Truyện Dài

 

Con Sóng Dữ 1

(Hồi Ký Của Một Thuyền Nhân)

Phạm Thắng Vũ  sinh năm 1957 tại Ban Mê Thuột trong một gia đình gốc Sơn Tây-Hà Nội. Từng sống tạm dung nhiều năm  ở trại tị nạn Galang-Indonesia. Hiện cư trú tại tiểu bang Michigan-Hoa Kỳ.

 

Con Song Du 1

LỜI GIỚI THIỆU

 Sau nhiều thập niên thảm trạng vượt biên đã chấm dứt, nhưng hai chữ Thuyền Nhân vẫn còn mang một âm hưởng bi thương trong tâm khảm nhiều người, dù đã là hay không từng là thuyền nhân tỵ nạn.

Và trang bi sử về Thuyền Nhân đã được nhiều thuyền nhân viết lại, có khi giống nhau về đại thể nhưng về nội dung của từng chuyến đi thì mỗi tác giả đã ghi lại nhiều chi tiết phong phú, khác biệt, có khi gian nan sững sờ ít ai nghĩ tới.

CON SÓNG DỮ là một trong những trang sử thuyền nhân đã mang những tính cách ấy.

Phạm Thắng Vũ vượt biển nhiều lần. Lần đầu sau 4 ngày 5 đêm hải hành thì Tài công và thợ máy của ghe thấy những khách trên ghe có vợ, con đi theo, làm họ nhớ đến những người tình còn ở lại. Thế là do tình lụy, họ quyết định quay ghe trở về Việt Nam, tìm một bãi biển kín đáo nào đó táp ghe trú ẩn tạm thời để họ đi về địa phương đón các người tình !! Chuyến đi vì thế vỡ lở, tác giả chạy trối chết và nhờ có dân địa phương giúp đỡ nên trốn được về Sài Gòn .

Kiên trì, tác giả tìm được đường dây vượt biên khác:  “Có chuyến phải đi ra tuốt miền Trung và thậm chí tận miền Bắc nữa nhưng trong các lần đó đều không thành và đành phải về không. Có chuyến, tôi bị công an bắt khi vừa đặt chân xuống bến xe địa phương và phải vào tù, đi lao động cả gần năm trời mới được thả.”

Rồi lại những cuộc phiêu  lưu mới, ra khơi ở Vàm Rầy Hà Tiên, ghe lạc vào một hoang đảo thuộc địa phận Kampuchia mà ở đó:  “Đảo này chắc chắn không cọp beo gì đâu nhưng mà rắn độc thì có đấy và có khi cả loài trăn gió nữa. Đi một thân một mình gặp trăn, có thể bị nó quấn chết tươi, do đó phải cẩn thận và chớ ăn trái cây rừng gì hết kẻo ngộ độc chết như chơi.”

Thật lạ lùng, tuy đang ở trong đất Miên, nhưng tầu hải tặc Thái Lan cứ ra vô như ở chỗ không người. Và tình cảnh của đám  thuyền nhân bây giờ chẳng khác chi hàng ngàn, hàng vạn ghe thuyền khác. Họ bị tầu hải tặc kéo vào một hòn đảo khác cũng trong phần đất của Miên nhưng bắt mang đi tất cả các phụ nữ trên ghe: “Tôi bun bã đưa mắt nhìn Ánh Phương cùng Mỹ An và những phụ nữ khác đang từng bước đi lần sang con tàu mới. Khi họ đi qua con tàu mới xong, đám hải tặc chờ sẵn ở bên tàu đó đã lùa cả bọn họ vào hết trong ca bin tàu. Ngay sau đó, con tàu Thái Lan mới này từ từ tách ra và chạy mất dạng. “

            Cuộc phiêu lưu của Phạm Thắng Vũ còn lắm ly kỳ. Nào gặp lực lượng của Heng Samrin vốn là thành viên của phong trào cộng sản Khmer Đỏ nhưng lại là người lãnh đạo cuộc đảo chính Pol Pot thất bại phải chạy sang Việt Nam vào năm 1978. Sau khi Việt Nam lật đổ chế độ Pol Pot vào năm 1979, ông đã trở thành Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Cách mạng để điều hành đất nước và năm 1981 ông trở thành Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia. Đây là lý do người trên ghe yên trí không gặp phải tàn dư của Khmer Đỏ:  “Cờ nửa đỏ nửa xanh dương với 5 ngọn tháp vàng là của phe Khmer Hiêng Xom Rin chứ không phải bọn PolPot-Iêng Sa Ri đâu.”

       Rồi sau đó là đảo Cô-tan (Koh Tang), hải cảng Kompong Som, gặp lại Tổng lãnh sự quán VN, lại một cuộc trốn  chạy về Phnom Penh để rồi phải quay về Châu Đốc, Cần Thơ. Thật là Dã tràng se cát biển Đông, ôi còn có gian nan nào bằng.

Cuộc vượt biển tiếp theo khởi đi từ Bến Tre do Gia đình cách mạng nằm trong đường dây tổ chức, nên chuyến vượt biên sẽ an toàn. “Đám t chức đã chở tôi vượt qua Mỏ Cày trước khi xuống tới Rạch Dầu-Thạnh Phú. Từ đây muốn đến Bình Đại phải qua Giồng Trôm và như vậy tôi phải ở phía bên kia sông lớn. . Hi còn học giờ địa lý bậc trung học, tôi nhớ Bến Tre thông ra biển bằng các cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và cửa Đại. “

           Chuyến đi quả có an toàn nhưng bị Singapore, Mã Lai xua đuổi trôi giạt xuống mãi tới Galang, Indonesia. Theo dõi cuộc đi của Phạm Thắng Vũ quả là thấy như đang vượt qua những CON  SÓNG DỮ. Nhưng bên cạnh những tình tiết của chuyến đi, tác giả còn cho thấy nhiều hình ảnh của miền Nam khi Sài Gòn thất thủ:

V lại chỗ đóng quân, cả ngàn người lính chúng tôi, súng ống còn đủ với hàng chục xe GMC, xe tăng M 113, súng cối, súng DKZ… bên cạnh mà phải án binh bất động suốt cả đêm trên cánh đồng lúa. Đêm dài qua chầm chậm, tai chúng tôi vẫn nghe tiếng súng tiếng nổ lớn từ hướng Sài Gòn vọng lại. Bình minh đến rồi gần trưa thì đơn vị tan đội hình khi nghe tin tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng trên làn sóng phát thanh. Sau khi bàn bạc, các sĩ quan chỉ huy đã lệnh cho một binh sĩ trong chúng tôi phất cờ trắng ra hàng bọn Việt Cộng đang chờ sẵn ngay ngoài mặt đường lộ chính. Lần lượt chúng tôi bỏ các xe GMC, xe tăng M 113 vẫn còn nổ máy để kéo nhau đầu hàng tập thể. Súng ống, quân dụng vất thành đống bên bờ ruộng. Đủ cả… từ Colt 45, súng trường M16, súng phóng lựu M79, M72, mũ sắt cá nhân, máy truyền tin PRC 25, ba lô và cả giầy trận nữa. Vất, vất tuốt… Nhưng cũng có người không chịu đầu hàng lại tự mình nổ súng tự sát tại chỗ. Thật kiêu hùng và cũng thật bi thương cho những cái chết vào giờ cuối cuộc chiến. Có người khóc ngon lành, nước mắt ràn rụa trên má như trẻ thơ. Lúc ấy, tôi cũng hoang mang và tuyệt vọng lắm. Cả một đạo quân lớn mạnh như vậy mà phút chốc phải giải giáp quy hàng. Tôi cũng định… đoàng một phát cho rồi đời lính Cộng Hòa nhưng nghĩ mình còn mẹ già nên lại thôi.”

Hay hình ảnh người Việt sinh sống tại Khmer:

“Gp nhiều Việt kiều nhưng đúng như lời ông Hai, người Việt sinh sống tại Khmer quá sức nghèo. Có gia đình, cuộc sống của họ còn khổn lúc còn ở Việt Nam. Tôi cảm thấy áy náy khi phải gõ cửa lòng nhân ái của họ, những người Việt tha hương bất hạnh. Từng là nạn nhân của các vụ lừa đảo vượt biên nên số Việt kiều tôi gặp dễ dàng thông cảm nhưng chính vì vậy lại đặt họ vào hoàn cảnh khó xử. Thật lòng họ muốn giúp nhưng túi không tiền. Mở miệng từ chối lại không nỡ. Có người thú thật trong nhà không còn một đồng bạc và đang chờ người thân đi làm về mới có cái mua đồ ăn.”

Nói chung, CON SÓNG DỮ được viết bởi kinh nghiệm thực tế của tác giả Phạm Thắng Vũ, với nội dung rất phong phú mang nhiều tình tiết gian nan nhưng  trung thực và với một văn phong giản dị, chân thành, do đó là một tác phẩm rất nên đọc và nên có trong mọi tủ sách gia đình.

NHẬT TIẾN

Nguyên thành viên của

y Ban Uỷ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển

 (Boat People S.O.S Committee)

Bia CSD 1

Con Sóng Dữ

 

Quyển Một

Chương Một

Chuyến Đi Không Thành.

Tôi có mặt tại điểm hẹn ở trạm xe buýt gần rạp hát Opera vào lúc 8:45 sáng và theo lời dặn hễ thấy chiếc xe buýt nào mang số 225-434 ngừng gần thì bước lên ngay. Tôi chờ mà lòng thấp thỏm lo sợ công an có thể đang phục kích gần đâu đó. Giả vờ như khách bộ hành mệt mỏi ngồi nghỉ chân bên vệ đường đang xem báo mà thực sự trong tôi cầu mong chiếc xe buýt đến đúng giờ. Và đã 9 giờ rồi, đúng giờ hẹn mà xe vẫn chưa thấy. Lấy tờ báo trong túi sách ra rồi cúi xuống vờ đọc thì vừa lúc một xe buýt trờ đến, tôi vơ vội túi hành lý nhỏ nhưng hàng số bên hông xe không phải chiếc xe đón người. Vài người trên xe buýt bước xuống, xe chạy đi ngay. Tôi nhìn đồng hồ 9:10 rồi 9:20 và… 9:30 mà chưa thấy xe đâu. Lo lắng nhìn phía bên kia đường, bắt được vài tia mắt nhìn vội về tôi rồi quay đi. Tia mắt của những người ngồi gần gốc cây bên vệ đường và người nào cũng có một túi xách nhỏ. Tự nhiên tôi cảm thấy bất an vô cùng vì biết họ cũng đang chờ xe như tôi. Họ là bạn đồng hành với tôi qua thái độ và hành lý mang theo bên mình. 9:45 phút mà vẫn chưa thấy xe! Lo quá! Làm gì bây giờ đây? Phải quyết định ngay, tôi không thể chần chờ được. Nhớ lời dặn của chị Thu : ” Nếu xe trễ 30 phút thì bỏ về ngay vì chuyến đi coi như đã bị trục trặc. Nấn ná ở lại bị công an tó ráng chịu “. Nhìn sang bên kia đường nơi có các bạn đồng hành của tôi, họ đã biến mất hết. Giờ chỉ còn có một mình tôi. Phải dọt ngay. Tôi đứng lên, định rảo bước thì tiếng xe thắng gấp gần bên. Chiếc xe mang biển số 225 434 tôi đang mong. Hấp tấp, tôi bước lên. Lơ xe ngó quanh quất chung quanh, miệng nói lớn:

– Có ai nữa không, lên xe ngay.

Lề đường vắng lặng, người lơ tiếp luôn:

– Tới luôn, hết khách rồi bác tài.

Tôi vội vàng ngồi ngay vào một ghế bên cửa sổ như thói quen khi đi xe buýt. Nhìn ra bên ngoài, tôi thấy bên kia đường, hai người trong số ngồi chờ xe lúc nãy đang chạy theo và cố sức ra dấu để mong xe ngừng lại. Xe bỏ mặc và chạy thẳng.

Xe lần lượt ghé từng điểm hẹn để nhận khách rồi cứ thế chạy lần ra ngoại ô hướng về Thủ Đức và sau cùng trực chỉ Vũng Tàu. Đến thành phố biển Vũng Tàu vào giấc chiều và ngừng ở một bãi trống gần con đường mang tên Ba Cu. Tất cả khách trên xe được dặn nhỏ tạm thời tản ra, giả dạng khách du lịch đi lòng vòng đâu đó chơi nhưng phải quay về xe lúc 7:30 chiều.

Nhập vào dòng người du lịch, tôi đi lòng vòng qua các con phố rồi ghé vào tiệm uống cà phê ngồi xem báo để hết thời gian. Thời gian này, Vũng Tàu có khá đông khách ngoại quốc từ các nước Cộng Sản Đông Âu hoặc từ Liên Xô đến. Họ là chuyên viên trong các công ty khoan dầu hoặc các công trình khác ở miền Nam và đổ về đây để tắm biển để nghỉ ngơi… Quay về xe buýt lúc 7:10, tôi chọn một chỗ ngồi khá xa để phòng các bất trắc. Khi thấy khách kéo nhau lên xe buýt khá nhiều, tôi mới rời chỗ để lên xe. Trong xe chật cứng người, đám tổ chức đã nhét thêm khách cho chuyến hải hành tối nay. Khi 7:30 chập choạng tối, xe buýt khởi hành nhưng chỉ chạy lòng vòng trong thành phố để chờ trời tối hẳn. Có lúc xe ngừng lại, tài xế và các lơ xe làm bộ sửa máy hoặc xem lại các bánh xe. Tôi ngồi im lặng, cầu mong mọi sự an lành.

Trời tối hẳn, xe chạy nhắm hướng bãi trước và khi vừa ngừng sát cạnh bờ biển thì đột nhiên toàn bộ điện đường ngay khu vực bị cúp hẳn. Trong bóng tối đen, nhóm tổ chức hối thúc khách rời khỏi xe và chạy ngay xuống mép nước. Chạy đến mép nước, dưới ánh lờ mờ của ngọn đèn hải đăng xoay trên đỉnh núi, một ghe khá lớn đã có mặt sát bờ tự lúc nào. Nhiều người đang bước bì bõm để ra ghe.

– Cá lớn đó… Lội ra ngay đi bà con, tiếng một người xì xào.

Một đống dép, guốc của hành khách vất bỏ trên bãi cát chung với các túi xách. Kinh nghiệm của những lần vượt biên không thành từ trước, tôi không vất bỏ đôi dép mà cẩn thận lấy ra một sợi dây thủ sẵn trong túi. Luồn dây vào đôi dép rồi cột nó vào quai con đỉa của cái quần dài đang mặc, sau đó tôi bắt đầu lội từng bước ra ghe. Tối nay, không hiểu do một hiệu ứng gì mà mặt biến lấp lánh các vệt sáng màu xanh lá cây trông rất kỳ lạ. Các vệt sáng xanh phản chiếu những lọn sóng, thân người khi họ chuyển động gần bên ghe. Cố gắng hết sức để bước dần tới được cạnh ghe mà mực nước đã tới ngang cổ tôi. Sát bên ghe nhưng tôi không biết làm sao để có thể trèo lên được? Bất ngờ, tôi chạm phải một cạnh gỗ nằm ngang thân ghe và nhờ nó tôi có thể dựa vào để trèo lên. Một bàn tay của người đứng trên sàn đã nắm lấy tôi, kéo tôi lên rồi trong chớp mắt, người đó ấn tôi chui xuống ngay khoang hầm ghe. Trong khoang hầm chật cứng người. Chưa kịp nhìn rõ mọi thứ thì có thêm người nữa trèo xuống. Nước biển từ người họ văng tung toé vào thân, mặt tôi. Chợt máy ghe nổ to hơn và dường như nó chạy lùi rồi làm một vòng quay ra biển. Chuyến hải hành vượt biên đầu tiên trong đời tôi bắt đầu. Đó là 9 giờ tối của một ngày cuối tháng 7 năm 1984.

Tôi ngồi yên, lưng dựa vào vách gỗ thân ghe, mắt nhắm nghiền vì mệt và vì có mở mắt cũng chẳng thấy chung quanh rồi thiếp đi lúc nào không hay. Ghe vẫn chạy êm ả nhưng chuyến đi thật không suôn sẻ. Không gặp ghe công an biên phòng và tàu hải tặc Thái Lan nhưng sau 4 ngày 5 đêm, các tài công đã quay mũi để trở về Việt Nam khi vừa lượn quanh một dàn khoan dầu Mã Lai Á. Khách trên ghe không ai biết hành động của đám tài công cho mãi hơn một ngày sau khi họ nói ra thì mọi người mới biết. Khách, hết hăm doạ rồi năn nỉ thậm chí cả lạy lục đám tài công để họ từ bỏ ý định điên rồ mà tiếp tục chuyến vượt biên nhưng vô vọng. Tôi biết bản thân phải chuẩn bị đối phó với những bất trắc sẽ xảy ra khi chiếc ghe cập vào một bờ bãi nào đó của nước Việt.

Tài công và thợ máy của ghe gồm ba người. Hai anh em ruột và người kia là bạn của họ. Tất cả đều có bồ (bạn tình) nhưng đều vắng mặt trong chuyến đi. Sau 4 ngày 5 đêm hải hành, thấy những khách trên ghe có vợ, con đi theo, làm họ nhớ đến các bạn tình. Đó là lý do khiến họ quyết định quay ghe trở về Việt Nam. Họ tính sẽ tắp ghe vào một bãi biển kín đáo nào đó để rồi từ chỗ trú ẩn tạm thời, họ đi về địa phương và đón các bạn tình ra ghe xong sẽ khởi hành trở lại. Họ giải thích cho chúng tôi nghe về kế hoạch và cam đoan là sẽ không gặp khó khăn gì hết miễn là tất cả khách ém yên lặng dưới các khoang hầm trong thời gian dừng ghe. Một việc làm quá sức nguy hiểm và dại dột. Chúng tôi ai cũng biết nhưng không thể làm gì khác được vì họ khăng khăng không nghe. Hăm dọa sẽ đả thương nếu họ từ chối cũng không xong. Khách, ai cũng mệt mỏi vì say sóng nên đành thúc thủ trước các tài công khoẻ mạnh. Suy nghĩ đơn giản của các chàng ngư phủ ngang với trí não của người ít học. Lo lắng các tai ương sắp sửa ập xuống trên ghe mà lòng tôi vẫn thầm mong sẽ có sự may mắn xảy ra như ý muốn của ba tài công trẻ tuổi.

Chúng tôi ngồi yên nhìn nhau buồn bã chung một nỗi lo những bất trắc sẽ giáng xuống đầu mình.

Khi vừa thấy dạng đất liền, các tài công đã thúc hối mọi người trên sàn ghe phải chui ngay xuống các khoang hầm. Có người do say sóng quá sức nên không chịu chui xuống, viện lý do sức họ quá yếu nếu xuống khoang hầm lần nữa họ sẽ chết. Các tài công dùng vũ lực để xốc những người chống đối xuống lại khoang hầm. Nằm im trong khoang, chúng tôi phỏng đoán tình hình bên ngoài qua những lời tài công đối đáp. Có người lâm râm đọc kinh cầu nguyện. Thời gian trôi qua nặng nề. Tiếng máy vẫn nổ êm ả. Ghe đang ở trong vùng biển nào? Chỗ kín đáo tài công nói sẽ cho ghe tắp vào là đâu? Có thực an toàn không? Rồi, qua lời tài công trò chuyện, chúng tôi biết họ đã thấy hai chiếc ghe khác. Chúng tôi ai cũng lo lắng trong lòng. Hai ghe đó là ghe gì? Ghe đánh cá hay công an biên phòng? Đột nhiên chúng tôi nghe tiếng súng vọng lại từ xa xa. Chết thôi!. Tiếng người hét to cùng với tiếng khóc trong khoang hầm. Tài công tăng tốc cho ghe chạy thật nhanh. Tim tôi đập liên hồi, tay chân tự nhiên có lúc tê cóng. Tôi đang sợ. Thế là xong chuyến đi. Đến được giàn khoan nước ngoài đã tưởng thoát để rồi quay ghe về và bị rượt đuổi…

– Giờ tụi mày sáng mắt chưa. Thật một lũ ngu dốt. Tiếng ai đó nói khá to gần tôi.

Cuộc rượt đuổi bên ngoài diễn biến ra sao chúng tôi không ai biết nhưng sau cùng, một tiếng sầm thật lớn như ghe đâm vào vật gì đó bên ngoài. Tài công bỏ ghe nhẩy ùm xuống nước cùng với tiếng khóc tiếng la của khách trong khoang hầm làm mọi người càng sợ hơn. Cùng với các người khác, tôi vội đu người nhẩy lên ngay sàn ghe thì mới biết trời bên ngoài đã nhá nhem tối. Ghe đang trong khúc rạch hẹp, vắng lặng và không một bóng người. Chúng tôi nhẩy ngay xuống nước để lội vào bờ theo dấu tài công. Vừa leo được lên bờ đất, tai đã nghe tiếng súng nổ gần bên và bóng dáng của hai ghe lạ đang lướt sóng chạy đến. Chúng tôi cắm đầu bỏ chạy cả đám, thân ai nấy lo. Trời tối rất nhanh. Thêm tiếng súng nổ kèm với tiếng thét tiếng khóc.

Tôi chạy… chạy mãi nhưng chỉ một lát sau, tôi đã mất dấu với người chạy đằng trước. Cảm giác đau chân mới nhớ mình còn đôi dép cột bên người nên tôi vội vã cởi nó ra và mang ngay vào chân. Đôi dép da có quai đeo sau gót và nhờ nó, tôi mới có thể bước những bước chân lần mò trong đêm tối lờ mờ. Tôi đi lầm lũi cho đến lúc không còn thấy rõ cảnh vật chung quanh nữa. Trời đã hoàn toàn tối đen. Ngồi xuống nghỉ ngơi, tôi ngước mắt lên bầu trời đã có các ánh sao sáng và tự hỏi đây ở đâu và bây giờ mình phải làm gì? Không thoát khỏi đây đêm nay, chắc chắn ngày mai tôi cũng sẽ bị bắt.

Ngồi trong chốc lát cảm thấy bớt mệt, tôi đứng lên ngó chung quanh và thấy thấp thoáng xa xa có ánh đèn dầu. Nhìn chăm chú, ánh đèn dầu thật nhưng không biết nơi đó là gì? Nhà dân lành hay cán bộ Việt Cộng? Đành nhắm hướng theo nó mà đi. Có đến gần mới biết. Ánh đèn lấp lánh trong đêm tối, tưởng gần nhưng thực sự rất xa. Tôi phải lần mò bước từng bước chân, tay vạch cây lá mà đi. Có lúc phải lội qua các vũng nước bất chấp gai cào và có khi bước hụt chân, lọt xuống các hố cạn. Tôi sợ ánh đèn dầu đó tắt mất và cả tiếng đồng hồ sau mới đến được. Nó chiếu ra từ căn nhà tranh nhỏ. Vừa đến trước cửa nhà, một con chó nhẩy xổ ra sủa inh ỏi làm tôi đứng yên không dám động đậy. Nghe tiếng chó, bóng một người từ trong nhà lách cửa bước ra nhìn. Thấy tôi đứng lù lù trong đêm tối, người đó hét lên một tiếng khá to rồi quay ngay vào bên trong. Tiếng hét của một phụ nữ. Chần chừ ít phút, tôi nói một hơi:

– Chị à! tôi là người chứ không phải là ma quỷ, đừng sợ. Tôi lạc đường từ chiều tới giờ cần chị giúp đỡ.

Tôi lập lại vài lần như vậy, người phụ nữ mở hẳn cửa bước ra nhìn chăm chăm rồi nói hãy đứng yên chờ để chị ta đi gọi chồng về.

Cầm cây đèn dầu trứng vịt, người phụ nữ biến mất trong bóng đêm cùng với con chó, để mình tôi ngồi trước căn nhà nhỏ. Chờ khá lâu có tiếng chó sủa và bóng hai người trong ánh đèn bước đến bên tôi. Người chồng cầm cây đèn đến gần, nhìn rõ mặt tôi rồi hỏi đi đâu mà có mặt ở đây trong đêm tối? Anh ta chưa biết sự việc của chiếc ghe vượt biên? Thầm nghĩ thật nhanh, tôi nghĩ phải nói thật cho họ biết sự việc. Tôi liền kể tóm tắt câu chuyện. Nghe câu chuyện, hai vợ chồng chủ nhà nhìn nhau trong chốc lát và người chồng lắc đầu bảo tôi phải đi ra xa khỏi căn nhà họ. Đi đâu thì đi, họ không muốn liên lụy với người vượt biên rồi cả hai vợ chồng bước vào nhà và kéo ngay tấm phên che cửa.

Tôi thất vọng nhìn căn nhà nhỏ bé trong bóng tối lờ mờ. Gặp người trong vùng nhưng không chịu giúp, tôi tự hỏi mình phải làm gì đây? Căn nhà lợp lá dừa nước như hầu hết nhà trong vùng sông nước miền Nam với một lu nước bên cạnh và cửa ra vào là miếng phên lớn khép hờ. Họ, một cặp vợ chồng trẻ ở riêng, tôi chắc vậy. Họ ở đây vậy có nhà người khác chung quanh nữa không? Rồi vì quá mệt, tôi cứ ngồi lỳ tại chỗ và sự thực tôi chẳng biết đi đâu? Con chó vẫn đi quanh quẩn bên tôi. Có lúc nó sủa hoặc gầm gừ nho nhỏ. Tôi nằm lăn trên đất rồi ngủ. Ngủ ngon lành cho đến khi có tay người lay vào vai làm tôi thức dậy. Một ông già tay cầm cây đèn dầu ngồi trước mặt, nở nụ cười móm xọm với tôi. Hai vợ chồng đứng sau lưng ông già.

– Tôi mời cậu vào nhà. Ông già nói.

Theo chân ba người đi vào bên trong căn nhà, người vợ cho biết thấy tôi cứ ngồi lỳ rồi nằm ngủ tại chỗ nên cả hai đã đi gọi cha họ đến. Ông già nói tôi hãy đi nơi khác đi, nhà họ không thể giúp đỡ hay chứa chấp tôi được. Công an và du kích sẽ đi lùng sục ngay sáng mai để truy bắt người trốn chạy trong chiếc ghe vượt biên mắc cạn.

– Anh làm ơn đi nơi khác đi để cho tụi tui yên ổn làm ăn. Giúp anh rủi công an biết, chắc chắn gia đình sẽ bị liên lụy và có khi phải ở tù nữa. Nhà tui nghèo lắm, phải tìm đến phá đất lập nghiệp vùng sát biển như vầy, anh biết rồi. Người chồng nói.

– Muốn giúp cậu, tui cũng không biết phải giúp như thế nào? Công an có tai mắt khắp nơi… Sớm muộn gì chúng cũng biết. Giúp cậu, nhà cửa tụi tui sẽ tan nát hết. Cậu thương thì đi nơi khác… Coi như gia đình tui và cậu chưa biết nhau, mong cậu thông cảm. Giọng ông lão khẩn khoản.

Chúng tôi ngồi ở một cái bàn gỗ nhỏ.  Tôi im lặng nhìn chung quanh căn phòng. Một tủ thờ cũ nằm sát bức vách ngay trước cái bàn. Trang thờ nhỏ nằm trên cao sát với mái lá có hình Phật Bà Quan Âm với bát hương với vài chân nhang đỏ. Hai ba hình mầu ca sĩ cắt từ các tấm lịch cũ dán trên bức vách. Sát bên vách nhà, một cái cái giường tre nhỏ với các vật dụng như cuốc, thuổng, đồ bắt cá… bỏ nằm lăn lóc dưới gầm. Một gia đình người miền Nam hiền lương thờ Phật. Không có dấu vết Việt Cộng như các tấm bảng đỏ ghi công ta thường thấy trong nhà cán bộ. Nhìn ông lão và hai vợ chồng chủ nhà, tôi nài xin hãy tìm cách nào đó giúp đỡ, đừng xua đuổi tôi.

– Nếu bác và anh chị làm phước giúp tôi, Phật Bà Quan Âm sẽ phù hộ cho gia đình. Tôi vượt biên vì thuộc gia đình chế độ cũ Việt Nam Cộng Hòa. Sống không nổi trong chế độ mới, tôi vượt biên rồi chuyến đi không thành phải quay về. Tôi không muốn bị công an bắt chứ đâu phải thành phần bất hảo trộm cướp gì. Bác ơi! xin hãy giúp, không bao giờ gia đình con quên ơn việc bác và anh chị làm hôm nay.

Cả ba người họ lắc đầu, nhất định không giúp còn tôi cứ ngồi lỳ một chỗ. Mãi, thấy không xong, họ kéo nhau ra ngoài sân bàn chuyện, bỏ tôi ngồi một mình. Một lúc khá lâu, cả ba quay vào và dặn tôi phải làm theo những gì họ sắp đặt. Nếu tôi trái lời để xẩy ra chuyện thì tất cả đều chết với công an. Hai cha con họ lăn một lu sành khá lớn từ bên ngoài và chuyển nó vào trong căn buồng của đôi vợ chồng trẻ. Cái lu được để ở góc phòng. Tôi nhìn nó tự hỏi không lẽ mình sẽ trốn trong cái lu đó? Mà quả thật là vậy khi nghe ông lão nói:

– Cậu phải ngồi yên trong đây, cầu mọi sự an ổn.

Đây là cái lu mà dân vùng quê dùng chứa nước mưa. Gọi là khá lớn nhưng so với người thì sao mình ngồi trong đó được. Thấy tôi chần chừ thì ông lão xách cái ghế đẩu đến bên lu và thúc:

 – Cậu trốn ngay vào đi! Coi vậy chứ rộng lắm.

Tôi đứng trên ghế đẩu rồi cẩn thận bám vào miệng lu sành và trèo vào trong. Khi hai chân chạm đáy rồi từ từ tôi ngồi xuống và xoay trở thân hình cho gọn. Xong xuôi, tôi ngước lên nhìn hình ông lão đen đen  đứng bên cạnh miệng lu và hỏi:

– Cháu ngồi như vầy được rồi phải không bác?

– Được! Tui đã nói mà… Ngồi trỏng khó chịu… nhưng phải ráng cậu à!

Gia đình đó đã ém tôi ngồi trong cái lu sành dưới lớp lưới, quần áo, các vật dụng lặt vặt trong nhà suốt đêm và cả ngày hôm sau cùng bốn ngày kế tiếp nữa. Chỉ đêm khuya tôi mới được leo ra ngoài để ăn uống, rửa ráy qua loa, đi tiêu tiểu và thư giãn tay chân trong chốc lát. Sau đó phải vào trèo vào ngồi lại trong cái lu sành.

