Đông để ra biển và trực chỉ thẳng đến hạm đội 7. Đây quả là miếng mồi ngon cho loại hoả tiễn tầm nhiệt SA 7 của bọn Việt Cộng ở vùng Rừng Sát, sông Lòng Tàu nếu như chúng muốn nhắm bắn vào phi cơ. Hoả tiền tầm nhiệt SA 7 là loại súng cá nhân, vác trên vai khi khai hoả. Sáng sớm ngày 29 khi trời chưa rõ hẳn, bằng loại hoả tiễn tầm nhiệt SA 7 này, bọn Việt Cộng đã bắn rớt một máy bay C 119 ngay trên bầu trời Sài Gòn. Thử nghĩ chỉ cần vài máy bay trực thăng UH ăn phải hoả tiễn tầm nhiệt SA 7và bị rớt thì vụ di tản chắc chắn sẽ phải ngưng lại ngay. Ngưng lại có thể một ngày, hai ngày và sẽ kéo dài thêm nữa. Thuỷ quân lục chiến Mỹ buộc phải nhập cuộc rồi sẽ có lính chết, máy bay bị rớt thêm và làm dân Hoa Kỳ bên chính quốc nổi nóng. Biết đâu khi các sự việc đó xẩy ra dồn dập khiến người Mỹ phải thay đổi sách lược và đòi các phe liên quan ở Việt Nam phải tuân theo hiệp định Ba Lê 1973. Rồi máy bay B52 lại được lệnh cất cánh trở lại chung với việc thuỷ quân lục chiến Mỹ đổ bộ để tham chiến. Ta biết người Mỹ đã ép chính quyền miền Nam VNCH mình khi ký hiệp định Ba Lê 1973 mà rồi họ có tuân thủ theo đâu nên bọn Cộng Sản Bắc Việt nó mới lấn tới, lấn tới mãi. Mình thử nghĩ như vậy đi. Thực ra bọn Cộng Sản Bắc Việt rất sợ người Mỹ nên chúng gần như án binh bất động cả bao nhiêu tiếng đồng hồ cho đến khi giờ Y tới, các phi vụ di tản phải chấm dứt theo thoả thuận ngầm này dù vẫn còn rất đông người đang chờ ở sân sứ quán cũng như ở các buyn đinh khác. Nghĩ được như vậy thì mình mới thông cảm người Mỹ đã cố hết sức để đưa dân Việt di tản mà không xuể. Nghĩ được như vậy thì mới thấy chuyện có mặt của nhóm mình tối hôm nay trong trại tị nạn này cũng có phần lớn trách nhiệm của người Mỹ. Như A là nguyên nhân của B và B là đầu mối của C… vậy. Câu chuyện của tôi tới đây là hết. Ông già nhất lấy tay phất ngang như một dấu hiệu kết thúc một sự việc.

Thoáng yên lặng trôi qua với bốn người họ. Ông quân nhân rít tiếp hơi thuốc lá đang cháy dở trên tay còn ông già nhất cầm cái ấm trà định rót uống thì thấy đã nó cạn nên bỏ xuống trở lại. Hai cậu trẻ tuổi ngồi yên, trơ mắt nhìn. Bất chợt tiếng còi hụ vang lên từ cái loa phóng thanh trên cột đèn đường gần đó khiến cả bốn người họ đồng loạt đứng lên và lục tục theo chân những người khách khác để ra khỏi quán. Giờ giới nghiêm đến rồi, không ai có thể nán lại thêm chút nào được nữa, sẽ rất phiền nếu bị police trong trại bắt gặp.

Đi sát bên nhau trong một hướng khác để về lại barrack, anh bộ đội nói với anh trẻ tuổi nhất:

– Bây giờ thì đến phiên nhóm mình tan hàng. Thôi về ngủ ngon nha mày, mình sẽ gặp lại nhau tối mai. OK!

Không biết khi gặp lại nhau trong chầu cà phê lần tới thì bốn thuyền nhân này sẽ chọn câu chuyện của ai đã kể đêm hôm đó là hay nhất. Còn các bạn đã đọc đến dòng chữ này, sẽ nghĩ sao?

 

Phạm Thắng Vũ

April 2017.

 

 

 

 

 

Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương

Tags

 

tram-hoa-3_zpsn501tb5o

tram-hoa-4_zps2edeufl9

Bìa trước và sau của tác phẩm Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương.

Lời nói đầu của nhà xuất bản

Đặt tựa đề ” Trăm Hoa Vẫn Nở…” cho tuyển tập này, chúng tôi có ý làm một việc tương tự công trình sưu tập văn liệu mà cụ Hoàng Văn Chí đã làm vào thập niên ’50 với cuốn: ” Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc “. Chúng tôi cũng muốn ghi lại những chứng tích của một cuộc đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền khởi đi từ những người trong nước hiện nay. Trước đây cụ Hoàng đã viết:

” Bốn mươi năm một thuở ” (nhân dịp hạ bệ Stalin), họ (nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm) đều đứng dậy đấu tranh chống đảng, đòi phục hồi quyền tự do tư tưởng… Trí thức ở miền Bắc đã sản xuất được trên một trăm bản văn có giá trị. Cộng Sản coi những bản văn ấy là những “cỏ độc”, nhưng chúng tôicoi những tác phẩm của họ như một ” trăm hoa thực sự “.

Hôm nay, lại có những người cầm bút nổi dậy đòi phục hồi quyền tự do bất tử ấy:

” Hoa Vẫn Nở…”

Ở chủ đề này, chúng tôi nhận định rằng:

” Hiện có cao trào phản kháng ở trong nước “.

Đây không chỉ là một ” phong trào văn nghệ ” mà còn xuất hiện đồng thời một cao trào quần chúng đón nhận, thôi thúc và cổ võ dòng văn chương thịnh nộ trong nước. Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt giữa ” trăm hoa ” bây giờ với ” trăm hoa… trên đất Bắc “. Nhân Văn-Giai Phẩm trước kia chưa ai có thể đặt thẳng các câu hỏi như bây giờ:

– ” Có hay không một khuynh hướng phủ nhận 40 năm văn học Xã hội Chủ nghĩa “.

– Có hay không ” cái tâm lý muốn phủ nhận, xóa sạch “.

Hồi đó cũng chưa có ai dám nói toạc ra trước mặt giới lãnh đạo Đảng và lãnh đạo văn nghệ rằng đời Lê, đời Trần đánh thắng ngoại xâm đâu cần đến sự hổ trợ của phe Xã hội Chủ nghĩa; họ chưa dám công khai phán xét công tội của giới lãnh đạo, của đảng! ” Trăm Hoa Trên Đất Bắc ” là một thiểu số văn nghệ sĩ làm một hành động bất khuất. Thiểu số ấy đã sớm phản tỉnh vì thấy cái tệ hại của chế độ chuyên chính, trong khi hầu hết dân miền Bắc lúc ấy chưa ” mở mắt ” hoặc còn sợ sệt. Bây giờ, thế giới ai cũng đã ” sáng mắt ” cả rồi.

Chúng tôi tin rằng các văn bản xuất hiện ở Việt Nam trong giai đoạn 1986-1989 sẽ là những ” sử liệu quý báu cho các sử gia mai sau viết về một thời đại đen tối của dân tộc mang tên Thời đại Xã hội Chủ nghĩa “.

Đi vào việc hình thành Tuyển Tập, chúng tôi đã không tránh khỏi một vài điểm chưa thỏa đáng:

Vấn đề tuyển chọn tác giả, tác phẩm, văn liệu và dữ kiện thông tin trong nước: Số lượng tài liệu chúng tôi thu lượm được so với khối lượng sáng tác trong giai đoạn phản kháng vẫn còn quá ít ỏi. Có tác giả được nhận định là tiêu biểu cho dòng văn chương phản kháng thì chúng tôi lại không tìm được tác phẩm của họ. Lại có những tác phẩm rất căn bản đã được nhiều tác giả khác trích dẫn như rường cột tư tưởng phản kháng nhưng không chuyển được ra nước ngoài. Dẫu sao tài liệu hiện có ở đây cũng đã thể hiện rõ nét đa diện và đa nguyên bởi sự khác biệt về động lực phản kháng, đối tượng phản kháng và cường độ phản kháng.

Chúng tôi cũng tin rằng các văn bản (tài liệu báo chí, các tác phẩm văn, thơ, ký, kịch, điện ảnh…) trong Tuyển Tập này sẽ đóng góp một số dữ kiện cần thiết cho các cuộc thảo luận giữa những người Việt trong khuôn khổ đấu tranh cho Tự do-Dân chủ và Nhân quyền tại Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi đã gom góp và lựa chọn một số sáng tác, tham luận có hệ thống cũng như cảm nghĩ tản mạn của những người đang thao thức vì vận mệnh tổ quốc trong thập niên giao thừa này.

Về số lượng các bài viết xuất hiện trên nhiều tạp chí hải ngoại, chúng tôi chỉ xin trích đăng một ít vì sách đã quá dầy.

Lời cuối, xin để tỏ lòng thành thật cám ơn bằng hữu gần xa đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp chúng tôi từ bước khởi đầu cho đến ngày ra mắt Tuyển Tập này.

Kính chào
Nhà Xuất Bản Lê Trần
California, USA
Tháng Bảy năm 1990

Phần Một:

Bối cảnh và diễn tiến

Từ Nhân Văn-Giai Phẩm đến cao trào văn nghệ phản kháng 1986-1989

Bài viết của tác giả Thân Trọng Mẫn (từ trang 15 đến trang 48)

Sau đại hội lần thứ 20 của đảng Cộng Sản Liên Xô phê bình tệ sùng bái cá nhân, các đảng cộng sản trong phe xã hội chủ nghĩa đều tiến hành phê bình và đã phát hiện ra một số khuyết điểm và sai lầm trong công tác lãnh đạo của mình bên cạnh những ưu điểm và thành công to lớn và là căn bản. Bọn đế quốc đã nhân cơ hội đó gây ra được vụ lộn xộn ở Po-dơ-nan.

Trong nước, Trung ương đảng Lao động Việt Nam cũng tự phê bình và phát hiện được những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.

Nhân cơ hội đó tất cả các lực lượng… đối lập với chủ nghĩa xã hội đều ngóc đầu dậy chống lại sự lãnh đạo của đảng và chính phủ. Bọn phản động trong Công giáo hành động phá rối trật tự ở Nghệ An, Nam Định. Bọn phản động trong các dân tộc thiểu số ” xưng vua ” ở một vài miền rẻo cao… Một số địa chủ vừa bị đánh đổ liền ngóc đầu dậy, cấu kết với bọn phản động trong tôn giáo và bọn lưu manh, bọn tề ngụy cũ, đánh chửi nông dân để báo thù. Những phần tử khiêu khích phá hoại xúi dục một số thương binh làm mất trật tự ở một vài địa phương…
Từ Nhân Văn số 4 trở đi, tức là sau khi bọn phản cách mạng ở Hung-Ga-Ri được bọn đế quốc giúp đỡ, đã thực hiện được vụ bạo động phản cách mạng ở Bu-đa-pét, thì chúng đã chuyển hẳn sang chống đối về chính trị, kích động quần chúng biểu tình chống lại đảng và chính phủ ta nhân lúc Quốc hội ta đang họp…

Đoạn văn chúng tôi vừa trích dẫn hơi dài dòng, nhưng đó chỉ là phần dẫn nhập cho một bản cáo trạng dài gần 400 trang, mang tựa đề ” Bọn Nhân Văn-Giai Phẩm trước tòa án dư luận ” do nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội phát hành gồm bài Viết của 84 tác giả, trong đó đủ các khuôn mặt ” lãnh đạo văn nghệ ” đương thời như Trường Chinh, Tố Hữu, Trần Độ, Hà Xuân Trường, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Như Phong, Chính Hữu, Bùi Hiển… Đối chiếu với hoàn cảnh hiện tại, cả trên mặt trận quốc tế lẫn quốc nội, những điều vừa trích dẫn từ bản cáo trạng xem ra khá tương đồng với những gì đang xẩy ra trong nước hiện nay, chỉ khác chút ít về mức độ và tầm ảnh hưởng. Nếu trước đây bước chuyển động bắt đầu từ bản báo cáo chính trị của Kroustchev tại đại hội đảng Cộng Sản Liên Xô lần 20, tố cáo tội ác của Stalin và khởi đầu chính sách ” xét lại ” thì nay cũng từ Mạc Tư Khoa, ảnh hưởng của chính sách Glasnost (cởi mở) và Perestroika (tái cấu trúc) do Gorbachev chủ trương đã đánh động một sự chuyển hóa trọn khối xã hội chủ nghĩa; nếu trước đây cuộc phản kháng bắt đầu từ công nhân và nghiệp đoàn Đông Đức (ở Podzan) và làm rung chuyển toàn khối Đông Âu trong cuộc cách mạng của Hungary thì nay cũng chính giai cấp công nhân (đội ngũ tiên tiến và cách mạng nhất của xã hội chủ nghĩa!) đã bắn phát súng lệnh tại Ba Lan và đưa đến cuộc cách mạng vĩ đại 1989 trên toàn khối cộng sản thế giới, giải thể chế độ Cộng Sản tại bảy nước Đông Âu, Nicaragua và Mông Cổ.

Tại Việt Nam, nếu trước đây là cuộc nổi dậy của giáo dân tại Nghệ An, Nam Định, cuộc chiến du kích của các dân tộc thiểu số miền ” rẻo cao “, cuộc đề kháng âm ỉ tại nông thôn sau cải cách ruộng đất, sự bất mãn của thương binh và cựu kháng chiến… thì nay là một phong trào quần chúng rộng lớn và liên tục của các lực lượng tôn giáo, các lực lượng dân tộc thiểu số tại cao nguyên, các phong trào kháng chiến toàn dân, cuộc đấu tranh trực diện của thương bệnh binh, bộ đội phục viên và hàng ngũ cựu kháng chiến… Nếu trước đây là cuộc phản kháng của văn nghệ sĩ và trí thức của phong trào ” Trăm hoa đua nở ” mà cao điểm đã thu hút được 304 người tham dự, thì nay là một cuộc bừng nở của một cao trào văn nghệ phản kháng trên quy mô toàn quốc với sự dính dự của bốn thế hệ văn nghệ sĩ và trí thức trong cả nước.

Sau 30 năm, lịch sử lại tái diễn gần như trùng hợp, nhưng xét về kích thước, những vận động đang xảy ra trong nước, và nói riêng cao trào văn nghệ phản kháng của văn nghệ sĩ và trí thức, đã có những bước tiến rất căn bản về số lượng lẫn chất lượng. Về phía nhà cầm quyền, những người lãnh đạo chính trị cũng như những người lãnh đạo văn nghệ của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam hiện nay, xét về mặt lý luận văn học cũng như về ngôn ngữ phê phán, ta thấy ” một sợi chỉ đỏ xuyên suốt ” trong lập trường và phản ứng của họ. So sánh những bài phát biểu của Trường Chinh, Tố Hữu… của thời Nhân Văn-Giai Phẩm với bài nói chuyện của Nguyễn Văn Linh tại hội nghị Trung Ương đảng kỳ 7 (khóa VI) và kết luận của bộ chính trị BCH đảng CS Việt Nam ” về công tác văn hóa và tư tưởng “, cũng như các bài diễn văn của Đỗ Mười tại đại hội nhà báo, đại hội nhà văn lần IV năm 1989, rõ ràng lập luận và từ ngữ vẫn y khuôn, cũng ” cuộc đảo chính phản cách mạng “, ” âm mưu xảo quyệt của bọn đế quốc và các loại phản động “, ” dân chủ xã hội chủ nghĩa, về bản chất, như Lenin nói, gấp triệu lần dân chủ tư sản… “, sự sáo mòn về từ ngữ, sự hóa thạch của tư duy, và sự lão suy về tư tưởng của các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam càng khiến họ trở thành thù địch với nhân dân, cô với toàn thế đang sôi sục chuyển mình.

Và hiện nay, dù các biện pháp công an tư tưởng và trấn áp văn hóa được đảng thi hành dưới những hình thức ” quy chụp chính trị “, ” chỉ điểm văn nghệ “, ” uốn nắn những lệch lạc “, ” báo động giả “… thậm chí cả sự đích thân hiện diện nhằm hăm dọa của Cố vấn đảng Lê Đức Thọ, và Trung tướng Cục An ninh Dương Thông tại đại hội nhà văn lần IV, phong trào văn nghệ đối kháng của giới văn nghệ sĩ và trí thức trong nước cũng không bị dập tắt, điều này chứng tỏ, vào đầu thập niên 90, do xu thế thời đại, do sự liên đới của giới cầm bút và do sự hổ trợ của đại khối dân tộc, công cuộc vận động tự do dân chủ và thịnh vượng cho đất nước, mà cao trào văn nghệ phản kháng là một bộ phận, đang dành được ưu thế, có đủ tiềm năng và khả năng vượt thắng guồng máy kềm kẹp của đảng.

Để nhìn rõ các kết quả đấu tranh của giới văn nghệ sĩ và trí thức, bài này sẽ phác lược diễn tiến của trọn phong trào phản kháng kể từ thời kỳ Nhân Văn-Giai Phẩm đến nay, mà trong đó giai đoạn 1986-1989 chỉ là một cao điểm, một thành quả vận động khi công khai khi âm thầm, mà giới cầm bút, giới làm văn hóa đã thực hiện suốt 35 năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Do sự nghèo nàn về tài liệu cũng như khả năng vô cùng giới hạn của người viết, bài viết này không có tham vọng phân tích và tổng kết cả một thời kỳ văn học mà chỉ nhấn mạnh những khuynh hướng phản kháng trong giai đoạn đó.