Trong lu sành ban ngày, tôi đã thót người khi nghe các mẩu đối đáp của dân trong vùng, du kích hoặc công an… ghé vào nhà nói chuyện với nhau về chiếc ghe vượt biên. Công an, bộ đội biên phòng và du kích đã bắt được toàn bộ người trên ghe kể cả các tài công cùng thợ máy. Tôi hồi tưởng lại các chuyện cũ đời mình. Đã nhiều lần vượt biên mà chưa lần nào tôi thoát ra khỏi nước. Đêm ngày 29 rạng 30 tháng 4 năm 1975 trong thủ đô Sài Gòn, mắt tôi đã tuyệt vọng nhìn máy bay trực thăng UH chở người từ các cao ốc bay di tản ra hướng biển. Người ngồi trên các trực thăng đó thật có phước. Còn tôi! Tôi làm sao để vào được các cao ốc như họ? Theo chân những người khác, tôi chạy ra bến tàu Bạch Đằng nhưng cũng không vào được. Hàng rào kẽm gai cao vút và những họng súng của lính gác chỉa thẳng ra ngoài đã cản chân tôi cùng rất đông người đang có mặt tại đó. Khi trời quá trưa, tôi quay về nhà lúc bộ đội Việt Cộng đã tràn ngập, làm chủ thành phố.

Cuối năm đó, gia đình tôi đi vùng kinh tế mới ở Trị An thuộc tỉnh Đồng Nai. Chặt cây, phá rừng, cuốc đất dọn rẫy đến chai cả tay rồi những cơn sốt rét vật tôi quằn quại trên giường. Cái lạnh của cơn sốt dù trùm cả đống mền dầy lên người mà hai hàm răng vẫn đánh vào nhau lập cập. Cái lạnh thoát ra từ tận trong xương trong tủy. Bỏ rừng về lại thành phố cũng chẳng yên. Những ngày phải sống trốn tránh vì đã cố tình vắng mặt trong buổi tuyển quân nghĩa vụ quân sự tại văn phòng phường đội. Không muốn  phải chết oan ức hay bị tàn phế vô nghĩa tại chiến trường Campuchia nên tôi đã vượt biên. Những lúc hồi hộp nằm ém mình trong nhà dân để chờ ghe ta xi đón ra cá lớn để rồi tôi phải quay về chờ chuyến khác. Giờ đây, thu mình trong cái lu sành, lúc nào tôi cũng sợ khi có tiếng chân người lại gần.

Ém trong cái lu sành, tôi biết đã quá may mắn khi vô tình chạy đến nhà cặp vợ chồng trẻ (tên anh chị Tư). Qua các câu chuyện khi họ đối đáp, đùa giỡn… lộ rõ là dân quê miền Nam hiền lương chất phác. Có đêm, tôi còn nghe tiếng ông lão niệm kinh Phật nữa. Hai cha con đã lấy quần áo cho tôi thay, múc nước, mang khăn cho tôi rửa ráy người qua quýt hoặc ép tôi ăn thêm cơm nóng hổi. Mặt ba người đầy vẻ lo lắng cho tôi tưởng như đang săn sóc người thân thiết ruột thịt của họ.

Bác Ba, tên ông lão, kể cho tôi biết những năm trước đây ông sống ở Bạc Liêu, làm việc trong một nhà máy xay lúa của Hoa kiều. Khi chủ nhân ghi danh xuất cảnh ra nước ngoài, nhà máy bị chính quyền địa phương tịch thu được một thời gian phải đóng cửa vì cán bộ Việt Cộng điều hành kém cỏi. Không có việc làm, ông theo bạn bè vào đây khai đất làm các vuông nuôi tôm.

– Tui năm nay sáu mươi hai tuổi rồi cậu. Lập gia đình trễ, tui chỉ có ba đứa con. Đứa lớn là chị gái thằng Tư hiện đang sống với chồng con ngoài chợ cầu Cà Mau. Vợ tui sống chung với chúng. Bả buôn bán lặt vặt ở chợ kiếm thêm ít đồng. Cha con tui cũng thay nhau chạy ghe chở khách kiếm tiền ở ngoải… khi nào có việc thì vào đây như canh thay con nước. Thỉnh thoảng, tui đón vợ tôi vào sống ít ngày với vợ chồng thằng Tư cho vui. Đứa kế cũng gái… vắn số đã chết lúc còn nhỏ. Coi như chỉ còn có hai đứa. Thằng Tư, cậu gọi bằng Út cũng được, mới lo vợ cho nó hơn năm nay hà. Tối hôm cậu đến nhà, lúc đó tui và nó đang đi canh nước cho vào các vuông tôm… Cha con tui tự phá đất làm lấy nên vuông không được rộng mà cũng khá xa nhà. Đất chung quanh đây, cậu thấy… tuy còn bỏ hoang chứ có chủ hết rồi. Bác Ba bộc bạch.

Hỏi ông lão, tôi mới biết ghe đã chạy vào vùng Cái Đôi của tỉnh Cà Mau. Bác Ba và hai vợ chồng anh Tư cũng thắc mắc hỏi tôi tại sao ghe vượt biên lại bị mắc cạn tuốt trong vùng Cái Đôi vì từ đây ra tới cửa vàm ngoài biển cách cả cây số ngàn. Nếu ra được ngoài vàm thì ghe tiếp ngay với biển lớn. Cứ vậy mà chạy, du kích hay công an biên phòng sao mà bắt được. Tôi kể cho ba người biết về nguyên do ghe bị mắc cạn, bác Ba cho biết:

– Thảo nào tụi thằng Sáu thằng Mai du kích nói ghe vượt biên bị bộ đội biên phòng đuổi bắt đâu tuốt ngoài biển vào tới đây thì mắc kẹt. Cậu kể ra tui mới biết, mấy thằng tài công sao mà ngu quá mạng vậy. Đi đã khó… quay trở lui dìa còn khó gấp bội. Sao tụi nó lại làm vậy để hại thân còn gây khổ thêm bao nhiêu người nữa?

Bác Ba cho tôi biết vùng Cái Đôi có khá nhiều gia đình cách mạng đến lập nghiệp. Những gia đình này phá đất làm vuông nuôi tôm, cất nhà ở cũng không xa trong vùng. Nghe chuyện, tôi biết quá sức may mắn vì gặp được gia đình bác Ba. Rủi gõ cửa đúng nhà dân chế độ mới, chắc chắn tôi đã nằm trong trại giam của bọn Việt Cộng.

Sau bốn ngày đêm trốn tránh, bác Ba cho biết tình hình giờ thật yên ổn. Công an biên phòng đã giải giao người chúng bắt được ra trại giam huyện Cái Nước và bác nói sẽ thu xếp đưa tôi đi sớm. Nửa khuya về sáng ngày thứ năm, cả nhà thức dậy thật sớm. Ăn uống bữa sáng xong xuôi, hai cha con bác Ba xem xét thật kỹ lưỡng chung quanh căn nhà rồi dắt tôi xuống chiếc ghe nhỏ gắn máy đuôi tôm Kohler 4 nổ máy chờ sẵn. Ghe từ từ chạy một lúc lâu sau, bác Ba cho biết đã ra khỏi vùng Cái Đôi.

– Từ lúc này an toàn vì công an – du kích chỉ để ý chận xét những ghe từ Cà Mau chạy ra vàm thôi. Ghe mình từ vàm chạy vào Cà Mau, chúng không thèm ngó. Anh Út nói.

Tôi mặc lại bộ quần áo cũ, ngồi im trong ghe ngắm nhìn cảnh vật hai bên bờ vẫn còn mờ tối. Trời sáng dần, ghe vẫn êm ả chạy trong vùng sông nước miền quê tiếp giáp với biển yên ả. Những rặng cây chạy dài típ tắp hai bên bờ rạch. Thỉnh thoảng mới thấy vài mái ngói hoặc nếp nhà tranh xa xa. Xế trưa, anh Út tắp ghe vào một bóng mát kín đáo gần sát bờ để ăn uống qua loa và nghỉ ngơi chốc lát rồi sau đó lại chạy tiếp. Trời chạng vạng tối, ghe đến được chợ cầu Cà Mau vừa lúc phố xá trên bờ đã rực ánh đèn.

– Đến đây bình an hoàn toàn, anh Tư nói nhỏ.

Tôi lấy trong mình ra chiếc khâu vàng 2 chỉ còn lại và nhờ sự chỉ dẫn của bác Ba, tôi đã đến một hiệu kim hoàn bán 5 phân vàng của chiếc nhẫn. Có tiền, tôi mời hai cha con bác Ba ăn hủ tiếu, uống cà phê.  Sau đó, tôi năn nỉ hai ân nhân vui lòng nhận 1 chỉ 5 phân vàng và tiền mặt còn lại. Tôi chỉ giữ ít tiền đủ để đón xe khách về Sài gòn trong ngày. Biết đến bao giờ mới có dịp gặp lại hai người họ, tôi nghĩ vậy.  Không có họ giúp, làm sao tôi chắp cánh chạy thoát được tay công an. Nguyên ngày trời ngồi trong lòng chiếc ghe nhỏ, tôi thấy hai cha con bác Ba chạy quành phải, quẹo trái qua cả trăm con kênh con rạch mới đến được chợ cầu Cà Mau.

Về nhà sau gần nửa tháng vắng mặt, gia đình tôi mừng vô kể. Cả nhà đã biết chuyến đi không thành và đang dò hỏi trại giam để tìm cách thăm nuôi tôi. Ai cũng nghĩ tôi đã bị bắt. Không thể ngờ lại về được đến nhà an toàn. Chuyến vượt biên bất thành đó chỉ duy nhất một mình tôi thoát khỏi tay bọn công an, chị Thu người trong tổ chức cho biết.

Tới bây giờ, mỗi lần nhớ lại chuyện vượt biên năm xưa, tôi vẫn không quên khuôn mặt của bác Ba và vợ chồng anh chị Tư. Nhớ để sau đó là một nỗi buồn vì chưa lần nào tôi tìm đến vùng Cái Đôi Vàm thăm hỏi tin tức các ân nhân. Tuy nghèo vật chất nhưng họ rất giàu lòng bác ái, thương người.

Chương Hai

Trở Về Từ Hoang Đảo

Khi về nhà an toàn, tôi đã tìm được các đường dây vượt biên khác. Có chuyến phải đi ra tuốt miền Trung và thậm chí tận miền Bắc nữa nhưng trong các lần đó đều không thành và đành phải về không. Có chuyến, tôi bị công an bắt khi vừa đặt chân xuống bến xe địa phương và phải vào tù, đi lao động cả gần năm trời mới được thả. Lần lữa 4, 5 năm trời kẹt lại Việt Nam làm tôi rất thất vọng nghĩ mình chắc không ra nước ngoài được. Tôi tính không vượt biên nữa khi bỏ tiền đi học lái xe tải và hùn vốn với bà con trong họ mua một chiếc xe chở hàng để sinh sống. Vừa xong khóa học lái xe tải thì Dũng, một bạn thân đến nhà rủ tôi làm một chuyến vượt biên chung. Kỳ lạ thay, vừa nghe Dũng nói đã tìm ra chuyến đi, tôi gật đầu liền.

Khởi hành từ xa cảng miền Tây lúc 5 giờ sáng, tôi và Dũng đi xe tốc hành đến được bến Cần Thơ rồi từ đây chúng tôi đi tiếp đến thành phố Long Xuyên thì được sắp xếp vào trú tạm trong căn phòng nhỏ của một khách sạn tư nhân gần khu thị tứ thành phố để chờ người trong nhóm tổ chức sẽ đón đi tiếp. Có thể sáng hoặc trưa chiều ngày mai thôi, không lâu hơn.  Buổi tối, sau khi ăn uống rồi tắm rửa thay quần áo sạch sẽ, tôi và Dũng thả bộ dạo mát trên các con đường trong thành phố.

Long Xuyên là một trong các thành phố lớn của miền Nam Việt Nam. Phố xá buôn bán khá sầm uất như vài con phố ở Sài Gòn. Chúng tôi ngồi nghỉ ở ghế đá trong một công viên nhỏ, ngắm nhìn thiên hạ chạy xe trên đường hoặc đang dạo bước trong công viên. Cũng không dám ngồi lâu, chúng tôi lại lang thang đi lòng vòng đây đó. Tôi ghé vào một hiệu sách bên đường mua quyển Sư Thúc Hòa Hảo (tác giả Nguyên Hùng viết về nhân vật Mười Trí và các tâng bốc địch vận của đảng Cộng Sản Việt Nam về y với tôn giáo Hoà Hảo tại Việt Nam Cộng Hòa  trước đây), mang về phòng nằm đọc để giết thì giờ. Suốt đêm, thỉnh thoảng có tiếng gõ cửa phòng kêu chúng tôi mở ra ngay. Những lần đầu rất sợ vì nghĩ có chuyện không may sẽ xảy ra. Nhưng không, chỉ là các cô gái trẻ đẹp, hành nghề bằng vốn tự có, đang tìm khách vui vẻ trong chốc lát hoặc qua đêm. Còn lòng dạ nào để chúng tôi nghĩ đến những lời mời mọc của họ!

Theo lời dặn, sáng hôm sau chúng tôi tìm đến quán ăn Hào Hoa lúc 8 giờ sáng ăn điểm tâm, uống cà phê lai rai để chờ. Nhìn vài khách ngồi ở bàn gần bên, tôi thót giật người vì thấy một khuôn mặt quen biết là thằng Minh con bà Sáu bán cà phê trong khu phố gần nhà tôi. Minh nở nụ cười và dù kín đáo nháy mắt với tôi, tôi vẫn chưa hiểu tại sao nó có mặt ở đây? Không lẽ nó cũng trong chuyến đi? Là con trai mới lớn trong gia đình cán bộ, cha mẹ Minh hoạt động nằm vùng cho Việt Cộng  từ trước ngày 30-4-1975. Gia đình Minh là dân cách mạng, giàu có  trong phường. Thằng Minh tối ngày ăn no, đi chơi, nhậu nhẹt phá làng xóm đâu chịu học hành gì. Tuy vậy, Minh thường nói chuyện vui vẻ với tôi mỗi khi tới ngồi uống cà phê nơi quán nhà nó. Minh xuống đây để cùng vượt biên hay chỉ một chuyến đi chơi và tình cờ gặp tôi? Tôi kín đáo liếc nhìn hai người lạ mặt ngồi cạnh nó tuổi cũng ngang lứa mà không biết họ là ai? Chưa biết thì cứ ngồi tỉnh bơ xem sao dù trong lòng tôi cũng chút lo lắng. Dũng hỏi nhỏ:

– Chắc cùng phe mình hả?.

Tôi im lặng, không trả lời Dũng. Chợt bóng anh Thành (người trong nhóm tổ chức) đi ngang qua trước cửa quán, chúng tôi vội vã trả tiền và vọt theo sau liền. Đi được một quãng ngắn đường, có chiếc xe lôi từ đâu chạy lại ngừng gần bên. Anh Thành nhảy lên xe và sau đó là tôi, Dũng và cả bọn ba người của thằng Minh. Vậy đúng thằng Minh đi chung chuyến này với tôi. Nó và tôi nhìn nhau, khẽ gật đầu, mỉm cười hiểu ý.

Xe lôi chạy qua xứ đạo Thiên Chúa Bò Ót rồi chạy thẳng đến ngã ba Lộ Tẻ thì ngừng hẳn. Từ đây, một xe Van 16 chỗ ngồi chở chúng tôi chạy tuốt xuống bến xe Rạch Sỏi để rồi sau đó chuyển chúng tôi sang một xe bus khá lớn. Anh Thành cho biết xe sẽ đến bãi hẹn nằm đâu đó trong vùng bờ biển Hà Tiên.

Trời chiều nhá nhem rồi tối hẳn. Hàng cây hai bên đường đen sẫm. Đường lộ từ Rạch Sỏi chạy ra Hà Tiên thật xấu. Xe liên tục tránh các ổ gà lớn trên mặt đường nhựa trước mặt đã xuống cấp thê thảm. Do chiến tranh và đã lâu mặt đường không được tu bổ. Ngồi trên xe, tôi cứ chao đảo vì đường hư hỏng quá. Xe chạy thật lâu và đã có người thò đầu ra bên ngoài cửa xe để ói mửa. Tôi cảm thấy bắt đầu mệt. Thình lình, xe thắng gấp sau một tiếng nổ nhỏ. Bánh xe bị xẹp rồi. Tài xế lẫn lơ xe vội vàng nhẩy xuống, dùng kích đội xe lên, tháo cái bánh  xẹp để thay ngay nhưng trên xe lại không có bánh sơ cua nào hết. Giờ phải làm sao đây?

– Phải tìm chỗ vá ngay. Tổ chức chuyến đi mà làm ăn như vậy… chỉ có chết. Người nào đó trên xe lầm bầm.

Đường thật vắng vẻ, tài xế và lơ tính chạy kiếm nhà dân để hỏi thăm vừa lúc gặp người chạy xe đạp đi tới. Có tiệm sửa xe cách đây không xa nhưng khuya quá, họ còn mở cửa không?

Chúng tôi phải ngồi yên gần hai tiếng đồng hồ để chờ lơ xe lăn cái bánh đi vá rồi về ráp trở lại vào xe. Xe chạy qua nhà máy xi măng Kiên Lương rồi đến Vàm Rầy. Tài xế cho xe chạy rề rề chờ đợi rồi xe ngừng bên cạnh đường vì chẳng thấy người trong tổ chức đón như dự liệu. Trời bắt đầu sáng dần, làm gì bây giờ? Ai nấy tự hỏi mình. Có tiếng xe Honda chạy đến và rồi chúng tôi được lệnh phải rửa mặt cho sạch sẽ, thay quần áo khác, làm bộ đi du lịch Hà Tiên. Vụ xe xẹp bánh hồi khuya nên chuyến đi đã tạm thời hủy bỏ vì đến điểm đón quá trễ. Cứ làm một chuyến đi du lịch Hà Tiên, thăm lăng Mạc Cửu, Thạch Động hoặc ghé Mũi Nai đi, chờ đám tổ chức liên lạc trở lại xem sao!

Chúng tôi đi qua bến phà nổi Tô Châu, ngắm nhìn dãy ghe đánh cá đậu san sát bên nhau trong dòng nước biển xanh mầu lá cây, thầm nghĩ không biết ghe mình đi có lớn có vững chắc như những chiếc ghe ở đây? Qua bến phà nổi, chúng tôi lên xe lôi chạy đến Thạch Động rồi ra Mũi Nai hóng mát. Do xe đến điểm trễ giờ nên tôi mới có dịp biết đến Thạch Động và bãi biển Mũi Nai-Hà Tiên. Hà Tiên là nơi cư trú của vợ chồng nhà thơ Đông Hồ-Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội và cũng là quê quán của danh sĩ Mạc Thiên Tích ngày xưa. Tôi đang là khách du ghé thăm miền ước mơ trong bài hát Hà Tiên của nhạc sĩ Lê Dinh đây. Một thành phố nhỏ nhưng thật đẹp dù ở nơi tận cùng của đất nước Việt.

Tôi và Dũng làm quen được với Ánh Phương và Mỹ An, hai cô gái trẻ trong chuyến đi Mũi Nai. Ánh Phương 26 tuổi còn Mỹ An mới 24. Cả hai đều độc thân và cũng mới làm bạn với nhau từ lúc lên xe bus. Tôi cặp kè với Ánh Phương còn Dũng với Mỹ An như những cặp nhân tình của chuyến du lịch. Chúng tôi đi ăn uống lai rai rồi đi lòng vòng trong những con phố nhỏ của Hà Tiên. Có lúc ngồi bên nhau, làm ra vẻ tâm tình trong các quán cà phê để chờ 7 giờ tối sẽ về lại xe bus.

Lúc ở Mũi Nai, tôi thấy thằng Minh và hai người bạn nó ngồi nhậu trong một quán sát bờ biển. Minh đã mời tôi ngồi vào bàn, đưa ly bia cho tôi rồi nói:

– Uống lai rai với tụi em cho vui anh Vũ, em đâu dè có anh trong chuyến này luôn. Anh em mình cùng bên nhau nghe anh.

Tôi cười, gật đầu đồng tình rồi nói nhỏ với nó:

– Anh không uống bia được Minh à. Uống vô chút xíu say liền, em nên nhậu sương sương thôi… còn giữ sức nữa đó.

 

Lúc ngồi bên nhau trong một quán nước, Ánh Phương nói với tôi:

– Anh Vũ biết không, nhà em ở Quận 10 Sài Gòn. Thầy U em người Bắc đạo Phật di cư từ 1954. Anh trai em đang sống ở Úc, em đi hôm nay lần thứ ba đó anh, các lần trước đi không được lại phải quay về. May không bị bắt. Anh trai em chỉ đi có một chuyến lại thoát.

Nhìn khuôn mặt Ánh Phương. Cô gái này đẹp thật, da lại trắng hồng, lời ăn tiếng nói ra vẻ con nhà hiền lành. Bản thân tôi đã ba mươi ba tuổi mà vẫn chưa lập gia đình. Nếu Ánh Phương là bạn tình của mình thì hay biết bao! Tôi lại nghĩ nếu mình có người yêu như Ánh Phương, liệu có dám cho nàng đi vượt biên không?

Khi chúng tôi quay trở về bến xe thì nhóm tổ chức đã thay xe cũ bằng một xe bus khác lớn hơn và họ đã nhét thêm cả chục người khách mới ngồi sẵn trên xe từ lúc nào. Tôi và Ánh Phương chọn chỗ ngồi nơi dãy hai ghế sát cạnh cửa lên xuống ở phía sau xe. Lần lượt từng người khách quay về bước lên xe. Xe chật kín, hết ghế trống mà khách còn đứng ngồi lổn nhổn ở lối đi giữa xe. Tôi nhẩm tính trong đầu, với 10 hàng ghế mà mỗi hàng 5 người rồi thêm 4 ghế phía trước gần tài xế và 6 ghế cuối, ít nhất phải có 60 khách vượt biên trong chuyến đi đêm nay. Cá lớn đón chúng tôi dài rộng cỡ nào? Có bằng chiếc ghe năm xưa tôi đi hay nó nhỏ hơn? Bây giờ đã gần 8 giờ tối, xe bus bắt đầu lăn bánh ra khỏi bến và chạy về hướng Rạch Sỏi.

Tôi nhìn ra hai vệ đường, đèn nhà dân hắt ra soi rõ những cây dừa mọc sát mặt lộ. Đây đó vài trẻ em đùa giỡn trước cửa nhà. Một tiệm cà phê lác đác người ngồi ở các bàn trống. Qua hết dãy nhà, xe đi vào vùng cây cối bãi bồi gần biển. Cảnh vật hiện lờ mờ như là bụi cây đước, một bãi bùn hay là bờ đất tiếp giáp với lề đường. Xe chạy đều đều khá lâu thì rẽ trái vào một con đường nhỏ rồi chạy thêm một đoạn ngắn nữa thì tắp vào một khu vườn. Xe tắt máy dừng hẳn. Cây trong vườn xum xuê như rừng nhưng quá tối, tôi không biết loại cây gì.

– Chúng ta phải chờ ở đây. Yêu cầu mọi người ngồi yên. Tiếng người lơ nói khá to trong xe.

Mọi người giữ im lặng. Thỉnh thoảng có ánh đỏ chớp lên từ đầu một điếu thuốc lá của ai đó. Tôi bảo Ánh Phương:

– Em có mệt thì nhắm mắt ngủ đi, họ nói thế thì chắc mình phải chờ khá lâu.

Thực sự thì cơn buồn ngủ đã làm mắt tôi nhíu lại. Tôi và Ánh Phương ngủ ngồi trên ghế xe cả tiếng đồng hồ thì choàng tỉnh khi nghe tiếng xe Honda từ xa vọng lại. Ánh đèn hai chiếc Honda đến gần. Cả thẩy có 4 người tất cả. Một người trong bọn mặc sắc phục công an. Ba người còn lại, có kẻ tay vung vẩy cây súng AK47. Tôi nói khẽ với Ánh Phương:

– Công an!  Chết mồ rồi Phương ơi!

Tim tôi đập thình thịch. Ánh Phương lộ vẻ thất sắc, tay nàng nắm lấy tay tôi run run. Chúng tôi đã vào rọ của công an? Bất chợt cánh cửa xe bật mở, tài xế và hai người lơ nhẩy xuống cùng nhập vào bọn bốn người mới đến. Tôi nghe rõ tiếng của anh Thành. Cả bọn ngồi bàn bạc trong chốc lát rồi một xe Honda chạy đi trước, kế tiếp chiếc xe bus. Ở một khoảng khá xa, chiếc Honda còn lại chạy bọc sau cùng .

Bây giờ tôi và Ánh Phương cũng như khách trên xe buýt mới hoàn hồn bớt lo. Vậy là chuyến đi có công an-du kích bán bãi như lời nhóm tổ chức đã nói. Một làn gió mát thổi vào mặt làm tinh thần tôi phấn chấn vì nghĩ đến sự an toàn tối nay. Ánh Phương nói:

– Ban nãy em sợ muốn chết đó anh Vũ. Rủi họ không cùng phe mình, không biết em sẽ làm sao nữa… rồi nàng cười vui vẻ.

Xe tiếp tục chạy ngược về hướng Hà Tiên và sau cùng ngừng lại sát cạnh bên vệ đường. Chỗ nầy vắng vẻ không một bóng người qua lại. Chúng tôi được lệnh xuống xe ngay lập tức và nối đuôi nhau theo ánh đèn pin của một người dẫn đường đi phía trước. Cả bọn yên lặng, cứ người đi sau bám theo lưng của người phía trước mà di chuyển êm ả trên các bờ đất trong đêm tối tĩnh mịch. ” Đây là Vàm Rầy “, tiếng người thì thào trong bóng tối. Khách vừa xuống hết, xe bus liền biến mất trong bóng đêm.

Chúng tôi rồng rắn đi với nhau cho đến cuối bờ đất thì chân bắt đầu đặt xuống một bãi sình. Tôi và Ánh Phương bước lõm bõm gần bên nhau chung với các người khác. Thêm một ánh đèn pin nữa lúc chớp lúc tắt xuất hiện ở phía trước xa xa. Chúng tôi lần từng bước về hướng ánh đèn pin. Đến nơi, đoàn người được phân tán ra thành từng nhóm nhỏ, ngồi nấp ngay sát cạnh những đám cây mọc trong vùng đất sình. Dũng, Mỹ An cùng tụi thằng Minh bây giờ đang ở đâu trong các bụi cây nơi mép biển?

Trăng khuya bắt đầu mọc, soi ánh sáng vàng vọt leo lét trên toàn vùng. Nước triều đang từ từ dâng lên. Đứng ở trên mặt đường lộ bây giờ, không ai ngờ ngay dưới chân những bụi cây sát biển này đang có cả một nhóm người ẩn nấp để chờ vượt biên. Nước triều dâng mỗi lúc một cao hơn, chúng tôi vẫn ngồi yên trong nước biển. Đến lúc chúng tôi phải đứng lố nhố vì không thể ngồi được nữa thì một cái xuồng ba lá nhỏ xuất hiện. Xuồng ba lá đó  chèo nhè nhẹ đến gần chúng tôi. Tiếng đàn ông ngồi trên xuồng hối thúc chúng tôi lội ra ngay. Tôi nắm tay Ánh Phương cùng bước lội từng bước về phía cái xuồng.

– Đừng leo lên, chỉ bỏ túi xách thôi. Anh chị bám theo xuồng này để ra ghe, tiếng đàn ông trên xuồng nói.

Tôi vất túi xách lên xuồng, tay bám và chân thì bước theo từng bước một. Trong ánh vàng vọt của trăng non, tôi thấy thấp thoáng một bóng một chiếc ghe nhỏ xa xa. Nước bắt đầu đến ngực rồi cổ. Chân tôi có lúc bước hụt xuống một hố khá sâu. May là trồi lên kịp. Ánh Phương tay bám chặt vào vai tôi. Sau cùng cả hai đến được sát bên ghe. Người đứng trên ghe cúi xuống nắm tay từng người dưới nước kéo lên. Đến lượt Ánh Phương, nàng cố gắng hết sức cũng không thể đưa tay tới được người trên ghe. Tôi phải giúp nàng bằng cách nhắm mắt, hụp hẳn xuống dưới nước và ôm thắt lưng nàng đẩy phụ lên. Lần đầu tiên tôi chạm vào thân thể Ánh Phương. Xong lượt nàng, đến lượt tôi cũng lên được mặt sàn ghe. Tôi nhìn thật kỹ thân ghe, đúng nó nhỏ hơn chiếc ghe tôi vượt biên trong lần trước. Một gã đàn ông khác đã ấn tôi chui xuống khoang trống. Không lẽ cá lớn đây thật sao? Tôi phân vân tự hỏi. Người mỗi lúc được nhét thêm xuống khoang chiếc ghe. Hơi nóng từ thân người hoà với mùi dầu gió xanh toả ra nồng nặc. Tuy trông không rõ mặt nhau trong bóng tối nhưng ai cũng biết khoang ghe đã chật cứng người. Ai ngồi đâu yên đó, không thể cục cựa được. Ánh đèn pin chợt loé lên từ cửa khoang ghe và khuôn mặt của anh Thành hiện ra. Anh hỏi tên từng người khách cùng mật mã an toàn. Tôi nghe tiếng của Dũng, Mỹ An rồi Minh và Ánh Phương trong khoang ghe. Khi anh Thành vừa xong lượt tôi, tiếng một người vặn hỏi:

– Ê! Thành. Ghe này, ghe taxi hay cá lớn vậy… Người đầy nhóc cả rồi?

– Taxi thôi. Nhỏ xíu vầy sao mà đánh chuyến được. Yên tâm đi đại huynh. Cá lớn chờ ngoài khơi kìa. Anh Thành quả quyết rồi sau khi lấy mật mã xong xuôi, anh chúc mọi người thành công trong chuyến đánh đêm nay trước khi theo xuồng ba lá để quay vào bờ. Đêm đó, nửa khuya về sáng của một ngày cuối tháng 5-1990.

Tiếng máy nổ lớn hơn rồi tấm nắp cửa khoang đã được đậy lại và qua chuyển động của thân ghe với làn nước bên ngoài, tôi biết là taxi đã khởi hành. Trong khoang hầm tối đen, tiếng người niệm Phật lầm thầm chung với tiếng người khác thở dồn dập. Chợt tiếng người đàn ông khi nãy đã vặn hỏi anh Thành vang lên:

– Họ đánh bằng ghe này thật rồi bà con ơi, ai không tin tui cứ chờ thì biết… Taxi gì mà tập trung hết tất cả khách vào đây.

Ông ta nói nhưng không một người nào lên tiếng trả lời. Tiếng máy ghe cứ chạy đều đều êm ả như vậy và tôi ngủ thiếp đi không biết bao lâu thì tỉnh dậy. Bây giờ trời đã sáng. Có người nào đó hỏi giờ thì được người khác trả lời là 8 giờ 15 phút sáng rồi. Dù ánh sáng ban ngày hắt từ khe hở cửa khoang và từ phía máy ghe nhưng tôi vẫn không thấy Ánh Phương, Mỹ An, Dũng và Minh đâu. Chung quanh tôi bây giờ chật cứng dù có muốn xoay chân, đảo người cho bớt mỏi cũng không thể. Sát cạnh tôi là một phụ nữ với mái tóc dài thỉnh thoảng gục đầu vào người tôi. Tôi biết chị này đang cơn say sóng. Vẫn còn tiếng người nôn oẹ đây đó trong khoang. Tôi nhắm mắt lại vì mệt vì mũi tôi khó chịu với mùi thức ăn người ói ra pha trộn với mùi dầu máy ghe, mùi dầu xanh con Ó, mùi hơi người và cả mùi nách nữa… Cảm giác nôn nao trong người bắt đầu đến với tôi. Tôi muốn ói và cổ đã ợ hơi vài lần. Tôi ngẩng đầu lên cố chống lại cơn ói nhưng rồi biết mình không thể. Gục đầu xuống tôi bắt đầu ói ngay vào quần áo của mình. Thể xác mệt mỏi khiến tôi ngủ rồi lại chợt thức mà không biết thời gian trôi qua bao lâu và tự hỏi ghe chạy đến đâu rồi lại ngủ tiếp sau đó. Cứ như vậy cho đến khi có tiếng mở cửa khoang hầm kèm theo nghe tiếng người nói mình ra khỏi hải phận Việt Nam rồi. Hé mắt nhìn lên, tôi thấy một mặt người lem luốc đầy dầu mỡ. Người đàn ông này mở rộng cửa khoang hầm, cúi đầu sát xuống nhìn vào đám người chúng tôi rồi anh ta nở nụ cười nói:

– Bà con mệt dữ ha… Ráng chịu đựng đi nghen, có đồ ăn và nước đây, ai có khát có đói thì lấy dùng nha.

Mấy đòn bánh tét, vài xâu củ sắn và hai bình nhựa đựng nước được chuyền xuống cho chúng tôi rồi nắp cửa khoang hầm đóng sập trở lại liền.

Mình ra khỏi hải phận Việt Nam rồi. Như vậy đây là cá lớn chứ không phải taxi gì hết. Tự nhiên tôi lại cảm thấy lo lắng khi biết anh Thành đã xí gạt chúng tôi nhưng bây giờ thì đã quá muộn. Câu nói quả quyết của anh: ” Ghe nhỏ như vầy làm sao vượt biên được. Cá lớn chờ ngoài khơi kìa ” trở về trong trí tôi. Biết nói như vậy nhưng sao anh Thành lại vẫn dùng ghe nầy cho chuyến vượt biên của chúng tôi? Giờ mình có muốn đổi ý, muốn quay về cũng không được nữa. Thôi đành phó mặc cho số phận vậy. Ghe tiếp tục chạy như vậy thật lâu thì tự dưng tốc độ giảm lại và ghe dừng hẳn dù máy vẫn nổ. Có nhiều tiếng người nói lao xao bên ngoài vọng vào tai tôi. Chuyện gì đây? Trong tiếng máy ghe tôi nghe thêm tiếng máy nổ khác. Vậy là có ghe hay tàu lạ ở gần bên ngoài rồi. Chợt cả hai cánh cửa lớn khoang hầm ghe được mở tung ra hoàn toàn. Ánh sáng bên ngoài tràn đầy vào trong khoang hầm làm mọi người phải nhắm ngay mắt lại. Lấy tay che mắt, tôi nhìn lên các khuôn mặt lạ đang quan sát chúng tôi. Họ là ai vậy? Một người đàn ông mỉm cười, nói:

– Đông người dữ ha. Bà con đừng sợ, tụi tui cũng dân biển không hà. Chạy được tới đây coi như là thoát rồi có điều tối khuya nay trời có dông đó. Biển hơi động nghe bà con, ráng chịu cực thêm chút xíu qua cơn dông thì ghe chạy êm ru.

Vài người ngồi dưới khoang hầm ghe nhân cơ hội ngỏ ý muốn trèo lên để đi tiểu và họ leo lên thật. Tôi ráng hết sức cũng lách ra rồi đu người leo lên thành ghe như họ. Một chiếc ghe kích cỡ bằng cá lớn chúng tôi đang đậu sát bên cạnh. Mấy người trong chiếc ghe đó cho chúng tôi biết họ là ngư dân của đảo Phú Quốc và vùng biển chúng tôi ở đây thuộc nước Campuchia. Tôi nhìn chung quanh, ánh nắng chói chang trên đầu, nước biển mầu xanh lá cây xa tít tới tận chân trời. Chỉ toàn một màu xanh nước biển và không một bóng ghe, hòn đảo nào khác nữa. Tôi nằm vật xuống ngay trên thành ghe, tự nhủ là chắc mình nằm đây luôn không chui xuống khoang hầm chật hẹp nữa. Nằm trên sàn ghe  trong không khí thoáng mát, tay chân xoay trở thoải mái… thật là dễ chịu. Những người trên chiếc ghe Phú Quốc đó xin chúng tôi cho họ tất cả tiền Việt Nam còn mang trong người, nói là đến được trại tỵ nạn bên Thái thì cũng vất bỏ đâu có xài được. Đúng thôi! Tôi ngồi dậy, móc tất cả tiền Việt trong bóp ra cho họ y như những người khác. Những người tài công trên ghe chúng tôi cho họ cả những tay lưới đánh cá luôn. Sau đó, những người trên ghe Phú Quốc này cùng với tài công trong ghe chúng tôi bàn bạc nhau về hướng đi của ghe và cách đối phó khi gặp trời dông gió trong tối nay.

Khi chiếc ghe Phú Quốc từ giã chạy xa rồi thì những người tài công lại bắt buộc chúng tôi phải chui xuống khoang hầm trở lại trước khi ghe tiếp tục chuyến hải hành. Đúng như lời những tài công của ghe Phú Quốc đã nói, lúc nửa khuya, dông gió bắt đầu xuất hiện. Thoạt đầu ghe vẫn còn chạy bình thường và tiếng mưa quất vào thành ghe thành một âm thanh đều đều nhưng rồi dông gió càng lúc càng to. Tiếng mưa bây giờ gào thét cuồng nộ và các giọt mưa bào sát vào thành ghe kêu rào rạo. Tôi nghe tiếng chân của các tài công chạy tới chạy lui trên mặt khoang ghe và tiếng họ gọi nhau í ới. Có lúc ghe lắc thật mạnh, các miếng ván thành ghe vặn vào nhau kêu ken két cùng với tiếng người nào đó khóc thét lên. Tôi tỉnh hẳn cơn mệt, cơn say sóng vì quá sợ hãi. Tôi không còn nhớ đến bất cứ chuyện gì ngoài những khuôn mặt của các thân nhân ruột thịt tôi. Dông gió cứ như vầy hoài thì ghe sẽ chịu thêm được bao lâu? Tuy ngồi yên một chỗ nhưng qua những cảm giác trong cơn dông gió này, tôi biết chiếc ghe đang chịu cảnh vùi dập của các con sóng dữ dội bên ngoài. Cửa khoang hầm dù đã được đậy kín nắp nhưng nước bên ngoài vẫn hắt từng chập vào người chúng tôi qua các kẽ ván hở. Người tôi bây giờ ướt sũng nước mặn.

 

Cơn dông kéo dài như vậy suốt cả đêm mà kỳ lạ thay, chiếc ghe vẫn chịu được cho đến sáng thì giông gió bớt dần và rồi ngưng hẳn. Cửa khoang hầm ghe được mở ra và tiếng người tài công nói lớn: ” Bà con ơi biển lặng rồi, ghe mình đã thoát cơn dông “. Bây giờ thì tài công cho phép ai muốn lên trên thành ghe hay muốn ở dưới khoang hầm thì tùy ý. Tôi lại trèo lên nằm hẳn trên mặt sàn ghe. Ghe chạy êm ả đều đều như vậy và bây giờ thì mọi người thấy có những hòn đảo xa xa. Một tài công nói là thấy đảo nhiều như vầy thì ghe mình sắp vào Thái Lan rồi.

– Tụi tui phải ngủ lấy sức mới chạy tiếp được, mệt quá rồi. Một tài công nói.

Họ cho ghe chạy từ từ vào sát một chỗ khuất của hòn đảo gần nhất. Máy ghe tắt hẳn trả lại sự im lặng tĩnh mịch của khung cảnh. Trời buổi sáng sau cơn dông hồi hôm khiến không khí mát lạnh. Thỉnh thoảng có cơn gió thổi qua làm ai cũng cảm thấy dễ chịu. Tôi lại nhắm mắt ngủ tiếp, mơ hồ nhớ lời nói của người tài công là nội ngày mai hay ngày mốt thì mình sẽ có mặt tại một bờ biển nào đó của Thái Lan mà đâu ngờ những tai ương khiếp đảm sắp sửa đổ xuống cho hành khách của chuyến đi bất hạnh này.

Mặt trời lên cao chiếu ánh nắng nóng làm tôi thức giấc và tỉnh ngủ hẳn. Tôi ngồi dậy nhìn chung quanh, trên mặt sàn ghe người ngồi nằm la liệt bên nhau, chắc chỉ còn ít người ở lại dưới khoang hầm. Tôi lách người đi lần về phía đuôi chiếc ghe. Một phi nhựa khá lớn được cột chặt vào cạnh cửa buồng lái với nắp đậy kín. Tôi mở nắp nhìn vào bên trong, còn hơn phân nửa thùng nước. Thấy có chiếc ca nhỏ, tôi múc ra một chút nước rửa sơ mặt mũi của mình rồi uống cạn phần nước còn lại. Từ lúc xuống ghe cho tới giờ tôi mới uống nước vậy mà vẫn không cảm thấy khát. Những can nhựa đựng dầu cạn không nằm lăn lóc đây đó. Trong buồng máy nhỏ, hai người tài công nằm gần nhau đang ngủ say. Tôi biết hai người này còn mệt hơn chúng tôi nữa vì chạy ghe suốt từ tối hôm đó đến giờ họ mới được ngủ như vậy. Tôi nhìn vào phía đảo, không một dấu vết có người sinh sống. Thỉnh thoảng có tiếng thú kêu, chim hót trong các tàng cây vọng lại. Tôi bước đến cạnh bên sườn ghe, nhìn xuống mặt nước trong vắt thấy rõ cát, đá cùng những mảnh vỏ ốc và vài con cá nhỏ bơi lội tung tăng tận đáy. Chợt nghĩ đến Dũng đến Ánh Phương và Mỹ An, tôi quay về cửa khoang hầm định tìm xem họ ra sao thì đã thấy Ánh Phương nằm ngay trên mặt sàn phía gần mũi ghe. Tôi bước đến cạnh bên nàng gọi khẽ:

– Phương ơi Phương!… có khoẻ không, em sao rồi?

Nghe tiếng gọi, Ánh Phương mở hé mắt nhìn tôi. Nàng khẽ gật đầu rồi ngồi gượng dậy.Tôi ngồi xuống bên cạnh Ánh Phương, nhìn vào khuôn mặt nàng rồi nhìn lại thân thể tôi và những người khác. Chỉ có hai đêm nằm dưới khoang hầm thôi mà chúng tôi giờ trông khác hẳn. Người nào người nấy đầu tóc rũ rượi, quần áo nhếch nhác vì những vệt ói, bệt dầu mỡ và nước bẩn bám vào.

– Em tưởng mình chết trong tối hôm qua rồi. Ghê quá đi anh Vũ ơi. Chắc những câu chuyện ghe vượt biên bị chìm là vì họ đã gặp dông gió như mình há anh? Ánh Phương thều thào nói với tôi.

Tôi thấy Dũng, Mỹ An và cả thằng Minh nữa. Người nào cũng một vẻ bần thần mệt mỏi. Mọi người giờ đây đều ngồi trên mặt sàn ghe, trong ca bin và cạnh buồng máy dù trời nắng nóng nhưng chẳng có ai chịu chui xuống khoang hầm nữa. Ai cũng mừng vì thoát được cơn dông hồi đêm. Ghe này tuy nhỏ nhưng may mắn là còn tốt lắm. Tôi và Ánh Phương leo xuống khoang hầm ghe tìm lại các túi xách của mình. Không còn ai ngồi ở đây nữa vì nó quá sức bề bộn, bê bết nước bẩn. Cả hai trèo trở lên sàn ghe đến bên Dũng và Mỹ An. Ánh Phương mở túi xách của nàng, lấy ra ít thỏi kẹo chocolate  đã bẹp dúm mời cả bọn cùng ăn nói là kẹo này do anh ruột nàng gửi về từ bên Úc. Vài người trên ghe thu gom những xâu bánh tét, các bịch bánh ngọt, củ sắn và mì gói để gọn lại một chỗ cho ai cảm thấy đói thì ăn.

Trời nắng chói chang nhưng nhờ có gió mát nên chúng tôi cũng không thấy nóng. Đoàn người trên ghe cứ yên lặng nghỉ ngơi như vậy cho đến xế chiều thì hai người tài công thức dậy. Họ ăn uống qua loa rồi bắt đầu quay máy ghe để tiếp tục cuộc hành trình nhưng dù cố hết sức, máy ghe vẫn không nổ. Vài thanh niên khoẻ mạnh trên ghe loay hoay đến tiếp sức nhưng hoài công. ” Tụi tui phải tháo máy ra xem coi nó hư chỗ nào “, hai tài công nói vậy và họ tháo tung máy ghe ra thật. Rồi sau đó, khi máy ráp trở lại thì họ cũng không quay cho máy nổ được.

Mệt mỏi mà chuyện không thành, tài công cùng những người trên ghe quyết định cho ghe vào sát đảo để mọi người bỏ ghe lên bờ kiếm nước tắm táp và tìm chỗ nghỉ ngơi trong đêm. Hai thanh niên nhẩy xuống nước bơi vào bờ rồi họ nối dây vào ghe, kéo chiếc ghe đến chỗ cạn để mọi người có thể lội xuống được. Tôi, Dũng, Ánh Phương và Mỹ An theo những người trên ghe trèo xuống nước, bước dần vào bờ. Những người lên bờ trước chúng tôi đã tìm thấy nước ngọt trong các hốc đá. Nước ngọt mát lạnh trong các vũng nước khá lớn và cứ chảy tràn ra ngoài. Chúng tôi dùng tay khoát nước rửa mặt, rửa người cho sạch các vết bẩn rồi lấy quần áo trong túi xách ra thay. Sau đó, giặt sạch các quần áo bẩn và phơi chúng trên những cành cây thấp la đà. Xong xuôi, chúng tôi lại quay về kiếm chỗ nằm gần chiếc ghe mà bây giờ trống không chẳng còn người trên đó. Chúng tôi ngồi, nằm thành từng nhóm nhỏ ba bốn người bên nhau. Anh Tấn, người đã hỏi anh Thành về ghe taxi hay cá lớn là người lớn tuổi nhất trong cả bọn, nhìn khắp lượt đám người chúng tôi rồi nói:

– Ai có chuyện riêng muốn đi vô trong rừng thì đừng đi một mình và cũng đừng đi quá sâu vào bên trong. Đảo này chắc chắn không cọp beo gì đâu nhưng mà rắn độc thì có đấy và có khi cả loài trăn gió nữa. Đi một thân một mình gặp trăn, có thể bị nó quấn chết tươi, do đó phải cẩn thận và chớ ăn trái cây rừng gì hết kẻo ngộ độc chết như chơi. Anh Tấn cũng nói thêm là ban đêm mọi người phải nằm ngủ gần bên nhau từng nhóm để có chuyện thì còn giúp nhau được và chớ có xé lẻ nằm riêng một mình không tốt.

Tôi, Dũng, Ánh Phương và Mỹ An liền làm một nhóm với nhau. Chúng tôi chọn các bờ đá thấp thoai thoải không xa chiếc ghe. Dùng các cây bụi nhỏ quét sạch đất,  rác lá trên các bờ đá này rồi bẻ các nhánh lá trải xuống và nằm nghỉ ngơi gần bên nhau. Có người nào đó đề nghị nhóm lửa để nấu mì gói ăn cho nóng nhưng phải bỏ ý định đó vì ban đêm đốt lửa rất nguy hiểm. Ghe tàu ngoài khơi xa sẽ dễ dàng biết chỗ chúng tôi đang trú ẩn ở đây.

Trăng từ từ mọc soi ánh sáng vàng vọt, chúng tôi nhìn lên bầu trời qua các tàng cây và nhìn những đốm lấp lánh chớp tắt trên mặt biển mà những tài công cho biết đó là loài sứa đang ăn đêm. Gió biển thổi vào bờ mát rượi làm chúng tôi dễ dàng chìm vào giấc ngủ. Đang ngủ ngon giấc, đột nhiên có tiếng người thét lên hoảng hốt khiến cả bọn chúng tôi choàng tỉnh, ngồi bật dậy. Một cô gái vẻ mặt thất thần cho chúng tôi biết cô vừa trông thấy một đốm lửa mầu xanh lá cây thật lớn loé sáng ở ngay những tảng đá gần chỗ vũng nước ngọt mà hồi chiều chúng tôi đã ghé vô đó để rửa ráy tắm giặt. Anh Tấn đến gần bên cô gái, nói vài lời an ủi rồi trấn an mọi người:

– Đừng sợ… đừng sợ!. Đất có Thổ Công- sông có Hà Bá, đảo này không phải quê hương bản quán Việt Nam mình mà mình đặt chân đến thì đốm sáng mà cô này vừa thấy là hương hồn người khuất mặt ở đây muốn cho mình biết có sự hiện diện của họ. Ai đạo nào thì cầu nguyện theo đạo đó, xin người khuất mặt tha thứ cho những gì mình làm họ không vừa lòng và xin họ che chở cho chuyến đi.

Chúng tôi ngồi yên mà không biết chuyện cô gái vừa kể có thật hay không? Ai cũng cảm thấy rờn rợn.

– Có khấn có thiêng-có kiêng có lành. Thôi! Tất cả nằm xuống nhắm mắt ngủ tiếp đi và nhớ là từ ngày mai nếu ghe mình vẫn còn kẹt lại đây thì đừng có ai làm chuyện gì tầm bậy tầm bạ nghe chưa!

Dứt lời, anh Tấn ngồi im lâm râm đọc thầm kinh hay lời cầu nguyện gì đó. Vài người ngồi gần đấy thấy cử chỉ của anh Tấn cũng bắt chước làm theo. Tự dưng bây giờ mọi người cảm thấy có điều gì huyền bí ở trên hòn đảo. Tuy anh Tấn bảo mọi người nhắm mắt ngủ đi nhưng anh lại không ngủ mà nhập vào một nhóm có hai người tài công để hút thuốc và trò chuyện.

Tôi quay về chỗ nằm cũ thì thấy Ánh Phương và Mỹ An bỏ chỗ cũ, kéo đến nằm sát cạnh bên tôi và Dũng. Có lẽ trong những lúc sợ hãi như lúc này, người con gái thường quên hẳn những gì gọi là kín đáo, giữ ý trước mặt nam giới. Ánh Phương, Mỹ An và Dũng thấy tôi thì than là nếu ghe vẫn còn chạy thì bây giờ chắc cũng sắp đến bờ biển nào đó của Thái Lan rồi, đâu có phải nằm kẹt ở đây để sợ như vậy. Chúng tôi ngồi bên nhau nói những câu chuyện vụn vặt và cầu mong cho ngày mai tài công sửa được máy để đi tiếp chứ còn ở đây dù có thoải mái hơn khi ở dưới ghe nhưng thật là bất ổn.

Ngày hôm sau, ngay từ sáng sớm các tài công cùng anh Tấn và vài thanh niên trèo về lại ghe, cố hết sức để sửa máy nhưng vẫn không sao làm cho cỗ máy nổ lại được. Khi vào lại bờ nghỉ mệt, anh Tấn nói nhỏ:

– Máy ghe bị trục trặc cái gì đó mà các cha tài công tìm không ra. Chỉ biết chạy ghe và sửa chữa hư hỏng lặt vặt thôi, khi máy hư nặng thì coi như bù trất.

Trưa đến, mọi người quyết định nấu nước nóng làm mì gói ăn. Dưới ghe có nồi lớn có gạo nữa nhưng nếu nấu cơm thì lấy gì làm thức ăn đây? Ánh Phương và Mỹ An nhấm nháp các thanh kẹo chocolate còn lại nói là ăn như vậy cảm thấy no rồi còn tôi và Dũng thì bẻ vụn gói mì ra ăn sống từng nhúm một. Chiều đến, các tài công quay trở vào bờ cho mọi người biết là họ không sửa được máy ghe. Nghe xong, ai cũng ngao ngán rồi buồn và lo lắng cho số phận. Vài người đi dọc theo các ghềnh đá bắt được khá nhiều ốc mang về đập bể vỏ móc bỏ ruột rồi nấu món cháo ốc chia cho cả bọn cùng ăn. Khi trời tối, chúng tôi vẫn để lửa cháy và còn kiếm thêm các cành cây khô để ngọn lửa cháy lớn hơn nữa. Giờ thì ai cũng phó mặc cho mọi sự ra sao thì ra. Ngồi quây quần bên nhau gần ngọn lửa khuya trong một khu hoang vắng, nhóm người chúng tôi trông thật không khác gì đang ở một buổi dã ngoại đốt lửa trại về đêm. Có cả một ngày trên đảo hoang mới biết tất cả ghe là 51 người bao gồm 33 nam và 18 nữ. Hai tài công đều mang vợ đi theo và chị Ân cùng đi với cậu con trai 14 tuổi. Những người còn lại đều đi độc thân một mình. Đến khuya thì ngọn lửa tàn dần và mọi người lại trở về chỗ của mình, nằm nói chuyện với nhau chờ giấc ngủ đến. Tôi và Ánh Phương cũng kể cho nhau nghe về gia đình về bản thân của mỗi bên rồi sau đó, cả hai cũng thiếp ngủ lúc nào không biết.

Chợt có bàn tay ai đó lay tôi thức dậy. Tôi mở mắt nhìn thì ra là Dũng và anh Tấn. Theo chân hai người đi đến một chỗ trống, anh Tấn chỉ cho tôi thấy một vệt sáng từ tuốt ngoài khơi xa chiếu thẳng vào bờ ngay chỗ ghe chúng tôi. Vệt sáng này là ngọn đèn pha của một chiếc tàu khá lớn. Tôi quay trở vào, đánh thức Ánh Phương và Mỹ An dậy. Chúng tôi hỏi thì anh Tấn nói con tàu đó không biết có mặt tại đây từ lúc nào, tàu nước nào, loại tàu gì? Vì có người thức khuya không ngủ nên mới thấy nó chiếu đèn vào ghe mình, vào chỗ tụi mình nên mới gọi nhau dậy.

Chúng tôi ngồi yên lặng nhìn bóng chiếc tàu. Nó cứ pha đèn rồi tắt rồi lại pha. Không biết có phải là nó đang đánh tín hiệu Morse gì đó cho chúng tôi không? Cuối cùng thì đèn pha chiếc tàu lạ tắt phụt, chúng tôi chỉ thấy lờ mờ ngọn đèn nhỏ của tàu và nó dần dần biến mất vào bóng đêm. Cả bọn chúng tôi không ai ngủ được nữa. Ngồi bên nhau mà lòng lo lắng không biết ngày mai sẽ ra sao đây? Chúng tôi dự trù các diễn tiến xấu có thể xẩy đến và bàn các biện pháp đối phó.

– Chúng ta bị lộ rồi, không thể nán lại đảo được nữa, phải tìm mọi cách lên đường thôi. Anh Tấn nói và mọi người đều đồng ý phải như vậy.

 

Đêm chậm chạp qua đi, bình minh đến dần. Từ sáng sớm, hai tài công vội vã trở lại ghe để cố sức sửa máy cho bằng được. Lần này có thêm vài người khác nữa trong số có cả anh Tấn và tôi đi theo. Thực sự ngoài tài công, nhóm người chúng tôi tiếng ra theo phụ sửa máy ghe nhưng cũng chẳng ai biết gì về máy móc cả. Có mặt trên ghe như một khích lệ hai tài công. Mong họ sửa được và cần người quay máy, chúng tôi có mặt sẵn tiếp sức. Cả bọn đang hì hụi bên nhau bất chợt nghe tiếng la từ phía trong bờ. Mọi người trên ghe dừng tay, nhìn vào bờ rồi nhìn ra hướng biển. Một chiếc tàu khá lớn đang từ từ tiến vào thẳng ngay phía ghe chúng tôi. Anh Tấn nói to vọng vào bờ:
– Đàn bà con gái lánh mặt trốn ngay đi. Nam giới ai nấy lo kiếm đồ thủ sẵn trong tay để mà chơi với tụi nó nghe.

Chúng tôi cũng vội tản ra ngay. Người cầm cây búa, người con dao hoặc đoạn dây lòi tói sắt… Tàu lạ tiến vào từ từ. Khi cách ghe chúng tôi khoảng 200m, nó ngừng lại. Nó không vào được. Sợ mắc cạn hoặc sợ bể thân thân thân tàu vì các rạn đá ở gần bờ, tôi nghĩ vậy. Im lặng một lúc, hai bóng người nhẩy xuống biển từ con tàu lạ và bơi về hướng ghe chúng tôi. Khi bơi đến gần ghe, chúng tôi thấy họ mang theo mỗi người một thùng nhựa khá lớn. Còn cách ghe chúng tôi khoảng 10m họ ngừng lại. Họ bơi đứng, nói bằng ngôn ngữ lạ chúng tôi không hiểu. Tay họ chỉ vào thùng nhựa mang theo và chỉ vào miệng. Anh Tấn khoát tay ra dấu cho hai người lạ bơi lại ghe. Họ đến sát bên ghe nhưng không dám leo lên vì bộ dạng chúng tôi với những thứ đang cầm trên tay. Hai tài công tiến lại gần người lạ và hỏi hai tiếng Thái Lan thì cả hai gật đầu. Họ đẩy các thùng nhựa lên cho tài công. Hai thùng nhựa được chuyền lên ghe. Ngay sau đó, hai người Thái Lan bơi nhanh về tàu họ. Họ leo trở lại con tàu. Ít phút sau, con tàu từ từ quay lui rồi tăng tốc chạy mất dạng trước sự ngỡ ngàng của đám chúng tôi.

Chúng tôi tiến lại xem hai thùng nhựa. Anh Tấn mở nắp một thùng ra xem. Bên trong chứa đầy cơm nếp cùng tảng đường Thốt Nốt mầu vàng nhạt. Tôm thẻ rang chín chung với ớt đỏ. Dưới đáy thùng, một bọc nhựa đầy xoài xanh thái chỉ trộn với cá mắm cùng ớt và tỏi bằm chung. Thùng nhựa thứ hai chứa đầy tới miệng kẹo bánh, thuốc lá thơm hiệu Samit, Gold City và những lon nước ngọt Coca Cola.

Khuân hai thùng đồ ăn vào bờ, anh Tấn tập họp mọi người ngồi thành một vòng tròn dưới những tàng cây mát. Chúng tôi chia thức ăn từ hai thùng nhựa đều cho mọi người trong nỗi vui mừng và ngạc nhiên vì thái độ quá sức thân thiện của hai thủy thủ Thái Lan ở con tàu lạ.

– Đâu phải tàu Thái Lan nào cũng hải tặc hết đâu… Có người này người khác chứ.

Ai cũng cho như vậy mà đâu biết những bất trắc từ con tàu lạ sẽ xẩy ra cho ghe chúng tôi… chỉ trong vài tiếng đồng hồ nữa.

Đến đây, tôi nói sơ qua về chuyện ăn uống trên đảo khi đó. Phải nói nhờ có anh Tấn mà chuyện ăn uống mới có quy củ chứ không thì vẫn cảnh giành giựt mạnh ai nấy lấy, mạnh ai nấy ăn. Ít giờ trước đó, mấy phụ nữ vừa nấu xong một nồi cháo ốc cho bữa ăn sáng thì xẩy ra cảnh giành giựt. Cháo chín tới, ghe chỉ có vỏn vẹn bốn cái chén sành và một cái tô nhựa. Người nấu cháo đã nói lần lượt từng người tự giác ăn một chén còn để chừa phần cho người khác. Có hai gã thanh niên chen vào giành chén, múc cháo ăn trước tiên. Khi húp cạn chén cháo, hai gã tỉnh bơ múc đầy và ăn tiếp mà không chuyền cái chén cho người khác đang chờ đến lượt. Hết chén thứ hai sang chén thứ ba thì có người lên tiếng nhắc nhở. Hai gã vẫn gục mặt ăn tiếp làm như không nghe thấy gì hết. Một trận xô xát nhỏ đã xẩy ra giữa hai gã với những người khác. Hai gã thanh niên đó ở trong đám nhập chung với chúng tôi tại bến xe Hà Tiên khi nhóm tổ chức nhét thêm khách. Hai gã còn trẻ, to xác nhưng rất lười. Cứ nằm yên hay ngồi chơi tại chỗ. Mặc ai đi bắt ốc, ai đi gom củi nấu mì gói nấu cháo thì đi. Hai gã không hề giúp một tay. Khi nồi mì nồi cháo nấu xong, hai gã nhào vào ăn trước. Ăn rất hỗn, chẳng biết nhường phần người sau. Có người còn bắt quả tang hai gã lục túi xách của người khác khi còn ở dưới ghe. Xô xát xẩy ra. Hai thanh niên thật hung dữ, đuổi đánh những người chống lại… buộc anh Tấn phải vào cuộc. Anh Tấn chạy tới can ngăn thì bị một trong hai gã đánh luôn. Dù vóc dáng nhỏ con nhưng anh Tấn ra ngón võ thế nào mà chỉ loáng một cái, hai gã thanh niên nằm thẳng cẳng ngay đơ dưới đất. Vài người chạy đến hai gã tính đánh trả thù nhưng anh Tấn cản lại, không cho.

– Đ.M! Hai thằng mày… thứ sâu bọ ham ăn giành uống như vậy sao không ở với Việt Cộng mà vượt biên làm gì? Cỡ chúng mày ra nước ngoài chỉ tổ làm người Việt nhục lây. Hôm nay tao tha nghe con. Muốn nhịn hai thằng mày mà không được. Còn cà chớn nữa tao sẽ lấy mỗi thằng một bóng đèn đó. Biết chưa? Anh Tấn hùng hổ quát.

Hai gã thanh niên van lạy rối rít, xin anh Tấn và người trên ghe xí xoá lỗi của chúng đã làm. Nhờ vụ xô xát, tất cả người trên ghe đã răm rắp nghe theo lời anh Tấn. Tự nhiên anh đã thành leader của ghe chúng tôi. Ở đâu, trong bất cứ sắc dân nào cũng có bọn người lười biếng, ích kỷ như hai gã thanh niên này.

– Hù tụi nó cho sợ thôi. Cho bỏ cái tính côn đồ đi. Anh Tấn nói nhỏ với tôi và Dũng.

Chúng tôi từ từ chia đều thức ăn trong hai thùng nhựa cho mọi người cùng ăn. Lần đầu tiên trong đời tôi nếm món ăn của Thái Lan. Hết cơm nếp nóng với tôm thẻ rang chung ớt đỏ khô cùng món xoài xanh bóp gỏi với cá mắm… lại ăn kèm với đường Thốt Nốt. Cuối bữa, chúng tôi nhai nhóp nhép bánh ngọt, kẹo và giải khát bằng các lon Coca Cola trong làn khói thơm của thuốc lá thơm Samit hoặc Gold City từ miệng mũi phả ra. Một bữa ăn quá sức ngon miệng!