I. Từ Trăm Hoa Đua Nở:

Đúng như lời cụ Nguyễn Mạnh Tường trả lời ông Phạm Trần trên báo Độc Lập (Tây Đức) tháng 11 năm 1989, phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm: ” không hề chống đối đảng “.

Thực vậy, căn cứ trên nội dung ghi lại trong tuyển tập ” Trăm hoa đua nở trên đất Bắc ” do cụ Hoàng Văn Chí giới thiệu, nhóm văn nghệ sĩ tập họp trên các tạp chí Giai Phẩm, Nhân Văn và Văn (1956-1958), có đòi quyền tự do sáng tác trong một giới hạn nào đó nhưng không hề phủ nhận quyền lãnh đạo của đảng, những bài thơ ” chống tham ô lãng phí ” hay ” cùng những ***** nịnh hót ” quả có quyết liệt, nhưng cũng chỉ trong khuôn khổ chống tiêu cực mà trên hình thức, đảng vẫn cho phép phát biểu trong những buổi phê bình và tự phê nội bộ, ” Ông Bình vôi ” của Phan Khôi hay ” Con ngựa già của chúa Trịnh ” của Phùng Cung có ” phạm thượng ” thật nhưng đâu có phạm thượng bằng Trạng Quỳnh hay Cao Bá Quát thời phong kiến!. Có vấn đề nhất là những bài thơ ” Hãy đi mãi ” hay ” Nhất định thắng ” quả thật có thể làm người ta hiểu ” bóng gió “, nhưng tác giả vẫn kêu gọi ” hãy đi mãi như những người cộng sản “, hoặc sát thời cuộc như bài tham luận của cụ Nguyễn Mạnh Tường đề cập trực tiếp đến những sai lầm trong cải cách ruộng đất, thì lập luận của cụ nào khác gì lập trường đảng trong việc tự phê bình về những sai lầm do chính Hồ Chí Minh nhận lỗi trước nhân dân.

Thơ văn của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm chỉ nhằm vào những một mục đích khá giới hạn: kêu gọi một sự độc lập tương đối trong sáng tạo, phản ứng những mặt tiêu cực của chính quyền, họ chưa dám (hay vì bước đầu dọ dẫm nên chưa muốn) đề cập đến những vấn đề CĂN NGUYÊN của chế độ như bản chất của chủ nghĩa xã hội, sự hình thành giai cấp mới, tính lão suy của bộ máy nhà nước và đảng, quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, quan điểm về nhân bản và tự do… là những vấn đề được trực tiếp nêu lên 30 năm sau (1986-1989).

Dù với mục đích hạn chế như vậy, phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm đã chịu những hậu quả thảm khốc, bằng thủ đoạn vu khống chính trị, đảng đã thổi phồng vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm như một âm mưu khuynh đảo quốc tế với sự tham dự trực tiếp của Mỹ và miền Nam, tất cả những từ ngữ thô bỉ nhất, hằn học nhất đều được sử dụng nhằm bôi nhọ các nhà văn của phong trào: Thụy An bị gọi là ” con phù thủy xảo quyệt “, Nguyễn Hữu Đang bị coi là ” quân sư quạt mo “, Trần Đức Thảo bị mỉa mai là ” triết gia phản bội chân lý “, Trần Dần là ” một tâm hồn đồi trụy “, Hoàng Cầm là một ” tên bội bạc “… (Bọn Nhân Văn-Giai Phẩm trước tòa án dư luận , từ trang 42-104).

Cả một phong trào quần chúng, mít tinh, biểu tình, học tập… được bộ máy đảng huy động để áp đảo nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, tất cả những ngôn ngữ bôi bẩn đầu đường xó chợ nhất đả được sử dụng trong suốt gần hai năm (1958-1959) để đấu tranh chống Nhân Văn-Giai Phẩm, điểm làm cho hậu sinh chúng ta tê tái (chữ của Hoàng Ngọc Hiến khi phê bình truyện Nguyễn Huy Thiệp) là những lời chửi rủa độc ác xách mé nhât lại là do những nhà văn, nhà thơ mà chúng ta vẫn kính trọng tài năng từ thời tiền chiến và kháng chiến như Tế Hanh, Hoài Thanh, Phạm Huy Thông, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu…

Tại sao cả guồng máy đảng, chánh quyền phải huy động toàn lực để chỉ đối với 34 văn nghệ sĩ của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải nhìn lại bối cảnh chính trị của chế độ CS vào thời điểm 1956-1958… Vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp, để huy động toàn lực quốc dân, đảng cộng sản phải dương lá cờ dân tộc làm bình phong vận động quần chúng, đảng phải tự giải tán và lui vào bóng tối để củng cố lực lượng và đào tạo đội ngũ cán bộ trung kiên (mà tên gọi phổ cập là Việt Minh: chính phủ Việt Minh, mặt trận Việt Minh, bộ đội Việt Minh) nếu đại đa số là nông dân thì thành phần lãnh đạo trung cao (cả trong bỗ đội lẫn ủy ban kháng chiến) đa số là tiểu tư sản (trí thức, tiểu thương, tiểu chủ, phú nông…), số lượng cán bộ cộng sản, dù nắm những chức vụ quyết định, vẫn còn là thiểu số.

Khi tiếp thu miền Bắc, guồng máy kháng chiến trở về thành cũng với cơ cấu nhân sự như vậy. Trong mục tiêu ” dọn sân để xây dựng chủ nghĩa xã hội “, đảng đã vội vã phát động chiến dịch ” cải cách ruộng đất ” nhằm triệt tiêu thành phần tiểu nông, trung nông, phú nông và địa chủ tại nông thôn, mặc dù các thành phần này, tự thân họ, hoặc con em họ, lại là thành phần lãnh đạo hoặc tham gia tích cự kháng chiến. Nhằm đánh gục các thành phần này, đảng đã huy động một thiểu số đảng viên và thổi phồng một số vô lại tại địa phương được mệnh danh là ” bần cố nông cốt cán ” để thành lập những đội cải cách với toàn quyền sinh sát trên nông thôn. Hậu quả là, do cuồng tín, vô học và thù hận, chính sách này đã gây những bất mãn, căm phẫn của đại khối nhân dân, và đặc biệt, của chính các thành phần cán bộ có công với kháng chiến, chính họ đã chống đối đảng mãnh liệt nhất, họ đã cầm đầu các cuộc nổi loạn vũ lực khắp miền Bắc mà đảng không thể bưng bít và đành thú nhận qua phần trích dẫn đầu bài.

Sự thất bại của chính sách cải cách ruộng đất khiến đảng phải thay đổi chiến lược, lùi một bước tại nông thôn và nắm vững lại hệ thống đảng bằng một cuộc tổng thanh lọc các tầng lớp tiểu tư sản trong guồng máy đảng và chính quyền, mà đặc biệt hai thành phần trí thức tiều tư sản và văn nghệ sĩ đã được ưu tiên chiếu cố. Cuộc đàn áp phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm nằm trong chiều hướng đó.

Trong màn cuối của cuộc đàn áp, hai hội nghị của văn nghệ sĩ, thực chất là hai phiên tòa án nhân dân đã được tổ chức để chứng kiến 34 thành viên của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, sau khi làm việc với công an văn hóa, phải ra trình diện nhận tội – họ và những người liên hệ ” đã tự giác, tự phê bình ” trước đại hội.

Ngoài 34 nhân vật được nêu tên, bản cáo trạng còn dành một án treo cho tất cả giới văn nghệ sĩ bằng một câu thòng: ” nhưng đó không phải là tất cả (còn những tên chưa ra mặt) “. (Bọn Nhân Văn-Giai Phẩm trước tòa án dư luận, trang 309-310, nhấn mạnh của người viết).

Bản án treo này mới thực sự tàn nhẫn, tất cả những nhà văn nhà thơ nào tỏ ra còn chút bất khuất, không tự nép mình trong khuôn khổ đảng, đều bị ghép vào tội ” liên hệ với Nhân Văn-Giai Phẩm ” hoặc ” ủng hộ bọn Nhân Văn-Giai Phẩm “, như nhà thơ, kịch tác gia Đoàn Phú Tứ bị đấu tố đến mắc bệnh tâm thần, như nhà thơ Nguyễn Bính bị bao vây kinh tế đến nỗi chết lạnh giữa đêm giao thừa, miệng còn chóp chép thèm cơm (thơ Trần Mạnh Hảo), hoặc suốt đời sẽ là kẻ ” có vấn đề ” như Trương Chính tự thuật trong bài ” Mấy ý kiến chung quanh việc đảng lãnh đạo văn nghệ “.

Hiển nhiên tất cả các biện pháp trấn áp không phải chỉ nhằm vào cá nhân các thành viên trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, bản án 15 năm tù đối với Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Thiếu Bảo (chúng ta tự hỏi bây giờ đã 32 năm sau, không biết các vị này đã được phóng thích chưa?), hoặc là truất hết quyền cầm bút, quyền công dân, bao vây kinh tế và cô lập về tinh thần khiến tất cả các nạn nhân đều trở nên các công dân mạt hạng trong đáy tầng xã hội. Biện pháp trấn áp này nhằm khủng bố tinh thần đối với mọi văn nghệ sĩ khác, gây cho họ một tình trạng lo âu thường trực, sợ hãi thường xuyên, để biến họ thành một đám cừu non dễ bảo.

Sợ hãi trở thành một bản tính thứ hai của văn nghệ sĩ dưới chế độ cộng sản. Ta hãy nghe Nguyễn Minh Châu mô tả một hoạt cảnh về nhà văn Nguyễn Tuân: ” một nhà văn đàn anh nâng chén rượu lên giữa đám đàn em: Tao còn sống đến bây giờ là nhờ biết sợ! “. Nói rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt tuôn lả chả, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào lòng “. (Hãy đọc ” Lời ai điếu cho một thời văn học minh họa “).

Nỗi sợ hãi một cách bi phẫn như vậy là số phận chung của cả một thế hệ nhà văn cuối thập niên 50 và kéo dài cho mãi tới gần đây. Nguyễn Tuân dù sao cũng còn được xưng tụng là cương trực, thẳng thắn, và khi mất đi còn được hậu thế ” ca tụng cái đức ” không chịu hèn ” của một người cầm bút trung thành với chính mình ” (Phạm Xuân Nguyên – Cái hèn của người cầm bút, Sông Hương số 31), còn những nhà văn khác, không có tài năng và thành tích như ông, tình trạng còn bi thảm đến chừng nào.

Như vậy xét về măt Văn học sử, qua vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, không phải đảng chỉ triệt tiêu sự cống hiến cho văn học của 34 nhà văn thành viên của phong trào và chừng 70 nhà văn nhà thơ bị quy kết là liên hệ với họ, mà đảng đã hủy hoại một thế hệ văn nghệ sĩ đã thành danh từ thời tiền chiến. Giờ đây (1990) nhắc đến các nhà văn tiền chiến, ta vẫn nghĩ đến một thế hệ vang bóng một thời, nhưng vào cuối thập niên 50, tất cả họ chỉ mới trên dưới 40, cái tuổi sung sức nhất của sáng tạo. Quả thật, dù khe khắt đến đâu, chúng ta cũng phải xác nhận những Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyên Hồng, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Thanh Tịnh… là những tài năng xuất chúng, ở lứa tuổi 20, họ đã có những tác phẩm rực rỡ trên văn đàn như Thơ Thơ, Lửa Thiêng, Bỉ Vỏ, Điêu Tàn, Mấy Vần Thơ, Quê Ngoại…

Vậy mà kể từ khi họ chịu khuất phục, gậm nhấm ” cái hèn ” trong thân phận cầm bút, văn phong họ cũng trở thành ” hèn ” luôn, họ chỉ có thể sáng tác được những bài vè tuyên truyền, những bài văn nhạt nhẽo, phần nhiều họ kéo dài kiếp sống thêm 30 năm nữa, nhưng sự nghiệp văn học của họ coi như chấm dứt từ ngày đầu của chế độ cộng sản.

(còn tiếp)

Nhuốm Màu Quan San

Tags

Cứ mỗi lần mùa thu đến thì ở những vùng lạnh (ôn đới), cây cối đổi màu lá trước khi rụng sạch để chờ mùa đông đổ tuyết sắp đến. Cây mà lá đổi màu thì có nhiều loại và cho ra sắc màu khác nhau. Có cây đổi từ lá xanh sang màu vàng, màu đỏ, màu tím, tím phơn phớt hoặc tím sậm, màu nâu, màu vàng lợt, màu nửa vàng nửa xanh… trước khi rụng (xem hình kèm theo). Tuy nhiều loại cây đổi màu lá nhưng hầu như khi nói về cây đổi màu vào mùa thu thì người ta đếu nói đến cây phong và dẫn câu thơ: [I]Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san[/I]. Cây phong theo Phạm Thắng Vũ (PTV) biết thì chính là cây Mapple mà ở các tiểu bang (ở Hoa Kỳ) giáp với nước CANADA thấy trồng rất nhiều. Màu đỏ là màu nóng và nổi nhất trên nền của phong cảnh cây cối và có lẽ vì thế mà người CANADA đã chọn lá phong màu đỏ làm nền quốc kỳ của họ. Có người mỗi khi mùa thu về, thấy lá phong đổi màu liền nhớ đến câu thơ kể trên và thắc mắc câu thơ đó ở đâu ra? Thực ra nó là câu tám dưới câu sáu (thể thơ lục bát) trong tập thơ Kim Vân Kiều của thi hào Nguyễn Du (1766-1820). Hai câu này (1519-1520) kể về sự chia tay giữa chàng họ Thúc (Thúc Kỳ Tâm) và nàng Kiều (Vương Thuý Kiều) trong cảnh rừng phong thay lá vào mùa thu.

14192521_10210934993111692_3992245715145953597_n14963339_10210934798706832_4813936243700613500_n14958605_10210934786386524_2019799389_n

Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

Đọc hai câu thơ này, ai cũng biết tác giả (Nguyễn Du) mượn cảnh thật bên ngoài (rừng phong thay màu lá) để tả tâm tình của hai người trong truyện. Cảnh rừng phong thay lá vào thu tuy đẹp nhưng buồn, ảm đạm (nhuốm màu quan san) vì sự chia ly trước mắt. Quan san ở đây coi vậy mà khó để ta tìm ra nghĩa cho đúng. Các tự điển tiếng Việt thường giải thích hai chữ quan san (關 山) là cửa ải và núi non, đồng mang nghĩa bóng là nơi xa xôi cách trở (quan san muôn dặm…). Cảnh mùa thu là cảnh buồn và sự chia lìa thường được thi sĩ lồng nó trong cảnh mùa thu (người biệt ly nhau bên hàng cây rụng lá, trơ cành khô  cạnh vệ đường…).

Trở lại hai câu thơ trên thì ta biết ngay bối cảnh của việc chia tay đã xẩy ra ở nơi nào đó không phải trong nước Việt. Cây phong không phải là cây được mọc tự nhiên trong nước (kể cả miền Bắc ở những vùng cao). Nó ở bên Tàu, đúng như nguyên tác của truyện gốc (Thanh Tâm Tài Nhân) nhưng dù vậy, ngắm cảnh rừng phong thay màu lá rồi rụng lả tả thì tâm hồn con người ai nấy đều cảm nhận giống nhau. Một cảnh đẹp nhưng buồn.

 

Nhân nói đến mùa thu thì PTV vẫn nhớ lời của những người bạn thường bảo: Mùa thu là mùa của chia ly, của sầu buồn… Cách mạng tháng Tám năm 1945 lại rớt ngay vào mùa thu nên đất nước mình không khá được. Bởi vậy! Mùa thu trong thi ca thì cây đổi màu lá và rụng. Bọn người của cách mạng mùa thu năm xưa đã đổi lốt người (khi thành công, có quyền lực trong tay) thành kẻ độc ác, bất nhân, bất nghĩa (còn hơn cả bọn thực dân Pháp khi cai trị dù chúng khác chủng tộc) với chính người dân chung dòng giống của mình (kể cả ân nhân của họ). Tâm hồn của bọn người này (nay có tên gọi chung là băng đảng Việt Cộng) đã nhuốm đẫm màu Đỏ như màu quốc kỳ, đảng kỳ đang sử dụng.

Phạm Thắng Vũ

Nov 06, 2016.

Sống ở Hoa Kỳ, bạn có bao giờ thấy loại trái cây này: Pawpaw?

Tags

Rất đông người sống ở Hoa Kỳ (kể cả người sinh ra tại đây) biết về một loại trái cây có tên là Pawpaw. Phạm Thắng Vũ (PTV) tình cờ được một bạn quen người Mỹ làm chung sở cho vài quả Pawpaw này cách đây vài năm nên mới biết đến nó. Các bạn trong fb xem hình quả Pawpaw bên dưới đây. Đây là một loại cây ăn quả vùng nhiệt đới nhưng lại có thể trồng trong vùng lạnh đổ tuyết được. Cây cao khoảng 10 hay 11 m và vào mùa Đông thì rụng hết lá để mùa Xuân hồi phục lại (tương tự cây Phong-Mapple mà nước CANADA lấy hình lá làm quốc kỳ). Nở hoa vào mùa Xuân, có mầu đỏ tím trông khá đẹp. Đậu quả nhưng chỉ cần thời tiết nóng đột ngột thì quả sẽ rụng gần hết. Có lẽ đây là lý do khiến nhà vườn trồng cây ăn quả ngần ngại không dám trồng loại cây ăn trái này như trồng cây Táo, Lê, Cherry…. Khi quả lớn (hết cỡ từ 15 cm dài và 5 cm rộng) thì sẽ chín. Trông bề ngoài quả Pawpaw thì khá giống quả Xoài bên Việt Nam mình. Ruột nên trong có mầu vàng nhạt. Bửa trái ra làm hai, cơm rất mềm (có thể lấy muỗng múc ăn được), cho mùi thơm pha lẫn giữa chuối-xoài và có vị ngọt nhẹ. Thông thường, quả mọc thành chùm 3 cho đến 6 quả liền với nhau bằng 1 cuống nhỏ. Một bất lợi cho trái Pawpaw là khi hái xuống thì chỉ độ vài ngày là đã quá chín (sờ mềm phải ăn ngay không thì rữa). Trữ trong tủ lạnh có thể được lâu hơn nhưng vỏ sẽ sậm đen đi. Một trái có khoảng chục cái hột, vỏ cứng mầu đen nâu đậm.