Ăn uống no nê, mọi người tản ra nằm hoặc ngồi dưới các bóng mát tán chuyện với nhau còn hai tài công cũng bỏ mặc không sửa máy ghe nữa. Họ no bụng nên muốn nghỉ ngơi hay thực sự biết không thể sửa cho máy chạy được nên bỏ mặc? Tôi, Ánh Phương, Mỹ An và Dũng ngồi quây quần bên nhau… nói chuyện về chiếc tàu Thái Lan. Liệu có phải chiếc tàu tối hôm qua pha đèn vào mình không? Anh Tấn rồi nhóm người của hai tài công đang ở gần cũng bước lại ngồi nhập chung bọn, cho biết:

– Không biết có phải nó hay không nữa? Trời khuya ai thấy rõ được nhưng tàu sáng nay là tàu Thái Lan hiền, không phải tàu Thái Lan hải tặc. Tiếc cái tàu họ chạy mất tiêu rồi.

– Phải chi mấy ông nhờ hai người Thái Lan này lên ghe coi hộ cái máy không chừng họ sửa dùm cho mình luôn đó. Tại sao mấy ông không làm vậy? Một phụ nữ ngồi gần chen vào.

– Trời! Bà nói dễ nghe ha! Tụi tui biết họ định làm gì mà nói… Với lại, thấy tụi tui cầm dao búa trong tay, họ còn không dám lội lại gần kìa. Mà ai để cho họ leo lên ghe? Một tài công vặn lại.

– Mấy ông quá dở thì có. Thấy cho mình đồ ăn, biết họ người hiền lành chứ… Phải chụp cơ hội nói họ giúp. Không biết tiếng Thái Lan thì làm dấu để họ biết chuyện mình cần. Con không khóc thì mẹ nào cho bú. Phải không? Có mặt trên ghe tui làm như vậy liền. Mấy ông nhìn họ có đeo tượng Phật không? Người phụ nữ tiếp.

– Thôi chị Hai ơi! Lúc đó chị cũng chạy núp mất tiêu rồi còn nói ngon. Người tài công đáp trả.

Mặt trời giờ đã đứng bóng. Gió mát từ hướng biển thổi vào liên tục và nhờ ở dưới bóng các tàn cây nên không ai cảm thấy nóng. Có làn gió mát, mọi người tự động tản ra đi về chỗ của mình nằm ngủ trưa. Tôi đến bên Ánh Phương, nàng nhìn tôi và nói:

– Anh đừng nằm xa chỗ em để có gì thì giúp em. Tự dưng gặp cái tàu pha đèn tối hôm qua rồi cái tàu cho đồ ăn ban nãy nữa làm em lo quá anh Vũ. Đừng để em một mình, em sợ lắm. Anh phải che chở cho em nha.

Tôi nhìn khuôn mặt Ánh Phương. Một lần nữa nhủ thầm, cô gái quá đẹp. Tại sao Ánh Phương dám đi vượt biên? Nàng có lường hết các chuyện sẽ xẩy ra  như ghe có thể bị công an biên phòng bắt, có thể bị chìm vì bão hoặc hư máy như hoàn cảnh hiện tại. Nhìn Ánh Phương, tôi không dám nghĩ đến câu có thể gặp hải tặc vì ghê rợn quá. Tôi cũng cảm thấy một niềm vui đang dâng tràn khi vừa nghe lời nàng nói. Có thể trong mấy ngày qua, chúng tôi kề cận bên nhau để nàng nghĩ tôi như người thân thiết bên cạnh. Cũng có thể đơn giản, nàng chỉ xem tôi như anh trai ruột nàng. Còn tôi, nghĩ sao về Ánh Phương? Tôi thật chưa biết! Thấy tôi im lặng, Ánh Phương khe khẽ:

– Anh Vũ! Anh phải che chở cho em nha. Che chở em.

Tôi vội gật đầu, nàng nở miệng cười thật tươi trong ánh nắng chiếu xiên qua kẽ lá. Tận bây giờ, tôi vẫn nhớ khuôn mặt và nụ cười của Ánh Phương. Răng nàng trắng đều như bắp trong làn môi đỏ thắm. Khuôn mặt trái soan trắng hồng với vài gân máu li ti ở gò má cùng với cặp mắt sáng dưới hàng lông mi cong đen. Ánh Phương, Ánh Phương ơi! Em đẹp quá. Thật kỳ lạ! tôi có các em gái ruột trạc tuổi Ánh Phương. Cũng mặt mũi cũng vóc dáng như nàng. Có bao giờ tôi ngồi sát cạnh bên để nhìn rõ khuôn mặt các em gái tôi như đang ngồi đây với Ánh Phương. Tôi nhìn Ánh Phương lần nữa để biết con gái Việt Nam thật đẹp. Cầm đôi bàn tay của Ánh Phương rồi tự nhiên tôi đưa lên mũi tôi. Mùi hương con gái toả ra từ đôi bàn tay nàng. Ánh Phương để yên và có lẽ tôi cũng sẽ để yên như vậy rất lâu nếu như nàng không mắc cỡ, rụt tay lại. Ánh Phương lí nhí nói nhỏ:

– Mỹ An nó đang nhìn kìa, mình nằm nghỉ đi anh Vũ.

Tôi biết Ánh Phương lo lắng khi thấy máy ghe hư không sửa được và nếu bị kẹt ở đảo rồi thân gái sẽ ra sao nếu như không có người thân thích bên cạnh? Nàng đã nói như vậy với tôi, tôi nhủ thầm: ” Ánh Phương ơi! Dù em không nói ra, tôi cũng tự cảm thấy có bổn phận phải che chở cho em “. Tại sao vậy? Tôi đã có cảm tình với Ánh Phương hay vì mình đàn ông con trai phải xử sự như vậy với con gái. Tôi cũng lo lắng như nàng chứ. Tôi nghĩ thêm thức ăn rồi sẽ hết và sẽ ra sao? Nhìn các người khác đang yên lặng nằm mở mắt nhìn lên các tán lá cây. Dù không ai nói ra, tôi cũng biết người nào cũng lầm thầm trong bụng mong được gặp lại con tàu Thái Lan hồi sáng.

Đang chìm trong giấc ngủ trưa, tôi tỉnh giấc vì tiếng hét lớn:

– Cái tàu hồi sáng kia kìa bà con ơi.

Tôi và Ánh Phương choàng dậy ngay. Thật linh như thần khẩu. Đúng nó rồi. Con tàu chạy ngang trước mặt chúng tôi cũng một khoảng cách như lúc sáng. Mọi người chạy túa ra vẫy tay, miệng hét lớn. Không biết vì nghe thấy tiếng hét hoặc trông thấy chúng tôi vẫy tay mà chiếc tàu từ từ dừng lại. Một bóng người trên tàu nhẩy xuống biển lội vào bờ hướng về chỗ cả bọn chúng tôi. Không ai còn ý nghĩ phải tìm cách đề phòng chiếc tàu nữa. Gã thủy thủ Thái Lan bước từng bước lên bờ. Gã không phải người cho chúng tôi thức ăn hồi sáng. Gã mặc một quần thun bó sát với chiếc áo phao. Tướng tá trung bình, mầu da vàng như người Việt. Khi đến gần, gã xổ một tràng tiếng Thái Lan. Gã nói tiếp vài câu nữa nhưng vẫn không ai hiểu. Một chút yên lặng nghĩ ngợi, gã Thái Lan nói thêm vài câu khác. Đột nhiên có người trong chúng tôi vọt miệng trả lời y. Hai bên đối đáp qua lại từng câu. Thì ra gã thủy thủ là người Thái gốc Tàu-Triều Châu. Người bên chúng tôi nói chuyện được với gã là cô gái Việt gốc Hoa  ở vùng Bạc Liêu. Cô A Muối có tên Hồng Thu Lan. Chúng tôi nhờ cô cho gã thủy thủ Thái Lan biết về tình cảnh của cả bọn. Theo lời gã, tàu Thái Lan trên đường quay về Bangkok trông thấy chúng tôi vẫy tay, reo hò nên chủ tàu mới dừng lại rồi cho gã lội vào bờ tìm gặp chúng tôi.

– Nói họ tiện thể chạy về Bangkok thì kéo ghe mình theo luôn đi A Chế… Mấy người vây chung quanh cô Hồng Thu Lan thúc hối.

Gã Thái Lan quay ra biển, dùng tay làm dấu hiệu với con tàu. Lập tức, bóng người khác trên tàu lao xuống biển và bơi thẳng vào bờ đến chỗ chúng tôi. Gã thứ hai này là người đã cho chúng tôi thức ăn hồi sáng. Trên cổ tay gã quấn một nùi dây cước nhỏ mầu đỏ kéo dài tuốt ra biển xa. Gã lặng yên, kéo sợi dây cước liên tục. Chúng tôi nhìn mà không hiểu việc gã làm. Sợi cước nhỏ được nối với một dây thừng khá lớn của tàu. Có sợi thừng lớn, gã thủy thủ gốc Tàu nói cô Hồng Thu Lan biết chúng tôi phải cột sợi dây thừng vào mũi ghe ngay. Có làm vậy, họ mới kéo ghe chúng tôi đến sát con tàu được. Đúng như chúng tôi dự đoán khi trước, con tàu Thái Lan quá lớn nên không thể cặp vào sát bờ như ghe nhỏ chúng tôi.

Toàn bộ chúng tôi cùng hai thủy thủ Thái Lan vội vã trở lại ghe. Tàu Thái Lan bắt đầu thu dây thừng lại. Trong chốc lát, ghe chúng tôi đã nằm ngay sau đuôi con tàu Thái Lan. Hai gã thủy thủ nhẩy xuống nước, bơi trở về tàu họ. Tàu Thái Lan nổ lớn máy chạy nhanh dần, kéo theo ghe chúng tôi đằng sau. Lúc đó khoảng 2 giờ trưa, mặt biển xanh lơ vắng lặng, êm ả không một bóng tàu ghe nào khác.

Dù con tàu Thái Lan chạy rất nhanh so với tốc độ của ghe vượt biên nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy chậm. Trước lúc mọi người trở về ghe, gã thủy thủ gốc Tàu cho cô Hồng Thu Lan biết do đang trong hải phận nước Campuchia  nên chuyện tàu đánh cá Thái Lan không thể kéo theo ghe vượt biên được. Nếu bị tàu tuần duyên hay tàu đánh cá Campuchia phát giác, tàu gã sẽ gặp rắc rối. Gã cho biết thêm, tàu Thái Lan sẽ kéo ghe chạy rất nhanh cho đến khi cảm thấy an toàn mới thôi.

Chúng tôi nhìn chung quanh trên mặt biển. Các đảo dần dần nhỏ hẳn. Con tàu Thái Lan tăng tốc độ chạy càng nhanh đến nỗi ai cũng phát sợ. Có lúc tàu chạy lượn vòng vèo hoặc giảm tốc độ rồi lại tăng đột ngột. Ai nấy trên ghe phải bám cứng lấy nhau vì sợ rớt xuống biển. Nước biển văng mạnh lên sàn ghe tương tự trong đêm gặp dông bão. Có người phải nhẩy xuống nằm dưới khoang hầm ghe cho an toàn.

Tàu Thái Lan cứ chạy như vậy cả tiếng đồng hồ. Nhiều người có cảm giác chóng mặt, khó chịu. Có người chịu không nổi phát nôn. Vài người hét thật lớn mong tàu Thái Lan nghe thấy để giảm bớt tốc độ  nhưng không thấy bóng thủy thủ Thái Lan nào trên con tàu. Kéo ghe chạy nhanh như vậy, ai cũng lo sợi dây kéo sẽ đứt vì quá căng. Tiếng gỗ kêu rin rít mỗi khi con tàu tăng tốc độ. Đột nhiên, con tàu chạy chậm dần rồi ngừng hẳn. Khoảng cách giữa ghe và tàu thu ngắn lại.

Đậu ngay sau đuôi con tàu Thái Lan, ghe chúng tôi quá nhỏ. Trên ca bin tàu cao vút, năm sáu gã đàn ông ngồi ngó xuống cả đám chúng tôi. Gã Thái Lan gốc Tàu nói với cô Hồng Thu Lan là thuyền trưởng con tàu y, muốn biết tổng số người trong ghe để họ lập danh sách trình cho chính quyền khi tàu cập vào Bangkok và chúng tôi phải lên ngồi trên mặt sàn ghe để họ chụp hình làm bằng chứng nữa. Nghe họ nói, ai nấy đều hứng chí quên hết mệt mỏi. Tài công hối thúc người còn dưới khoang hầm ghe phải lên mặt sàn ngay. Một gã thủy thủ của tàu Thái Lan lấy máy hình ra chụp toàn bộ người chúng tôi đứng ngồi lố nhố trên ghe. Xong xuôi, đám thủy thủ của tàu Thái Lan nói chúng tôi chuẩn bị rời ghe chuyển sang bên họ để nghỉ ngơi và ăn uống.

Sau này ngồi nghĩ lại sự việc, chúng tôi mới biết tàu Thái Lan chạy nhanh khi kéo ghe để chúng tôi ai cũng phải thấm mệt trước đã. Khi nói ngồi hết trên mặt sàn ghe, để họ biết nhân số đàn ông con trai mà tính chuyện sau này. Vì quá thật thà, cả tin… nên không ai nghi ngờ hành động của đám thủy thủ tàu Thái Lan. Giờ đây, Ánh Phương và tôi ngồi gần mũi ghe, nhìn mặt nhau, cả hai đang bần thần dã dượi vì mệt. Chung quanh ghe chỉ một mầu nước biển, không một hòn đảo hay bóng tàu ghe nào hết. Cả ghe ngồi như vậy cho đến khi gã Thái gốc Tàu cùng một gã khác xuất hiện nói chúng tôi từng người lần lượt trèo lên boong tàu ngay. Anh Tấn đòi leo lên tàu trước để thám thính. Anh đứng lên, lách qua từng người và đến ngay đầu mũi ghe. Tay anh nắm sợi dây từ trên tàu thả xuống, hai gã thủy thủ Thái Lan giúp anh Tấn leo lên boong nhanh chóng. Kế tiếp, người thứ hai rồi người thứ ba… Đến tôi người thứ năm leo lên con tàu Thái Lan. Có sợi dây và giúp sức của hai gã Thái Lan nhưng tôi đã chật vật mới leo lên được boong tàu. Sao bọn họ không kéo chiếc ghe sang cạnh lườn để chúng tôi dễ dàng trèo lên hơn là cột mé sau đít con tàu? Vừa lên tới nơi, tôi đứng tại chỗ, thâm tâm muốn phụ sức với hai gã Thái Lan để kéo tiếp những người khác dưới ghe. Tôi nghĩ trước tiên sẽ giúp cho Ánh Phương nên gọi nàng. Ánh Phương nghe gọi vừa đứng lên, gã thủy thủ gốc Tàu vội khoát tay ra dấu nàng ngồi xuống ngay. Y nói với cô Hồng Thu Lan nam giới leo lên trước sau mới tới lượt nữ giới. Tôi ngạc nhiên nhủ thầm: ” Sao kỳ vậy? Có vụ người lên trước lên sau “. Cúi người xuống định kéo tay một thanh niên khác đang bắt đầu leo lên boong, gã thủy thủ Thái Lan đứng bên cạnh ra dấu, chỉ tôi đi về đằng phía trước con tàu. Tôi ngạc nhiên nhìn nhưng gã xua tay… muốn tôi phải đi ngay.

Bằng một hành lang nhỏ nằm ngang thân tàu tương tự như một ban công của căn nhà lầu, tôi đi dọc theo hành lang nầy về phía trước con tàu. Ngang qua hầm máy, tôi nhìn xuống thấy dàn máy tàu thật lớn đang nổ nhè nhẹ. Đi gần hết ca bin tàu tới ngay buồng lái, tai tôi nghe tiếng nhạc phát ra từ chiếc máy cassette khá lớn cạnh bên tay lái tàu. Không một bóng người nào ở trong căn buồng lái nầy. Trước mặt tôi, một thủy thủ Thái Lan ngồi xổm giữa hành lang dường như người nầy đang sửa chữa cái gì đó sát cạnh vách của buồng lái. Tôi từ từ đi tới, khẽ lách qua thân người thủy thủ này thì nhanh như một tia chớp, y ta đứng vụt dậy, chộp một tay tôi và khoá quặt ra phía sau lưng. Tôi chưa biết chuyện gì vừa xẩy ra thì gã thủy thủ đó đẩy tôi đi tiếp một đoạn ngắn và y xô tôi té nhào xuống mặt sàn tàu. Ngay tức khắc, một gã thủy thủ chờ sẵn ở đó vội đè lên người tôi để cho một gã khác chạy đến trói tay trói chân tôi lại. Xong xuôi, hai gã thủy thủ này kéo tôi ngồi lên và tôi thấy anh Tấn cùng ba người lên trước cũng đã bị họ trói chặt hết cả đang ngồi gần đó. Anh Tấn nhắm nghiền mắt, có một vệt máu ở trên mũi và vết xưng bầm trên gò má trái của anh. Ba người kia, vẻ mệt mỏi thất thần hiện rõ trên khuôn mặt của họ.

Ghe chúng tôi đã sa vào tay bọn hải tặc Thái Lan rồi.

Lần lượt từng người nam giới chúng tôi ló dạng đến gần mặt sàn tàu và đều bị bọn thủy thủ Thái Lan này bắt trói liên tiếp như các người vừa đến trước đó. Bọn hải tặc trói chặt hai cổ, khuỷu tay chúng tôi ra sau lưng và cả hai cổ chân nữa. Bây giờ thì chúng tôi biết tàu Thái Lan nầy chỉ có bẩy tên hải tặc. Chúng đã lập kế lừa, tỉa bắt cả đám nam giới chúng tôi và đó là lý do tại sao chúng không kéo cái ghe sát cạnh lườn tàu để chúng tôi cùng trèo lên một lượt vì nếu làm như vậy, 32 đàn ông-thanh niên chúng tôi chắc chắn sẽ không bó tay quy hàng khi bọn chúng dở trò. Giờ biết chuyện thì đã quá muộn. Bọn hải tặc đặt chúng tôi ngồi sát bên nhau cạnh thành con tàu. Chúng tôi nhìn nhau mà mặt người nào người nấy tái xanh, đầy vẻ buồn bã, thất vọng, tức tối và cả lo sợ nữa. Bọn hải tặc này đã lập kế để trói gọn cả đám chúng tôi quá dễ dàng. Chắc chắn đây là chiếc tàu đã pha đèn đêm hồi hôm và qua cung cách nhuần nhuyễn khi bắt trói chúng tôi, tàu hải tặc Thái Lan này đã từng làm các chuyện như vậy từ trước. Không biết có bao nhiêu ghe vượt biên của người Việt đã là nạn nhân của bọn chúng?

Tôi ngồi yên trong tâm trạng bàng hoàng. Thật không ngờ, bây giờ là tháng 5 năm 1990 mà vẫn còn cái vụ hải tặc Thái Lan này. Từ rất lâu rồi, qua thư từ của người thân cũng như tin tức trên các đài BBC, VOA… tôi nghĩ là nạn hải tặc Thái Lan đã chấm dứt sau khi có quá nhiều vụ tấn công, cướp bóc, hãm hiếp và thảm sát người Việt vượt biên bằng ghe. Cộng đồng quốc tế đã phải lên tiếng rồi chính phủ Hoa Kỳ vào cuộc, buộc chính quyền Thái Lan hết phương lẩn tránh trách nhiệm với đám tàu hải tặc nước mình. Từ tin tức nơi những người còn sống sót khai báo với Cao Ủy Liên Hiệp Quốc  (LHQ) khi đến trại tị nạn, các tàu hải tặc đã bị nhận dạng và chính quyền Thái Lan không thể bao che và phải mạnh tay với bọn này. Tàu đánh cá nào khi ra khơi đều phải ghi danh bạ, cho biết khu vực đánh cá, thời gian đi và về. Nhờ vậy mà nạn hải tặc đã giảm hẳn gần như ai cũng nghĩ là không còn có các vụ này nữa. Chính vì vậy nên tôi mới dám vượt biên bằng ngã Thái Lan này bằng đường dây của anh Thành. Ngờ đâu!

Số phận chúng tôi hôm nay sẽ ra sao đây? Tôi nghĩ đến mẹ tôi và các em tôi mà nước mắt chảy tràn trên khoé mắt. Gần bên tôi, người nào đó cũng đang khóc rấm rứt và có cả tiếng người khác khe khẽ niệm kinh Phật đều đều. Ba gã hải tặc Thái Lan da đen, vóc dáng cao lớn vạm vỡ đứng lảng vảng gần đó mà trong tay gã nào cũng lăm lăm một con dao to bản hoặc thanh sắt khá lớn. Những thứ này mà bọn hải tặc quất vào thân người chúng tôi thì chỉ có chết.

Tính chuyện cánh nam giới chúng tôi xong xuôi, bọn hải tặc kéo chiếc ghe đến sát bên lườn tàu phía đối diện nơi đám nam giới chúng tôi đang ngồi. Bọn chúng lấy ra một cái thang nhỏ và nhờ cái thang này mà đám đàn-bà con gái dưới ghe leo lên mặt sàn tàu dễ dàng. Nghe tiếng trò chuyện của đám đàn bà-con gái, chúng tôi biết họ đã lên con tàu Thái Lan này hết cả rồi nhưng họ vẫn chưa biết tình cảnh của đám nam giới vì cạnh buồng lái tàu đã che khuất hết cả. Bọn hải tặc Thái Lan nhanh chóng lùa hết nữ giới ra phía sau để xuống hầm tàu hay vào trong ca bin mà chúng tôi cũng không biết rõ. Sau đó không lâu là tiếng đập phá ở dưới ghe chúng tôi. Chúng tôi nhìn nhau, bọn hải tặc đang lục soát để kiếm vàng, tiền Đô mà chúng nghĩ đã được cất dấu đâu đó trong ghe. Rồi cả bọn hải tặc quay trở lại đến bên chúng tôi. Bọn chúng dựng từng người đứng lên để lần mò kiếm dây chuyền, nhẫn vàng, đồng hồ và tiền Đô mang theo trong người. Đồng hồ mới, đắt tiền chúng mới lấy còn loại cũ thì chúng không thèm. Những thứ lấy được, bọn đàn em đều nộp hết cho tay đầu đảng là một gã Thái Lan tuổi trung niên cởi trần, mặt mũi đen xạm, râu ria lởm chởm. Một báng cây súng lục lòi ra ở ngay thắt lưng chiếc quần Jean xanh da trời cũ của y.

Chợt gã hải tặc Thái Lan gốc Tàu từ phía sau ca bin đi ra. Hắn bưng một thau cơm lớn và sau đó bưng tiếp các thau thức ăn khác cùng chén, muỗng đặt chính giữa sàn tàu ngay trên nắp khoang hầm đóng kín. Bọn hải tặc lần lượt tháo dây cho từng người trong đám chúng tôi để ăn cơm chóng vánh rồi sau đó trói lại ngay. Đến lượt tôi được chúng cởi trói để ăn cơm. Cũng vẫn các thức ăn như hồi sáng mà chúng đã đem cho nhưng giờ lại có thêm món canh cá. Tôi lấy chén múc cơm và thức ăn nhưng chỉ nhấm nháp qua loa mà kín đáo nhìn bọn hải tặc, thử đoán thái độ chúng sẽ làm gì với chúng tôi.

Tôi nhìn phía trên nóc ca bin tàu, một máy ra đa liên lạc vẫn đều đặn quay từng vòng. Gần đó ba tên hải tặc ngồi bàn bạc chuyện với nhau mà một gã đang dùng cái ống ngòm nhìn các phía xa xa chung quanh con tàu. Một cột sắt khá cao, nằm cố định ngay chính giữa mặt sàn tàu mà sau này tôi mới biết đó là cột ròng rọc để kéo các thùng cá xuống hoặc lên khỏi khoang hầm của tàu. Chiếc tàu Thái Lan này tuy thân làm bằng gỗ nhưng ván cạnh tàu rất dày tới cả 30cm và riêng mũi tàu là nguyên cả một khối gỗ to đùng. Tàu to lớn, cứng chắc như vậy mà tông vào ghe nhỏ xíu của người Việt vượt biên thì còn gì là ghe. Chỉ một cú húc thôi thì ghe vượt biên vỡ tan ngay. Hèn chi những câu chuyện về ghe vượt biên bị tàu hải tặc Thái Lan húc chìm không ngoa chút nào. Chợt tôi nghĩ là nếu bọn hải tặc cho mình ăn cơm thì hy vọng bọn chúng sẽ không giết vì định giết thì cần gì cho ăn. Thấy chúng đang nhìn ống nhòm chung quanh liên tục thì chắc chắn bọn này đang lo sợ có các tàu khác hay đang trông chờ một cái gì đó. Và thật đúng như vậy. Bọn ngồi trên nóc ca bin chỉ tay xì xồ tiếng Thái Lan về phía xa xa rồi ngay lập tức, chúng ngưng cái vụ cởi trói cho chúng tôi ăn cơm. Có tiếng máy tàu vọng lại gần gần và rồi một chiếc tàu Thái Lan khác lớn hơn chiếc tàu đang bắt chúng tôi từ đâu chạy đến cập sát bên cạnh.

Một tấm ván gỗ được bọn hải tặc đặt nối giữa hai chiếc tàu. Hai gã thủy thủ từ con tàu mới đến bước sang con tàu bên này và cùng những gã hải tặc đến nhìn chúng tôi trong chốc lát. Bọn chúng trò chuyện với nhau rồi đi thẳng về phía đằng sau ca bin con tàu và sau đó lùa ra một số đàn bà-con gái của ghe chúng tôi đi sang chiếc tàu lớn đó. Cả thẩy là mười người và trời ơi, có cả Ánh Phương, Mỹ An và vợ các tài công của chiếc ghe nữa. Tất cả họ giờ đã trông thấy rõ bọn chúng tôi trong tình cảnh tay chân đang bị trói chặt, ngồi thành một đám ngay tại mặt sàn tàu. Họ đã hiểu sự việc của cả ghe nên kêu gào và than khóc thảm thiết.

Tiếng kêu cứu của Ánh Phương vọng đến tai tôi và cả hai chúng tôi đã trông thấy nhau. Đôi mắt Ánh Phương thảng thốt, tay chân nàng chới với vẫy tôi cùng tiếng nói:

– Anh Vũ, anh Vũ ơi… cứu em!

Tôi làm gì được cho nàng bây giờ đây khi tay chân bị trói chặt? Tôi buồn bã đưa mắt nhìn Ánh Phương cùng Mỹ An và những phụ nữ khác đang từng bước đi lần sang con tàu mới. Khi họ đi qua con tàu mới xong, đám hải tặc chờ sẵn ở bên tàu đó đã lùa cả bọn họ vào hết trong ca bin tàu. Ngay sau đó, con tàu Thái Lan mới này từ từ tách ra và chạy mất dạng.

Đó là lần cuối cùng (cho đến tận bây giờ) tôi trông thấy Ánh Phương bằng xương bằng thịt.

Bắt đi mười người trên ghe chúng tôi vậy thì còn tám người nữa của đám đàn bà-con gái vẫn còn ở dưới hầm tàu và trong số này có cả cô Hồng Thu Lan. Chuyện gì sẽ xẩy ra cho Ánh Phương, Mỹ An và đám phụ nữ trên chiếc tàu mới vừa chạy đi? Số phần nam nữ chúng tôi còn lại ở con tàu này sẽ ra sao đây?

Bây giờ trời đã gần chiều và mây trôi từ nơi xa về che kín nhiều chỗ trên bầu trời. Đám hải tặc Thái Lan đột nhiên kéo ra hết trên mặt sàn tàu. Chúng tản ra, ba gã leo xuống ghe chúng tôi và bốn tên còn lại đứng trên mặt sàn tàu ngay chỗ chúng tôi đang ngồi. Tôi chưa biết bọn nầy định giở trò gì đây? Rồi lần lượt cứ hai gã hải tặc khiêng một người chúng tôi vất xuống cho hai gã khác đứng dưới ghe đón bắt lấy. Cứ đón được người nào trong đám nam giới chúng tôi thì hai gã hải tặc vất nằm lăn quay trên mặt sàn ghe. Đến phiên tôi, chúng khiêng thật nhẹ nhàng và vất cái vù xuống cho hai gã đồng bọn đón ở phía dưới. Tôi nhắm mắt vì sợ hai gã ở dưới ghe đón hụt tay. Rủi mà như vậy thì mạng tôi sẽ đi đứt vì bị lọt ngay xuống biển. Nếu thân tôi, đầu tôi không đập vào thành ghe thì rồi cũng chết đuối, làm mồi cho Hà Bá. Chắc chắn là như vậy vì tay chân bị trói chặt thì làm sao mà bơi được. Nhưng không. Các gã hải tặc Thái Lan này quá khoẻ mạnh. Chúng thẩy và bắt thân của 32 người nam giới chúng tôi thật gọn ghẽ, dễ dàng như người chơi bóng bắt trái banh vậy.

Chúng tôi bị vất nằm hoặc ngồi đè cả lên nhau và lên cả đống hành lý, quần áo mà bọn hải tặc đã lục soát từ các túi xách vứt ra đang nằm vương vãi đầy trên mặt sàn ghe. Nhìn trên ghe rồi nhìn vào trong buồng lái, tôi thấy cháu trai con chị Ân ngồi sẵn ở đó từ lúc nào không biết. Cháu trai này tuy 14 tuổi nhưng thân hình lại nhỏ đẹt như một cháu bé mới 11 tuổi. Không biết khi bọn hải tặc lùa tất cả 18 phụ nữ lên con tàu lớn, chúng có bắt cháu lên theo chị Ân hay là chúng vẫn để cháu ngồi một mình ở dưới chiếc ghe này?

Tiếng máy tàu chợt nổ lớn hơn và con tàu Thái Lan bắt đầu chạy, kéo ghe chúng tôi theo sau nó. Lần này thì tàu hải tặc chạy ở tốc độ bình thường và khoảng một giờ đồng hồ sau đó, tôi bắt đầu trông thấy bóng dáng các hòn đảo nằm ở xa xa. Chúng định làm gì chúng tôi đây?

Trời đã về chiều, mây từ xa kéo đến càng lúc càng nhiều hơn làm cho bầu trời thêm xám xịt. Trời sắp mưa đến nơi rồi đây. Những hòn đảo đến gần chúng tôi hơn và rồi bọn hải tặc cho tàu chạy đến một đảo xa nhất. Đảo nầy khác với hòn đảo ngày hôm qua khi ghe chúng tôi ghé vào. Đến gần đảo, bọn hải tặc trên tàu đã cắt dây kéo, để mặc chiếc ghe chúng tôi rồi chúng quay đầu con tàu và bỏ chạy ra khá xa.

– Nó chạy lấy đà để quay lại húc vào ghe mình đó. Tiếng anh Tấn thét lớn.

Và rồi có tiếng người khác gọi cháu bé trai con chị Ân trong buồng lái ra giúp cởi dây trói. Sau đó chúng tôi lần lượt cởi dây cho nhau và lo lắng nhìn bóng con tàu ở tuốt đằng xa tự hỏi nếu bọn hải tặc quay lại để húc chìm chiếc ghe này thì chúng tôi sẽ phải làm gì đây? Ai cũng nói cố gắng phải bơi vào bờ vì hòn đảo cũng không xa lắm. Nó húc ghe mình xong người nào còn bơi trên biển thì nó sẽ chạy tàu qua, cán cho chết luôn đó. Nhưng con tàu hải tặc càng lúc càng xa tít rồi nó mất dạng dưới đường chân trời. Như vậy, bọn hải tặc đã bắt đi luôn số nữ giới còn kẹt trong tàu và bỏ mặc chúng tôi trên chiếc ghe hư hỏng nằm gần hòn đảo này.

Anh Tấn hối mọi người lấy những thanh ván ghe mà bọn hải tặc đã nạy banh ra khi chúng lục soát ghe ban nãy để làm các mái chèo ghe mà chạy vào hòn đảo. Hòn đảo này tuy trông rất gần nhưng chúng tôi cũng phải chật vật cả tiếng đồng hồ mới chèo chiếc ghe vào sát bờ được. Kiếm được chỗ cạn có bờ cát thoai thoải, chúng tôi cho ghe ghé vào. Các tài công liền nối những đoạn dây trói của từng người chúng tôi lại với nhau thành một sợi khá dài và họ đã cột chiếc ghe này nối vào một cành cây ở trên bờ đảo. Không có mỏ neo, một tài công tìm được một hòn đá khá nặng và cột dây vào hòn đá đó để neo chiếc ghe đứng lại phòng hờ ghe trôi mất khi gặp nước triều lên hoặc xuống.

Chúng tôi bắt đầu bới tìm lại túi xách, tư trang của mình trong số đồ đạc vương vãi mà bọn hải tặc vất đầy trên mặt sàn và dưới khoang hầm ghe. Tôi tìm được túi xách, quần áo của tôi rồi cả túi xách và áo quần của Ánh Phương nữa. Các giấy tờ của Ánh Phương nằm vương vãi trong túi xách vì bị bọn hải tặc lục soát. Tôi gom tất cả, bỏ trở lại vào cái bóp nhỏ của nàng và khoác các túi xách này lên vai rồi cùng những người khác, rời khỏi chiếc ghe, bước lội từng bước một để vào bờ.

Chúng tôi đổ bộ lên đảo này với cả một sự mệt mỏi từ thể xác đến tinh thần. Chỉ có một ngày hôm nay thôi mà có quá nhiều chuyện xẩy đến với chúng tôi. Từ những phấn khởi khi nghĩ ghe tuy bị hỏng máy nhưng may mắn gặp tàu đánh cá Thái Lan giúp sẽ sắp sửa cặp bến Bangkok sớm cho đến nỗi kinh khiếp khi bị hải tặc lừa bắt trói trên boong tàu của chúng. Lúc đó ai cũng nghĩ mình sắp chết đến nơi. Giờ đây, chiếc ghe chúng tôi quay lại hòn đảo với hoàn cảnh còn tệ lậu hơn lúc trước nữa. Không ai buồn nói với ai một lời. Ai cũng một tâm trạng buồn bã. Bước dọc theo bờ cát, đến một mặt đá lớn bằng phẳng, tôi vất các túi xách và nằm vật ra đó. Một lát sau, Dũng bước đến và cũng nằm xuống gần ngay bên tôi. Dũng cũng cầm túi xách của nó và của Mỹ An. Tôi quay qua nhìn Dũng, mắt nó nhắm nghiền, nằm đó trong im lặng. Trải qua cảnh này ai mà không như vậy. Tôi biết nó cũng mệt mỏi như tôi. Gần đó không xa, những người đến trước đến sau đều tìm một chỗ nằm đây đó gần bên nhau trên các mặt đá phẳng. Không ai nói với ai một lời hoặc có cảm giác đói khát gì cả mà chỉ một nỗi lo sợ, thất vọng pha lẫn chán chường và mệt mỏi.

Trời bắt đầu tối rồi tối hẳn. Tất cả chúng tôi nằm yên lặng trên các tảng đá như vậy và giấc ngủ dần dần đến với mọi người. Nửa khuya về sáng, trời đổ cơn mưa nhưng chúng tôi vẫn nằm im ngủ vùi như vậy, bất chấp mưa rơi trên mặt và thấm ướt áo quần của mình. Chúng tôi mệt mỏi quá rồi. Rồi trời hết mưa, thỉnh thoảng có các cơn gió lạnh nhưng mọi người vẫn im lặng nằm ngủ. Và bình minh đến chung với tiếng chim chóc, côn trùng trên đảo kêu vang vang trong tia nắng sớm. Chợt có tiếng người nào đó hét lớn thảng thốt:

– Ghe mình trôi tuốt đằng xa rồi kia kìa! Làm sao đây bà con ơi? Dậy ngay đi.

Tôi và Dũng nghe vậy vội choàng dậy và chạy ngay ra xem. Chiếc ghe đã trôi tắp vào các ghềnh đá sát bờ không xa chỗ chúng tôi đổ bộ vào lúc chập choạng chiều hôm qua. Những ghềnh đá này là chỗ mà chúng tôi đã cố tránh không chèo ghe đi vào. Sợi dây mà các tài công cột từ chiếc ghe nối vào cành cây ở trên bờ đã bị đứt từ lúc nào. Có lẽ đêm khuya khi nước triều dâng cao, nước đẩy chiếc ghe lên và hòn đá làm neo không đủ sức giữ chiếc ghe đứng yên tại chỗ nên đã làm chiếc ghe dạt sang nơi khác. Dây nối từ ghe vào bờ quá nhỏ và vì bị kéo căng quá nên đã đứt. Không một ai trong chúng tôi liệu trước được sự việc ghe sẽ bị trôi vào ghềnh đá như vậy. Cứ tưởng là đã cột dây và có làm neo thì chiếc ghe sẽ an toàn nào ngờ. Chúng tôi vội chạy đến gần chỗ chiếc ghe vừa tắp vào. Chiếc ghe bị nước lùa đập vào các bờ đá và cơ khổ, nó đã bị gẫy ra làm hai khúc. Nước biển theo từng lọn sóng nhỏ vẫn vỗ từng đợt từng đợt vào thân ghe làm nó càng lúc càng nát thêm ra.

Cả bọn chúng tôi nhìn nhau trong tuyệt vọng. Không có chiếc ghe thì chuyện đi đứng sẽ làm sao đây hả trời?

Thân chiếc ghe dập dềnh phần nổi phần chìm theo từng con sóng xô mạnh vào các ghềnh đá rồi lại theo từng con sóng giật ra ngoài làm càng lúc càng nát hơn cho đến khi nó bị hất lên, nằm kẹt hẳn lại ở một bờ đá nhỏ. Tất cả đám nam giới chúng tôi đứng rải rác ở trên bờ buông mắt nhìn những phần còn lại của chiếc ghe trong im lặng. Mỗi người theo đuổi riêng tư ý nghĩ của mình nhưng chắc chắn đều giống nhau trong cái buồn thế là hết, không còn chiếc ghe thì niềm hy vọng sẽ tiếp tục cuộc hải hành coi như đã chấm dứt. Chợt có tiếng người rít lên:

– Đ.M ! Trước mắt phải đập cho hai thằng tài công một trận rồi chuyện khác tính sau.

Đó là tiếng của thằng Minh. Liền đó là tiếng những cú đấm, cái đá cùng giọng người kêu thét. Anh Tấn vội nhẩy vào can thiệp vụ xô sát giữa mấy người trẻ tuổi. Tôi cũng đến bên thằng Minh, giữ chặt lấy tay nó. Minh nhìn tôi, nhìn anh Tấn và các người khác rồi vừa thở vừa nói:

– Các anh thử nghĩ tại sao em lại oánh hai thằng nó. Em với các anh là khách đi không biết chút gì về ghe về máy thì đã đành. Còn tụi nó là tài công mà lại để cho ghe chết máy rồi bây giờ lại dạt vào đá tan tành như vậy thì hỏi sao em không tức. Hai thằng nó đã được đi chùa cả vợ lẫn chồng mà còn để ghe như vậy. Cũng do tụi nó mà cả đám mình mới vướng tay bọn hải tặc.

Tôi thấy lời thằng Minh nói rất đúng. Nếu ngày hôm qua mà máy ghe không bị hư thì chúng tôi đâu có bị vướng tay tàu hải tặc và không chừng giờ này ghe chúng tôi đã đến được bờ biển nào đó của Thái Lan. Hai người tài công mắt hoe đỏ trong dáng điệu thật thiểu não, một người nói với anh Tấn:

– Anh coi, hai đứa em cũng đã cố hết sức mà không sửa được máy. Cũng không biết nguyên do tại sao nữa. Mọi lần trước, máy có hư thì em sửa nó nổ lại liền. Không hiểu sao… Em cũng đâu có muốn bị như vậy. Vợ em bị hải tặc bắt mất rồi kìa… Hu hu…

Anh Tấn đứng bên cạnh hai người tài công, quay nói với thằng Minh:

– Thôi em, chuyện đã xong rồi đừng nhắc lại làm gì thêm buồn. Có lẽ chiếc ghe mình cái số của nó phải chìm xuống biển nên trời mới xui khiến nó bị như vậy. Chiều tối hôm qua thì ai cũng mệt mỏi không buồn nói chuyện với nhau nữa. Anh thấy hai cậu đây cũng đã làm hết sức họ rồi. Máy móc có khi còn mới toanh mà nó vẫn bị trục trặc, có ai biết trước được đâu em. Bây giờ không còn ghe thì mình hợp sức lại cùng tính chuyện khác hơn là gây gổ với nhau.

Anh Tấn kín đáo ra dấu cho tôi dìu thằng Minh đi về hướng khác. Lần lượt từng người tản ra. Tôi, Dũng và thằng Minh đi trở về chỗ nằm cũ. Gió buổi ban mai từ hướng biển thổi vào bờ mát lạnh. Chỉ vài tiếng sau tôi đã biết sơ về hòn đảo. Nó nhỏ hơn hòn đảo ngày hôm qua khi ghe chúng tôi ghé vào và cũng có các nguồn nước ngọt từ trong hốc đá chẩy ra. Cây cối trên đảo thưa thớt nhưng đều là loại cây khá lớn. Các chùm lan Ngọc Điểm hoa tím mọc tầm gửi đó đây trên các cành hoặc trên thân cây cao. Bình thường mà trông thấy hoa phong lan thì chắc chắn tôi sẽ tìm cách để trèo lên gỡ nó xuống cho bằng được nhưng ở hoàn cảnh này, thì cũng chẳng thiết gì đến chúng.

Gần trưa, ai nấy đều cảm thấy đói bụng. Đi trở lại chỗ chiếc ghe bị sóng đánh tan hoang, vài người chúng tôi cố men theo các ghềnh đá ra được chỗ ghe bể để thu nhặt tất các túi xách phụ nữ, nồi niêu chén bát và ít gạo còn sót lại trong các thùng nhựa. Gạo mang lên bờ, anh Tấn đổ ra đong được cả thẩy là 33 chén vừa đúng với số 33 người chúng tôi có mặt trên đảo. Bây giờ lại ngay cơn nước ròng, trơ ra các bãi cát, bờ đá, anh Tấn liền phân công chúng tôi người thì đi thu nhặt ốc biển, lật các hòn đá để bắt cua bắt còng hoặc cá nhỏ mắc cạn, người thì thu gom củi khô và nhóm bếp để nấu cháo ăn ngay. Anh Tấn nói mọi người:

– Mỗi bữa chúng ta chỉ nấu một chén gạo thôi. Ba bữa cháo cho một ngày ăn cầm chừng xem sao đã. Chúng ta phải chấp nhận chịu đói một chút. Nhớ là gặp trái cây lạ trên đảo thì đừng có ăn ngay.

Không có bàn tay phụ nữ trong việc nấu ăn, đám nam giới chúng tôi chật vật khá lâu mới gầy được bếp lửa cũng như nấu xong nồi cháo cho cả bọn. Giống y chang như lúc ở hòn đảo ngày hôm qua, chúng tôi bắt được khá nhiều ốc, cua, cá trong các chỗ cạn. Tuy vậy nồi cháo vẫn loãng vì ít gạo. Ngồi gần bếp lửa, tôi hỏi anh Tấn về vệt máu ở trên mũi và vết bầm nơi gò má anh thì anh cho biết ngay lúc vừa lên tới sàn tàu, khi bọn hải tặc giở trò, anh đã đánh trả lại chúng ngay và chỉ bị khuất phục bởi họng súng lục của gã đầu đảng. Anh nói:

– Vết bầm ở gò má là do thằng đầu đảng dùng báng súng đánh vào đó, tới giờ mà anh vẫn còn rêm.

Như vậy chỉ có anh Tấn là người duy nhất trong ghe bị bọn hải tặc đả thương. Cháo nấu chín, chúng tôi múc đều ra cho từng người ăn lần lượt và anh Tấn là người ăn sau cùng. Xong, tôi kiếm một chỗ khuất để xem lại túi xách của Ánh Phương. Hai bộ quần áo cùng các áo ngực, quần lót của nàng còn đây mà bây giờ tình cảnh nàng ra sao không biết nữa? Mở xem lại chiếc bóp nhỏ xinh xắn của nàng, tôi thấy có hai thỏi son môi, một bút chì kẻ mắt, một cái gương soi bé tí nằm lẫn lộn với chai dầu gió Song Thập cùng vài viên kẹo và một lọ nhựa nhỏ đựng ít viên thuốc cảm, thuốc chống ói bên trong. Một phong bì cũ với địa chỉ của anh trai nàng ở bên nước Úc. Tôi cầm xem tấm thẻ Chứng Minh Nhân Dân của nàng. Hoàng Thị Ánh Phương số nhà… phường 12, quận 10. Ánh Phương, Ánh Phương ơi! Tôi gọi nhỏ tên nàng. Ánh mắt của em khi nhìn tôi trong những giây phút cuối trên con tàu Thái Lan cũng như sự đau nhói trong tim tôi khi đó, chúng ta đã là một phần đời của nhau, ít nhất là trong lúc này. Sẽ không bao giờ tôi quên được hình ảnh của em. Bỏ quê hương, xa lìa người thân ruột thịt để trốn chạy bọn Việt Cộng vô luân mà đâu ngờ chúng ta lại sa vào tay bọn hải tặc Thái Lan hung ác. Tội nghiệp thân em quá! Tôi xem lại ảnh của Ánh Phương trên tấm thẻ rồi nhớ lại khuôn mặt nàng trong ngày hôm qua. Ánh Phương hiền lành khả ái mà không lẽ phần số em lại bất hạnh quá vậy sao! Tôi ngồi im, thẫn thờ nhìn ra hướng biển. Con tàu hải tặc Thái Lan khốn kiếp đó đã mang em đi nơi nào rồi? Tôi đã giữ tấm Chứng Minh Nhân Dân đó và nhờ nó cùng các vật dụng trong cái bóp nhỏ mà hơn mười năm nữa, tôi mới tìm lại được Ánh Phương. Nhưng đó là chuyện về sau.

Cũng theo phân công của anh Tấn, chúng tôi chia nhau thành hai nhóm năm người đi ngược về hai phía để thám sát hòn đảo. Mong rằng trên đảo hoang sẽ có loại cây nào cho trái chín để chúng tôi có cái ăn thêm. Chúng tôi cũng trông thấy các vỏ kem đánh răng hiệu Như Ngọc, vỏ chai xì dầu hiệu Nam Dương… vất rải rác ở vài chỗ trên đảo và còn gặp một cái bếp làm bằng ba hòn đá chụm lại nằm trong một chỗ kẹt kín gió. Tro đen, các mẩu củi nấu dở vẫn còn sót nguyên. Trên một tảng đá bằng phẳng ở dưới một tàng cây bóng mát, nằm trơ trọi hai cái chén sành và một cái nồi nhôm nhỏ đầy nước cùng rêu xanh bám chung quanh. Một cái áo kiểu Thanh Niên Xung Phong được máng chặt vào kẽ cành cây ở gần ngay đó. Chiếc áo cũ mốc cứng ngắc. Nó được tay người nào đó máng ở đây từ rất lâu rồi. Những người Việt vượt biên nào đã dùng bữa cơm trên tảng đá ở đây? Chúng tôi đi dọc theo bờ hòn đảo như vậy cho đến khi cả hai nhóm gặp lại nhau.

– Đảo này ở gần bờ thì không có cây trái gì ăn được hết. Không biết bên phía trong thì sao nữa? Một người trong nhóm kết luận.

Quay trở về chỗ cũ, loay hoay không làm gì mà trời đã bắt đầu xế chiều. Bữa ăn chiều của chúng tôi cũng chỉ duy nhất là món cháo ốc hoặc ăn thêm vài con cua, cá bắt được thôi. Một người chép miệng than phải chi ghe giữ lại được một tay lưới thì bây giờ còn có cái để bắt cá mà ăn. Đương không lại đem cho ghe chài Phú Quốc hết tất cả. Ai cũng tiếc rẻ nhưng có bao giờ biết trước các sự việc trong chuyến đi để mà liệu được!

Hai ngày trôi qua rồi ngày thứ tư và hôm nay là ngày thứ năm chúng tôi đã sống trên đảo hoang. Mỗi khi chiều xuống thì từng con dơi lớn bay ra kiếm ăn từ tàng cây cao nào đó trên đảo. Đây là loại dơi quạ. Thân hình chúng thật to với sải cánh khá rộng. Khi chúng bay vút qua gần chúng tôi, ai cũng thấy rõ đầu chúng như đầu con chó nhỏ với cái miệng há lớn đỏ lòm cùng răng nanh trắng bóc. Có người thắc mắc những con dơi đó bay đi kiếm ăn ở đâu? Nghe tiếng kêu, tiếng vỗ cánh của chúng làm ai cũng sợ chúng đáp bám lên người rồi hút máu của mình. Đêm về trời lạnh, có người lôi còn cả quần áo sót lại của nữ giới ra đắp lên người thay cho chăn nữa. ” Có úm chút hơi hám của các em thì thấy ấm hơn nghe mấy cha “, một người trong ghe nói đùa. Khi mới lên trên đảo, hai  người tài công cho là sẽ gặp lại vợ họ vì sau khi bọn hải tặc chán chê với đám đàn bà-con gái trên ghe thì chúng sẽ đem họ trở về đây. Nhưng 5 ngày trôi qua rồi mà vẫn không thấy bóng hai chiếc tàu Thái Lan đâu, giờ trông mặt họ buồn bã thấy rõ. Ai cũng quả quyết hải tặc bắt đám đàn bà-con gái ở ghe vượt biên thì không đời nào có vụ chúng quay trở lại để trả người. Thêm vào chuyện cháu bé trai con chị Ân nữa. Cứ chiều đến là cháu bắt đầu khóc đòi mẹ vì nhớ và vì đói bụng. Do vậy mà chúng tôi mới biết còn có một thanh niên em ruột của chị Ân đi cùng ghe nữa. Hoàng, tên người thanh niên này cho biết về cháu ruột mình:

– Tên nó là Sang. Cha nó 5 năm trước đây vượt biên mà không ai nghe được tin tức gì cả. Chắc ghe đã chìm hay bị hải tặc gì đó. Giờ thì đến phiên mẹ của nó. Tội nghiệp cho thằng nhỏ! Sang ơi Sang! Cháu đừng khóc nữa. cháu càng khóc thì càng làm cậu đây thêm đau lòng, rối trí lắm… cháu biết không?

Không còn ghe, chuyện vượt biên của chúng tôi coi như tắt lịm. Bây giờ chúng tôi chỉ cầu mong có ghe, tàu nào đó ghé vào đây để giải cứu chúng tôi. Nếu gặp được tàu ngoại quốc rồi họ sẽ đưa chúng tôi đến một trại tị nạn trong vùng thì càng tốt nhưng trong vùng vịnh Thái Lan này và nhất là chúng tôi đang ở trên một hòn đảo nhỏ xa khuất thì chuyện hy vọng có tàu ngoại quốc ghé vào là điều rất mong manh. Cầu có ghe, tàu nào đó biết có người lâm nạn kẹt trên đảo để đến cứu dù biết sự giải cứu này có thể sẽ dắt chúng tôi vào nhà giam. Thà là vậy mà còn đường sống hơn là chết đói dần mòn ở đây nên, sau khi tập họp tất cả 32 người lại bàn bạc anh Tấn đã quyết định phải đốt các đống lửa thật lớn.

Chúng tôi lấy thêm dầu từ dưới lòng ghe bể rồi tản nhau ra đi thu gom các cành cây khô và làm thành hai đống củi khá lớn ở gần bờ biển rồi bắt đầu đốt lửa cho cháy liên tục. Cứ kiếm thêm được củi thì vất ngay vào hai đống lửa để giữ cho nó khỏi tắt. Anh Tấn cũng nói chúng tôi căng các sợi dây để treo quần áo của đám đàn bà-con gái bỏ lại để mong có ghe, tàu trông vào sẽ nghĩ là có phụ nữ trên đảo thì có nhiều cơ may được họ giải thoát hơn. ” Mình phải làm vậy thôi “, anh Tấn kết luận. Sau, mới biết suy tính của anh Tấn rất chính xác.

Anh Tấn nói đúng, bọn đầu lãnh Cộng Sản Hà Nội khi dựng đám Campuchia tay sai đã vẽ cho họ một lá cờ y chang cờ của đám Việt Cộng miền Nam tức Mặt Trận Giải Phóng trước đây trong thời chiến tranh Việt Nam. Tôi và Dũng đứng lên cùng một ý nghĩ chung với anh Tấn nhưng hai người tài công lại quyết định khác. Họ nói là phải trốn không ra để chờ, hy vọng vài ngày nữa thì các tàu hải tặc Thái Lan sẽ đem đám đàn bà-con gái về trả lại. Họ sẽ gặp mặt lại vợ họ rồi họ hỏi tôi và Dũng có trốn trong rừng chung với họ không? Tôi và Dũng cùng lắc đầu.

– Mấy ông không thương vợ mấy ông sao? Một người tài công hỏi hai đứa tôi.

Trời đất! Thì ra hai người tài công đã nghĩ Ánh Phương, Mỹ An là 2 người vợ của tôi và của Dũng. Thảo nào họ mới chạy đến chỗ tôi và Dũng đang trốn để mong có thêm bạn đồng hành chung với họ. Tôi cho họ biết là hai cô gái đó với chúng tôi chỉ mới quen nhau khi xe phải ghé Mũi Nai vì trễ chuyến hẹn. Sự thân mật của tôi và Ánh Phương cũng như giữa Dũng và Mỹ An nên khiến hai người tài công đã nghĩ chúng tôi là các cặp vợ chồng cùng đi chung chuyến vượt biên như họ.

– Tôi cũng nghĩ như mấy chú tài công, dè đâu cô cậu chỉ mới quen nhau thôi… Không phải là vợ chồng. Anh Tấn ngập ngừng nói.

– Vậy các anh định sẽ đi ra thật sao? Người tài công đó nhìn tôi và Dũng mà hỏi tiếp.

– Phải đi ra thôi anh à. Mình đốt lửa mấy hôm nay để mong có người lại giải thoát cho. Theo tôi nghĩ thì các anh cũng nên ra đi, đừng tìm cách ở lại đảo này không tốt và cũng đừng nghĩ là bọn hải tặc đó sẽ quay trở lại đây để trả người. Tôi ân cần trả lời.

Nhưng hai người tài công vẫn nhất định trốn ở lại. Họ quả quyết chỉ vài ngày nữa thôi thì tàu hải tặc Thái Lan sẽ quay trở lại đảo hoang và rồi họ sẽ gặp lại các người vợ của họ.

– Các chú chắc mọi việc sẽ xẩy ra như vậy? Anh Tấn chợt xen vào, hỏi.

Hai người tài công nhìn nhau rồi nhìn ba người chúng tôi và khẽ gật đầu. Anh Tấn tiếp:

– Nếu cho suy nghĩ của các chú là đúng đi rồi với 18 người đàn bà-con gái đó cộng thêm hai chú nữa thì lấy gì để ăn… Lấy ghe đâu ra mà đi vượt biên tiếp? Tôi nghĩ mình nên ra cho xong, trốn ở lại đây rồi cũng chẳng đi đến đâu.

Hai người tài công dụ dự không trả lời nhưng khi ba chúng tôi chuẩn bị bước ra thì vội dặn chúng tôi đừng nói gì về họ cho đám người Campuchia biết rồi cả hai chạy phắt ngay vào trong rừng luôn. Tôi hiểu tình cảnh của hai người tài công. Thật tội nghiệp! Họ quá thương vợ họ đến nỗi vẫn tin là bọn hải tặc Thái Lan sẽ quay lại đảo để trả đám đàn bà-con gái nhưng suy nghĩ của họ thật viển vông. Tôi chưa từng nghe chuyện hải tặc Thái Lan bắt được đàn bà-con gái Việt rồi sau đó lại đem trả người về cho ghe. Nói là nói vậy thôi chứ nếu Ánh Phương mà là vợ tôi thật thì có thể tôi cũng sẽ hành động giống như họ. Họ đã rối trí rồi. Cầu mong một phép mầu nào đó đến với hai người tài công chung tình.

Ba chúng tôi là những người đi ra sau cùng. Người Campuchia biết tiếng Việt thấy chúng tôi thì hất hàm, hỏi:

– Đàn bà con gái Duôn đâu? Gọi họ ra đây luôn, trốn làm chi nữa.

Chúng tôi nói là không có phụ nữ nào cả thì y chỉ tay vào số quần áo nằm phơi trên dây hỏi vậy quần áo này ở đâu ra? Chúng tôi liền kể vắn tắt cho người Campuchia biết sự việc đã xẩy ra trong ngày hôm đó. Y lắng nghe chăm chú rồi hỏi ai là leader của ghe thì nhiều người đưa mắt về phía anh Tấn nhưng anh Tấn thanh minh không phải là leader mà cũng chỉ là một khách đi bình thường như các người khác. Hỏi đến các tài công thì không thấy nên người Campuchia đó nói chúng tôi phải gọi họ đi ra.

 

Chúng tôi lại đi vào rừng tìm, cố sức gọi lớn mà cũng chẳng thấy họ đâu cả. Sau cùng, những người Campuchia bảo chúng tôi dắt họ đến chỗ chiếc ghe bị hỏng. Họ trèo qua các ghềnh đá để vào xem xét chiếc máy của ghe rồi quyết định là chúng tôi phải tháo cái máy đó và mang ra chỗ bờ biển cho họ. Người Campuchia biết tiếng Việt lấy tay chỉ định tôi, anh Tấn, Dũng, thằng Minh và 4 thanh niên khác cho việc tháo máy. Tháo máy ra thì không khó nhưng tám người chúng tôi đã chật vật vô cùng mới mang được cái máy ghe đến một bờ cát trống trải sát bờ nước biển theo lệnh của người Campuchia đó. Tay chân chúng tôi ai cũng bị các mảnh sắc của loài sò bám cứng ở bề mặt các tảng đá cứa đứt nhiều chỗ, chảy máu khá nhiều.

Khi có cái máy ghe nằm ở bờ cát rồi, những người Campuchia dùng một sợi dây cáp nối từ ròng rọc trên tàu họ, cái máy của ghe chúng tôi đã được kéo thẳng lên tàu luôn. Xong xuôi, mấy người Campuchia mang vào bờ cho chúng tôi ít gạo, hai hộp thịt heo kho, ít cá khô và một bắp cải tươi, bảo chúng tôi nấu cơm để ăn chung với họ. Chúng tôi vội nhóm bếp lại và gần một giờ đồng hồ sau đã có một bữa cơm ngon lành cho cả bọn. Ăn uống no nê, các người Campuchia này đã gom hết tất cả quần áo của đám đàn bà-con gái trên dây phơi vào trong các túi xách của họ rồi ra lệnh cho chúng tôi chuẩn bị rời đảo hoang để theo họ về tàu.

Không thấy hai người tài công đi ra, các người Campuchia để lại cái nồi nấu cơm cùng một bao độ 10 kg gạo và ít cá khô trên bờ đá cạnh chỗ nấu ăn rồi bảo chúng tôi viết ít chữ là 15 ngày nữa khi đi tuần tra thì tàu của họ sẽ ghé lại đây. Thôi vậy cũng được, mong rằng đến khi đó thì hai người tài công sẽ theo về với chiếc tàu tuần duyên Campuchia.

Tất cả chúng tôi bước lội từng bước theo chân những người Campuchia để ra con tàu nhỏ. Từ con tàu nhỏ, chúng tôi được các người Campuchia chuyển sang qua chiếc tàu lớn. ” Tàu tụi tui sẽ chạy về đảo Cô Tan “, người Campuchia biết tiếng Việt nói với chúng tôi. Dõi mắt nhìn đảo hoang một lần cuối, tôi vẫn thấy hai đống lửa trên bờ cháy nghi ngút với cột khói nhỏ. Chắc chắn là đâu đó dưới các tàng cây, bờ đá… các tài công cũng đang nhìn hai chiếc tàu càng lúc càng xa dần họ. Cái nồi, bao gạo 10kg, gói cá khô vẫn còn nằm nguyên ở chỗ cũ. Chẳng thấy người tài công nào ra lấy chúng hết. Tôi cố nhìn mãi nhưng sau cùng, hình ảnh này xa dần, nhỏ dần và mất hẳn.

Tàu sẽ chạy về đảo Cô Tan. Hai tiếng Cô Tan tôi thấy rất quen. Hình như tôi đã nghe một câu chuyện nào đó về cái tên đảo Cô Tan ở trong vùng vịnh Thái Lan nhưng mà là chuyện gì thì chịu, không nhớ ra được. Cố gắng lục lọi trí nhớ của mình mà cứ mài mại hoài vẫn không ra. Thôi! Đành nghĩ chuyện khác vậy. Quan sát chung quanh chiếc tàu đang chở chúng tôi. Chiếc nhỏ chạy song song mé phía sau nhưng tốc độ của nó cũng chẳng kém gì chiếc lớn. Đây là các loại tàu tuần duyên hải quân. Tuy nhỏ hơn chiếc tàu đánh cá Thái Lan và thân tàu bằng thép nhưng sức chạy của chúng rất nhanh để lại đằng sau hai vệt nước dài trắng xoá. Đúng là tàu hải quân. Tôi thầm đếm có cả thẩy là tám người Campuchia trên con tàu lớn. Tàu nhỏ bên kia thì chỉ năm người. Vậy là đúng cấp số của một tiểu đội lính. Quần áo những người Campuchia mặc là loại kaki màu phân ngựa. Chân họ đi giày bata như loại giày của bộ đội Việt Cộng. Gần mũi tàu là một cây đại liên 12 ly 7 nòng chỉa thẳng về phía trước. Các khẩu súng trường AK 47, phóng lựu B 41 và thượng liên RPD cùng các dây đeo băng đạn để nằm đây đó trên tàu. Đám 31 người chúng tôi ngồi sát bên nhau trên mặt sàn tàu và cả trong buồng lái nữa. Tôi nói nhỏ với anh Tấn:

– Anh coi súng ống của họ kìa. Để sơ hở vậy không sợ bọn mình có thể chộp lấy các cây súng này mà uy hiếp, cướp tàu họ luôn sao?