 

14628297_10210632292064355_1706569234_n14657702_10210632326985228_668670944_n14610747_10210632315864950_2017563038_n14625295_10210632330505316_767358652_n-1800px-still-life_with_paw_paws_edward_edmondson_jr-_dayton_art_institute

Người bạn Mỹ cho PTV trái Pawpaw này lần đầu đó cho đến năm nay (2016) cách nhau cả 4 năm trời mới có lại. Từ năm ngoái trở về trước thì cây Pawpaw ở nhà họ đều bị rụng sạch trong mùa Hè. Năm nay có trái Pawpaw là do thời tiết mùa Hè không gặp những ngày quá nóng.

Tuy vậy, lá và vỏ cây Pawpaw chứa chất Acetogenins là một chất có thể dùng để diệt côn trùng nên ta cẩn thận khi trồng cây Pawpaw này.

Chưa bao giờ PTV thấy ở chợ Mỹ bán loại trái cây Pawpaw. Các bạn sống ở Mỹ có ai thấy quả Pawpaw này chưa? PTV để dành hột, định có dịp về VN sẽ mang cho gia đình bên đó trồng thử xem sao?

Phạm Thắng Vũ

Oct 09, 2016.

Về Một Bài Thơ: ” Lời Mẹ Dặn ” Có Phải Là Bài Thơ Chân Thật? Chống Lại Thi Sĩ Phùng Quán

Tags

Thi sĩ Phùng Quán (PQ) có 2 bài thơ nổi tiếng tên là Lời Mẹ Dặn và Chống Tham Ô Lãng Phí trong thời kỳ Nhân Văn-Giai Phẩm (NV-GP) tại miền Bắc Việt Nam (thời còn nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) thì ai cũng biết cả rồi. Các lý do để hình thành lên phong trào NV-GP (những năm ngay sau 1954 khi chính quyền Việt Cộng tiếp thu Hà Nội) và các cá nhân văn-nghệ sĩ cùng trí thức tham gia phong trào NV-GP cùng các biện pháp mà nhà cầm quyền đối phó lại (bao gồm cả giới văn-nghệ sĩ đứng về phe chế độ) thì ta cũng đã biết cả rồi, nên PTV cũng không nhắc lại nữa.

Lời Mẹ Dặn (LMD) ngay sau khi đăng trên báo Văn (số 21 ra ngày 27 tháng 9 năm 1957) thì không lâu sau đó trên báo Nhân Dân xuất hiện một bài thơ với tựa là: ” Lời Mẹ Dặn ” Có Phải Là Bài Thơ Chân Thật? (LMDCPLBTCT?) với từng câu dựa vào từng câu của bài thơ LMD để đánh trả lại cá nhân nhà thơ PQ.

 

12540871_765878706852001_8130003940724818539_n

 

Thực ra thì trên hết, nhà cầm quyền Hà Nội khi đó đàn áp phong trào NV-GP là đã ra mặt chống lại các đòi hỏi tự do về văn hóa, báo chí cùng tư tưởng mà các văn-nghệ sĩ chỉ muốn dùng ngọn bút để báo động, phê phán nền hành chánh quan liêu, tình trạng xã hội tệ hại sau vụ cải cách ruộng đất… Các tác phẩm của giới văn-nghệ sĩ trong phong trào NV-GP có gay gắt có dữ dội nhưng hoàn toàn không có ý muốn bạo loạn (lật đổ) chế độ. Văn-nghệ sĩ vẫn tin vào lãnh đạo (những người mới ngày nào đây còn chỉ đạo họ trong sáng tác) và lý thuyết Cộng Sản (là chính quyền mà họ đã đi theo từ khởi đầu cuộc chiến Việt-Pháp 1945-1954), một lý thuyết vẽ ra cảnh bình đẳng, không bất công, người bóc lột người… Nhưng tất cả họ đã lầm.

 

Dưới đây là bài thơ Lời Mẹ Dặn của thi sĩ Phùng Quán:

 

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn.
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc

– Con ơi
trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.

– Mẹ ơi, chân thật là gì?

Mẹ tôi hôn lên đôi mắt

– Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu

Từ đấy người lớn hỏi tôi:

– Bé ơi, Bé yêu ai nhất?

Nhớ lời mẹ tôi trả lời:

– Bé yêu những người chân thật.

Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vời.
In lên vết son đỏ chói.

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ

Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

1957
Phùng Quán

 

Và đây là bài thơ: ” Lời Mẹ Dặn ” Có Phải Là Bài Thơ Chân Thật?

 

Có bạn đọc xong thơ ” Lời Mẹ Dặn “,
Nghĩ không thông tìm đến hỏi tôi.
Rằng tác giả mượn lời thơ tuyên bố:
” Làm nhà văn chân thật trọn đời,
” Từ thuở nhỏ từng nghe mẹ dặn,
” In tấc son không dám trái lời:
” Yêu ai cứ bảo là yêu,
” Ghét ai cứ bảo là ghét,
” Thấy buồn muốn khóc là khóc
” Thấy vui muốn cười cứ cười “.
Vậy tác giả phải là người chân thật,
Xin cho nghe, cho biết rõ đầu đuôi?

Lời bạn hỏi không làm tôi đột ngột,
Bài thơ kia tôi đã đọc qua rồi.
Trước hãy nói đến tình yêu ghét,
Ghét với yêu là lẽ sống con người.
Mẹ muốn con thành người chân thật,
Cần khuyên con biết ghét yêu ai:
Phải yêu kẻ lòng ngay dạ thẳng,
Phải ghét quân bán nước buôn nòi.
Lòng yêu ghét phải như gương sáng,
Ví bằng không, bia miệng muôn đời.

Con bất hiếu thường trái lời mẹ dặn,
Rằng ghét yêu là quyền ở lòng tôi.
Nó ghét kẻ thầy hiền bạn tốt,
Nó yêu quân gái điếm cao bồi,
Ghét những người đáng yêu của thiên hạ,
Yêu những người đáng ghét của muôn người.
Quen học thói gà đồng mèo mả,
Hóa ra thân chó mái chim mồi.
Con hư hỏng, khuyên răn chẳng được,
Mẹ ê chề đau khổ khuôn nguôi.
Nên từ lúc con còn bé nhỏ,
Mẹ phải lo dạy dỗ cho rồi.
Dạy cho biết điều hay lẽ phải,
Ngay cả trong tiếng khóc câu cười.
Có lúc con tủi buồn khóc lóc,
Mẹ phải ru rát cổ khàn hơi.
Có lúc con reo cười đùa nghịch,
Bảo không nghe phải mượn đòn roi.
Kẻo rồi nữa tre già măng mọc,
Mẹ hiền đâu dám để buông trôi.

Trên thực tế người trong cuộc sống,
Nào mấy ai tùy tiện khóc cười:
Biết bao kẻ khi vui muốn khóc,
Lúc buồn tanh thì lại muốn cười.
Ngẫm mình thấy khóc cười vô lý,
Muốn reo như thông đứng giữa giời.
Biết bao kẻ cười ra nước mắt,
Buồn lại e rằng khóc hổ ngươi.
Cười khóc một khi không thực tế,
Thà cắn răng, mím miệng, dằn hơi.
Có những kẻ âu sầu khóc tủi,
Lệ chưa khô bỗng đã cười vui.
Khóc tủi những mong người tội nghiệp.
Cười vui cho được khách mê tơi.
Mục đích cốt tiền nhiều nặng túi,
Phương châm theo mật ngọt chết ruồi.
Ngoài miệng vẫn nói cười thơn thớt,
Mà không dao, nham hiểm giết người.
Ấy là bọn quen nghề bịp bợm,
Kiếm ăn trên tiếng khóc nụ cười.

Đoàn vệ quốc phất cao cờ quyết chiến,
Liều tử sinh nơi khói lửa tơi bời.
Họ chặt tay để xông lên mặt trận,
Họ đem mình ra lấp lỗ châu mai.
Khi chôn cất những người đồng đội,
Trong phút giây họ cũng ngậm ngùi.
Nhưng quyết không dừng chân sùi sụt.
Tiến lên theo nhịp hát vang trời.
Ai dám bảo họ thiếu chân thật?
Họ là người chân thật nhất đời!
Ai dám bảo họ là đất sét?
Họ là ” người ” hơn cả mọi người!
Họ đáp lời kêu gọi của Tổ quốc,
Vì nhân dân đổi khóc ra cười.
Cười với khóc muôn màu muôn vẻ,
Ghét hay yêu tùy việc tùy người.
Đâu có phải
” Yêu ai cứ bảo là yêu,
” Ghét ai cứ bảo là ghét.
” Thấy buồn muốn khóc là khóc,
” Thấy vui muốn cười cứ cười “.
Lời mẹ dặn chắc không ngớ ngẩn,
Từ nghìn xưa ai cũng thế thôi.
Nhưng có lẽ dặn khi còn nhỏ,
Nên nhà văn nay đã quên rồi;
Cũng có lẽ nhà văn xiên xỏ,
Viết văn ra cốt để bịp đời!

Nói đã hết, bạn tôi chưa thỏa mãn,
Còn mấy câu xin hỏi nốt mới thôi:
Câu:
” Sét đánh trên đầu không ngã,
” Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi,
” Bút giấy tôi đã bị người cướp giật,
” Tôi dùng dao mài đá viết văn chơi “.
Câu nói ấy có phải là chân thật,
Xin cho nghe cho biết rõ đầu đuôi?

Mấy câu nầy có phần lắt léo,
Chữ trong văn mà nghĩa xa xôi.
Nghĩa xa quá thành văn khó hiểu,
Nhưng ích chi mà nặn óc tìm tòi.
Theo lẽ thường: thì sét đánh không ngã,
Chắc trên đầu có cắm thu lôi;
Nếm đường mật lưỡi không biết ngọt,
Chắc ăn tham vị giác hỏng rồi.
Nghề bút giấy đã làm không trọn vẹn,
Thì dùng dao khắc đá cũng xoàng thôi!
Ý kiến tôi thế thì nói thế,
Đúng hay không xin bạn tự trả lời.

Trúc Chi

 

Tác giả bài thơ là Trúc Chi mà ở thời điểm đó (phong trào NV-GP) thì có nhà thơ Trúc Chi đang cư trú tại thành phố Hải Phòng. Ông nhà thơ nầy gốc dân miền Nam tập kết và cũng từng tiếp xúc với nhà thơ PQ mỗi khi có dịp ra Hà Nội. Khi đọc được bài thơ LMDCPLBTCT? trên báo Nhân Dân thì nhà thơ PQ đã xuống thành phố Hải Phòng để gặp và hỏi nhà thơ Trúc Chi cho ra nhẽ nhưng khi gặp hỏi thì không phải. Nhà thơ Trúc Chi nói với nhà thơ PQ: ” Ông nghĩ tôi là cái hạng người nào mà đi làm mấy chuyện khốn nạn đó “. Nhà thơ PQ tìm mãi mà không biết ai là Trúc Chi của bài thơ LMDCPLBTCT? đến độ ông thuộc lòng tất cả bài thơ nầy, nói là quyết tìm cho ra tác giả là ai vì, ông cho là đời ông tan nát cũng vì cái ông Trúc Chi nầy chứ không ai khác. Tìm cho ra để biết thôi chứ cũng chẳng có ý gì.

Thực ra thì đọc 2 bài thơ ta dễ dàng thấy ở bài LMD mang tâm tình của một người mới lớn, vẫn còn là một cậu bé nhớ lời mẹ dặn khi xưa. Còn ở bài LMDCPLBTCT? thì rõ ràng là của một người có tuổi, từng trải việc đời qua các câu:

… Biết bao kẻ cười ra nước mắt,
Buồn lại e rằng khóc hổ ngươi.
Cười khóc một khi không thực tế,
Thà cắn răng, mím miệng, dằn hơi…

Nhà thơ PQ cũng đoán như vậy nhưng đành chịu vì một khi họ đã dấu tên thật của mình lại còn dùng bút hiệu của một nhà thơ khác khi đăng bài viết nầy trên tờ Nhân Dân. Chắc chắn cá nhân người có tên Trúc Chi nầy phải là một đảng viên Cộng Sản vì cứ lấy câu thơ: ” Cười với khóc muôn mầu muôn vẻ… Vì nhân dân đổi khóc ra cười … ” Nhưng tại sao người nầy lại dấu tên thật? Họ không dám để tên thật chắc là vì bài thơ LMD của nhà thơ PQ quá đúng và bài thơ họ phản bác chỉ rặt điều quy kết tàn ác, triệt tiêu ý tưởng của bài thơ LMD ngay từ khi nó mới xuất hiện trên trang báo Văn ở miền Bắc khi đó.

Nhà thơ PQ chịu chết, tìm không ra. Mãi cho đến năm 1989 thì chuyện ông tìm mới thỏa khi nhân được đọc tập thơ Một Đôi Vần (MDV) của Hoàng Văn Hoan (HVH) do nhà xuất bản Việt Bắc ấn hành (trong đó có bài thơ LMDCPLBTCT?) và ở trang đầu của tập thơ MDV có lời giới thiệu HVH chính là Trúc Chi. Trong thời kỳ NV-GP xẩy ra thi ông HVH là Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng Lao Động Việt Nam. Biết được Trúc Chi là HVH rồi thì nhà thơ PQ vuốt râu ngâm nga (lúc nầy nhà thơ đã để râu dài và ông HVH đang sống tại Trung Quốc): ” Anh Hoan ơi… Ai quen học thói gà đồng mèo mả. Ai hóa ra thân chó mái chim mồi… “.

 

12509407_765879253518613_6494915972390399759_n

 

Hoàng Văn Hoan (1905-1991) dân Nghệ An, là một nhà hoạt động chính trị từ thời Pháp thuộc, đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam từ những buổi còn sơ khai cho đến khi đảng nầy đoạt được chính quyền hoàn toàn trong các giai đoạn 1945-1954 rồi từ 1954 cho đến 1975. Từng giữ các chức vụ Thứ trưởng Quốc Phòng (năm 1945), Đại biểu Chính Phủ tại Liên Khu 4 (năm 1946), Đại sứ Việt Cộng tại Trung Cộng (từ năm 1950-1957), Bí thư Thành Ủy Hà Nội (năm 1961) và Phó Chủ Tịch Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Việt Cộng (từ năm 1958 đến 1979). Nhân trong 1 chuyến bay sang Đông Đức chữa bệnh, khi máy bay quá cảnh tại thành phố Karachi (thuộc nước Pakistan) ngày 11 tháng 6 năm 1979 thì HVH đã đào thoát sang Trung Quốc và chết tại đó năm 1991.

Dưới đây là hình ảnh bài thơ “Lời Mẹ Dặn” Có Phải Là Bài Thơ Chân Thật? (các trang 77, 78, 79, 80, 81 và 82) đăng trong tập thơ Một Đôi Vần của Hoàng Văn Hoan do nhà xuất bản Việt Bắc in năm 1989 và phần mộ của nhà thơ Trúc Chi (Hoàng Văn Hoan) tại Trung Quốc.

 

12417971_765878993518639_3446257547660010912_n

12548844_765879093518629_3034646450135605673_n

12565564_765879136851958_6955390660938940093_n

5405_765879203518618_7536230806764336198_n

 

Phạm Thắng Vũ

Sept 25, 2016.

 

Chuyện Ngày Thơ Ấu

Tags

 

Ở tuổi nào thì ký ức con người ta mới bắt đầu giữ lại được các hình ảnh cũ? Còn tuổi sơ sinh phải có người bồng bế trên tay thì chắc chắn sẽ không nhớ gì cả. Vậy từ tuổi lên ba hay lên năm, lên sáu… thì mới có thể nhớ chút chút về cái ngày còn bé của mình? Ai cũng có một tuổi thơ còn bé và nó bắt đầu từ tuổi nào? Cái tuổi thơ đó tất nhiên nó đã là một ngày xưa lắm của cuộc đời mình. Nhà văn Duyên Anh thì gọi cái thời tuổi thơ đó là Ngày Xưa Còn Bé trong một tác phẩm của ông. Điều đó đúng nhưng theo Phạm Thắng Vũ (PTV) là phải nhớ được cái tuổi thơ này thì mới thú. Với PTV thì ngày xưa còn bé bắt đầu ở tuổi lên bẩy vì bản thân chỉ nhớ được ít chuyện xẩy ra trong thời kỳ này, xa hơn nữa thì chịu. Để tránh sự trùng lập đề bài, PTV xin sửa cái tựa là Chuyện Ngày Thơ Ấu.

Không biết bố gặp mẹ ở đâu từ ngoài Bắc mà khi PTV có các ký ức về thời xưa của mình thì gia đình đã cư trú tại vùng Ngã Tư Bẩy Hiền (NTBH) rồi. Đây là một xóm nhà của dân di cư từ miền Bắc vào Nam dịp 1954. Bố PTV là một quân nhân nên ông theo đơn vị di chuyển nhiều nơi rồi sau đó, thấy mang theo gia đình (gồm mẹ, anh trai, bản thân PTV và mấy đứa em gái) sẽ rất bất tiện và nguy hiểm (bố kể có một lần Việt Cộng tấn công vào một cái đồn lính làm chết lây khá nhiều thân nhân của các binh sĩ) nên bố mua căn nhà nhỏ ở vùng NTBH này để cho gia đình tạm sống. Bố cứ đi theo đơn vị và hàng năm, ông chỉ có vài lần về phép thăm nhà rồi sau đó lại đi ngay. Tuổi lên bẩy, không hiểu do đâu mà PTV bị bịnh cứ nghe tiếng động lớn là sợ là khóc nên mẹ mới dắt ra tiệm thuốc Bắc của ông người Tàu gần nhà để khám lấy thuốc uống. Cái tiệm thuốc Bắc đó có tên là Anh Sanh Đường. Đến tiệm cũng chưa được ông thầy thuốc khám ngay cho vì phải chờ đến lượt nên PTV mới đi đến chỗ có cái bàn nhỏ ngay góc nhà để xem người ta làm thuốc. Cái bàn nhỏ đó, gắn chặt một con dao to tướng được một anh lớn tuổi hơn đang dơ tay nâng cán lên xuống nhịp nhàng để cắt từng nhúm thuốc thành các sợi nhỏ. Mùi hăng hắc thơm thơm bốc lên làm PTV ngạc nhiên vì thấy nó rất quen mũi nên lấy tay cầm một miếng thuốc mỏng đưa lên ngửi rồi xem kỹ. Thì ra chỉ là các vỏ cam, vỏ quýt đã ỉu khô, đen sậm. Mẹ thấy PTV đứng gần chỗ làm việc của người nhà thuốc sợ phiền nên bước đến kéo tay dẫn về chỗ ngồi. Vừa ngồi vào chỗ, PTV khoe với bà  nho nhỏ:

– Vỏ cam vỏ quýt mẹ à. Con dao to quá.

Không nhớ ông thầy thuốc người Tàu đã chẩn bịnh ra sao mà chỉ biết từ hôm đấy, cứ vài ngày thì PTV được mẹ bắt ăn nguyên một quả tim heo nấu chín đựng trong một cái chén nhỏ. Chỉ tim heo thôi chứ chẳng có thuốc uống nào khác. Buổi trưa, sau khi tan học về nhà, PTV phải ngồi ăn từng lát thịt từ quả tim heo do mẹ sắt thành miếng còn âm ấm trước khi ăn cơm. Có một chút nước đỏ hồng từ trong lòng quả tim mà PTV cứ nghĩ là chất lỏng tiết ra từ thịt nhưng sau này mới biết do bột thuốc Thần Sa phôi ra thành. PTV có một anh trai hơn mình năm tuổi và mỗi khi thấy mẹ ngồi cắt thịt thì anh lại gần ngồi xem rồi xin mẹ cho anh ăn chung nữa. Nhưng mẹ chỉ cho anh trai các chỗ có phần dính thịt mỡ và những chỗ có gân trắng mà PTV lừa ra ngoài, không ăn. Ăn mãi món tim heo này nên PTV chán miệng muốn bỏ cho anh trai ăn dùm thì mẹ cứ ép phải ăn. Con phải ăn, ăn để hết bịnh, mẹ bảo vậy và còn nói với anh trai là phải biết thương em mà đừng đòi.

 

Vùng NTBH khi đó còn hoang vắng lắm. Tầm mắt còn nhìn thấy vòng đai của phi trường Tân Sơn Nhứt xa xa. Gần hơn thì nghĩa địa từ thời Pháp còn đầy những bia mộ trắng nằm đều đặn bên nhau. Hướng đi về Chợ Lớn còn nhiều  hàng cây cao su đều đặn, thẳng tắp mà có người nói đi vào trong sâu hơn, sẽ thấy có cả một kho chứa đạn của lính Nhật bỏ lại. Chung quanh xóm nhà của PTV ở vẫn còn là các đám ruộng ngập nước, đầy rau muống mọc hoang, chính là chỗ mà buổi chiều lôi cuốn nhiều người đến câu cá. Chợ là hai bên vệ đường chính ở gần ngã tư đi vào nội đô Sài Gòn mà sau này có tên là NTBH.

Mẹ PTV có một người em họ xa tên là Dậu, mồ côi cha mẹ từ năm mới sinh ra. Anh em PTV trong nhà, được mẹ dặn gọi dì là dì Dậu. Tên của dì là do người trong họ đặt cho như một kỷ niệm về cái chết của cha mẹ dì trong cái năm có nạn đói ở miền Bắc. PTV cũng không biết nhờ đâu mà dì sống được trong cái thảm nạn năm đó và cũng do ai đưa dẫn mà dì di cư vào miền Nam dịp 1954 để rồi bây giờ đến trú tại nhà. Chỉ biết là dì da dẻ trắng trẻo, tướng người thon thả và khuôn mặt khá đẹp. Hôm đó, một buổi chiều sau khi chạy chơi trong xóm với đám bạn cùng tuổi đến chán, PTV về nhà định đi tắm trước khi trời tối thì gặp mẹ đang ngồi tiếp hai người khách. Khách đây là dì Dậu và người chồng của dì. Tính ra thì khi đó dì ở tuổi mới mười chín, đôi mươi mà sao PTV thấy dì chững chạc như là mẹ vậy. Cậu Luận, chồng của dì là người miền Nam và điều đó cũng là cái lạ cho người trong họ hàng. Lấy ai không lấy lại đi lấy dân Nam Kỳ! Mẹ PTV lúc đầu cũng nói riêng vậy với dì nhưng sau một thời gian sống trong nhà thì mới biết cậu Luận là người rất hiền, tính ít nói và rất chịu khó làm lụng để nuôi dì Dậu ở không nên ai cũng thương cả. Thực ra thì cũng không hẳn là dì Dậu chỉ ngồi không cho chồng nuôi mà dì đi chợ mỗi buổi sáng để mua thịt heo, củ sắn trắng… về làm các đồ nhồi cho cậu Luận đi bán bánh mì mỗi buổi chiều tối. Cậu Luận có một chiếc xe đạp gắn cái thùng nhôm nắp tròn to tướng ở yên sau. Trong thùng nhôm đó có hai ngăn, một bên là các ổ bánh mì khá dài được ủ trong một bao vải kín. Ngăn bên kia có một khay nhỏ để ít than nóng dưới đáy thùng dùng làm nóng bánh mì trước khi bán cho khách. Giữa hai ngăn là chỗ cậu Luận để thịt heo luộc chín bôi phẩm đỏ ngoài phần da chung với chả lụa, thịt xíu mại cùng đồ chua là củ sắn trắng sắt thành sợi ngâm dấm, lọ ớt băm, chai nước tương. Bánh mì, cậu Luận lấy từ một cái lò tuốt gần trường đua ngựa Phú Thọ về hướng Chợ Lớn. Ở ghi đông xe có gắn cái kèn tay nhỏ. Cứ chập tối thì cậu Luận bắt đầu đạp xe bánh mì đó đi bán cho tới quá khuya thì về nghỉ. Đắt hàng, hết bánh bán thì về sớm nhưng cũng có hôm phải đến gần sáng mà trong thùng vẫn còn dư bánh chưa bán hết. Cả nhà PTV phải bữa ăn bánh mì giúp cậu. Như đã kể, nhà dân di cư từ miền Bắc vào cất nhà gần bên đường chính. Đi vô hơi sâu thì nhà cửa rất thưa thớt dần, gần như đất bỏ hoang đầy mồ mả cùng cây thưa và lau sậy. Vẫn có người thỉnh thoảng còn bắt được chồn, trút, rùa… nữa.  Mỗi tối, cậu Luận đạp xe đi bán bánh mì thì phải đảo cả một vùng rất rộng để tìm khách ăn đêm. Cậu đạp xe, thỉnh thoảng bóp kèn báo hiệu cho người ta biết có xe bán bánh mì. Xe chạy trong đêm được là nhờ có bóng đèn chiếu sáng dùng một cục dinamo nhỏ gắn bám vào niền xe. Ở thùng nhôm đằng sau còn treo một cái đèn bão nhỏ giúp cậu thấy đường mà làm bánh khi bán hàng.

Đến ở chung, mẹ PTV cho vợ chồng dì Dậu cất thêm một cái chái nhỏ bên cạnh nhà còn bếp, giếng nước… vẫn xài với gia đình. Có một buổi khuya, cậu Luận đạp xe về giao tiền cho dì Luận rồi đi ngủ ngay. Ngày nào cũng vậy, đạp xe bán hàng cả mấy giờ đồng hồ như cậu Luận rất mệt nên về nhà thì cậu ngủ vùi, mặc trời sáng cho dì Dậu tự lo sắp sẵn hàng để bán cho buổi chiều. Như thường ngày, dì Dậu lấy túi vải đựng tiền bán hàng trong đêm ra đếm, tính lời lỗ thì thấy chỉ có ít tiền cắc tiền giấy chung với lá, giấy vụn. Dì nghĩ tiền để trong thùng nhôm nên lục tìm mà không thấy, đành phải gọi cậu dậy. Cậu Luận nói tiền để trong giỏ nhưng dì coi lại vẫn không có. Xem kỹ các mảnh lá thì thấy lá cắt thành hình vuông, chữ nhật và giấy là các mảnh vàng mã, tiền âm phủ. Người trong xóm nghe chuyện cậu Luận bán bánh mì cho ma nên mới chạy đến xem tiền. Các mảnh tiền vàng mã thì không ai lạ nhưng tiền lá cây đều một màu tái như bị luộc chín nhưng ở phần rìa lại có màu vàng đậm hơn. Người xem bảo đây là lá chuối nhưng người khác bảo lá củ rong hoặc lá cây nghệ… mà sau cùng thì là lá cây gì thì ai cũng không chắc. Hỏi, cậu Luận trả lời hồi khuya rõ ràng đã gặp người mua bánh trả bằng tiền mà bây giờ chỉ là giấy và lá thì cũng chẳng biết do đâu ra? Ai cũng bảo là đây là tiền của ma không nên giữ nó trong nhà. Dì Dậu sợ và nghe lời người ta khuyên, đã đốt bỏ các tờ tiền giấy,  lá đó. Sau, dì còn xin nước thánh từ nhà thờ đạo Thiên Chúa về, đem vẩy vào cái xe đạp cùng thùng nhôm bánh mì đó.

Sống chung trong nhà được khoảng hai năm thì cậu Luận đăng lính rồi sau đó đưa dì đi theo đơn vị quân đội xuống tuốt dưới miền Tây và gia đình PTV cũng ít liên lạc với vợ chồng dì nữa. Sau này PTV mới biết cậu Luận cũng hoàn cảnh mồ côi cha mẹ từ nhỏ y như dì Dậu. Cùng hoàn cảnh nên khiến cả hai người họ dễ dàng đến với nhau hơn, bất kể gốc gác miền Bắc miền Nam.

 

Vợ chồng dì Dậu ra khỏi rồi mẹ PTV lại cho một người cô khác về ở ngay trong căn phòng trống đó. Cô này tên Chi và là bà con phía bên bố PTV. Bằng vai với mẹ nhưng cô Chi chỉ hơn PTV khoảng bẩy tuổi, tám tuổi gì đó. Do đó có khi PTV vẫn lẫn lộn khi gọi cô bằng chị. Cô Chi cũng thế, hay gọi không cái tên Vũ hay em thay vì cháu, nhất là khi có chuyện đi ra ngoài. Bố mất từ khi còn ngoài Bắc, cô Chi theo mẹ vào Nam năm 1954 rồi sống trên trại di cư ở Tân Phú Trung gần vùng Củ Chi-Hậu Nghĩa. Được vài năm thì mẹ cô bị bịnh chết nên người trong họ ba PTV thay phiên luân chuyển từng gia đình nuôi cô cứ vài năm một. Vì PTV không có chị ruột, giờ có cô Chi sống trong nhà nên rất thích mà cô Chi cũng không có em thành ra đi đâu bên ngoài cũng rủ nhau. Thời gian này, trên con đường chính dẫn về hướng ngã ba Bà Quẹo đã có thêm nhiều căn nhà mới. Chủ những căn nhà lợp lá, lợp tôn này là dân từ miền Trung vào hay là dân chạy loạn từ sau trận đánh ở Bình Giã tràn về. Hai bên đường, nhờ có thêm người ở cùng trại lính dù mở rộng nên đã bớt vắng vẻ hơn trước. Có nhà buổi tối còn bày hàng chè, hàng cháo bán trước sân để kiếm thêm nữa. Một buổi tối mùa hè trời rất nóng, cô Chi kéo PTV đi dọc theo con đường chính thì bị một người đàn ông lạ mặt chạy xe hai bánh ngang qua, vỗ tay vào mông cô một cái thật mạnh. Người đó bỏ chạy xa rồi mà hai cô cháu vẫn chưa hoàn hồn.  Chẳng rõ người chạy xe đó mặt mũi ra  sao? Trẻ, già, lính lác hay dân thường? Cái vỗ mông làm cô Chi đau đến phát khóc, chảy nước mắt cho đến khi về tới nhà báo cho mẹ PTV hay. Vết bàn tay năm ngón còn in đỏ trên phần da mông khi cô trật quần xuống cho mẹ PTV thoa dầu nóng để làm dịu cái đau. Cô khóc vì đau làm mẹ PTV cũng khóc theo nữa.

Cũng vì mất cha mẹ khi còn nhỏ nên phải nương nhờ vào các gia đình họ hàng mà sống và cũng vì cảnh luân chuyển vài năm ở nhà này nhà khác nên cô Chi bỏ học sớm. Sống chung trong nhà, cô theo mẹ PTV phụ bán hàng sáo ở chợ rồi có khi lại đi theo mấy người chị họ khác lên vùng Thủ Đức để dệt vải mướn cho các gia đình có máy khung trên đó. Mẹ PTV vai chị của cô, vẫn dặn cô là con gái mới lớn, đi làm xa gia đình thì phải tự phòng thân, ráng tiết kiệm tiền bạc làm được để thành nếp sống sau này. Đi đi, về về thăm gia đình từng tháng một rồi đánh đùng cô Chi nói cho mẹ PTV biết có người theo cô, nói thương cô lắm mà người đó cũng dân miền Nam. Mẹ PTV nghe vậy, lo lắng:

– Trước đã gặp con Dậu, bây giờ lại đến em… Sao lại quen với cái người Nam Kỳ này. Không biết rồi ra có được như thằng Luận?

Không phải mẹ PTV kỳ thị dân Nam gì, chính là muốn cô Chi khi lớn lấy chồng thì phải cùng dân Bắc sẽ hay hơn. Mẹ nói vậy. Bố PTV đóng lính xa nhà biết tin về cô Chi, viết thư về bảo mình vào miền Nam sống rồi lấy dân Nam Kỳ là chuyện thường. Phu đồn điền cao su từ miền Bắc vào Nam thời trước cũng thế, rồi cũng yên ấm cả. Đừng cấm đoán, chỉ nên khuyên cô Chi phải cẩn thận, dò xét người đó cho kỹ.

 

hinh change

 

Hình chụp PTV, đứng giữa anh trai và mẹ (mẹ tay bế em gái) của ngày xưa. Ảnh do bố chụp ở Tân Hương-Kon Tum.

 

Chính vậy mà cô Chi ngần ngừ chưa dám để người đó tiến gấp, nói cần thời gian để suy nghĩ cho chín. Cô đưa người đó về nhà ra mắt mẹ PTV rồi mà vẫn dùng dằng mãi. Người đàn ông miền Nam đó tên là Bạch, hơn cô cả chục tuổi nhưng được cái cũng hiền lành, thành thật như cậu Luận. Cậu Bạch là lính đóng đồn trên vùng Thủ Đức, thân quen với gia đình mà cô Chi đến làm thuê nghề dệt. Tới lui với gia đình PTV vài lần, mẹ bảo cô Chi quyết định dứt khoát nhưng cô lại nói để xem đã. Cái để xem đã đó, cô muốn biết gia đình cậu Bạch như thế nào và dịp đó đến khi xin phép mẹ để đi theo cậu Bạch trong một chuyến thăm nhà. PTV không biết có sự sắp xếp giữa mẹ và cô Chi hay không mà lại được đi theo với cô và cậu Bạch. Sau này nghĩ lại đó là sự phòng xa, tránh những bất trắc có thể có với cô, một người con gái mới lớn phải đi xa cùng một đàn ông lạ nếu không có mặt PTV gần bên. Nhưng cũng có thể thực lòng cô Chi muốn có người thân trong nhà đi cùng cho vui, chỉ biết khi đó PTV rất thích.

Nhà  hay quê của cậu Bạch ở tuốt tận cái vùng gọi là Thủ Dầu Một tức tỉnh Bình Dương bây giờ. Sống ở Sài Gòn, nơi đến xa nhất trước giờ với PTV mới chỉ là trại di cư Tân Phú Trung hoặc vùng Hốc Môn-Bà Điểm. Khi được gia đình cho đi xa như vậy nên háo hức lắm nhưng cũng sờ sợ khi nghe mẹ nói trước chuyến đi với cô Chi là chỗ cậu Bạch có Việt Cộng hoạt động, phải cẩn thận. Sợ rồi quên ngay vì tuổi còn bé cái sợ cái nhớ cái lo… có đến rồi cũng tan biến chóng vánh.