– Lính Khmer là đầy tớ của đám Việt Cộng bên nước mình. Bọn Việt Cộng là chủ của tụi nó nên khi nó thấy mình người Việt chắc cũng nghĩ như vậy. Chủ thì có bao giờ tìm cách lật đổ thằng đầy tớ đâu, phải không? Anh Tấn cười cười, nói thêm: ” Mình ghét bọn Việt Cộng thật nhưng phải nhìn nhận là chúng đã làm cho bọn Khmer sợ nên mình mới được đám hải quân Khmer đối xử như vầy chứ Vũ biết dân Khmer có đời nào ưa người Việt nước mình. Mối thù truyền kiếp mà . Do quan hệ ngoại giao cả thôi … Y như mình không ưa bọn Tàu Cộng vậy đó “. Ngừng một lát anh Tấn nói tiếp: ” Sự thực là bọn Việt Cộng đâu có tử tế gì với người vượt biên mình. Chúng đã từng rượt theo ghe vượt biên rồi dùng cây 12 ly 7 bắn thẳng vào ghe nữa đó Vũ. Còn mình mà cướp tàu họ rồi làm sao mà lái đây. Tài công đâu? Có cái máy ghe hư còn bó tay thì có cho không cái tàu sắt này cũng đành đầu hàng thôi. Đám lính Khmer nầy họ cũng biết điều đó chứ bộ “.

Tàu chạy qua rất nhiều hòn đảo. Chúng tôi thấy khá nhiều tàu đánh cá Thái Lan y chang loại tàu đã trấn lột và bắt nữ giới trên ghe chúng tôi rồi tàu lướt qua những chiếc ghe nhỏ bé của ngư dân Campuchia nữa. Trời chiều bảng lảng thì tàu chạy vào một vùng có nhiều hòn đảo liền lạc với nhau rồi nó từ từ chạy chung quanh một đảo lớn nhất. Đám lính Campuchia trên tàu bắt đầu đeo các dây đạn vào người và cầm vũ khí của họ trở lại. Chúng tôi sắp sửa đặt chân lên đảo Cô Tan rồi đây. Tàu giảm tốc độ dần dần và cập vào một cầu tàu bằng bê tông xây cạnh ngay sát bờ đảo.

Theo chân những người Campuchia, toàn bộ 31 người chúng tôi đi trên con đường trải đầy đá sỏi dẫn vào bên trong đảo. Tiếng ai đó trong nhóm chúng tôi nói vui: ” Chúng ta đang đi trên đường sạn đạo đó nha “. Vài người Campuchia từ phía trong chạy ra đón những người lính trên tàu vừa đến. Tiếng họ nói líu lo với nhau mà cặp mắt trắng dã đôi lúc nhìn về phía người chúng tôi. Rồi một người còn khá trẻ trong đám lính khoát tay ra dấu cho chúng tôi phải đi theo. Gã Campuchia đó dẫn chúng tôi băng qua vài dẫy nhà gạch lợp tôn rồi quẹo trái, đi thêm qua vài dẫy nhà nữa thì y dừng lại trước một căn nhà khá lớn. Gã lấy chìa khóa mở cửa, bật công tắc điện chiếu sáng trong phòng rồi quay ra nói và với chúng tôi bằng tiếng Việt thật sõi:

– Tôi là Sok Sammath. Các anh ở tại đây đêm nay. Không ai được tự ý đi lang thang qua các nhà khác và chỉ được phép đi nhà đái nhà ỉa ngay phía đàng sau khi cần thôi. Điện sẽ tắt vào lúc 10 giờ tối. Tôi sẽ mang đèn dầu ngay cho các anh. Các anh tự sắp xếp lấy chỗ riêng cho từng người đi. Nghe rõ chưa?

Nhiều cái đầu trong chúng tôi cùng gật, có người thì nói dạ. Gã Campuchia quay ra ngoài căn nhà liền. Chúng tôi tản ra nhanh chóng để kiếm chỗ nằm riêng. Đây là một căn nhà thật lớn, rộng và không hề có giường, tủ mà thay vào đó là các hàng bàn ghế như loại bàn ghế học sinh trong trường học. Mỗi người chúng tôi liền chiếm lấy một cái bàn. Tôi, Dũng và anh Tấn lựa ba cái bàn nằm kề sát nhau ở gần cuối hàng. Chúng tôi phải lấy quần áo bẩn của riêng mình để phủi bụi bám ở trên mặt bàn. Căn nhà này đã bị bỏ phế không dùng từ lâu. Một cái bục gỗ loại dành cho người đứng diễn thuyết được đặt ngay ở bên trái một góc phòng. Tôi thấy một tấm bảng lớn mà ai đó đã tháo để nằm dưới mặt đất sát vách tường. Đến gần, thấy mặt sau bảng có viết dòng chữ gì đó, tôi vẫy anh Tấn lại cùng xem. Chúng tôi lật tấm bảng, một hàng chữ Nhà Truyền Thống mầu vàng trên nền đỏ chói.

– Nơi đây đã từng là căn cứ của bọn Việt Cộng em à. Anh Tấn nói nhỏ.

Tôi chưa kịp nói với anh Tấn thì tiếng một người nào đó vang lên:

– Ê! Có báo cũ nữa nè mấy cha. Lấy ra mà lót nằm cho nó sạch.

Thì ra ở dưới các hộc bàn có xếp đầy những tờ nhật báo Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân đã cũ của Việt Cộng. Tôi lấy ra vài tờ báo xem thử. Báo cũ thật. Số ra từ ngày 12 tháng 5 năm 1983 lận. Vài người lấy báo đang định trải trên mặt bàn thì ai đó lên tiếng:

– Đừng tự ý lấy báo trải lên bàn. Phải hỏi xem họ có cho không đã.

Người khác thì nói:

– Báo chữ Việt, tụi Miên này biết cóc gì mà đọc.

Tiếng người khác đáp lại:

– Không biết tiếng Việt hả? Thế cha Miên trên tàu và cha nội vừa rồi nói với mình bằng tiếng gì vậy? Theo tôi, cứ để yên đó rồi hỏi họ trước xem sao, phải không anh Tấn?

Anh Tấn gật đầu, trả lời:

– Đúng, cứ để yên chỗ. Biết đâu người Khmer để dành báo Việt Nam như một kỷ niệm hữu nghị gì đó của họ. Đang trong tay họ thì mình đừng làm cái gì khiến cho họ ghét.

Vừa lúc, hai người Campuchia bước vào, một người trên tay cầm cây đèn dầu khá lớn còn người kia thì tay ôm quả mít chín bốc mùi thơm nồng nặc. Một trong hai gã Campuchia nói:

– Tôi cho các anh quả mít chín, bây giờ cần ba người cùng đi theo tôi để lấy thức ăn nghe.

Dũng, thằng Minh và một thanh niên khác liền đi theo hai gã Campuchia. Không lâu sau đó, một nồi lớn mì sợi ăn liền đã nấu sẵn còn nóng, bốc hơi thơm lừng được Dũng và thằng Minh khệ nệ xách về. Cậu thanh niên một tay lỉnh kỉnh tô-muỗng, tay kia xách theo một ấm nước nóng. Chúng tôi chia mì sợi ra cho mỗi người một tô khá đầy cùng ăn xong rồi quây quần ngồi bên nhau thanh toán quả mít chín. Đây là loại mít ướt khi chín rất mềm chỉ cần dùng tay lay cuống, tách vỏ ra rồi bốc từng múi ăn. Kể từ hôm xuống ghe vượt biên ở Vàm Rầy đến hôm nay chúng tôi mới được ăn trái cây tươi. Sok Sammath từ bên ngoài đi vào nhìn cả bọn chúng tôi đang ăn uống bên nhau, y khẽ mỉm cười. Gã cán bộ hải quân Campuchia này có khuôn mặt đẹp trai và nụ cười rất tươi. Hàm răng y trắng đều làm tôi nhớ lại hình quảng cáo anh Bẩy Chà của hiệu kem đánh răng Hynos thời trước. Sok Sammath cho biết từng người chúng tôi sẽ phải làm việc với ban chỉ huy đảo về sự việc đã xẩy ra trong chuyến đi. Y cũng cho biết tối nào cứ đúng 10 giờ thì máy phát điện sẽ ngừng chạy. Do vậy, mọi người nên thu xếp làm các việc gì cần kíp ngay vì khi điện cúp rồi sẽ phải giới hạn chuyện đi lại. Anh Tấn hỏi về các tờ báo cũ thì Sok Sammath nói chúng tôi cứ việc lấy dùng nếu cần rồi y cho biết thêm khi bộ đội Duôn rút khỏi đảo Cô Tan, trại xếp chúng vào các hộc bàn cho gọn chứ cũng chưa biết để làm gì. Rồi y đi đến chỗ cháu Sang ngồi, hỏi thăm ít câu trước khi rời khỏi căn phòng.

Ngày hôm sau, chúng tôi được phát gạo để tự nấu ăn lấy. Cá tươi từ các tàu đánh cá cung cấp cho đảo hàng ngày rất nhiều đến nỗi có lúc chúng tôi ăn không hết, phải đem vất bỏ. Có hôm được cả tôm thẻ, mực ống nữa. Rau tươi ngoài bắp cải, bí đỏ từ đất liền tiếp tế ra thì còn rau muống rau lang cùng bí, bầu … trồng đầy trên đảo.

Những ngày kế, lần lượt chúng tôi được gọi đi làm việc thật. Làm việc là khai báo tất cả các sự việc đã xẩy ra. Đến phiên tôi, Sok Sammath hỏi tôi thật kỹ từng chi tiết từ ghe xuất bến tại đâu ở bên Việt Nam rồi đi bao lâu phải ngừng ở đảo và diễn tiến câu chuyện khi gặp các tàu hải tặc Thái Lan. Y hỏi bằng tiếng Việt, tôi trả lời xong, y ghi biên bản bằng chữ Khmer ngoằn ngoèo như chữ Thái Lan. Vậy mà cũng mất cả mấy tiếng đồng hồ mới xong. Sau khi chấm dứt buổi làm việc, y nói sẽ sắp xếp cho chúng tôi gặp ông lớn người chỉ huy đảo. Anh Tấn, Dũng thì gặp hai người Khmer khác làm việc cũng một cung cách như của Sok Sammath. Ngoài việc nói và nghe tiếng Việt trôi chảy, chúng tôi không biết những người lính Campuchia đó có biết đọc biết viết chữ Việt hay không? Có phải họ gốc gác sinh ra từ một làng quê nào ở miền Nam Việt Nam mà người ta thường gọi họ là người Khmer Krom?

 

Những ngày sau nữa, Sok Sammath gọi anh Tấn, tôi và vài người nữa lên gặp ông lớn. Đó là một người Khmer trung niên bụng phệ, có cái đầu hói, da hơi trắng chứ không đen. Ông lớn có dáng dấp như một thương gia hơn là một cán bộ quân đội. Sok Sammath là người phiên dịch trong buổi gặp. Ông lớn đã lấy ra một xấp hình chụp các con tàu đánh cá Thái Lan cho chúng tôi xem để nhận dạng hai chiếc tàu hải tặc nhưng chúng tôi thấy hầu hết các con tàu trong hình rất giống nhau nên chuyện nhận dạng không thành. Xem kỹ các hình, chúng tôi mới biết tàu đánh cá Thái Lan nào cũng có hàng số bên hông nằm ngay phía gần mũi. Tôi nhớ các tàu hải tặc khi đó đã ranh ma lấy tấm vải che kín số tàu nên chẳng ai thấy được. Manh mối duy nhất là trên tàu hải tặc nhỏ có một người đầu bếp biết tiếng Triều Châu và chỉ vậy thôi. Ông lớn cho biết có khoảng 200 tàu đánh cá Thái Lan trong vùng biển nước Campuchia. Nếu chúng tôi biết con số ghi trên thân hai tàu Thái Lan đó thì bằng hệ thống viễn liên, ông sẽ cho gọi các tàu kể trên đến đảo để chúng tôi nhận dạng ngay. Ông cười với chúng tôi, nói:

– Tụi tui cứ nửa tháng một lần cho tàu đi tuần tra các đảo xa. Đều là đảo hoang không có người ở. Các anh biết hôm đó, khi nghe tàu tuần báo cáo trông thấy các đám lửa lớn cầu cứu rồi lại có cả y phục phụ nữ nữa nên tui mới ra lệnh các chiến sĩ vào xem sao và họ đưa các anh về đây. Ngừng một chút ông tiếp: ” Vài năm nay có xẩy ra vụ hải tặc nào đâu. Tui rất bực vì nghe chuyện đã xẩy ra trong vùng biển do mình trách nhiệm. Tui sẽ báo cho hải quân Thái Lan về các sự vụ này để mong họ hợp tác, phăng ra được các đầu mối mà giải thoát phụ nữ Duôn các anh “.

Ông lớn cũng nói bập bẹ được chút tiếng Việt và chiếu cố đặc biệt đến cháu Sang. Những ngày sống tại đảo Cô Tan, cháu Sang đã ăn chung bữa ăn với ông lớn. Những người lính Campuchia cũng hay cho cháu Sang kẹo bánh hoặc dắt cháu đi chơi đây đó trên đảo. Có lẽ đồn trú xa gia đình, xa các người thân nên khi gặp cháu Sang, những lính Campuchia ở đây coi cháu Sang như con cái ruột thịt. Tôi nhìn người Campuchia với làn da đen tóc quăn mắt trắng dã đầy vẻ man rợ rồi liên tưởng những câu chuyện kể về các vụ tàn sát người Việt mà họ gọi là Cáp Duôn trong các thời kỳ trước đây. Bây giờ, đối chiếu với hành động và thái độ tử tế của những người Campuchia ở đây dành cho đám người Việt trong các ngày qua. Rõ là ở nước nào, cũng có người tốt người xấu, kẻ hiền lương thật thà và người cùng hung cực ác.

– Ngay từ lúc đầu trên đảo hoang khi nghe họ nói bằng tiếng Việt thì mình hy vọng sẽ gặp việc lành mà quả thật như vậy. Anh Tấn hỏi thêm tôi và Dũng: ” Các cậu biết sao không? Trong lòng có thích nước nào thì người ta mới chịu khó học tiếng nước đó. Tâm lý con người là vậy “.

Ở gần một tuần lễ, chúng tôi được phép tự do thong dong đi lại trên đảo trong phạm vi gần doanh trại. Chúng tôi mới biết có hàng trăm cây mít, xoài và dừa được trồng dầy đặc ở trên đảo Cô Tan. Bây giờ thì chưa phải mùa xoài. Còn mít chín lúc nào cũng sẵn. Ai muốn ăn mít thì cứ chịu khó lội trong các hàng cây rồi khi ngửi thấy mùi thơm, lần tới được gốc thể nào cũng hái được quả chín. Có khát nước, muốn uống dừa tươi thì cứ việc trèo lên hái nhưng phải cẩn thận vì cây dừa ở đây thân rất cao. Gần các dãy nhà của ban chỉ huy trại, chúng tôi còn thấy trồng cả cây trà xanh. Từ thói quen uống nước trà tươi của người miền Bắc, tôi nghĩ chắc chắn cán bộ Cộng Sản Bắc Việt khi đóng quân tại đảo đã trồng chúng. Không biết rõ số lính Campuchia đóng ở Cô Tan có bao nhiêu cả thẩy vì quanh quẩn hàng ngày, gặp mặt nhau chỉ khoảng trên dưới 30 người thôi. Nhưng nhìn các dãy nhà cửa trong trại, thấy có nhiều căn nhà bỏ trống và cả trăm cây ăn trái được trồng rồi nhìn bề rộng của các ao rau muống, vườn lang… Tôi biết khi bộ đội Việt Cộng còn đóng tại đảo, chắc chắn quân số phải rất đông.

Một buổi trưa đang thiu thiu ngủ thì một người lính Campuchia đến gọi chúng tôi dậy để ra ngoài cầu tàu gấp. Chúng tôi vội vã theo chân các người lính ngay. Ra đến cầu tàu, một chiếc tàu hải quân đậu ở đó đang chuyển hàng hóa tiếp liệu cho đảo cùng với các hàng quân sự. Công việc của chúng tôi là vác từng viên đạn đại bác 105 ly được đựng trong các ống giấy cứng tròn nhuộm đen từ tàu hải quân lên nhà kho nằm tuốt trên đỉnh một ngọn đồi. Mỗi người chúng tôi chỉ được phép vác mỗi lần một quả đạn thôi, còn các hộp đựng sáu ngòi nổ đầu đạn được lính Campuchia vác riêng ra. Hôm đó, cá nhân tôi đã vác cả thẩy 12 viên đạn đại bác 105 ly. Đạn vác lên được cất trong kho một căn nhà hầm. Gần kho chứa đạn, tôi thấy các khẩu đại bác che kín nòng đặt cố định trong các ụ súng. Lần đi trở xuống đồi, tình cờ mắt tôi thấy khối sắt lớn có hình dáng như chiếc máy bay trực thăng nằm gần một bãi đá. Gặp Sok Sammath trên đường đi, hỏi thì y cho biết đó là xác của một trong các trực thăng Mỹ bị lính PolPot bắn rơi trong một trận chiến giải cứu tù binh tại đây từ khá lâu rồi. Qua lời kể vắn tắt của Sok Sammath, tôi nhớ lại ngay cái tên đảo Cô Tan mà tai đã nghe từ đài BBC, VOA… vào giữa tháng 5 năm 1975 về chuyện một tàu buôn của Hoa Kỳ bị hải quân Khmer Đỏ bắt giữ.

Đảo Cô Tan có tên tiếng Anh là Koh Tang. Sự kiện con tàu buôn năm đó xẩy ra, các thương thuyết ngoại giao về con tin không thành và chính phủ Hoa Kỳ đã phải cho lực lượng biệt kích Navy Seal đổ bộ lên đảo để giải cứu các thương nhân tù binh Mỹ. Giao tranh với lính đồn trú đảo rồi binh sĩ biệt kích Navy Seal Mỹ giải cứu được các thương nhân nhưng phải để lại xác cái trực thăng này. Thương thuyền đó có tên Mayaguez. Nhìn xác chiếc trực thăng, trí tưởng tôi nghĩ về hình ảnh trận chiến chớp nhoáng trong ngày hôm đó. Tiếng súng nổ… thây người ngã vật… tiếng phành phạch của cánh quạt máy bay trực thăng. Đảo Cô Tan nổi tiếng với thế giới tương tự vụ đột kích giải cứu tù binh phi công của biệt kích Mỹ trong một nhà tù ở Sơn Tây gần Hà Nội năm xưa.

Chuyển xong số đạn pháo, Sok Sammath cho đám chúng tôi hai thùng nước ngọt Coca Cola, một thùng bánh bisquit và một cây thuốc lá Apshara kèm theo lời nhắn:

– Hai ngày nữa tàu hải quân sẽ chở các anh về cảng Kompong Som.

Họ sẽ chở chúng tôi về cảng Kompong Som bằng chiếc tàu hải quân chở hàng tiếp liệu và vũ khí cho đảo Cô Tan. Khi về đến cảng Kompong Som thì số phần chúng tôi sẽ ra sao? Ai cũng lo lắng, thắc mắc. Anh Tấn bảo:

– Kệ cha nó, nghĩ nhiều thêm mệt. Cái gì đến, nó sẽ đến. Mình có tính cũng chẳng được.

Ngày kế tiếp, nhiều lính Campuchia trên đảo bớt thì giờ của họ để đến thăm cả bọn chúng tôi. Họ mang cà phê, thuốc lá, bánh kẹo và mời chúng tôi cùng ăn cùng hút chung với họ cho vui. Ông lớn chỉ huy đã lấy máy ảnh ra chụp hình cả nhóm chúng tôi chung với lính trên đảo để giữ làm kỷ niệm. Có lẽ, chuyện chúng tôi ghé vào hòn đảo Cô Tan này là một việc hãn hữu. Dầu gì đi nữa, chúng tôi cũng là người ngoại quốc ở trên đất nước họ. Anh Tấn có hỏi về số phận hai người tài công thì Sok Sammath cho biết theo tua tuần tra biển, vài ngày sắp tới sẽ có tàu ghé lại đảo để tìm họ.

– Thật tầm bậy tầm bạ hết sức, mấy người đó bộ khùng điên rồi nên mới ở lỳ lại đảo không ra về theo các anh. Hết thực phẩm thì sẽ chết đói. Tụi tui cố gắng tìm mang họ về đây. Nhưng về đây rồi, sẽ phải chờ khá lâu nữa mới có tàu từ Kompong Som đi ra. Sok Sammath chắt lưỡi.

Hôm nay là ngày tàu nhổ neo chạy về Kompong Som. Nhà bếp tổ chức ăn chung cho toàn đảo ngay tại căn nhà Truyền Thống như một bữa tiệc nhỏ. Sau bữa cơm, chúng tôi và lính Campuchia đã thân ái ôm chào tạm biệt nhau trong những giọt nước mắt. Ông lớn mắt rướm lệ trên khoé, thân ái cầm tay cháu Sang đi theo ra tận cầu tàu. Phút biệt ly đến làm ai cũng một tâm trạng buồn bã. Chỉ một thời gian sống chung với nhau ngắn ngủi mà tình cảm chúng tôi tự nhiên gắn bó với lính Campuchia như người thân thích ruột thịt. Chia tay với ông lớn, với Sok Sammath, người đầu bếp cùng các người lính Campuchia trên đảo, chúng tôi bồi hồi bước lên con tàu. Tàu đột ngột kéo một hồi còi thật dài trước khi rời đảo. Từ trên boong, tôi quay đầu nhìn về phía cầu tàu nơi những người lính vẫn đang đứng yên tại chỗ. Tạm biệt các ân nhân… tạm biệt Cô Tan. Một hòn đảo với đầy kỷ niệm đẹp trong lòng tôi.

Giờ đây, chúng tôi đứng ngồi hoặc nằm la liệt đây đó trên boong tàu rộng rãi. Tàu tuy lớn nhưng chỉ võ trang bằng hai cây súng đại liên 12 ly 7 ở trước mũi và phía sau lái. Dưới hầm và mặt boong tàu đầy nhóc những sọt cần xé dừa khô quà của đảo tặng cho các chiến sĩ trên tàu. Tàu chạy chậm rãi, êm ả khá lâu trên biển. Đó đây, vài cánh chim hải âu lướt vội qua đầu chúng tôi. Chập choạng tối, tàu tiến đến gần Kompong Som, hải cảng biển nước sâu duy nhất của quốc gia Khmer. Có một thời kỳ, Kompong Som mang tên Sihanoukville là tên vị quốc vương Norodom Sihanouk. Tôi biết Kompong Som có các bãi biển rất đẹp thu hút khách du nước ngoài nằm dọc theo cảng. Vì trời đã xẩm tối nên dù hết sức để ý, tôi chẳng thấy các bãi biển du lịch đâu cả. Sau cùng tàu vào hẳn trong cảng. Ánh sáng rực rỡ từ các con tàu bỏ neo nằm ở bến, từ các nhà kho và bãi trên bờ hắt mầu vàng lung linh trên mặt nước biển. Cảng Kompong Som xem ra phồn thịnh hơn so với cảng Bạch Đằng tại Sài gòn.

Tàu cập bến, chúng tôi được lệnh trèo lên một chiếc xe tải nhà binh phủ bạt che kín nằm pha đèn ở trên bờ. Xe chở chúng tôi chạy thẳng vào một doanh trại của hải quân Campuchia  nằm không xa hải cảng. Xe ngừng tại một dãy nhà lớn, những người lính trên xe bàn giao chúng tôi cho vài cán bộ Campuchia đứng chờ sẵn. Rồi, các cán bộ Campuchia ra dấu cho chúng tôi đi vào một căn nhà to rộng nằm trong dãy nhà. Dưới ánh vàng vọt của bóng đèn tròn duy nhất gắn trên trần, nơi chúng tôi ở tối nay chỉ là nền nhà xi măng mà không có bất kỳ vật dụng nào khác. Cán bộ Campuchia lại không biết tiếng Việt, chỉ lấy tay ra dấu. Trên tường có dán các tấm giấy ghi những câu tiếng Việt như: Không được đi ra khỏi khu vực… Luôn giữ trật tự trong sinh hoạt… Khai báo trung thực các sự việc cho cán bộ… Những tấm giấy làm cho chúng tôi hoang mang, lo lắng. Mọi người tản ra, tự kiếm chỗ nghỉ ngơi trong căn nhà đêm nay. Căn nhà tương tự một phòng giam rộng lớn chỉ khác ở chỗ không có các song sắt và cửa khóa chặt cùng với công an canh gác bên ngoài. Có lẽ trước đây là một nhà kho hay một cơ xưởng gì đó của hải quân Campuchia. Dũng ngồi gần bên tôi, nói nhỏ:

– Tệ hơn lúc ngoài đảo Cô Tan. Coi bộ không khá mày Vũ.

Ai trong chúng tôi cũng chung một nhận xét như thằng Dũng. Lạ chỗ và lo lắng cho ngày sắp tới khiến tôi không sao chợp mắt, yên giấc.

Nằm trằn trọc mãi vẫn không ngủ được, tôi và anh Tấn kéo nhau ra phía bên ngoài hành lang căn nhà ngồi nói chuyện cho qua đêm. Ánh sáng từ các nơi trong khu vực phản chiếu cho thấy căn nhà chỗ chúng tôi ở biệt lập hẳn với các dãy nhà khác nằm khá xa chung quanh. Con đường phía trước căn nhà được trồng lẫn lộn những cây cao, cây thấp với khoảng cách đều nhau. Không biết loại cây gì nhưng nhìn chúng, làm tôi thấy lại hình ảnh đường phố Sài Gòn. Chỗ chúng tôi ở im vắng quá, lỡ có xẩy ra chuyện gì thì cũng chẳng ai biết cho và cũng không biết cầu cứu với ai nữa. Anh Tấn móc thuốc lá ra hút rồi kể chuyện về bản thân:

– Tôi người tỉnh Cần Thơ quận Thốt Nốt, đi lính sư đoàn 25 bộ binh Việt Nam Cộng Hòa  mình đó Vũ. Tôi đồn trú trong căn cứ Đồng Dù ở vùng Củ Chi-Hậu Nghĩa. Vũ biết Đồng Dù nguyên là căn cứ của một sư đoàn Mỹ bàn giao lại khi họ rút về nước. Thực ra căn cứ có tên Hoàng Diệu, còn Đồng Dù là bọn Việt Cộng gọi vậy. Ngày 29 tháng 4 năm 1975, đơn vị tôi theo chân sư đoàn rút bỏ Đồng Dù chạy về Sài Gòn sau khi Việt Cộng tràn ngập căn cứ. Cả đơn vị bỏ chạy nhưng khi vừa tới cầu Bông gần Hóc Môn-Thành Ông Năm thì kẹt lại. Ở ngay chân cầu Bông có một đồn nhỏ địa phương quân mà khi đó đã bị Việt Cộng tấn chiếm được rồi. Mấy xe GMC chạy đầu trong đoàn quân di tản phải quay lui vì hỏa lực của các xe tăng Việt Cộng khai hỏa dữ dội. Đường phía trước mặt đã bị đặc công Việt Cộng chiếm mất, phía đằng sau thì đại binh của chúng đang truy đuổi sát nút. Bọn chúng tôi đành phải dạt ngay vào một cánh đồng lúa rộng lớn khá xa đường lộ. Dàn trận tại đây trong các hố cá nhân đào vội dưới gốc cây của rặng trâm bầu sát cạnh các thửa ruộng hoặc nấp sau các thân xe tăng M 113, xe GMC… Chúng tôi thấy từng đoàn quân xa Molotova, xe tăng T 54, PT 76… của Việt Cộng chạy khơi khơi trên mặt lộ không xa lắm. Đường về Sài gòn bị địch cắt đứt, chúng tôi kẹt ở giữa cánh đồng lúa. Cố sức liên lạc truyền tin với cấp chỉ huy cũng không được. Dường như không có người trực máy vì chúng tôi gọi tới gọi lui nhiều lần mà không có ai trả lời. Sau mới biết đám trực máy đã bỏ chạy di tản hết cả. Khi đó, chúng tôi hoang mang lắm, không biết sẽ phải làm gì? Đoàn xe Việt Cộng chạy nối đuôi nhau trên đường lộ cũng trông thấy chúng tôi chứ Vũ nhưng chúng bỏ mặc, không đánh mà chỉ tiếp tục hành quân về Sài Gòn thôi. Trận đánh lần đó rất lạ Vũ à! Làm như mục tiêu tiến chiếm của Việt Cộng là Sài Gòn và chúng phải vào đó càng nhanh càng tốt. Hễ nơi nào mà phe bên mình chống lại thì chúng mới đánh, còn không thì chúng phớt lờ, coi như không thấy.

Rít thêm một hơi thuốc Apshara, anh Tấn kể tiếp trong làn khói trắng phà ra từ hai lỗ mũi.

 

– Khoảng 4 giờ chiều hôm đó khi đang ngồi dưới hố cá nhân, tai tôi nghe tiếng trực thăng bay rất gần rồi gần hơn. Tôi vội nhổm dậy nhìn và thấy rõ ràng một UH đang bay thật thấp hướng về phía chúng tôi. Những người lính khác trong đơn vị cũng thấy chiếc trực thăng và đều nghĩ nó đến để yểm trợ đây. Có yểm trợ của trực thăng, tinh thần tụi tôi phấn chấn hẳn. Tôi nhìn lại vũ khí của mình rồi dõi mắt theo chiếc máy bay, miệng nhủ thầm chuẩn bị tinh thần để tác chiến. Chiếc trực thăng bay gần tới thì bị trúng đạn của bọn Việt Cộng từ hướng nào không rõ bắn lên. Một vệt khói đen từ máy bay tỏa ra và tiếng động cơ của nó đã khác. Máy bay lảo đảo thật thấp về phía đội hình chúng tôi và nó rớt sau một rặng cây không xa lắm. Tiếng máy bay im bặt trả lại sự im ắng của khu vực trong sự thương tiếc của tôi cùng những người lính có mặt. Vũ biết trong những lần tác chiến, mỗi khi trông thấy máy bay của phe mình từ phản lực cho đến trực thăng bị rớt vì hỏa lực của Việt Cộng thì trong lòng mình đau xót lắm chứ. Nó tương tự như mình vừa làm mất một món tài sản thật quý giá. Tôi cùng vài người lính khác vội chạy đến chỗ máy bay rớt xem sao. Băng qua các thửa ruộng và những rặng trâm bầu, bụi dứa dại cùng các lùm bình bát… chúng tôi đến gần chỗ xác máy bay. Nó vạch một đường khá dài trên mặt ruộng lúa và chúc đầu vào một doi đất tiếp nối với bờ đê của con rạch nhỏ. Tôi và các người lính bước bì bõm dưới ruộng lúa đến bên chiếc máy bay. Qua khung cửa mở của buồng lái, tôi thấy duy nhất viên phi công vẫn ngồi yên lặng trên ghế. Tôi cất tiếng gọi nhưng ông ta không trả lời. Nghĩ phi công đã bị thương nên tôi cùng với một người lính khác nhẩy ngay lên sàn tàu để tìm cách giúp đem ông ra khỏi máy bay nhưng đã muộn. Ông ta đã chết. Chút máu ộc từ miệng chảy ra thành vệt nhỏ trên mép. Tôi nhìn kỹ mặt, thân thể viên phi công và không thấy vết thương nào khác dù ông đã chết thật. Người ông lả ra, bất động. Khói từ phần đuôi máy bay vẫn còn nghi ngút tỏa lan theo chiều gió.

Một người lính nói vội:

– Coi chừng máy bay có thể nổ. Mình lôi cha nội phi công ra ngoài đi.

Chúng tôi phụ tay cởi bỏ dây đai an toàn và chuyển xác phi công ra khỏi máy bay. Ì ạch khiêng ông lên bờ ruộng rồi đặt nằm ngay ngắn trên một bờ đất phẳng ở gần một con rạch. Tôi quay nhìn lại chiếc máy bay, hai cây đại liên 60 ly vẫn nằm yên gục đầu ở hai phía bên cửa trống với những dây đạn vàng choé. Cánh quạt lớn trên nóc máy bay vẫn đảo nhè nhẹ theo cơn gió đồng.

– Anh có coi phía sau lưng người phi công không? Có thể ông ta bị trúng đạn hay miểng gì đó xuyên vào tim thì sao? Tôi cắt lời anh Tấn, hỏi.

Nhìn tôi, anh Tấn khẽ lắc đầu rồi kể tiếp:

– Không. Vũ à! Như tôi vừa kể, không có vết thương gì trên người ông ta hết. Ổng chết vì bị một chấn động quá mạnh mà những anh em khác trong đơn vị tôi lúc đó nói hiệu ứng G forces. Những máy bay khi rớt, người trên đó hay bị như vậy. Hình như chấn động lúc máy bay tiếp đất đã làm hệ thần kinh trong xương sống bị giãn ra rồi co lại đột ngột nên làm ông ta chết. Họ nói vậy… tôi cũng không rõ lắm.

Tôi lại hỏi tiếp.

– Không có xạ thủ trên máy bay vậy trực thăng đến đó làm gì để cho bị bắn rớt?

Anh Tấn trả lời:

– Tôi nghĩ có lẽ chiếc trực thăng bay đến để bốc ông tướng tư lệnh sư đoàn hoặc định bay về để đón thân nhân nào đó sống trong vùng Củ Chi-Hậu Nghĩa hay Trảng Bàng… nhưng đã hỏng nhiệm vụ. Có điều lạ, ông phi công không mặc đồ bay như vẫn thường thấy mà là bộ đồ sơ-vin dân sự áo trắng quần xanh như học sinh trung học. Cũng chẳng có colt 45 hay ru lô trái khế gì trên người ông phi công nữa Vũ. Đặt xác phi công nằm yên trên mặt đất xong, tôi và mấy người lính quay trở về chỗ cũ của mình. Chiếc trực thăng nằm im lìm một đống lù lù trên mặt ruộng lúa, vẫn còn tỏa các vệt khói và chưa bị nổ tan như tụi tôi nghĩ. Về lại chỗ đóng quân, cả ngàn người lính chúng tôi, súng ống còn đủ với hàng chục xe GMC, xe tăng M 113, súng cối, súng DKZ… bên cạnh mà phải án binh bất động suốt cả đêm trên cánh đồng lúa. Đêm dài qua chầm chậm, tai chúng tôi vẫn nghe tiếng súng tiếng nổ lớn từ hướng Sài Gòn vọng lại. Bình minh đến rồi gần trưa thì đơn vị tan đội hình khi nghe tin tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng trên làn sóng phát thanh. Sau khi bàn bạc, các sĩ quan chỉ huy đã lệnh cho một binh sĩ trong chúng tôi phất cờ trắng ra hàng bọn Việt Cộng đang chờ sẵn ngay ngoài mặt đường lộ chính. Lần lượt chúng tôi bỏ các xe GMC, xe tăng M 113 vẫn còn nổ máy để kéo nhau đầu hàng tập thể. Súng ống, quân dụng vất thành đống bên bờ ruộng. Đủ cả… từ colt 45, súng trường M16, súng phóng lựu M79, M72, mũ sắt cá nhân, máy truyền tin PRC 25, ba lô và cả giầy trận nữa. Vất, vất tuốt… Nhưng cũng có người không chịu đầu hàng lại tự mình nổ súng tự sát tại chỗ. Thật kiêu hùng và cũng thật bi thương cho những cái chết vào giờ cuối cuộc chiến. Có người khóc ngon lành, nước mắt ràn rụa trên má như trẻ thơ. Lúc đấy, tôi cũng hoang mang và tuyệt vọng lắm. Cả một đạo quân lớn mạnh như vậy mà phút chốc phải giải giáp quy hàng. Tôi cũng định… đoàng một phát cho rồi đời lính Cộng Hòa nhưng nghĩ mình còn mẹ già nên lại thôi.

Nhìn anh Tấn, mái tóc có nhiều sợi bạc trên khuôn mặt dãi dầu sương gió từng trải, tôi hỏi:

– Rồi sau đó thì sao nữa hả anh? Có bị tập trung tù cải tạo không? Khi đó anh cấp bậc gì?

– Trả nợ tụi nó hơn 4 năm chứ ít gì. Tôi khi đó mới thiếu uý thôi mà còn bị vậy. Sau khi được thả, quay về địa phương, bị đám công an nó trù dữ quá nên vượt biên nhiều lần mà không lọt. Giờ, ghe thoát ra khỏi nước thì tưởng đã êm nào ngờ. Số phận mình đen quá hả Vũ?

Tôi nhìn lại anh Tấn nhủ thầm: ” Số anh đen, tôi cũng đâu có đỏ gì cho cam. Anh Tấn ơi! Số phần tất cả người dân Việt Nam Cộng Hòa bại trận đều đen như mõm chó kể từ sau cái ngày định mệnh 30 tháng 4 năm đó “ rồi tôi ngồi im, chung nỗi buồn với anh.

Chúng tôi quay trở lại chỗ nằm khi thấy có ánh đèn pha của một chiếc xe chạy gần. Tiếng xe chạy đến chỗ căn nhà chúng tôi thì chậm hẳn rồi sau đó nó bỏ chạy luôn. Có lẽ là chiếc xe tuần tiễu ban đêm. Về khuya, vài người ra ngoài nhà muốn đi tiểu nhưng tìm không thấy chỗ vệ sinh ở chung quanh. Đi đâu giải quyết chuyện cần kíp đây? Chúng tôi nhìn nhau ráng nín vậy.

Trời sáng dần để thấy bên kia đường có một khu rừng nhỏ dầy đặc những cây bạch đàn. Thôi thì đành phải vào đó cho xong việc. Căn nhà cũng không có nước để rửa mặt mũi nữa. Tôi đi vòng ra bên ngoài nhà quan sát. Khu vực lính Campuchia để chúng tôi trú ngụ đầy vẻ hoang phế xưa cũ với các dãy nhà trông in hệt căn cứ hải quân gần bến Bạch Đằng-Sài Gòn. Như vậy, chắc chắn nó được người Pháp xây từ rất lâu trước đây. Những con đường tráng nhựa năm xưa nay đã loang lổ những ổ gà lớn nhỏ trên mặt đường. Hai bên đường giờ mới trông rõ những gốc cây cổ thụ còn sót lại chung với những hàng cây xoài còn non tuổi.

Nơi ở mới còn tệ hơn ngoài đảo Cô Tan vì cho đến quá trưa mà chúng tôi chẳng thấy bóng dáng một người Campuchia nào cả. May chúng tôi có mang theo ít bánh ngọt bisquit và nước lã đóng chai khi rời đảo nên tạm giải quyết được cái khát cái đói. Mãi đến gần chiều mới có một chiếc xe quân đội như loại xe Dodge 4 chạy đến, chở một thùng nước nóng khoảng 30 lít và một sọt nhỏ các ổ bánh mì cùng ít nải chuối chín cho chúng tôi. Theo tay chỉ của hai gã lính Khmer trên xe, chúng tôi khệ nệ khiêng các thứ đó vào nhà. Xong việc, chiếc xe chạy mất hút để mặc chúng tôi tự lo liệu với nhau.

Nhìn vào sọt, bánh mì đã cũ cứng ngắc, mỗi ổ dài khoảng hai gang tay. Cả thẩy là 37 ổ. Chia mỗi người một bánh mì và phần còn lại chúng tôi chia nhỏ đều cho từng người. Chuối cũng vậy nhưng may mắn đủ hai trái cho mỗi mạng. Nước, vì không có ly cốc, ai khát cứ kê miệng vào cạnh nồi mà uống.

Từ đó cho đến tối khuya cũng chẳng thấy chiếc xe quay lại. Thêm một đêm dài qua đi. Ngày hôm sau, chúng tôi cũng phải chờ cho đến chiều mới gặp lại chiếc xe cùng hai người lính Campuchia đó. Lần này, cũng một thùng thiếc đựng nước nóng tương tự nhưng cái sọt lót bằng lá chuối khiêng vào nhà thì không phải bánh mì và chuối như mọi người đã nghĩ. Đầy gần miệng sọt là các củ khoai mì khoai lang luộc cùng ít cá khô nướng chín.

– Ăn uống kiểu gì kỳ lạ vậy ta!

 

Một người trong chúng tôi hỏi và có tiếng đáp:

– Cơm cho tù mà, nhưng được vầy cũng còn may.

Một gã lính Campuchia theo chân chúng tôi vào căn nhà. Y giơ tay ra hiệu cho mọi người đứng tập trung lại gần với nhau. Lấy ra một xấp giấy từ túi vải đeo bên hông, y phân phát cho chúng tôi mỗi người một tờ. Đưa thêm cho hai cây viết mực nguyên tử, gã lính miệng nói tiếng Khmer, tay ra dấu ghi lên tờ giấy mới phát. Thấy vài người trong nhóm gật đầu tỏ ý hiểu lời nói, gã lính vội vã bỏ đi. Tai nghe tiếng xe chạy mà mắt nhìn xuống tờ giấy, tôi giật mình khi thấy hai chữ in Bản Khai to tướng ngay chính giữa cùng với những hàng nhỏ: Tên, Năm Sinh, Địa chỉ… theo thứ tự ở dưới. Bản Khai! Nơi đây đã từng giữ người Việt vượt biên bị bắt và có sự cộng tác với chính quyền Cộng Sản Việt Nam.

– Họ sẽ giải giao mình cho bọn công an Việt Cộng. Chết cả đám rồi Vũ ơi! Anh Tấn nhìn tôi ngao ngán.

Cầm tờ giấy Bản Khai trong tay, ai trong chúng tôi cũng thắc mắc ở mục ghi Quá Trình Vượt Biên rồi hỏi nhau mình phải khai như thế nào đây? Anh Tấn nói lớn cho tất cả cùng nghe với bản khai chữ Việt như vậy và nhìn các tấm giấy treo trên tường thì chắc chắn cả bọn mình sẽ gặp cán bộ Việt Cộng. Chỉ chưa biết là khi nào thôi.

– Nhớ đây không phải như hồi ở ngoài đảo Cô Tan đâu nha. Ngoài đó cán bộ Khmer ghi biên bản bằng chữ của họ. Lần này, họ đưa giấy bảo mình tự khai thì ai viết ra lời khai thế nào thì ráng mà nhớ cho kỹ để rủi công an Việt Cộng khi bắt khai lại mới ăn khớp và càng ngắn gọn ít chi tiết thì càng tốt. Anh Tấn nói thêm.

Quả là sự từng trải của người đã ở tù Việt Cộng trong nhiều năm trời. Hai cây viết mực nguyên tử lần lượt được chuyền tay. Không có bàn, chúng tôi phải dùng mặt xi măng láng ở nền nhà để đặt giấy viết. Đến lượt anh Tấn viết xong bản khai, dường như linh cảm một chia tay sắp đến với tôi và Dũng. Anh Tấn xé vỏ gói thuốc lá Apshara, viết địa chỉ của anh rồi đưa cho tôi và Dũng mỗi người một mẩu nhỏ rồi nói:

– Đây là địa chỉ của anh, có dịp rảnh thì ghé xuống nhà anh chơi. Anh rất mến hai tụi em.

Tôi và Dũng cũng trao cho anh địa chỉ của hai đứa.

Như ngày hôm qua, đến chiều các gã lính Campuchia  mới xuất hiện. Dừng xe tắt hẳn máy, họ vẫy chúng tôi đến gần để khiêng hai thùng giấy khá lớn vào nhà. Đặt các thùng giấy này  ngay trên mặt sàn xi măng, chúng tôi vội mở ra xem. Một thùng đầy nhóc những gói giấy còn thùng kia là các bịch nước mía đá lạnh cùng ống hút nhựa kèm theo. Hai gã lính đi theo chúng tôi lấy các gói, bịch nước mía ra đưa cho từng người một. Xong họ bỏ đi ra ngoài căn nhà đứng hút thuốc lá và trò chuyện với nhau. Tôi mở gói giấy ra xem. Cơm trắng trộn lẫn với trứng gà chiên-thịt kho-cà chua kiểu như loại cơm chiên Dương Châu trong món ăn Tàu. Chẳng có muỗng nĩa gì cả. Cứ vậy mà bốc ăn bằng tay thôi. Có tiếng người khen:

– Nay cho mình ăn ngon quá vậy ta… Cả nước mía-đá lạnh giải khát nữa chứ!

Chúng tôi nhìn nhau mỉm cười. Ăn vừa xong bữa, có tiếng xe mô tô hai bánh ngừng ngay phía trước cửa. Hai người đàn ông phục sức rất gọn gàng, tay cầm cặp bước đến nói chuyện xì xào nho nhỏ với hai gã Campuchia vài câu rồi cả bốn người họ bước vào hẳn bên trong căn nhà. Nhìn hai người mới đến, chúng tôi biết họ là người Việt Nam và quả đúng như vậy. Người mới đến nói giọng miền Bắc:

– Chúng tôi Vũ Văn Dũng và Huỳnh Thới Kỳ thuộc Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại đây.

Mọi người trong phòng im lặng nhìn hai gã cán bộ Việt Cộng. Đảo mắt khắp lượt chúng tôi, Vũ Văn Dũng hỏi:

– Tại sao các anh lại vượt biên? Hử! Tại sao các anh bỏ nước ra đi? Nói tôi nghe.

Không ai trong chúng tôi lên tiếng trả lời. Vũ Văn Dũng xổ luôn một hơi:

– Nước nhà độc lập thống nhất từ lâu mà vẫn không chịu yên tâm lao động sản xuất. Hở ra là vượt biển vượt biên, gây xáo trộn cho xã hội. Bộ các anh nghĩ cứ sang được bên Mỹ thì bọn Mỹ sẽ coi các anh là ông nội lũ nó chắc. Ở đâu thì ai cũng phải làm mới có cái ăn nghe chưa. Chúng tôi thật xấu hổ khi gặp các anh trong tình cảnh như vầy. Hôm nay, chúng tôi đến để bảo lãnh các anh ra từ tay các đồng chí hải quân nước bạn. Nếu chúng tôi từ chối bảo lãnh, họ sẽ giam các anh cho đến chết. Giam cho đến chết… Các anh nghe rõ chưa? Cũng vì tình thương đồng bào Việt Nam cả thôi… Các anh đâu biết.

Nói xong, Vũ Văn Dũng mở miệng cười. Nghe giọng nói, tôi biết y gốc gác người Hà Nội.

Chúng tôi nhìn nhau trong chốc lát. Gã cán bộ Việt Cộng còn lại cất giọng miền Nam:

– Nước nhà còn nhiều khó khăn thì các anh phải thông cảm chứ. Đảng và chính phủ nào muốn vậy. Đừng vượt biên nữa nguy hiểm lắm. Các anh dùng bữa cả rồi phải không? Bản khai ngày hôm qua mọi người đã viết xong hết cả thì đưa đây ngay cho tui.

Chúng tôi lục tục gom các tờ giấy đưa lại cho hai gã cán bộ Việt Cộng. Gã người Bắc sắp xếp gọn các tờ giấy rồi y cầm đọc lướt vài tờ xong ngẩng đầu lên nhìn đám chúng tôi, nói:

– Lãnh sự quán sẽ theo từng địa chỉ ghi trong đây để gửi về địa phương thông báo sự vụ các anh. Nhưng chúng tôi biết các anh chỉ ghi láo, ghi lếu cả thôi. Rồi y đọc tên một người cùng địa chỉ người đó trong tờ giấy và tiếp:

– Đây nhá, thử đến ngay địa phương… rồi hỏi chính quyền xem biết liền. Có người tên như vầy thì cứ đem đầu tôi ra mà chặt.

Xong, y cười hì hì, lộ vẻ khoái trá, nói:

– Làm cho có thủ tục vậy thôi. Bây giờ các anh được trả tự do cả đấy.

Tôi và anh Tấn khẽ nhìn nhau. Đúng y boong lời hắn nói. Không ai trong chúng tôi viết đúng tên cùng địa chỉ trong tờ giấy Bản Khai. Rõ ra kinh nghiệm của một cán bộ ngoại giao Việt Cộng đã từng tiếp xúc nhiều phen với người vượt biên trên đất Chùa Tháp. Một người trong chúng tôi giơ tay, hỏi vội:

– Cán bộ nói chúng tôi được trả tự do, tôi rất mừng nhưng làm sao về được tới Việt Nam? Không ai còn đồng tiền nào trong người, hải tặc lột sạch hết cả.

Vũ Văn Dũng nhìn người vừa hỏi sau đó đảo mắt qua cả đám chúng tôi, y gằn từng tiếng:

– Chúng tôi không cần biết chuyện đó. Các anh sang đây được thì các anh phải về Việt Nam được. Bảo lãnh cho các anh ra khỏi đây, đã thể hiện tình cảm với các anh lắm rồi.

Nghe gã cán bộ trả lời như vậy, tôi liền nói:

– Cán bộ ơi, nghe giọng cán bộ thì tôi biết người gốc Hà Nội. Tôi cũng người gốc Hà Nội đây. Cán bộ nói tình thương đồng bào thì xin thương cho trót. Cố giúp chúng tôi có phương tiện để về tới Nông Pênh cũng được. Đến đó rồi chúng tôi sẽ liệu tiếp.

Nhìn tôi, Vũ Văn Dũng lắc đầu, nói chậm rãi dứt khoát:

– Lãnh sự quán không có tiền. Biết hoàn cảnh các anh chứ nhưng thực sự chúng tôi cũng không có tiền… Anh hiểu chưa!

Tay Việt Cộng miền Nam nghe hai bên đối đáp như vậy liền xen vào, giọng y nhỏ nhẹ:

– Mong các anh thông cảm. Ngân khoản của lãnh sự quán hạn hẹp lắm. Bây giờ ít có vụ vượt biên chứ trước đây hầu như vài ngày tụi tui cứ phải đi lãnh người Việt ra hoài. Thôi! Các anh ráng xoay trở làm sao đó thì làm nghe.

Tôi, anh Tấn và thằng Dũng nhìn nhau rồi kín đáo lắc đầu, thầm nghĩ cán bộ Việt Cộng nói như vậy thì hết cách. Vừa lúc, một xe tải nhà binh chạy đến và ngừng ngay ở ngoài sân phía trước căn nhà. Một lính Campuchia bước xuống và ra dấu cho cả bọn chúng tôi trèo lên thùng xe. Hai cán bộ Việt Cộng vẫn đứng yên trên thềm nhà chuyện trò với lính Campuchia của chiếc xe đến trước. Khi chúng tôi trèo lên thùng xe xong xuôi, xe tải nhà binh từ từ lăn bánh chạy vòng vèo trong khu vực. Đúng đây là một trại hải quân vì huy hiệu quân đội Campuchia với cái mỏ neo ở chính giữa được treo trên cửa ra vào của một tòa nhà khá lớn. Nhà cửa nơi đây cùng một kiểu Pháp giống y khu hải quân tại cảng Bạch Đằng-Sài Gòn. Ba người Khmer đang đi dọc theo con đường và một trong số họ vẫy tay thân ái với chúng tôi. Đây đó, vài trẻ em Khmer chạy chơi, đùa giỡn gần các căn nhà. Khói lam từ một nhà bếp mang mùi thơm của thức ăn theo gió chiều đến tận xe chúng tôi. Hai phụ nữ, người quấn xà rông đang ngồi bên nhau trên ghế trước cửa một căn nhà dõi mắt nhìn chiếc xe chở chúng tôi chạy ngang qua.

Trời bắt đầu xâm xẩm tối rồi. Gã lãnh sự Vũ Văn Dũng nói chúng tôi được trả tự do nhưng không biết xe sẽ chở cả nhóm đi đâu đây? Qua hết các dẫy nhà, xe bắt đầu ra khỏi cổng căn cứ hải quân và chạy vào vùng ngoại ô. Những ruộng lúa cùng các căn nhà sàn vách gỗ mái ngói đỏ nằm rải rác cạnh vệ đường. Nước Campuchia sau hoạ diệt chủng của chế độ PolPot chỉ còn ít dân nên đất đai bỏ hoang rất nhiều. Xe vào thành phố, chạy vòng vèo trong các khu thị tứ hoặc trên các con đường với hai hàng cây tương tự như các con phố ở Sài Gòn. Các cửa tiệm đã mở đèn sáng chưng. Sau cùng, xe ngừng tại một bến xe nằm đối diện với một khu chợ khá sầm uất. Hai lính Campuchia từ cabin bước xuống và ra dấu cho chúng tôi phải rời khỏi xe họ ngay. Lần lượt kẻ trước người sau nhẩy ngay xuống đất và tức khắc, xe tải nhà binh đánh một đường vòng rồi quay đầu bỏ chạy thẳng.

Đứng ngồi lố nhố từng đám nhỏ trong cái bến xe, chúng tôi trông thật khác hẳn với dân Khmer đang có mặt. Vài người Khmer ngồi trong quán gọi nhau nói chuyện mà ánh mắt, ngón tay họ chỉ trỏ về hướng chúng tôi. Tôi, Dũng và anh Tấn nhìn nhau lo lắng. Không người quen trên xứ lạ, túi rỗng tiền mà trời thì sắp tối đến nơi. Chúng tôi sẽ ở đâu, làm gì trong đêm hôm nay? Chợt có tiếng còi tu huýt ré lên cùng giọng nói lớn:

– Chết mẹ! Mấy cha kia bị công an Campuchia bắt rồi kìa.

Tôi hoảng hốt đưa mắt nhìn. Hai người Khmer đồng phục kaki vàng nghệ như công an Việt Cộng đang chận một nhóm bốn người thằng Minh ở ngay vệ đường trước cổng bến xe. Anh Tấn quay qua nói nhanh với tôi và Dũng:

– Tản ra ngay thôi. Mình chia tay ở đây nghe các em. Tạm biệt Vũ, tạm biệt Dũng.

Mỗi người liền vọt ngay một hướng. Bến xe không có xây tường bao chung quanh và các xe tải, xe chở khách đậu sát trước cửa nhà dân tương tự bến xe trong vùng ngã bẩy Petrus Ký-Sài Gòn. Do đó khi cắm đầu đi thẳng được một khúc đường, gặp có một hẻm nhỏ, tôi vội rẽ vào và bước dọc theo con hẻm dưới ánh sáng của các ngọn đèn đường. Trời bây giờ đã thật tối. Hẻm nhỏ dẫn tôi đi lòng vòng qua các con hẻm khác nữa rồi lại quay ra ngay phía hông cái chợ trước bến xe. Tôi vào trong chợ. Người ra kẻ vô khá đông và cũng chẳng ai để ý đến tôi. Có những gian hàng, người chủ đang thu dọn để nghỉ nhưng có gian hàng khác mới bắt đầu dọn ra bán. Tôi băng ngang qua một khu bán thức ăn. Những xe thùng bán hủ tiếu, cơm, chè, món nhậu… tương tự như bên nước Việt. Mùi xào nấu bốc thơm lừng mũi. Vài người bán hàng vẫy tay mời tôi ghé vào quầy hàng của họ nhưng tôi lắc đầu, im lặng lầm lũi bước. Đi tới lui mãi, sau cùng tôi ra khỏi chợ. Nhìn chung quanh không còn bạn đồng hành trong chiếc ghe với tôi nữa. Chân rảo bước trên con hẻm dọc theo chợ mà trong tôi đang lo lắng nơi nào mình sẽ đi tiếp đây. Gặp một rạp chiếu phim Video nhỏ với các tấm pano quảng cáo hình bộ phim đang chiếu bằng loại chữ Khmer và chữ Tàu, tôi dừng lại đứng gần đám đông người trước cửa rạp chiếu phim. Vờ xem các hình quảng cáo nhưng tôi kín đáo quan sát và lắng nghe tiếng trò chuyện của người chung quanh xem coi có đồng hương Việt Nam không nhưng không gặp người Việt nào cả.

Tôi bỏ rạp chiếu phim, quay ra đi thẳng rồi băng ngang qua một ngã tư vào một khu phố với khá nhiều cửa tiệm đèn sáng choang. Dân Khmer sống ở phố chợ cũng giống người Việt Nam dùng mặt tiền nhà làm tiệm buôn bán. Dọc theo con phố, tôi đi ngang một tiệm cà phê có vài khách đang ngồi xem TV gắn ở trên tường. Tôi dừng chân nhìn các cảnh trên TV đang chiếu. Một cô gái trẻ ngồi ở chiếc bàn nhỏ ngay sát hàng hiên ngẩng đầu nhìn tôi, trong tay cô cầm một quyển sách khá dầy. Thấy tôi đứng nhìn vào quán, cô gái hỏi vài câu tiếng Khmer. Không hiểu lời cô gái, tôi mỉm cười với cô rồi nhìn xuống quyển sách. Những hàng chữ Việt trên các trang giấy. Tôi nhìn kỹ đúng là chữ Việt. Mừng quá đi! Buột miệng, tôi hỏi liền:

– Cô là người Việt Nam… Phải không? Cô là người Việt Nam?

Cô gái nghe tiếng tôi liền gật đầu, hỏi lại:

– Anh! Anh… thuộc nhóm người Việt vừa có mặt ngoài bến xe lúc chập tối. Phải không?

Tôi gật đầu nhưng thầm nghĩ tại sao cô ta lại biết tôi trong nhóm người Việt ở ngoài bến xe? Thấy tôi đứng yên, cô cho biết khách uống cà phê trong tiệm nói về một nhóm người Duôn vừa xuống xe tại bến đã bị công an Campuchia bắt giữ. Công an bắt vì nghĩ người Duôn đến Kompong Som để tìm cách vượt biên sang Thái Lan. Khi nghe vậy, cô vội chạy ra chỗ bến xe để xem có người quen không. Bốn người đang bị giữ tại đồn công an ở gần cửa chợ còn các người khác bỏ chạy hết. Cô gái kéo ghế mời tôi ngồi, xưng tên là Hường rồi tiếp:

– Mấy thằng công an Campuchia  em quen mặt cả. Họ lại đây uống cà phê thường ngày. Em vô đồn công an gặp 4 người bị bắt và nghe họ kể chuyện ghe vượt biên rồi. Em đã nói cho công an biết nhưng bọn nó nói phải liên lạc với lãnh sự quán Việt Nam trước đã. Em nghĩ họ sẽ thả hết bốn người bọn anh, đừng lo. Nói xong, cô gái quay vào phía trong gọi khá lớn:

– Liên, Liên ơi! Ra đây có chuyện này hay lắm.

Một thiếu nữ từ bên trong quầy đi ra. Nhìn mặt hai cô gái, tôi đoán họ trạc tuổi với tôi. Hường nói qua loa với Liên về tôi rồi cả hai dẫn tôi ra phía đằng sau nhà. Ở đó có một phụ nữ Việt khá lớn tuổi đang ngồi ăn cơm tối. Hường, Liên bảo là mẹ của họ và giới thiệu tôi với bà. Bà cụ bảo tôi ăn cơm tối chung. Tôi vừa ăn vừa kể cho ba người nghe về chuyến đi bất thành. Sau bữa ăn, tôi xin đi tắm ngay vì từ lúc rời đảo Cô Tan không có nước để rửa ráy, thân thể rất bẩn. Tắm xong, Hường làm cho tôi ly cà phê đá. Uống nó thật ngon, nước lạnh chảy tới đâu tôi cảm thấy mát ngay tới đó. Bà cụ, mẹ của Hường và Liên kể thêm về hoàn cảnh:

– Gia đình tôi đi vùng kinh tế mới tại huyện Vĩnh Cửu thuộc tỉnh Đồng Nai vào cuối năm 1975 sau khi nhà nước đổi tiền mới. Lên đó được vài năm, nhà tôi chết vì cơn sốt rét rừng. Mẹ con tôi chán nản hết sức, muốn trốn về Sài gòn nhưng nhà cửa thì không còn. Chưa biết làm gì thời may gặp cái vụ nhà nước xây con đập thủy điện Trị An. Một số nhà hàng ở Sài Gòn lên hỏi mua những khu đất gần chỗ xây con đập để mở hàng quán cho đám công nhân xây dựng. Lô đất nhà tôi lại ngay chỗ nhà hàng cần mua. Họ cho người đến thương lượng. Gặp dịp tôi bán liền, lại bán được giá thật hời. Tiền bán khu đất, lúc đầu tôi định về Sài Gòn kiếm mua căn nhà nhỏ rồi liệu kế làm ăn nhưng mấy đứa trong nhà lại nghe lời họ hàng rủ nhau đi vượt biên. Đám tổ chức vượt biên đường bộ bằng ngã Campuchia. Một hai bảo đảm sẽ sắp xếp gia đình tôi đi lọt trong vòng tuần lễ. Tính chuyện rất dễ nhưng khi đến được Kompong Som này gia đình tôi bị lừa mất sạch vàng. Không vượt biên được nữa, phải ở nhà trọ rồi kéo nhau đi làm thuê kiếm miếng ăn qua ngày. Thảm lắm cậu! Bà cụ ngừng kể, mắt khẽ nhắm như đang hồi tưởng những ngày cũ. Một thoáng trôi qua, bà tiếp:  ” Gia đình phải sống dựa vào đám bộ đội Việt Cộng đóng quân ở đây, tội nghiệp nhất là hai đứa con gái tôi… lúc đó đành phải… “  rồi bà cụ chợt im lặng.

Hường ngồi gần tôi, tiếp lời mẹ:

– Cả nhà em dành dụm mãi mới đủ tiền sang lại nhà và mở quán bán cà phê suốt từ đó. Trước đây còn khá đông bộ đội người Việt tụi em buôn bán rất ngon. Bây giờ họ rút về hết rồi thêm người mở quán cạnh tranh làm gia đình em buôn bán cũng kém. Chưa biết sẽ phải xoay trở làm ăn cái gì khác đây? Hầu như người Việt mình từ quê nhà sang Kompong Som đều tính chuyện vượt biên cả nhưng thấy vậy mà đi khó lọt lắm anh. Bị đám tổ chức gạt, có khi còn bị bắt rồi hết tiền không về quê nhà được giống gia đình em nên đành chấp nhận sống ở đây luôn.

– Cái hồi gia đình tôi bị bỏ rơi ở Kompong Som may mắn bộ đội Việt Cộng không thèm bắt nữa. Mấy năm trước vượt biên sang đây đi lạng quạng ở các bến xe hoặc nhà trọ, công an Campuchia bắt được giao cho bộ đội Việt Cộng giải về Việt Nam tống vô tù liền. Bà cụ kể.

– Hồi đó gia đình em không bị bắt vì bộ đội Việt Cộng muốn nhiều người Việt mình sống ở nước Campuchia trước khi họ phải rút về Việt Nam. Liên chen vào.