 

Ngày lên đường là buổi sáng Chủ Nhật của mùa hè trời nắng ráo. Cậu Bạch mặc quần áo dân sự còn cô Chi thì áo dài trắng, quần satanh đen, nón lá, chân guốc cao gót. Không hiểu tại sao ngày xưa phái nữ đi đâu bên ngoài hầu như họ chỉ mặc bộ quần áo dài kiều như vậy. PTV mặc bộ đồng phục học sinh áo trắng, quần dài xanh, dép da như ngày đi học. Bình Dương cách Sài Gòn khoảng năm sáu chục cây số mà phải đi nhiều chặng đường thì mới đến được nhà cậu Bạch vào lúc xế chiều. Ngồi xe lam, xe đò và cả xe ngựa lẫn đò chèo tay nữa rồi khi qua được bến đò còn phải đi bộ một quãng đường khá xa mới đến được nhà cậu Bạch nằm trong một khu vườn đầy những cây cao lớn xum xuê. Những cây ăn trái, những bụi tre bao chung quanh căn nhà vách gỗ mái ngói của gia đình cậu Bạch trông cũng không khác gì mấy với các căn nhà dân khá giả ở gần khu NTBH. Mẹ cậu Bạch là một bà cụ già miệng móm, ngồi nhai trầu trên tấm phản gỗ và dù cô Chi đã nói khi ở nhà là cậu Bạch con trai út trong gia đình nhưng khi đối diện, cô cũng không ngờ bà cụ già quá. Cái già lộ ra từ mái tóc bạc trắng, các nếp nhăn nằm đầy trên cánh tay, khuôn mặt cùng vẻ run rẩy trong khi bà nói chuyện với cô Chi. Có mấy đứa trẻ trai, gái trạc tuổi ra chào rồi sau đó đám này dẫn PTV ra các cây gần nhà hái ổi, hái khế ăn chung trước khi trời tối hẳn. Bữa ăn hôm đó gồm các món lạ, lần đầu PTV biết đến như cá rô chiên dòn dầm nước mắm gừng, canh khổ qua nhồi cá xay, thịt kho tàu, dưa mắm… nên ăn rất ngon.

Khi còn ở nhà, cô Chi đã nói cho mẹ là không biết nhiều về gia đình cậu Bạch nên giờ đây, có đến mới biết bà cụ đang ở chung trong nhà với gia đình một người đàn bà lớn tuổi hơn tuổi mẹ nữa. Bà đó là chị dâu của cậu Bạch, cô Chi dặn PTV phải gọi là bác Ba. Dưới bà Ba, còn vài người nữa mới đến cậu Bạch. Người thân thuộc trong gia đình cậu Bạch khi nghe tin cậu về và có đưa mợ tương lai tức cô Chi nên họ cũng đến thăm. Rồi cả hàng xóm ở gần bên nữa làm bác Ba phải đốt thêm cây đèn dầu lớn cho sáng và vì vậy, PTV thấy khách là các phụ nữ cùng trẻ nhóc nhơ nhỡ trạc tuổi mình mà không thấy các người đàn ông đâu cả.

Đêm về tuy mệt vì cả ngày đi đường nhưng PTV vẫn chưa ngủ ngay, chính vậy mới thấy cảnh vùng quê thật im ắng không một tiếng còi xe máy, không cả tiếng chó sủa chỉ thuần tiếng côn trùng rả rích, tiếng ếch nhái kêu đêm… Thật khác hẳn với lúc còn ở nhà tại Sài Gòn. Ngày hôm sau, cậu Bạch đưa cô Chi cùng PTV đi lòng vòng lối xóm chung quanh, ghé nhà người này người kia trong chốc lát như để cảm ơn việc họ đến thăm lúc chiều tối hôm qua. Đến một bãi đất khá rộng trên một vùng đất cao trồng đầy khoai lang trong các luống dài thẳng tắp, cậu Bạch lấy tay chỉ cho cô Chi cùng PTV thấy một vùng đất khuất sau các rặng cây của một con kênh cùng những ruộng lúa xa xa. Cậu nói:

– Chỗ đó khi trước là nhà của gia đình qua, phải dỡ vào đây ở tạm vì lý do an ninh. Hết chiến tranh sẽ về lại đẳng đặng cất nhà ở cho thoáng.

Lẽ ra cậu Bạch sẽ ở thăm nhà lâu hơn như dự tính nhưng không hiểu sao chỉ mới quá trưa vừa xong bữa cơm thì đã vội vã thu xếp để về trở lại Sài Gòn. Thay đổi chương trình đột ngột nên chuyến trở về Sài Gòn không kịp, đành phải ngủ lại ở một nhà trọ trong bến xe đò vùng Hốc Môn để chờ trời sáng. Gọi bến xe đò nhưng ở đó chỉ có vài chiếc xe chở khách đi các đoạn đường xa thôi, còn nơi gần thì hầu như phương tiện di chuyển chính là các xe ngựa và xe lam ba bánh. Ở bến xe ngựa nào cũng chung một cảnh khách đi phải ngồi bó gối bên nhau trên tấm chiếu cói trong cái thùng xe nhỏ. Xe ngựa còn có cái tên gọi là xe thổ mộ. Khách còn phải máng dép guốc của mình vào cái móc trước khi bước lên thùng xe ngồi. Quang gánh của khách cũng phải treo vào hai cánh tay bằng đồng ở hai bên phía sau thùng xe ngựa.

Buổi sáng đến, sau bữa ăn điểm tâm thì cậu Bạch cùng cô Chi và PTV ngồi trên chiếc xe đò tài nhất đang chờ thêm khách để chạy vào Sài Gòn. Phải về nhà sớm làm PTV tiếc vì không được đi tắm kênh như lời hẹn của mấy đứa trẻ mới quen trên nhà cậu Bạch. Bến xe đò Hóc Môn như một cái chợ bán hàng ăn thu nhỏ. Xe hủ tiếu, sập cháo lòng, hàng cơm tấm, tiệm cà phê… trải đều dọc theo các phía của bến xe. Mùi xăng dầu của khói xe lam cũng không át mất mùi hôi từ phân, nước tiểu ngựa nồng nặc trong buổi sớm mai. Xe lam chạy về hướng Lái Thiêu hoặc Củ Chi còn xe ngựa chạy về Bà Điểm, Thành Ông Năm hay Gò Vấp. Chỉ có xe đò mới chạy tuyến Sài Gòn mà tuyến đường này ít khách nên phải chờ cho đủ số. Những tiếng huyên náo, la hét ở bến xe làm PTV quay người ra ngoài nhìn. Gần cái sập bán cháo lòng, bốn người phụ nữ thay nhau đánh tới tấp một cô gái trẻ mà không có ai đến can thiệp. Bốn phụ nữ hung dữ đó đã xé tan y phục của cô gái và mỗi người một góc, khiêng ngửa cô đi rảo qua dãy xe lam, xe ngựa cùng hàng quán trong bến xe. Khi họ đến gần chiếc xe đò PTV đang ngồi, cô Chi lấy tay nắm vai PTV xoay vào trong xe và ra lệnh:

– Vũ! Không được nhìn… Kệ người ta.

Dù vậy, PTV cũng thấy mặt cô gái đó còn trẻ trạc tuổi với cô Chi. Một bên gò má của cô ửng đỏ dấu răng cắn hay vết đánh còn rướm máu. Khi về tới nhà, kể lại chuyện cho mẹ nghe về cảnh vừa thấy ở bến xe khi sáng, cô Chi bảo mãi cho đến khi có cảnh sát đến thì bốn người phụ nữ đó mới tha cô gái nạn nhân. Cô Chi nói:

– Phải lấy bao bố chỉ xanh che đỡ… rồi em cũng không biết họ lấy đâu ra quần áo cho chị đó thay. Mấy bà đánh ghen đó xé tan hết cả.

– Khổ thân chưa! Em thấy, cứ hay nghe lời dụ ngọt của đàn ông mà có ngày… Rồi cái ông đó đâu mà không can ra? Mẹ hỏi lại.

– Có thấy ông ta đâu! Chắc chạy mất rồi. Ngồi ăn cháo lòng chung một chỗ với tụi em nè.

 

Sau lần đi thăm gia đình cậu Bạch thì cô Chi và cả gia đình cùng họ hàng phía bên bố PTV đều đồng ý chuyện đám cưới của cô. Con gái lớn lên ai cũng phải lấy chồng, đó là lẽ thường, gia đình đó kể như vậy cũng được, giàu út ăn, nghèo út chịu… Mẹ nói vậy với cô Chi nhưng không ngờ có một trở ngại nẩy sinh, đã làm chuyện hôn nhân của hai người không thành. Đó là việc cậu Bạch khác với tôn giáo của cô Chi. Cậu thì đạo Phật còn cô Chi lại đạo Thiên Chúa Giáo. Bên phía bố thì PTV còn có một người bác sống ở vùng Hóc Môn-Gia Định và một người chú sống ở vùng Tam Hà-Thủ Đức cùng số đông họ hàng sống ở trại di cư Tân Phú Trung thuộc Củ Chi-Hậu Nghĩa nữa. Họ đã đem việc của cô Chi và cậu Bạch vào trình cho các cha đạo của các xứ đạo Thiên Chúa giáo đó biết.

– Nếu muốn lấy em làm vợ thì cậu Bạch phải theo đạo Thiên Chúa, đó là luật đạo. Mình là tín đồ thì phải tuân theo lề luật đạo, ai cũng thế cả. Mẹ bảo với cô Chi.

– Các anh chị dạy sao thì em nghe vậy. Chuyện của em với anh Bạch thì em sẽ liệu. Cô Chi trả lời mẹ cũng giống như với các bác, chú cùng những người trong họ của PTV.

Việc thấy vậy mà không đơn giản để tính cho xong. Cậu Bạch thì không thể theo đạo mới còn cô Chi lại không dám trái lời đã nghe từ cha đạo cũng như từ các người trong họ. Mẹ cũng hiểu chuyện buồn của cô Chi khi bảo cứ để yên chuyện, may ra sẽ có cách giải quyết hay hơn. Cậu Bạch cũng biết chuyện ngăn trở mối duyên của hai người nhưng cậu vẫn đến nhà thăm cô Chi như thường lệ. Có lúc, cô Chi lánh mặt khi thấy bóng cậu Bạch xuất hiện ở đầu ngõ hẻm hoặc cô như từ chợ về nhà, thấy cậu ngồi chờ ở phòng khách mà cô vẫn không ra tiếp. Đã có lần, PTV từng giúp cậu chuyển thư dùm đến tay cô Chi. Xem lá thư rồi cô khóc và dặn PTV đừng nói cho ai trong nhà biết vụ cậu Bạch gửi.

Anh trai ruột của PTV tên Trung được mẹ mua cho cái xe đạp để đi học hàng ngày. Khi mới có xe đạp thì PTV phải giúp anh tập chạy bằng cách giữ yên xe sau cho thăng bằng, cho đến khi anh tự chạy một mình được. Có xe đạp rồi, nhiều hôm anh Trung đã chở PTV đi tuốt đến chỗ sau này được gọi là Ngã Ba Bà Quẹo. Lý do có đến đây thì hai anh em mới thấy rõ máy bay bay lên hay đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt trong tầm mắt nhìn thật gần. Chỗ này khi đó còn là bãi hoang đổ rác từ nội đô Sài Gòn ra. Bãi rác rộng, có chỗ âm ỉ cháy suốt ngày đêm dù trời mưa hay nắng. Có hôm đi ngang qua, hai anh em còn thấy xe máy đẩy đang đủn gom rác gọn vào một chỗ. Bãi rác chỉ toàn rác mà không thấy người nhặt phế liệu như thời sau này. Từ bãi rác, đi theo đường đất đỏ về hướng Chợ Lớn, hai anh em đã gặp cả một nghĩa địa rất rộng mà có những ngôi mộ được xây lớn như căn nhà. PTV hỏi có phải đây là mả của vua, anh Trung bảo đó là của một ông quan thời xưa, giàu có lắm mới được chôn như vậy. Anh còn nói mộ vua chỉ có ở ngoài Huế thôi. Anh Trung rất thương PTV, có gì cũng nhường cho xài riêng. Có lần, cả hai anh em đi dọc theo con kênh Nhiêu Lộc chơi rồi men theo đó đến một xóm nhà cũng dân Bắc di cư ở gần Ngã Ba Ông Tạ thì gặp một bọn con trai ba đứa choai choai ra gây sự. Kênh Nhiêu Lộc khi đó là một con rạch nhỏ chảy từ hướng Bàu Cát băng qua đường lộ chính rồi chạy ngoằn nghèo vào tuốt nội đô Sài Gòn. Ba đứa trai choai choai đó thấy hai anh em PTV là người lạ, đi vào xóm này nên chúng tiến lại kiếm chuyện. Khi thấy không tránh được xô xát, anh Trung đã bảo PTV chạy về nhà ngay, để anh một mình ở lại tính chuyện với họ. PTV nghe lời anh, chạy ngay về nhà và may vừa lúc đó gặp mẹ ở chợ về. PTV kể lại cho mẹ nghe và cùng bà đi ngay ra chỗ cũ thì gặp anh Trung đang trên đường chạy về. Thấy anh bị đánh, mẹ đã dắt cả hai anh em PTV đến tận xóm nhà di cư đó để hỏi thăm rồi tìm được đúng nhà của ba đứa trai gây sự này mà mách tội chúng. Khi về nhà mẹ bảo hai anh em đừng có đi chơi quá xa nhà không tốt.

Thương em mình rất nhiều nhưng anh Trung lại không giống như cô Chi, anh rất ít khi nói chuyện riêng tư với PTV. Có thể vì khi đó anh hơn PTV tới năm tuổi nên không cùng sàn sàn đồng trang lứa mà tâm sự chuyện riêng cho nghe hay vì vai là anh trai trong nhà nên anh phải hành xử như vậy. Anh Trung lúc nào cũng ít nói, mặt luôn có vẻ buồn buồn và đó cũng là lý do khiến PTV thắc mắc về anh. Khi tuổi lớn hơn thì PTV mới biết lý do tại sao anh lại như vậy. Anh không có bạn thân nên sau này khi đi lính rồi những lần về phép thăm nhà thì anh dẫn PTV đi chơi đây đó trong nội đô Sài Gòn. Có khi ghé quán Mai Hương ăn kem hoặc vào rạp chiếu bóng xem phim. Có bữa phim chiếu thì vẫn chiếu mà anh cứ ngủ vùi trong ghế. Hỏi thì anh trả lời ngủ để bù cho những đêm thức trắng ở đơn vị. Những lần đi chơi như vậy, hễ PTV thích món gì thì anh liệu đủ tiền sẽ mua ngay mà không hề hỏi lý do tại sao. Đòi cây bút máy Pilot ngòi vàng, anh cũng mua cho lại còn dẫn đến chỗ người khắc, khắc tên PTV vào thân bút nữa.

 

Trong xóm có nhà anh Hành là gia đình đáng cho PTV để ý hơn cả các gia đình khác vì có các sự khác biệt. Thứ nhất, nhà anh Hành tuy là một căn nhà lợp tranh vách đất trông bình thường như các căn nhà khác chung quanh nhưng lại có rất nhiều sách tiếng Pháp bên trong. Thêm vào đó nhà anh Hành còn có cả một khu vườn rộng trồng đủ loại cây ăn trái từ khế ngọt, ổi, na, hồng quân, mít, xoài, chuối… Mẹ anh Hành cứ lâu lâu hái một số trái cây nhà rồi mang ra bán ở chợ. Cũng vì bán trái cây nhà mà mẹ anh Hành với mẹ PTV gặp mặt nhau ở chợ rồi quen biết nhau. Từ các người mẹ mà PTV và anh Hành làm bạn với nhau lúc nào cũng không nhớ. Chỉ nhớ nhất là những khi đến chơi trong khu vườn của gia đình anh, một khu vườn lúc nào cũng mát rượi kể cả những buổi trưa hè và đầy trái cây chín. Muốn ăn trái gì thì tự ý hái lấy nhưng phải cẩn thận khi trèo cây. Hầu như PTV chỉ ăn ổi và hồng quân thôi. Ổi nhà anh Hành có loại ruột hồng, ruột trắng và đều rất ngọt. Anh Hành chỉ ăn những trái ổi nào bị giống dơi nhấm dở. Lúc đầu khi thấy anh Hành hái trái ổi bị dơi nhấm rồi dùng dao gọt bỏ phần thừa đi trước khi ăn thì PTV nghĩ do anh tiếc mới làm vậy nhưng sau nghe anh bảo là những trái cây do dơi nhấm, ăn rất ngon. Anh nói khi đưa cho PTV một nửa quả ổi đã gọt bỏ phần thừa.

– Dơi đánh hơi biết trái nào đã thật chín nó mới ăn. Đêm tối giống dơi có thấy gì đâu, nó phân biệt được trái ngon là nhờ cái mũi. Vũ cứ ăn thử đi sẽ thấy lời mình nói.

Trái hồng quân nhỏ như hòn bi thủy tinh mà lại mọc ở một cái cây thật to. Muốn hái phải có sào lồng luồn vào chùm quả mà rứt. Trước khi ăn còn phải dùng tay mà vò cho mềm nữa. Anh Hành bảo có vò trước khi ăn thì mới ngọt chứ không sẽ chát lừ, hết ngon. Lần đầu tiên khi theo anh Hành vào nhà để anh giới thiệu với ba của anh, PTV đã ngạc nhiên vì ông trông rất già. Về hỏi chuyện với mẹ thì bà bảo mẹ anh Hành là người vợ lẽ của ba anh, nguyên là một nhân viên thời còn thực dân Pháp. Đó cũng là lý do người trong xóm gọi ba anh Hành là ông Phán. Thứ hai, ông Phán tuy người Việt rõ ràng nhưng lại có Pháp tịch và hiện tuy ông không còn sức làm việc được nhưng cứ vài tháng, mẹ anh Hành lại đến bưu điện trung tâm Sài Gòn gần nhà thờ Vương Cung Thánh Đường để lãnh chi phiếu tiền hưu từ bên Pháp quốc gửi sang cho. Nhờ vậy, tại sao gia đình ba mẹ của anh Hành không cần phải làm lụng gì mà cũng sống an nhàn.

Hai điều trên trong nhà anh Hành đã là một việc lạ cho dân trong xóm nhà thời đó của PTV. Nhưng đó cũng chưa hết khi sau này làm bạn khá thân với anh thì PTV còn biết thêm một điều nữa là ba anh Hành còn hút thuốc phiện. Cái điều này mới khiến cho dân trong xóm xầm xì nói nhà anh Hành tuy mái tranh vách đất nhưng là dân giàu ngầm. Chưa bao giờ PTV thấy ba anh Hành hút thuốc phiện cả nhưng đã được ngửi mùi thuốc từ trong nhà bay ra sân. Cái mùi hay nói đúng hơn là khói thuốc phiện đó nó rất ngọt mũi và không lẫn với bất kỳ mùi khói hay mùi hương nào nếu như ai đã từng có lúc ngửi được. Mẹ PTV thì nói nghe người ta bảo dân nghiện thuốc phiện sẽ có làn da bủng, môi thâm xì và không dám tắm thường xuyên vì sợ nước. Đến nhà anh Hành chơi, PTV thấy ba anh đang đọc một quyển sách tiếng Pháp nên lân la đến xem và nhờ vậy mới thấy ông cụ có nước da trắng như người bình thường và làn môi không thâm như lời người ta truyền khẩu. Mẹ PTV nghe kể thì bảo có lẽ do ba anh Hành giàu, hút thuốc phiện loại nguyên chất, không phải hút thuốc sái rẻ tiền nên hình hài ông mới được như vậy. Có một dịp đến chơi nhà anh Hành vào buổi cuối năm thì thấy mẹ anh pha chậu nước nóng cho ba anh tắm dưới gốc cây xoài gần cái bể cạn chứa nước tưới cây. Gọi là tắm nhưng ông cụ chỉ lấy tấm khăn lông nhúng nước trong chậu rồi cứ thế mà lau qua loa khắp người là xong việc.

Ông Phán tắm giống như kiểu người ốm dở lâu ngày, chỉ lau sơ sài mà không chút xà phòng làm sạch thân. Sau này lớn hơn một chút thì PTV còn nghe người khác nói dân nghiện thuốc phiện sợ nước nên ít tắm lắm.

Trong vườn nhà anh Hành, gần bụi tre tàu nơi góc vườn có một mái nhà lợp tranh nho nhỏ gần như bỏ hoang, PTV có lần bước chân vào mái nhà đó thì thấy hai bên vách là hai dãy lồng thấp bằng cây giống như kiểu chuồng nuôi gà. Lại gần xem kỹ thì không phải vì có những ngăn nhỏ ở trong hai dãy lồng này. Nếu để nuôi gà thì mỗi ngăn chỉ vừa chỗ cho một con là cùng. Những ngăn đó lại có các hộc bé hơn treo ở phía trước nằm lồi ra bên ngoài và cũng chẳng thấy có máng đựng cám hay cóng chứa nước như trong chuồng nuôi gà. Trước đây chắc các lồng này đã từng nuôi giống vật nào đó vì vẫn còn dấu vết  là các viên phân nhỏ, rau cỏ khô quắt… nằm sót trên nền đất của phòng. Hỏi thì anh Hành bảo đây là chỗ gia đình để nuôi thỏ nhưng giờ thì bỏ không. Nghe anh Hành nói thì PTV nghĩ đến hình ảnh con thỏ rừng lông trắng có hai cái tai dài cùng đôi mắt bi đỏ long lanh hiền khô đang nhấm mẩu cà rốt trong cái chuồng sắt ở Thảo Cầm Viên của một chuyến đi chơi từ trước nên hỏi:

– Sao nhà Hành không nuôi thỏ nữa… Hồi đó mình mà biết sẽ bảo mẹ cho tiền mua một con mang về nuôi. Mình thích thỏ lắm.

Anh Hành bảo nhà không nuôi thỏ nữa vì ít người Việt chịu ăn thịt thỏ. Làm thịt thỏ phải lột da, tránh không ướt nước… đã thế lại còn nấu bằng rượu vang hoặc bằng bia la de nên phiền phức lắm. Anh còn bảo những cái hộc treo lồi ra bên ngoài chuồng là để cho thỏ mẹ khi đẻ sẽ nhẩy vào đấy mà sinh con. Chuồng thỏ do ông Phán xem kiểu chỉ dẫn trong sách chăn nuôi của Pháp rồi gọi thợ đến nhà đóng cho. Căn nhà tranh nhỏ đó bỏ không cả bao lâu cho đến những năm về sau thì được gia đình anh Hành sửa lại để nuôi chim cút nhưng cũng chỉ trong một thời gian ngắn lại phải ngưng vì lỗ do chim cút bị xuống giá, không thấy ai nuôi nữa

 

Mùa hè được nghỉ học thì có năm mẹ cho phép PTV theo cô Chi xuống nhà người bác ruột ở vùng Hóc Môn-Gia Định có tên là Thành Ông Năm. Cái thành này do người Pháp, bọn Tây đen xây từ trước và thời kỳ PTV có mặt thì không còn người lính ngoại quốc nào đóng trong đó nữa. Ở Ngã Ba Bà Quẹo thì PTV đã quen mắt vì anh Trung vẫn thường đèo xe đạp chở PTV đến đây để xem máy bay trong phi trường Tân Sơn Nhứt bay lên hoặc bay xuống như kể trên. Phi trường có hàng rào kẽm gai tới cả chục lớp chung với các lô cốt nơi này nơi kia và một cái cổng khá rộng nằm ngay bên sát vệ đường mà lúc nào cũng đóng kín. Cái cổng này chỉ những năm sau mới mở để những đoàn xe nhà binh chở đầy lính Mỹ từ trong phi trường chạy ra. Có khi hai anh em PTV thấy những chiếc máy bay hai đầu là hai chong chóng như hình chữ V trông rất lạ hoặc máy bay trực thăng bay xa xa y hệt một con chuồn chuồn. Về nhà bác Cả thì phải bằng xe đò mà lần đi nào về Hóc Môn thì PTV cũng thích ngồi gần bên cửa sổ để ngắm cảnh vật hai bên đường. Xe đò thời đó chạy rất chậm chứ không nhanh như thời sau này. Bên đường cứ có chỗ nhà dân ở thì sau đó lại là những cánh đồng lúa hoặc rừng thưa, bãi tha ma và rồi là các đồn bót, trại lính. Ở Thành Ông Năm có mấy xứ đạo Thiên Chúa của người miền Bắc di cư vào từ hồi 1954. Các xứ đạo Thiên Chúa ở đây lấy tên ghép của quê gốc ngoài Bắc chung với địa danh tại đây mà thành như Bùi Môn, Phát Môn, Bắc Đoàn, Sơn Lộc, Châu Nam, Nam Hưng…

Bác ruột của PTV tên là Phong nhưng người trong họ hàng lại gọi là bác Cả.  Không hiểu do đâu mà những người làm nghề may quần áo, hớt tóc, xây cất… đều được dân di cư miền Bắc gọi chung cái tên là Phó. Bác Cả làm nghề may quần áo và người bên ngoài gọi là bác Phó giống y như ông Tuất làm nghề hớt tóc trong khu phố gia đình PTV ở, cũng được người trong xóm gọi giống như vậy. Bác Phó Tuất. Hai chị gái con bác Cả cũng biết nghề may quần áo như bố mình. Nghề bác làm thì chắc đã từ lâu lắm vì ba người con của bác đều sinh từ ngoài Bắc cả. Anh lớn nhất tên là Phú còn hai chị có tên là Nụ và Ti. Cũng có người thì lại gọi bác Cả là bác Phú, cái tên của con trai bác. Nhà bác cũng có một cái vườn nhưng không rộng như vườn của nhà anh Hành. Trong vườn chỉ có vài cây mít, ổi, na, chuối… được trồng ở sát cạnh vườn và phần đất lớn nhất ở chính giữa thì để cho bác Cả gái cùng hai chị trồng rau mang đi bán ở cái chợ gần nhà. Sau này bác Cả gái còn nuôi thêm cả lợn, gà nữa. Mẹ vẫn bảo trong họ hàng ruột thịt của ba PTV thì chỉ có gia đình nhà bác Cả là khá giả nhất. Anh Phú lớn tuổi hơn cả tuổi anh Trung của PTV và anh học nội trú trong nội đô Sài Gòn. Thỉnh thoảng hoặc đến mùa nghỉ Hè thì anh Phú mới về nhà và vì vậy mỗi khi có PTV lên chơi, anh rất vui, thường kéo vào cái phòng của riêng anh ở mé sau nhà và mở máy hát dĩa cho nghe. Loại máy hát dĩa của anh thì PTV chẳng còn nhớ nó chạy được bằng cách lên dây thiều hay bằng pin nữa vì thời kỳ đó vùng dân cư Thành Ông Năm này chưa có điện. Điện chỉ có ở trong trại lính Thành Ông Năm thôi nhưng cũng chỉ đến 11 giờ khuya thì lính cúp điện làm cảnh vật tối thui một mầu đen. Dân có công việc đi ra ngoài đường giữa đêm khuya thì trong tay phải cầm đèn dầu soi đường. Dĩa hát cái mầu đỏ mầu đen làm bằng nhựa mỏng dính và đều là dĩa nhạc. Mỗi khi anh Phú muốn nghe thì phải lấy cái chổi lông nhỏ quét sơ bề mặt dĩa trước khi gắn nó vào máy. Anh Phú cũng chẳng có nhiều dĩa nhạc nên PTV vẫn còn nhớ ít lời ca sĩ hát trong các dĩa này như: ”  Người từ là từ phương Bắc, ghé qua giòng sông, sông dài tìm đến nơi này một nhà thân ái… Từng đêm lại từng đêm, tâm sự em gói trọn mấu áo trận của người miền xa nặng ba lô bóng hình em nhỏ. Để tìm vui giữa núi rừng sương lạnh chưa tan. Thư mấy hàng mà không dám đọc để cho giờ tóc liễu còn giận… Đêm nay xa lộ không đèn, dạy em tập lái Vespa một mình…”. Cũng có lúc máy hát lại đoạn cũ làm anh Phú phải lấy tay nhấc cần kim quay trên dĩa cho nó qua tua. Không nhấc kim lên thì máy cứ hát đi hát lại đoạn này mãi.

Thường thì PTV chỉ đến nhà bác Cả một hai tuần lễ nhưng có năm lại ở nguyên cả mùa Hè cho tới ngày gần khai trường mới quay trở lại nhà. Cô Chi thì học cắt quần áo do hai chị Nụ, Ti chỉ dẫn. Những buổi chiều rảnh rỗi thì cô Chi và PTV ra vườn phụ gia đình bác Cả trồng rau. Phụ đây là ngồi nhặt cỏ, tỉa bỏ rau thừa, múc hộ nước từ cái ao xi măng cạn đến các luống rau để cho hai chị tưới ướt hoặc bó rau cho gọn để sáng gánh ra chợ bán. Bữa cơm nào thì hai chị Nụ, Ti vẫn hối PTV và cô Chi ăn thêm thức ăn. Sở dĩ gia đình bác Cả chăm sóc chu đáo cho PTV và cô Chi là do tình thân ruột thịt của họ hàng. Nhà bác Cả chỉ có mình anh Phú là con trai nên rất thương PTV khi đến ở. Hai chị Nụ, Ti hợp với cô Chi thành một nhóm ba người đi đâu cũng có mặt chung cùng những chị khác của các gia đình quen biết trong xứ đạo. Anh Phú thương PTV y như anh Trung vậy. Có những quyển truyện hình, các hòn bi ve nhỏ, cái dàn ná thun bắn chim… của anh chơi từ mấy năm trước cũng mang ra cho PTV làm quà. Có những buổi chiều trời mát, anh lấy chiếc xe đạp khung ngang ra khỏi nhà, đèo PTV đi gần như khắp cả vùng Thành Ông Năm. Anh bảo Ông Năm là tên gọi cấp bậc của người chỉ huy cái thành lính ở đây mà nên địa danh cho cả vùng. Thành lính này rất rộng, chỉ có mặt trước của thành giáp với khu chợ, các xứ đạo Thiên Chúa là còn thấy nhà cửa, vườn tược của dân chúng chứ ở mặt sau thì hầu như vẫn là rừng hoang. Có một ngôi chùa tên Hoàng Pháp do phật tử di cư từ miền Bắc lập nên ở mé bên cạnh của thành lính. Chỉ có con đường mòn từ cổng chùa hướng ra đường đất đỏ nối với quốc lộ mới có gia đình phật tử ở chứ xung quanh chùa vẫn còn là rừng hoang. Con đường đất đỏ này nối với quốc lộ trải nhựa về hướng Củ Chi-Hậu Nghĩa thì thành một cái ngã ba khá rộng đầy những cây sao đen cổ thụ như một khu rừng nhỏ. Gần chỗ những cây sao đen có một cái cân bằng xi măng thật lớn dành để cân các xe vận tải khi lưu thông qua. Phía bên kia con đường nhựa là một tiệm ăn khá lớn gần hàng cây trôm cao to, xanh rì lá. Cây trôm có chất nhựa trắng đóng thành cục bên thân mà người ta thường lấy nó ngâm vào nước để khi nở thành các cục trong suốt, pha uống chung với nước đá hòa đường cát cho mát. Người ta gọi ngã ba này là Hồng Châu, cái tên của tiệm ăn ở đây. Anh Phú còn chở PTV đến gần bên các bờ đất khá cao trồng đầy tre tầm vông mà anh bảo hồi trước là vòng rào bao quanh của ấp chiến lược cũ nhưng giờ đã bị dỡ bỏ. Dưới những hào nước bên ngoài bờ rào, vẫn còn lởm chởm một ít các ngọn chông tre nhọn hoắt. Qua khỏi bờ hào là các mảnh ruộng trồng đậu, dưa leo, khổ qua… và xa hơn là cánh đồng lúa trải dài tít tắp. Anh Phú bảo bên ngoài đồng lúa là các cánh rừng thưa đầy cây hoang không một bóng người ở và cũng chẳng ai dám héo lánh đến đó. Ngã ba Hồng Châu có hai ấp chiến lược, ngăn cách bởi quốc lộ trải nhựa. Chiến lược là tên người ta gọi nhưng thực tế thì PTV thấy vẫn cổng vào ấp ghi hàng chữ Ấp Tân Sinh. Lính trong Thành Ông Năm thường đóng chốt canh gác ở dưới gốc những cây sao ở ngã ba Hồng Châu này cả ban ngày lẫn ban đêm.

– Dân sống trong ấp chiến lược hầu như là người địa phương trong này mà dân Bắc mình gọi là làng Nam. Người Bắc di cư lại ở khu chợ gần thành lính hoặc trong các xứ đạo thôi. Hồi trước hai ấp chiến lược đều có trạm gác nhưng từ khi bị phá bỏ, dân làng Nam ra vào tự do thì thỉnh thoảng Việt Cộng lại mò về. Anh Phú bảo.

– Việt Cộng ở đâu ra hả anh? PTV hỏi.

– Anh không biết… Người ta bảo họ ở trong chỗ rừng tận tuốt đàng xa kia.

Nhà thờ, nhà dân ở xứ đạo chỉ làm gần mặt đường thôi… còn đi vô hơi sâu bên trong thì vẫn nguyên những hàng cây cao su thẳng tắp. Chỗ nào không có những hàng cao su thì là những đoạn rừng um tùm cùng các lùm bụi, bãi lầy đầy cỏ hoang hoặc mồ mả từ xa xưa.

 

Có một đêm khuya, đột nhiên vang nhiều tiếng súng nổ làm trong nhà ai cũng sợ. Sáng ra thì hai chị Nụ, Ti và cô Chi rủ  PTV đi xem Việt Cộng cho biết. Việt Cộng là xác của một người đàn ông nằm gần bên chỗ cân xe dưới gốc một cây sao lớn ngay tại ngã ba Hồng Châu này. Người chết chỉ mặc một quần đùi, tóc cắt ngắn và đi chân không. Một vết thương lớn ở trên đầu cùng những lỗ nhỏ đây đó trên thân ông ta mà những người đứng xem cạnh PTV nói do vết đạn bắn vào. Nhìn xác người chết đó ghê lắm vì các vết thương bầm máu, ruồi vo ve đậu vào ở các phần thịt đỏ. Xác nằm mãi mà không thân nhân đến nhận thì sau cùng, các người lính mới bó chặt vào trong một cái chiếu cói rồi đem chôn ở một bãi đất trống gần các thửa ruộng sát bên ngã ba. Chôn rồi nhưng chỉ mấy bữa sau, vào buổi sáng dân báo cho lính gác biết mộ này đã bị quật lén giữa khuya và bây giờ không còn xác chết trong đó nữa.

Anh Phú còn đèo xe chở PTV đến một hãng thuốc lá ở sau xứ đạo Châu Nam. Xung quanh hãng là vùng đất rất rộng trồng đầy cây thuốc lá trong các luống thẳng tắp. Anh Phú bảo hãng thuốc lá có chủ là người Pháp nhưng khi họ về nước đã nhượng lại cho người Việt Nam. Giáo dân xứ đạo thành công nhân của hãng thuốc lá. Dân làng Nam vẫn là chủ các thửa ruộng trồng thuốc lá, anh nói:

– Vũ biết lá thuốc lớn vậy nên khi mang về người ta phải cắt bỏ cọng cứng rồi cuộn tròn đem ủ. Ủ rồi lại cắt chỉ thành các sợi nhỏ xong đem tẩm thêm các thứ khác nữa thì công nhân mới vấn thành các điếu thuốc như trong các gói giấy bán ở tiệm nước. Công phu lắm mà hút có chốc lát thì điếu thuốc thành khói thành tro hết cả.

Bố mẹ của anh Phú đều có hàm răng nhuộm đen trong khi bố mẹ của PTV lại răng trằng. Sau này hỏi thì mẹ mới cho biết là cả bố lẫn mẹ đã đến tiệm răng trong vùng Chợ Lớn để thuê nha sĩ mài bỏ lớp nhuộm đó đi. Mẹ có lần kể với PTV cùng cô Chi là khi nhuộm răng đen cực lắm. Nhuộm đi nhuộm lại thì răng mới có màu đen hạt na, miệng mồm sưng hết cả… chỉ húp cháo thôi. ” Con gái không nhuộm răng, để răng trắng thì người ta bảo là răng chó… ai mà lấy “, mẹ kể vậy. Cũng vì cạo đi lớp bọc mầu đen mà sau này răng của bố mẹ PTV bị hư sớm phải làm răng mới. Hai bác Cả đến tận khi chết vẫn còn nguyên hàm răng đen nhánh trong miệng.

Có buổi trưa trong nhà ít việc thì anh Phú chạy xe đạp đi gọi cho bố những người khách đến chơi đánh Chắn trong nhà. Chắn đây là Tổ Tôm, một loại bài mà bây giờ PTV thấy hầu như không còn mấy ai biết chơi nữa. Mỗi lần có vụ đánh Chắn đó thì PTV làm nhiệm vụ chia bài sẵn vì nhà bác Cả có hai bộ bài. Cứ xong mỗi ván bài Chắn thì PTV đẩy cái dĩa có năm tụ bài đã chia rồi vào giữa chiếu ngồi của hội Tổ Tôm. Các lá bài của ván vừa xong thì PTV gom gọn, xốc đều rồi chia dành sẵn cho ván mới. PTV vẫn còn nhớ những lá bài đó có hình con cá, trái cây, phụ nữ, đàn ông, thuyền… cùng chữ Tàu hay chữ Nhật ở trên. Chơi ăn tiền nên cứ dứt mỗi ván thì người thắng thưởng cho PTV một đồng bạc kim loại nhỏ mà tới bây giờ thì thực sự không còn nhớ rõ giá trị. Bài chia làm năm cho mỗi người chơi một tụ, còn lại tụ cuối để rút từng lá bài khi đến lượt. Ù, chạy, phỗng…  là những tiếng PTV nghe trong các lần chia bài đó nhưng chẳng hiểu nghĩa. Chỉ biết là bản thân PTV được tiền nhờ ngồi chia bài là thích thôi. Khách chơi đánh Chắn với bác Cả đều là dân Bắc di cư sống trong vùng như ông lang Diễn bốc thuốc Bắc, ông Phó Thịnh làm nghề chụp hình, thầy Suy dạy học, cụ Giang và ông trùm Tuấn trong xứ đạo Thiên Chúa. Ông lang Diễn, cụ Giang và ông trùm Tuấn cũng có hàm răng đen như bố mẹ của anh Phú, còn ông Phó Thịnh và thầy Suy thì để răng trắng.

 

Có lần PTV theo chân anh Phú đến tiệm nhà của cụ Giang ở dưới phố chợ để xem khách chơi thục bi da. Thực ra thì tiệm bi da này là của người con trai cụ Giang. Trong tiệm chỉ có hai bàn bi da thôi nhưng lúc nào cũng đông khách là các người lính trong Thành Ông Năm. Tiệm bi da thì PTV không lạ vì trong khu phố nhà của PTV ở trên Sài Gòn cũng có một tiệm như ở đây. Buổi chiều nào khi trời chập choạng thì nhà cụ Giang đã phải đốt hai cây đèn Măng sông để có ánh sáng cho tiệm rồi. Chơi bi da là dùng một thanh gỗ khá dài gọi tên cây cơ để thục quả bi trên bàn bọc vải cho chúng đụng vào nhau nên còn gọi là thục bi da. Chơi bi da thường là kiểu có ba quả bi nhưng cũng có khi PTV thấy khách chơi loại bi da có các cây ky, cây dù bằng gỗ nhỏ dựng đứng cố định ở trên bàn bọc vải nữa. Đây là thục bi da dù và khách chơi phải móc lấy số riêng cho mình. Số là điểm của người khách đó. Khách khi thục quả bi da lỡ làm đổ cây dù hay chơi vượt quá số điểm mình cầm trong tay thì coi như thua. Tường chung quanh căn phòng có đặt hai bàn bi da của nhà cụ Giang được dán nhiều tờ giấy viết chữ Tàu. Một trong các tờ giấy đó làm PTV nhớ cho tới bây giờ vì ở dưới mỗi chữ Tàu có chú thích bằng chữ Việt. Các chữ Việt đó là Tửu Trung Bất Ngữ Chân Quân Tử-Hà Thượng Thanh Minh Thị Trượng Phu.

 

 

Bài Thơ Hồ Trường và tác giả Nguyễn Bá Trác

Tags

Có người nói: Nếu nữ giới xính thơ (thích thơ) ưa bài Hai Sắc Hoa Ti-gôn của T.T.KH, có tính cách than phiền vì chưa được (chồng) đối xử đúng mức như trong câu: “… Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời, Ái ân lạt lẽo của chồng tôi… “, thì nam giới lại ưa bài Hồ Trường và trong các chiếu rượu, đã không ít người ngâm nga: “… Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu… Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường… ”

Một thực tế là bài thơ Hồ được nhiều người biết nhưng lại không… thuộc cả bài lẫn thân thế tác giả cùng lý do ra đời của nó. Có người khi ngâm nga nó, đã đọc… sai, thiếu hoặc lẫn lộn vị trí các câu thơ trong bài.

Hồ Trường, chữ Hồ 壺 thuộc bộ Sĩ mang nghĩa cái bầu hay cái bình dùng để chứa chất lỏng và chữ Trường 觴  (hay còn đọc là Thương trong tiếng Tàu) thuộc bộ Giác mang nghĩa chén đựng rượu. Nguyễn Bá Trác, tác giả Hồ Trường sinh năm Tân Tị (1881) và bị giết chết vào năm Ất Dậu (1945), có hiệu là Tiêu Đẩu, người làng Bảo An huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Năm Bính Ngọ (1906), ông thi đậu Cử Nhân và sau đó hưởng ứng phong trào Duy Tân, Đông Du nên đã sang Nhật Bản du học. Khi chính quyền Nhật Bản thỏa hiệp được với thực dân Pháp, ông đã bị trục xuất và phải đào tị sang nước Tàu (Trung Hoa). Chính trong thời gian bôn ba bên Tàu, ông đã sáng tác ra bài thơ Hồ Trường.
465825cb-34ab-4ca8-837c-37fe34cf471e_zpswxcd6alj

Có là người phải sống trong cảnh bôn ba nơi xứ người, chúng ta mới thấu nỗi vô định của những chàng trai mưu cầu việc lớn nhưng việc lớn lại cứ xa vời nên đành mượn rượu mà gửi lời tâm sự. Chính Nguyễn Bá Trác đã viết trong Hạn Mạn Du Ký: ” Loanh quanh trong nước một năm, rồi tạm trọ ở Xiêm La (Thái Lan) hơn 10 ngày, khách (tác giả Nguyễn Bá Trác) qua Nhật Bản một tháng rồi lại quay về Trung Hoa, bao nhiêu thương phụ to, tỉnh thành lớn như Ba Thục (miền Tây), U Uyên (đất Bắc), Quế Việt (cõi Nam)… đều là chỗ mình có để ít nhiều vết xe dấu ngựa “.

Tình cảnh Nguyễn Bá Trác tương tự hoàn cảnh các thanh niên yêu nước của thế hệ ông và cả các thế đi sau. Chí cao vời vợi, nhiệt huyết sôi sục vì công cuộc cứu nước nhưng để sau cùng: Kẻ trôi nổi phiêu bạt hoặc bỏ xác nơi xứ người, người sống thì như một kẻ lưu vong (quê hương còn đó nhưng đâu về được) hoặc đau đớn thay, có người lại trở về nước hợp tác với chính quyền là thực dân Pháp.

Tình cảnh đó đã tạo ra tâm trạng buông trôi sống trong men rượu, khói thuốc và chí lớn đổ vào… hồ trường.

Tuy là tác giả bài thơ (hay bài ca) nổi tiếng như vậy nhưng hầu như không ai xếp Nguyễn Bá Trác là nhà thơ mà coi ông như một nhà văn qua những bài báo ông viết trên tờ Nam Phong Tạp Chí (từ năm 1917-1932) cùng các tác phẩm: Hoàng Việt Giáp Tí Niên Biểu, Hán Học Văn Học Khảo và nhất là một thiên ký sự có tên Hạn Mạn Du Ký được độc giả khi đó hết sức tán thưởng. Một tập du ký kể chuyện xuất dương qua Nhật Bản, Tàu cầu học nhưng sự học chưa có kết quả mà cái hy vọng cứu quốc cũng thành chuyện viển vông.

Khi về nước, Nguyễn Bá Trác đảm nhiệm chức vụ chủ bút về Hán Văn trong Nam Phong Tạp Chí rồi sau đó vào Huế làm Tá Lí Bộ Học, ít lâu ông được thăng chức Tuần Phủ Quảng Ngãi rồi Tổng Đốc Thanh Hóa, Bình Định.

Cũng có người lại nói nhân trong một chiếu rượu, khi nghe một người bạn Tàu (Nguyên Quân) hát nghêu ngao mấy câu thơ Cổ Phong mà Nguyễn Bá Trác đã cầm bút lên dịch và thành bài Hồ Trường.
Hồ Trường được đăng đầu tiên trên tờ Nam Phong Tạp Chí rồi sau đó đã được nhiều thế hệ thanh niên sao đi chép lại nên đã không tránh khỏi chuyện dị biệt. Dưới đây là 4 bản Hồ Trường mà tác giả bài viết này (PTV) sao lục để quý bạn đọc so sánh.

 

nam-phong-tap-chi1_zpscy0lnjbc

 

7b0ed7013abf43eea7dc47ec74bbb12c_zpsfe2ivhkx

1. Bản in trong trang 327, quyển VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ GIẢN ƯỚC TÂN BIÊN (NXB Anh Phương, Sài Gòn năm 1965) của giáo sư Phạm Thế Ngũ.

Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương.
Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương.
Học chẳng thành công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.
Rót về Tây phương, mưa Tây rơi từng trận chứa chạn
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nào ai tỉnh, nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

2. Bản đăng trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật (trong nước) số… năm 1998.

Trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường.
Hà tất tiêu dao bốn bể, xuân lạc tha hương.
Trời Nam nghìn dặm thẳm, mây nước một màu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn
Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta at hay
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây?

3. Bản in trong báo Thế Kỷ 21 (Hoa Kỳ), trang 8, số 115 ra tháng 11 năm 1998.

Trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường,
Hà tất tiêu dao bốn bể, lưu lạc tha phương.
Trời Nam nghìn dặm thẳm, non nước một màu sương
Chí chưa thành, danh chưa đạt, trai trẻ bao lăm mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang ai người tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn.
Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan.
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát giương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

4. Bản in trong quyển Chơi Chữ của tác giả Lãng Nhân-Phùng Tất Đắc, trang 75 (Sài Gòn-1970)

Trượng phu đã không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
Sao lại tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương?
Trời Nam nghìn dặm thẳm; mây nước một màu sương.
Học không thành, công chẳng lập, Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc; trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi: Trời đất mang mang, ai là tri kỷ? Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng-lạn.
Rót về Tây phương, mưa Tây-sơn từng trận chứa chan;
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút, đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say?
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nào ai tỉnh , nào ai say?
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây!

Ngồi ghế Tổng Đốc Bình Định, Nguyễn Bá Trác bị Cộng Sản bắt và xử bắn công khai tại Qui Nhơn trong giai đoạn Cách Mạng Tháng Tám năm 1945.

Văn nghệ sĩ miền Bắc trong chế độ Cộng Sản hầu như không biết đến bài Hồ Trường chỉ đến khi nó xuất hiện trên trang báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật. Họ đọc, thích và học thuộc rồi từ đó, trong các bữa nhậu bên quê nhà, ta mới thấy cái hơi… hồ trường khè ra trong men bia, rượu. Theo một nữ độc giả cho người viết bài này (PTV) biết tại sao nam giới lại thích bài Hồ Trường khi ngâm nga nó trong các… chiếu rượu? ” Ông mãnh nào lại vừa ý với những gì mình có, mình đạt được “, người này nói vậy.

ai la tri ky

Bài thơ (hay bài ca) Hồ Trường rất hay nhưng có người lại cho PTV chớ nên học thuộc, ngâm nga vì cái tư tưởng yếm thế và sợ nó… vận vào số phận của mình.

Phạm Thắng Vũ

Last edited by Pham Thang Vu on August 07, 2016.

 

Thi Sĩ Vũ Anh Khanh Và Bài Thơ Hận Tha La.

Tags

(Bài viết này thì Phạm Thắng Vũ (PTV) viết từ tháng 12 năm 2010 nhân nay nghe lại bài hát Hận Tha La nên mới lục trên Net và post nó trở lại trong trang fb của mình).

Bạn thân mến;

Nếu bạn từng sống ở Sài Gòn và thường có lúc đi rảo mua sách thì chắc phải biết đến con phố sách báo cũ mang tên Đặng Thị Nhu thuộc phường Nguyễn Thái Bình, quận 1-Saigon. Lòng con phố hơi chật vì các quầy kiosk sách báo nằm đối diện, kề sát nhau và chỉ để một lối đi ở chính giữa cho khách (có khi dẫn xe máy đi cùng) ra vào. Một đầu con phố tiếp với đường Ký Con và đầu phố còn lại thông ra đường Calmette. Anh Hữu, một người bạn lớn hơn PTV cả chục tuổi mà nhân trong một lần đi vượt biên chung, đã quen nhau, có một kiosk bán sách ở con phố này và cả nhà dùng nó như một phương tiện mưu sinh sau cuộc đổi đời tháng 4 năm 1975. Nghề mua bán sách báo cũ, coi lèng xèng vậy mà kiếm ăn rất ngon chỉ kẹt cái là đọng vốn nhưng khi có khách cần đến thì cầm chắc có lời. Sách báo cũ được mua đi rồi bán lại ngay tại chỗ và chủ kiosk nào cũng có những mối quen trong nghề. Mối đây là người đến tìm mua sách về để họ bán lại và thường họ ở xa đâu đó ngoài miền Trung, thậm chí có mối ở tít tận Hà Nội. Mối cũng là những người có sách do họ lùng mua được rồi mang bán lại cho chủ kiosk. Thỉnh thoảng gặp khách cho địa chỉ mời đến tận nhà để xem sách họ có và muốn bán. Các dịp như vậy, chủ kiosk thường mua được một lúc khá nhiều sách giá trị và tất nhiên, sẽ là một món lời. Anh Hữu vẫn từng đến những chỗ mà khách cho địa chỉ nằm trong nội đô Sài Gòn hay ở Chợ Lớn, vùng Bình Thạnh hoặc khu dân Bắc di cư Gò Vấp. Ngoài những tựa sách quen có tiếng hoặc vì đã từng được khách lùng mua nên biết, còn thường thì anh Hữu vẫn lúng túng mỗi khi cầm quyển sách lạ trong tay. Đó là lý do mà anh hay rủ tôi đi chung cho vui, để có người góp ý với anh về các tựa sách lạ. Có lần, anh rủ tôi cùng đi Tha La.
Tha La, cái tên tôi thường nghe qua các bài hát như Tha La Xóm Đạo, Hận Tha La… và cũng biết nó nằm đâu đó trong vùng Trảng Bàng-Tây Ninh nhưng chưa lần nào có dịp đặt chân đến. Nhiều vùng quê miền Nam có các địa danh thật lạ như Hóc Bà Tó, Chắc Cà Đao, Muồng Luông, Soài Cả Nãi và Tha La… dường như từ gốc Khmer mà ra. Theo địa chỉ đã có, tôi và anh Hữu trực chỉ hướng Tây Bắc đi Hốc Môn rồi vượt qua Củ Chi và đến thành phố Trảng Bàng lúc gần trưa. Từ Trảng Bàng, theo một con đường đất đỏ (cũng về hướng Tây) mà hai bên là các thửa ruộng, rẫy chung với nhà dân hoặc các đám rừng cây lưa thưa, chúng tôi đi về một xã có tên là An Hòa khoảng 6, 7 cây số gì đó thì gặp Tha La. Đây là một xóm nhỏ với những nhà lợp tranh, mái ngói và cả nhà tôn nằm thấp thoáng sau hàng cây ăn trái như mít, xoài, ổi và dừa. Tha La, một miền quê do khung cảnh và cũng vì con đường chính cùng các ngõ nhỏ đều là đường đất đỏ. Mùi rạ, mùi đất bùn cùng mùi lá tre và cả mùi mít chín thơm thoang thoảng trong gió. Có những ngõ nhỏ đan chặt các hàng tầm vông, tre hoặc trúc trông thật mát mắt. Loanh quanh một hồi, chúng tôi tìm được nhà của người có sách muốn bán nằm riêng một ngõ với hai hàng trúc bao thành lối đi mát rượi dẫn vào bên trong. Chúng tôi chạy xe thẳng vào sân của một căn nhà vách ván gỗ xập xệ lợp ngói có chỗ đã bong mất hở cả mè cây đỡ mái. Căn nhà có một bàn thiên chính giữa mặt tiền cùng những cây cúc ngày tím sẫm, hoa vạn thọ vàng chóe chung với bụi mẫu đơn đỏ thắm. Chủ nhà ở phía sau nghe tiếng động liền ra xem rồi nhận ra anh Hữu, ông mời chúng tôi vào trong và lấy các sách muốn bán ra bày trên bộ ván ngựa xưa cũ. Mới trông qua thấy toàn sách xưa, những quyển mà dân bán sách cũ đang kiếm, anh Hữu chộp ngay các quyển: Kim Cổ Kỳ Quan, Châu Về Hợp Phố, Mai Hoa Dịch Tân Biên, Vạn Huê Lầu, Đông Chu Liệt Quốc, Long Trùng Quyết Sách… và số còn lại (khoảng hai chục quyển) là loại thường nhưng anh Hữu cũng mua hết nói dùng làm sách bày cho có trong kiosk. Theo lời gia chủ, sách vừa bán là do từ gia đình (ông ngoại) để lại từ lâu, nay vì cần tiền đành phải bán. Đồ đạc bài trí trong nhà ngoài các trang thờ bằng gỗ, tủ cẩn ốc xà cừ chưng hình ảnh ông bà, bộ ván ngựa thì còn có các tủ danh mộc đã cũ. Một nếp nhà khá giả xưa còn sót lại đang trong cảnh sa sút. Tôi hỏi thăm gia chủ ít điều về Tha La thì được biết nguyên thủy Tha La tên gốc từ chữ Schla của Khmer có nghĩa là trại hoặc nơi nghỉ mát rồi không biết từ khi nào, người Việt đọc Schla thành Tha La và địa danh này tồn tại cho tới bây giờ. Tha La hiện thuộc ấp An Hội của xã An Hòa (có 8 ấp) thuộc Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và là một xứ đạo Thiên Chúa. Theo ông, từ thời vua Minh Mạng, dân theo đạo trốn chạy, lánh nạn vào đây (khi đó còn là rừng) rồi khai hoang lập ấp, xây dựng cuộc sống để bảo tồn nền đạo cùng niềm tin tâm linh. Ông cũng cho biết, trong Tha La nơi nhộn nhịp-trù phú nhất chính là khu vực dân cư sống chung quanh họ đạo gần ngôi thánh đường Thiên Chúa giáo. Cũng có một số người theo các tôn giáo khác như đạo Phật, thờ cúng ông bà… sống ở Tha La. Tôi hỏi thêm về bài hát mang tên Tha La Xóm Đạo, ông liền gật đầu rồi hát vài đoạn ngắn cho tôi cùng anh Hữu nghe như để khắng định và chỉ biết vậy, không hơn.

 

13495025_850420108397860_1726068069953970236_n

Chia tay với ông, chúng tôi chạy xe lòng vòng trong Tha La để biết thêm. Đến khu xóm đạo nơi đông dân cư nhất rồi vòng qua thánh đường là một nhà thờ vừa phải với tháp chuông cùng hang đá nằm êm ả dưới các bóng cây mát. Sau đó, tôi và anh Hữu dừng xe, nghỉ chân ở một quán nhỏ bán dừa tươi. Chị bán quán khi nghe tôi hỏi chuyện về Tha La Xóm Đạo, đã mau mắn lấy ra một băng cassette rồi dò tìm mở đúng bài hát đó. Vài khách đang ngồi uống nước trong quán cũng hát theo rành rẽ. Họ là dân ở đây, chắc vậy và họ đang hãnh diện vì có bài hát hát về địa phương mình. Ngay sau ngày 30-4, nhạc của miền Nam VNCH được chính quyền mới gọi bằng cái tên chung là Nhạc Vàng bất kể thể loại nào. Thực ra nhạc vàng (chiếm đa số) là các bài hát về tình yêu đôi lứa, về quê hương hoặc về nỗi niềm riêng tư nào đó… không thôi. Mà nếu vậy, các bài hát thời bây giờ như Lá Diêu Bông, Chị Tôi, Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa, Phượng Hồng, Tình Thôi Xót Xa… cũng là nhạc vàng và đó là lý do tại sao công chúng lại yêu thích loại nhạc này! Một khi bạn đã yêu đã thích nhạc vàng thì mỗi lần nghe nó, bạn sẽ nhớ đến quê hương nếu như bạn đang sống ở nước ngoài. Còn nếu bạn đang ở trong nước, hồi tưởng về tháng ngày hoa mộng cũ, những kỷ niệm (tùy từng người) sẽ lại về trong tâm tưởng bạn. Ngày hôm đó tôi cũng vậy, những lời hát tai đang nghe đã dẫn tôi về khung cảnh xa xưa của Tha La và tự dưng lòng tôi se sắt buồn. Tôi đã là người dân của Tha La xóm đạo.

… Tha La ơi! Xóm Đạo ơi! Còn đâu nữa chiếc áo ngày xưa
đành khép kín khoác vào bộ chinh y. Lòng hờn căm một chiều
xưa lửa dậy, nghe não nùng chưa? Tha La sầu quốc biến
Xóm Đạo chất hận thù!
… Đây Tha La đây Xóm Đạo hoang tàn
Mây trời vây quanh mầu tang khói lửa,
Bao năm qua Tha La còn trơ đó, đoàn người
đi giết thù đã hẹn thề từ dạo ấy, Long viễn
khách bồi hồi như thương tiếc mùa thu
nắng hanh vàng …
Trên đường về, tôi gặp một cụ già cởi trần gầy gò đang gánh một gánh dừa đi về phía quán nước. Cụ già với hàm râu trắng như hình ảnh trong bài thơ. Không biết thời bài thơ Hận Tha La ra đời, khung cảnh khi đó có giống như hiện tại? Vài bụi tre bị chặt trụi lũi bên đường trơ gốc cây mốc trắng và tất cả những mụt măng đã bị chủ gia cắt sớm để bán. Họ cần tiền cho một nhu cầu gấp rút nên không thể chờ măng thành tre được, y như chủ nhân căn nhà mà tôi và anh Hữu vừa ghé vào mua sách cũ gia đình để lại. Tha La là vùng đất lành, mầu mỡ do nguồn nước từ kinh Vàm Trảng dẫn từ sông Vàm Cỏ về tưới mát đất đai ở đây nhưng sao dân cư trong vùng vẫn mang vẻ buồn, hiu quạnh. Tôi cảm thấy… hay Tha La tự nó là như vậy.
Như nhiều bài hát nổi tiếng khác, Tha La Xóm Đạo được phổ từ một bài thơ của một thi sĩ và cũng là một người lính chiến thời chiến tranh Việt-Pháp. Đó là bài thơ Hận Tha La và tác giả là Vũ Anh Khanh. Tới tận bây giờ vẫn ít người biết về thân thế cùng số phận của nhà thơ Vũ Anh Khanh dù có thể họ vẫn hát bài hát Tha La Xóm Đạo. Vũ Anh Khanh có tên là Võ Anh Khanh nhưng cũng có người nói ông tên thật là Nguyễn Năm, sinh năm 1926 quê quán ở Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận. Ông sống ở Sài Gòn, có thơ-văn đăng trên các trang báo từ những năm cuối thập niên 1940. Nước Việt trong giai đoạn này, bị xáo trộn bởi các ảnh hưởng chính trị, thời thế quốc tế và từ các vận động của các tổ chức-đoàn thể trong các địa phương. Giai đoạn này cũng là sự thức tỉnh tự thân của giới thanh niên-trí thức trẻ (trong đó có các văn nghệ sĩ), đưa đến cuộc đấu tranh chống Pháp năm 1945. Người ra chiến khu, vô bưng hoặc về lại thành phố trong tinh thần ái quốc chống ngoại xâm và được một làn sương lãng mạn-thi vị nhưng hào hùng phủ lên. Người yêu nước, khởi đầu gia nhập hàng ngũ kháng chiến chỉ một ý nghĩ là giặc Pháp tiếp tục muốn đặt lại ách thống trị thì phải chống chứ chẳng hề vì lý tưởng đại đồng, CS gì và Vũ Anh Khanh là một người trong số họ. Là một chiến sĩ, đi qua nhiều vùng đất nước, mắt ông đã thấy nhiều cảnh chết chóc, nhà cháy, tang thương của xóm làng sau một trận chiến. Và, không biết trong một lần nào đó, ông đã có dịp dừng chân tại Tha La rồi khung cảnh của một xóm đạo thời ly loạn… đã gây một xúc động ghê gớm nơi ông, khiến ông sáng tác ra bài thơ (chúng ta hãy nghĩ vậy).

Hận Tha La là một bài thơ dài kiểu hợp thể. Đoạn mở đầu là Ngũ Ngôn rồi chuyển sang Tám Chữ, sau đó thành Kịch Thơ (đoạn giữa) và kết thúc bằng hai câu Thất Ngôn. Một bài thơ hay, có hồi có cảnh. Tiết tấu thay đổi với khung cảnh và khung cảnh thay đổi với các nhân vật trong bài thơ.
Xin mời quý bạn đọc, đọc bài thơ Hận Tha La

HẬN THA LA

Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh.
Ngậm ngùi Tha La bảo:
– Đây rừng xanh rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh.
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
– Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón?
– Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi:
– Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
Khách rùng mình, ngẩn ngơ lòng hiu quạnh.
– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.
– Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng:
” Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi đau đất nước lầm than. “
Trời xa xanh, mây trắng ngoẹn ngàn hàng,
Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.
Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La giận mùa thu,
Tha La hận quốc thù,
Tha La hờn quốc biến,
Tha La buồn tiếng kiếm,
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh.
Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thánh Cha!
Lạy Đức Thánh Mẹ!
Lạy Đức Thánh Thần!
Chúng con xin về cõi tục để làm dân…
Rồi… cởi trả áo tu.
Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
Rồi… nhẹ bước trở về trần…
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy dừng chân.
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi mà bẽ bàng?
Ơ… ơ… hơ… ờ… ơ… hơ… tiếng hát
Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc.
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ,
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay…
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
– Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
Và suối mát rừng xanh.
Xem đám chiên lành thương áo trắng.
Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh.

Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950, Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông gồm truyện dài như Nửa Bồ Xương Khô, Bạc Xíu Lìn, Cây Ná Trắc và truyện ngắn như Ngũ Tử Tư, Đầm Ô Rô, Sông Máu, Bên Kia Sông, Một Đêm Trăng… Các tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị, tiêu biểu cho dòng văn chương thời kỳ kháng chiến chống Thực dân Pháp ở Nam Bộ. Tuy vậy, hầu như nhiều người chỉ biết chỉ nhớ đến Vũ Anh Khanh với bài thơ Hận Tha La.

 

13427935_850419908397880_7970536679815729006_n

Năm 1954, Hiệp Định Geneva về ngưng chiến được thực hiện, chia cắt nước Việt làm hai, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Người dân miền Bắc (khoảng gần 1 triệu người) ồ ạt di cư vô miền Nam thì đổi lại cán bộ-chiến sĩ thuộc phe CS ở trong miền Nam được chuyển ra miền Bắc (gọi tên chung là tập kết). Có 3 khu vực tập kết là Hàm Tân-Xuyên Mộc, Đồng Tháp Mười, Cà Mau và không biết Vũ Anh Khanh tập kết tại địa điểm nào kể trên. Ông ra Bắc rồi đi dự Hội Nghị Các Nhà Văn Á Châu (HNCNVAC) tại New Dehli (Tân Đề Li-Ấn Độ) tháng 12 năm 1956. Tham dự hội nghị là phái đoàn của 16 quốc gia (gồm 14 quốc gia CS và chỉ 2 quốc gia tự do là Ấn Độ và miền Nam VNCH). Vũ Anh Khanh có mặt trong phái đoàn miền Bắc VNDCCH chung với nhà văn Nguyễn Công Hoan (tác giả Bước Đường Cùng, Đống Rác Cũ…). Lý do Vũ Anh Khanh được nhà cầm quyền miền Bắc khi đó cử đi dự đại hội HNCNVAC là vì công an không thấy ông trong cuộc tụ tập ở khu Trường Tiền-Hà Nội để phản đối sự chỉ huy văn nghệ của Đảng (nhân có phong trào Trăm Hoa Đua Nở-Trăm Nhà Đua Tiếng). Cuộc tụ tập đó do nhóm tập kết miền Nam phản đối các lãnh đạo CS Hà Nội. Sau khi dự đại hội HNCNVAC về, có lẽ đã thấy bộ mặt thật của chế độ CS tại miền Bắc nên khi Vũ Anh Khanh có giấy đi công tác (cách vài tháng sau) ở tỉnh lỵ Vĩnh Yên (phía Bắc Hà Nội) và thi sĩ đã sửa giấy công tác đó từ Vĩnh Yên thành Vĩnh Linh (một đặc khu tương đương cấp tỉnh), địa danh gần sông Bến Hải. Vũ Anh Khanh đến Vĩnh Linh và ông đã mạo hiểm vượt tuyến bằng cách bơi qua sông Bến Hải nhưng không thoát. Một mũi tên độc đã cắm vào người ông, lôi ông chìm xuống đáy và chết mất xác.
Sông Bến Hải (giới tuyến chia cắt hai miền Nam-Bắc) thuộc thôn Hiền Lương (cầu trên sông mang cùng tên) xã Vĩnh Thành huyện Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị. Giai đoạn Vũ Anh Khanh đến Vĩnh Linh thì ở phía bờ Bắc (do chính quyền miền Bắc VNDCCH kiểm soát) có 2 đồn công an đóng tại Hiền Lương và Cửa Tùng. Đồn Hiền Lương nằm sát bên cầu, đồn Cửa Tùng đóng ở bãi biển xã Vĩnh Quang. Đồn nào (theo quy định của bản Hiệp Định Geneva) chỉ có 16 nhân viên nhưng con số thực tế nhiều hơn. Vả lại, vì là giới tuyến trực diện với vùng đất phía Nam của chính quyền miền Nam VNCH nên dân chúng sinh sống sát bờ sông Bến Hải thực tế là các gia đình công an giả trang. Vũ Anh Khanh đến đây nhằm tìm dịp để vượt tuyến đào thoát vào miền Nam VNCH nhưng ông không ngờ trước đó (ngày 4 tháng 10 năm 1956), đã có 3 người dân miền Bắc liều mạng bơi qua sông và họ thành công. Chính quyền miền Nam VNCH đã không giữ kín việc này khi họ tổ chức họp báo để thông tin và miền Bắc VNDCCH biết được. Công an CS tại Vĩnh Linh đã họp và quyết không để trường hợp tương tự tái diễn. Họ đã kín đáo canh phòng nghiêm nhặt dù bên ngoài vẫn để các sinh hoạt dân dã bình thường và Vũ Anh Khanh đã mắc bẫy. Có lẽ vào ban ngày ông đã tìm cách bơi sang sông (chỉ rộng hơn 100 m) rồi bị công an phát giác và các mũi tên độc (được bắn ra từ nỏ lớn) của công an đã kết liễu đời ông. Việc dùng tên tẩm thuốc độc (thay cho súng) là cách mà công an CS muốn tránh bị Ban Liên Hợp Quốc Tế Giám Sát-Kiểm Soát việc áp dụng Hiệp Định (có mặt tại đây) phát giác việc họ truy sát dân lành vượt tuyến (Có tiếng súng nổ thì họ sẽ cho điều tra). Cái chết của Vũ Anh Khanh, có thể do công an CS đã thông báo cho dân chúng biết như một răn đe nên kể từ sau đó (tháng 4 năm 1957), không còn người vượt tuyến vào miền Nam bằng cách bơi sang sông Bến Hải nữa.

 

13510800_850420101731194_5257537987095032620_n

 

Là một người yêu nước tuy có lúc sai lầm khi đứng bên phía CS, sau cùng Vũ Anh Khanh đã đào tị nhưng không gặp may. Chính quyền CS đã cố tình gạt bỏ tên ông trong văn học sử mà ngay cả chính quyền miền Nam VNCH cũng đối xử tương tự với ông khi gạt bỏ tên trong chương trình giáo dục phổ thông cùng cấm lưu hành các sách in của ông. Họ xếp ông là văn-thi sĩ CS (do đã tập kết ra miền Bắc năm 1954 và dự đại hội HNCNVAC tháng 12 năm 1956) và đó là một đối xử bất công.
Bài thơ Hận Tha La được các nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ thành bài hát (năm 1964) mang tên Tha La Xóm Đạo, nhạc sĩ Sơn Thảo’S phổ thành bài hát (năm 1965) mang tên Hận Tha La và nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành bài hát (năm 1965) mang tên Vĩnh Biệt Tha La.

 

 

Phạm Thắng Vũ
(repost on August 01, 2016.)