Hường kéo tôi trở ra một bàn trong quán, vài khách địa phương ngồi gần nhưng không ai buồn để ý đến ai. Mắt họ dán vào màn hình TV. Tôi ngồi im lặng, thỉnh thoảng ngó ra bên ngoài mong gặp được anh Tấn, thằng Dũng hay người trong ghe. Chợt Liên đến ngồi chung bàn, kể chuyện:

– Người Việt mình ở đây sống rải rác nhiều nơi nhưng ai cũng đều chung cảnh nghèo, đi làm thuê làm mướn cả. Chuyện quay về quê nhà lập nghiệp thật xa vời không ai nghĩ đến, do vậy mới lập hội Việt Kiều để tương trợ lẫn nhau. Chị Hường em nói sáng mai sẽ đưa anh đi gặp hội, xem coi họ có thể giúp gì cho anh được không?

Nói với Liên, tôi may mắn đã gặp được gia đình nàng chứ nếu không, tối nay còn đang phải lang thang ở đâu đó. Trời về khuya quán sắp đóng cửa, Cao về tới. Cao là em trai út của Hường-Liên, làm thuê cho một tiệm ăn Tàu ở chợ và cũng vừa dọn dẹp ngoài đó xong xuôi. Nằm trong chiếc mùng Cao vừa căng cho tôi sát bên các bàn ghế trong quán, tôi hồi tưởng những chuyện xẩy ra trong ngày và câu Hường nói:

– Anh đừng lo, những người bị công an bắt lúc chập tối họ sẽ thả sớm sáng ngày mai.

Thằng Minh ở trong số người bị bắt này. Dầu sao, nó cũng có chỗ ngủ đêm nay. Chỉ lo cho thằng Dũng và anh Tấn giờ đang ở đâu, ra sao?

Cũng y như tiệm cà phê bên quê nhà, quán của hai chị em Hường-Liên ngày nào cũng mở rất sớm và đóng thật trễ. Mới 6 giờ sáng cả nhà đã lục tục dậy để dọn dẹp chuẩn bị cho một ngày mới. Tôi thức dậy cùng với gia đình và định phụ một tay nhưng hai chị em Hường-Liên bảo tôi cứ ngồi yên uống cà phê. Cao vẫn đang ngủ say. Hường nói ngày nào cũng vậy, Cao bắt đầu đi làm lúc gần trưa cho đến tối khuya mới xong việc. Bà cụ cũng dậy sớm, đang lúi húi làm món cơm chiên cho mọi người ăn sáng lót dạ. Khách lai rai vào uống cà phê, họ là dân lao động phải dậy đi làm sớm đầu ngày nên ghé vào quán uống vội một ly cho tỉnh ngủ cho ấm bụng rồi bỏ đi ngay. Ở xứ nào, dân lao động cũng vất vả như nhau.

Khoảng xế trưa bớt khách, để Liên coi tiệm, Hường dẫn tôi đi gặp các người Việt gần chợ Kompong Som. Đầu tiên, tôi và Hường đến nhà người đại diện hội Việt Kiều. Ông ta tên Hai, trạc ngoài 50 tuổi, khuôn mặt hiền lành đầy vẻ nhẫn nại. Sau khi nghe tôi kể vắn tắt lại câu chuyện của mình, ông yên lặng, thở dài rồi cho biết người Việt sinh sống ở Kompong Som rất nghèo vì hầu hết đã mất tiêu tài sản cho canh bạc vượt biên không thành. Lưu lạc xứ người lại không nghề nghiệp trong tay nên ai cũng phải làm thuê vác mướn sống qua ngày. Có người phải dành dùm rất lâu mới có đủ tiền để về lại Việt Nam. Đó là người còn gia đình bên quê nhà. Không thân thích ruột thịt, đành chọn Kompong Som làm quê hương thứ hai. Ông Hai nói đúng y lời Hường và Liên đã kể.

– Chúng tôi làm thuê bất cứ nghề gì mà người Khmer cần cậu à. Phu khuân vác, thợ hồ, thợ nề… Thậm chí làm cả người ở giúp việc trong nhà nữa. Nói ra cho cậu thấy hoàn cảnh chúng tôi. Sống ở xứ người nhưng có khấm khá gì đâu. Mong ngày đủ hai bữa cơm là tốt. Gặp cậu, thêm đồng hương tôi rất vui nhưng nói thật, muốn giúp cậu cũng chẳng biết phải giúp sao đây vì ai cũng nghèo túng cả. Cậu cứ tiếp xúc các người Việt khác đi rồi sẽ thấy. Gửi cậu 200 Riel, mong cậu hiểu cho tình cảnh tôi.

Nhờ có Hường hướng dẫn, tôi mới gặp được nhiều gia đình người Việt Nam. Gặp nhiều Việt kiều nhưng đúng như lời ông Hai, người Việt sinh sống tại Khmer quá sức nghèo. Có gia đình, cuộc sống của họ còn khổ hơn lúc còn ở Việt Nam. Tôi cảm thấy áy náy khi phải gõ cửa lòng nhân ái của họ, những người Việt tha hương bất hạnh. Từng là nạn nhân của các vụ lừa đảo vượt biên nên số Việt kiều tôi gặp dễ dàng thông cảm nhưng chính vì vậy lại đặt họ vào hoàn cảnh khó xử. Thật lòng họ muốn giúp nhưng túi không tiền. Mở miệng từ chối lại không nỡ. Có người thú thật trong nhà không còn một đồng bạc và đang chờ người thân đi làm về mới có cái mua đồ ăn. Có gia đình chỉ biết an ủi, giữ tôi và Hường ở lại ăn bữa cơm trưa. Thức ăn chỉ món mắm cùng canh chua bắp chuối hột nấu với ít cá lòng tong. Có nhà khi thấy tôi và Hường đến  mở lời, họ liền đóng sập cửa không tiếp.

Tới chiều tối, tôi và Hường mệt mỏi quay trở về quán. Toàn bộ tiền tôi xin được trong ngày hôm nay chỉ vỏn vẹn 1600 Riel. Hường cho biết từ Kompong Som về Nông Pênh bằng xe khách hạng bét là xe chở hàng Kamaz cũng phải mất 5000 Riel tương đương với 5 phân vàng y 24. Lạ một điều đi gặp Việt kiều suốt cả ngày, không nghe ai nói với tôi về những người khác trong chuyến ghe. Không lẽ chỉ có một mình tôi đi gặp họ? Tôi phân vân. Anh Tấn và thằng Dũng đã đi đâu sau lúc chia tay vội vã ở bến xe? Tôi lại nghĩ lúc còn ở trên ghe, anh Tấn, Dũng và các người khác đã nuốt kịp vàng vào bụng và nhờ vậy họ đã có cái để bán? Có tiền trong tay, thuê nhà trọ nghỉ chân và họ đã đón xe về Nông Pênh hết cả rồi. Có thể lắm! Mong họ được như điều tôi nghĩ.

Bữa cơm tối, bà cụ kể thêm cho tôi nghe những cơ cực của những ngày đầu phải lưu lạc tại vùng Kompong Som sau chuyến vượt biên không thành. Từng lâm cảnh khổ vì bị gạt vượt biên nên gia đình Hường-Liên đã cố sức giúp tôi có tiền để về lại quê nhà.

– Em chưa biết nếu ghe anh đi lọt sang được đất Thái Lan sẽ ra sao chứ bằng đường bộ thì ai cũng phải vào mấy cái trại sát biên giới như Dongrek, Nong Chan hay Nong Samet… gì gì đó. Tuy mang tiếng trại tị nạn nhưng bọn lính Campuchia và lính Thái Lan ở đó coi mạng người vượt biên Việt không bằng một con gà. Đàn ông con trai người Việt mình, chúng muốn hành hạ hay giết thì tùy hứng. Đàn bà con gái thì thôi khỏi nói. Trước sau gì cũng bị… tay chúng hết. Gia đình em đi không lọt chứ lọt mà phải sống trong các trại tị nạn đó thì không biết số phận sẽ như thế nào. Người Việt mình sao thời bây giờ khổ quá anh, ở bên quê nhà đã khổ, sang đây cũng khổ. Hường buồn bã, chép miệng.

Liên thuật cho tôi nghe mấy tay công an Campuchia đến quán uống cà phê lúc quá trưa cho biết họ đã thả nhóm bốn người Duôn bị bắt tối hôm trước rồi. Thằng Minh vậy đã được tự do nhưng hiện thời ra sao, ở đâu? Biết hoàn cảnh tôi, bà cụ bảo nếu không muốn về Việt Nam ngay thì cứ ở lại đây rồi theo Cao ra ngoài chợ xin việc làm trong các tiệm ăn! Có nhiều tiệm ở chợ nếu họ nhận cho làm, chịu khó tằn tiện rồi tôi cũng góp đủ tiền. Hường và Liên phụ họa:

– Anh ráng ở đây một thời gian ngắn làm việc, đừng ngại chỗ ăn chỗ ở.

Nghe vậy, tôi nghĩ mình không còn chọn lựa nào khác, tạm thời phải ở lại, đi kiếm việc làm. Ở trọ nơi quán cà phê được hai ngày, theo Cao đi hỏi các tiệm ăn trong chợ nhưng không ai cần thêm người làm, tôi đành quay về không. Tối nằm ngủ, tôi nghĩ phải tìm cách để về Nông Pênh. Gia đình Hường-Liên tuy tốt bụng nhưng tiệm cà phê khách chỉ có lai rai, ở nán lại trong nhà họ ngày nào coi như thêm gánh nặng ngày đó. Đường đi nước bước ở nơi miệng mình, chỉ kẹt tôi không biết tiếng Khmer. Tôi phân vân nhưng quyết định dứt khoát phải về. Trong lúc ăn cơm, nói điều mình định cho cả nhà biết, Hường và Liên liền giúp mỗi người 500 Riel nữa tổng cộng tôi có 2600 Riel. Tôi nhủ thầm, mình cứ liều thử đón xe xem sao. Có đi mới biết.

Khi trời còn mờ sương buổi sớm mai, Hường đã dẫn tôi ra bến xe để tìm cách về Nông Pênh nhưng những xe khách ở đó đòi giá tới 6000 hoặc 7000 Riel cho một chỗ ngồi. Giá vé chênh lệch tùy theo tình trạng xe mới hay đã cũ nhưng khách phải trả tiền trước. Như đã kể, bến xe rất rộng phải đi tới lui loay hoay dò hỏi mãi rồi Hường cũng gặp được một xe đồng ý cho lên sau khi Hường nói tôi chỉ có 2500 Riel. Đây là một xe vận tải cũ hiệu Kamaz của các nước Đông Âu- Xã Hội Chủ Nghĩa viện trợ cho các quốc gia trong khối Cộng Sản như Việt Nam, Cu Ba và Campuchia… Móc trong túi lấy toàn bộ tiền mình hiện có đưa cho gã lơ rồi sau đó theo ngón tay y, tôi vội vàng trèo lên cái rờ moọc khá lớn chất đầy hàng hóa kéo ở phía sau xe. Tôi, hành khách duy nhất ngồi trên đống hàng hóa ở cái rờ moọc. Xe sắp sửa chạy, tài xế bóp còi và rú ga vài lần.

– Về đi Hường, cho anh gửi lời thăm bà cụ, Liên và Cao. Không bao giờ anh quên được em và ngày hôm nay. Cầu xin Thượng Đế phù hộ cho gia đình em. Cảm ơn em rất nhiều. Mong rằng có một ngày nào đó anh sẽ gặp lại em cùng gia đình.

Tôi thân mật nói lời từ biệt với cô gái tốt bụng khi xe Kamaz bắt đầu lăn bánh trên con đường gập gềnh, đầy ổ gà của bến xe Kompong Som. Hường đứng yên lặng bên vệ đường, khuôn mặt nàng lộ vẻ buồn khi nhìn tôi và khẽ vẫy tay cho đến khi chiếc xe khuất sau một khúc quanh.

Xe chạy dần ra phía ngoại ô, cảnh vật hai bên đường là các vùng đất vắng lặng nhưng vẫn thấy rõ dấu vết của làng mạc nay không còn người ở. Những khung nhà sàn đổ nát, hư cũ và các vệt vườn cây ăn trái còn sót lại ở nhiều nơi. Những vạt ruộng bỏ hoang cùng những bãi đất trống xuất hiện khi xe chạy ngang qua. Chế độ Polpot-Iêng Sa ri khi cầm quyền đã tận diệt các phát minh của nhân loại trên đất nước Campuchia. Tiền, một trong số các điều mà bọn người Khmer Cộng Sản này đã tiêu hủy. Không cho lưu hành tiền trong xã hội và còn dẹp luôn chuyện buôn bán. Người dân muốn có muốn cần cái gì trong cuộc sống, chỉ đơn thuần trao đổi với nhau như kiểu thời sơ khai. Nếu không có tiền hôm nay làm sao tôi có thể đón xe để về Nông Pênh được! Một xã hội không dùng tiền trong giao dịch thương mãi, giả dụ người có bò muốn có dê nuôi thì người đó sẽ phải đi đâu mới gặp người chăn dê đang tìm bò để cùng nhau trao đổi qua lại? Đến chết chưa chắc đã gặp. Phải có chợ buôn bán thì mọi việc mới ổn thỏa.

Làng mạc bị bỏ hoang nhiều vì chế độ Khmer Đỏ đã tàn sát rất nhiều dân lành vô tội. Người thuộc chế độ cũ bị tàn sát vì thù hận đã đành nhưng các sư sãi đạo Phật , các tu sĩ tôn giáo khác đã làm gì nên tội mà cũng bị giết? Coi như một gánh nặng cho phúc lợi xã hội, người tàn tật cũng bị dứt bỏ và ngay cả người đeo cặp kiếng trắng cũng bị tận diệt vì gán cho là thành phần trí thức. Được cha mẹ cho du học tại Pháp rồi về nước với mảnh bằng kỹ sư và những đưa đẩy của lịch sử, Polpot cầm quyền để rồi làm cho đất nước tan hoang chỉ sau ít năm gã cùng tay chân cai trị. Không hiểu vì mối thù hận gì mà những lãnh tụ Khmer Đỏ lại giáng lên đầu lên cổ người dân? Không lưu hành tiền, không còn các sinh hoạt xã hội như bao đời và phải sống tập trung như thời sơ khai… người dân Khmer sống trong giai đoạn cộng sản cầm quyền chắc chắn phải khổ sở vô cùng.

Ngồi trên chiếc rờ moọc sau xe, tầm mắt tôi tiếp tục dõi mắt ngắm nhìn cảnh vật bên đường. Có những khu vực, cây Thốt Nốt được trồng hoặc mọc tự nhiên trải dài đến tận chân trời. Những cây Thốt Nốt nằm gần sát đường khoe các chùm trái mầu xanh hoặc nâu tím tròn bóng lưỡng và có một cái núm nhỏ như đôi vú của thiếu nữ đương thì. Có thấy những cánh đồng cây Thốt Nốt mới hiểu tại sao nước Campuchia làm ra được nhiều loại đường mầu vàng ngà ngon nổi tiếng. Ở thùng xe Kamaz, khách Khmer chen chúc ngồi bó gối chật cứng trên đống hàng hóa. Hàng hóa là thổ sản địa phương như cá khô, dừa… chất trong các sọt cần xé hoặc các bao gạo. Các thùng thuốc lá hút ngoại quốc cùng những thùng carton bọc kín mít không biết chứa thứ gì bên trong.

Ngồi một mình trên đống hàng hóa của cái rờ moọc, tôi thật không an toàn khi xe chạy. Những lúc xe Kamaz đổ dốc chạy rất nhanh qua cua gắt làm tôi phải bám chặt vào các kiện hàng vì sợ bị hất ngã văng xuống đường. Đường từ Kompong Som về Nông Pênh thật xấu. Xe chạy ngang qua các cầu bị phá hủy từ thời chiến tranh nay được chắp vá bằng thân cây lớn ghép lại. Lúc vượt cầu như vậy rất nguy hiểm, tài xế sơ sẩy chút xíu, xe sẽ lọt xuống dòng nước đang chảy bên dưới ngay. Đường hư hỏng, ngồi trên cái rờ moọc nên mỗi lần xe lọt ổ gà, người tôi thêm một phen ê ẩm. Đây là đường duy nhất nối liền hải cảng Kompong Som về thành phố Nông Pênh tương tự như quốc lộ 20 bên quê nhà từ Dốc Mơ đi Đà Lạt. Những vùng hoang vắng trên trục lộ giao thông xe đang chạy ngang, nơi nào từng là cánh đồng giết người trong thời PolPot cai trị?

Mặt trời bắt đầu chói chang, tôi đổi hướng ngồi để tránh ánh sáng chiếu trực tiếp vào mặt. Đột nhiên, chiếc xe từ từ ngừng lại. Vài người Khmer võ trang đứng ở dưới đất tiến lại gần ngang bên hông, chỉ trỏ vào hàng hoá rồi nói chuyện với hai gã lơ-tài xế. Gã tài xế đưa tiền cho những người Khmer võ trang của cái chốt bên vệ đường. Đám võ trang cho xe chạy, chạy tiếp cho đến khi gặp chốt gác mới lại phải dừng xe. Mỗi lần gặp chốt võ trang lại diễn màn mặc cả tiền mãi lộ. Ngồi im lặng trên cái rờ moọc, tôi kín đáo quan sát đám người Khmer có vũ khí trong tay không biết họ là lính của phe nào. Khmer Hiêng Xomrin hay tàn quân PolPot-Iêng Sa Ri? Y phục họ mặc bát nháo giữa quần áo lính xanh, rằn ri chung với thường phục và quấn xà rông. Người chân mang giầy trận, người chỉ đôi dép mỏng.

Xe đã chạy được hơn hai tiếng đồng hồ. Hai bên đường hầu hết như rừng hoang vắng chỉ đôi lúc xe qua một xóm dân cư Khmer rất thưa thớt lèo tèo độ chục nóc nhà sàn. Đường quá xấu, xe chở nặng nên tốc độ rất chậm. Chạy kiểu nầy không biết còn bao nhiêu km đường, mấy giờ đồng hồ nữa xe mới đến được Nông Pênh? Chắc chắn khi đến được thì trời sẽ chiều tối. Tôi lo lắng mình sẽ ở đâu trong đêm tại Nông Pênh? Có gặp được người tốt bụng như anh chàng cán bộ Sok Sammath hay người đồng hương như chị em Hường-Liên?

Vừa vượt qua một con dốc khá cao, chiếc xe ngừng lại, hai gã lơ và tài xế bước xuống xe đến chỗ chiếc rờ moọc, lấy chỉ tay vào tôi và nói những câu Khmer xa lạ. Tiếng Khmer tôi mù tịt còn tiếng Việt hai gã lại không biết. Hai gã Khmer nói cái gì với mình vậy? Lúc đầu tôi không hiểu nhưng rồi qua cử chỉ, tôi biết hai gã muốn tôi phải trèo xuống khỏi cái rờ moọc. Không chở mình đi tiếp nữa! Tôi có chút sững sờ vì ở bến, hai gã Khmer đã đồng ý khi cho tôi lên xe. Cầm tiền Hường trả bây giờ lại đuổi tôi xuống. Biết nói gì bây giờ? Chợt nhớ tối hôm qua trước giờ ngủ, Hường và Liên đã cố sức chỉ cho tôi nói vài câu Khmer để phòng những lúc cần. Lúc chia tay ở bến xe Kompong Som, Hường đã nhét vội vào túi áo tôi một mảnh giấy dặn khi nào anh quên thì lấy ra đọc cho nhớ. Có bí kíp trong túi mà không biết dùng, tôi liền lấy nó ra trong lúc hai gã lơ-tài xế cùng những người Khmer khác đang nhìn chằm chằm. Như bao người Việt sinh sống tại xứ Chùa Tháp, chị em Hường-Liên chỉ biết nói và không biết viết cũng như đọc được chữ Khmer loằn ngoằn.Thấy tôi mở túi áo, hai gã lơ-tài xế  nghĩ tôi lấy tiền nhưng không, chỉ một mẩu giấy nhỏ. Mở vội ra, tôi đọc to những câu viết thành chữ Việt trên giấy:

– Bon cùm đâu nhum chênh lan (Anh đừng đuổi tôi xuống xe).

Những khách Khmer nhìn tôi, có gã cười mỉm, vài người khác nói nhỏ câu gì đó với nhau. Nhìn hai gã lơ và tài xế rồi nhìn vào tờ giấy, tôi đọc tiếp một hơi:

– Nhum oóc lui hơi (Tôi hết tiền rồi).

– Nhum chon tư Nông Pênh (Tôi muốn đi Nông Pênh).

– Bon chui nhum (Anh giúp tôi nghen).

Thưa quý bạn đang đọc bài viết nhất là các bạn biết tiếng Khmer. Có thể tôi đã nhớ không đúng những câu Khmer mà Hường viết trong mẩu giấy. Nhiều năm trôi qua làm sao trí não có thể nhớ rõ được. Có sai sót, mong các bạn thông cảm. Đọc xong mẩu giấy, tôi nhìn các người Khmer và mỉm cười với họ. Tôi lập lại vài lần nữa nhưng thái độ của hai gã lơ-tài xế vẫn không thay đổi. Qua cử chỉ và lời to tiếng, tôi biết họ nhất quyết muốn tôi xuống khỏi cái rờ moọc. Vài khách Khmer khác thấy tôi làm mất thì giờ nên bắt đầu nổi cáu khi to tiếng giận dữ phụ hoạ chung với hai gã. Không cho mình đi nữa, tôi đành leo xuống khỏi cái rờ moọc. Chiếc xe Kamaz chạy dần xa xa mất dạng sau một khúc trũng trên đường.

Lang thang một mình dọc theo đường lộ dưới trời trưa nắng cả tiếng đồng hồ, tôi gặp các xe khác chạy ngang hướng về Nông Pênh và đã giơ tay vẫy nhưng không một chiếc nào chịu ngừng lại cho quá giang. Đi dưới trời trưa nắng nóng, tôi phải dừng chân, bước vào các hố gần cạnh đường để vốc nước uống và rửa mặt cho đỡ cơn khát. Lấy cái áo trong giỏ xách ra, tôi nhúng ướt nước rồi trùm trên đầu cho dễ chịu. Cứ đi như vậy cho đến khi vừa qua khỏi khúc quanh đường, xa xa một bọn người đang đi ngược chiều với tôi trong tay họ vung vẩy cây súng AK 47. Tôi dừng lại, tự hỏi những người đang đi phía trước mặt là ai? Chắc mình phải lánh mặt vào bên vệ đường xem sao nhưng đã muộn, những người đó đã trông thấy tôi. Họ gọi nhau í ới và chỉ tay về tôi.

Tôi đứng yên tại chỗ, đưa hai tay choàng lên đầu mình. Đám Khmer đó lại gần, túa ra vây chung quanh và lăm lăm súng hướng thẳng vào người tôi. Mặt họ đen nâu đầy vẻ hung dữ. Khăn rằn quấn ở cổ, đầu đội mũ sắt hoặc mũ lưỡi trai. Chân họ đi giầy vải hoặc dép râu y như Việt Cộng bên quê nhà. Họ lăm lăm nhìn tôi rồi hỏi cả tràng tiếng Khmer. Tôi chỉ biết lắc đầu tỏ ý không hiểu. Một gã tiến đến, dùng tay nắn vào người tôi lục soát. Thấy không có gì, gã ấn tôi ngồi xuống đất. Chết mình rồi! Chung quanh đây vắng lặng, tôi nhủ thầm.

Để tôi ngồi đó, cả đám Khmer quay ra nói chuyện với nhau. Khá lâu sau, một gã khác tiến sát lại gần bên, vỗ lên vai tôi và ra dấu đứng dậy. Nhìn thẳng vào mặt tôi, y tuôn ra một câu.

– Anh làm gì có mặt ở đây?

Nhìn gã Khmer, quá mừng vì gặp người nói được tiếng Việt, tôi lắp bắp quên trả lời câu y hỏi:

– Ô! Anh, anh… Anh là người Việt Nam? Anh nói được tiếng Việt.

Gã Khmer lập lại câu hỏi. Tôi liền kể tóm tắt sự việc đã xẩy ra ở xe Kamaz nhưng dấu chuyến vượt biên bất thành. Thay vào đó, tôi bịa chuyện theo người quen đến Kompong Som làm ăn. Mới nhận được tin nhắn phải về Việt Nam gấp vì vợ đau nặng đang nằm nhà thương và rất cần có mặt tôi chăm sóc.

– Tại sao xe Kamaz đuổi anh xuống giữa đường? Anh làm chuyện gì trên xe họ? Gã Khmer đó hỏi dồn.

Tôi trả lời không biết lý do. Đuổi xuống thì xuống nhưng thâm tâm tôi nghĩ vì thiếu tiền vé nên tài xế cho đi nửa đoạn đường. Có thể xe Kamaz đã chi tiền mãi lộ dọc đường nhiều nên bực mình đuổi tôi xuống. Cũng một cách họ dằn mặt những người khách Khmer khác. Không có tiền thì đừng đi, trả tiền nửa chuyến đi nửa chuyến… không nói lôi thôi. Vả lại, tôi đâu phải dân Khmer mà cũng có thể hai gã lơ-tài xế đó không thích người Việt. Chỉ suy đoán vậy.

Đám Khmer võ trang bảy  người ngồi xuống gần bên tôi và quay qua, xì xồ nói chuyện với nhau. Họ lấy thuốc lá điếu ra hút và mời nhưng tôi lắc đầu từ chối. Ngồi cho đến khi hút tàn điếu thuốc thì cả bọn gọi nhau đứng lên và rảo bước quay về hướng cũ. Tôi được lệnh đi theo. Lầm lũi giữa đám Khmer, tôi đi nhưng không biết cái gì sẽ xẩy ra. Được một quãng đường khá xa, đám Khmer bỏ con đường nhựa và lội thẳng vào hướng rừng bên cạnh. Tôi bắt chuyện với gã lính biết tiếng Việt:

– Mình đi đâu hả anh?

Gã lính chỉ im lặng không trả lời. Khi nghe hỏi lại lần nữa, gã đứng ngay lại nói gằn từng tiếng:

– Bảo anh đi là đi, không được hỏi lôi thôi với tui nghe chưa.

Nhìn mặt gã Khmer thật khó đoán được tâm tính y. Gã tươi cười vui vẻ khi nói chuyện với đồng bọn. Với tôi, gã lại cộc cằn. Nước da gã đen, thân hình dong dỏng cao. Khuôn mặt gầy, tóc gã quăn tít có lọn lòa xòa trước trán. Nhìn mặt, tôi đoán gã khoảng 25, 26 tuổi và có vẻ chỉ huy bọn lính. Gã biết tiếng Việt, chắc cùng một dạng như Sok Sammath? Nghĩ vậy, tôi nhìn lại hoàn cảnh mình mà lo trong bụng. Bọn này dẫn mình vào rừng để làm gì? Chân bước đều theo bọn người Khmer nhưng trong tôi đang run lập cập.

Tôi cùng đám lính lặng lẽ đi trên lối mòn trong một cánh rừng thưa được hơn 100 m đường thì đến chỗ nước ngập, cả đám phải lội bì bõm trong nước. Có lúc nước cao tới đầu gối rồi qua khỏi chỗ ngập thì con đường dốc lên dần và cây cối cũng thưa thớt hơn. Đi len qua vài mỏm đá quanh co, gã lính biết tiếng Việt dẫn tôi tách riêng đi hướng khác rồi dừng bước trước một căn hầm lớn nằm dưới các tàng cây cao to. Nhìn căn hầm trông giống kiểu hầm chữ A trong mật khu bên quê nhà. Ai đã từng bị chính quyền Cộng Sản bắt đi vùng kinh tế mới trên các vùng rừng miền Đông Nam Bộ sau ngày 30-4-1975 chắc có dịp trông thấy căn hầm chữ A do Việt Cộng đào trú ẩn giữa rừng trong thời còn chiến tranh. Gọi hầm chữ A vì hình dáng của nó. Vách hầm là hai hàng cây lớn dựng xiên vào nhau, đất được đổ kín, lèn chặt chung quanh và chỉ chừa một lối ra vào duy nhất. Hầm làm kiểu này sức chịu đựng với bom đạn khá chắc.

Tôi theo gã lính bước vào, căn hầm có các ô trống trên vách lấy ánh sáng bên ngoài vào trong. Một cái bàn gỗ lớn đóng dính liền với ghế nằm chình ình ở giữa sàn hầm. Một cái đèn dầu to tướng cùng vài quyển sổ, bút bi… bỏ nằm trên mặt bàn. Phía góc hầm khuất sau cái bàn, một gã to béo đeo kiếng mát, mặc áo thun quần short đang đung đưa mình trong cái võng mắt lưới. Sợi dây da nâu vắt qua vai gã với bao da súng ngắn nằm gọn ngay dưới nách. Khẩu súng trong bao da chắc phải rất nhỏ. Nhận ra có người lạ, gã bỏ kiếng nhìn tôi trong chốc lát cùng lúc tay lính nói vài tiếng Khmer. Tôi đứng yên nhìn căn hầm, nhiều khẩu súng trường được dựng đứng dựa vào vách ở một góc. Gã to béo khoảng 40 tuổi, tôi đoán chỉ huy cả bọn lính và quả đúng như vậy. Gã lính quay qua với tôi:

– Ông lớn chỉ huy đó, anh nói chuyện với ông ấy đi.

Chưa kịp biết nói gì, người được gã lính gọi bằng ông lớn buột miệng hỏi tôi:

– Anh bạn ăn uống gì chưa? Có hút thuốc không?

Tôi lắc đầu, ông lớn nói vọng ra bên ngoài vài câu Khmer. Một gã lính trẻ bước vào hầm, tay bưng cái nồi và lon đồ hộp. Đặt các thứ trên mặt bàn trước mặt tôi, gã mỉm cười rồi đưa cho tôi muỗng chén xong loay hoay mở lon đồ hộp. Ông lớn vẫn nằm trên võng nói:

– Anh tự nhiên ăn cơm đi. Ăn hết luôn nghe… Chiều,  mấy lính sẽ nấu nồi khác.

Tôi ngồi lại bàn, nhìn vào nồi cơm còn khá nhiều và món đồ hộp là thịt heo kho mặn. Từ sáng tới giờ trong bụng nào có hột gì đâu, họ cho tôi ăn như vầy quá sức ngon. Chưa biết kết cuộc rồi sẽ ra sao nhưng trước mắt phải no bụng đã. Nghĩ vậy, tôi múc cơm ăn liền. Gã lính đi cùng đến ngồi đối diện tôi rồi móc thuốc lá điếu ra hút và cùng ông lớn trò chuyện bằng tiếng Khmer. Thỉnh thoảng đầu họ gật gù với nhau khi cả hai đưa mắt nhìn về tôi. Hai người Khmer này đang bàn chuyện gì đó về mình? Bữa ăn chấm dứt mau chóng, gã lính trẻ quay vào dọn sạch nồi, lon không rồi đưa cho tôi lon nước cam. Bây giờ, ông lớn quay sang tôi:

– Sarek nói tui biết câu chuyện của anh bạn rồi. Anh đừng về Việt Nam nữa. Ở lại đây với chúng tui cho vui. Vài tháng hay cùng lắm vài năm thì anh cũng y chang tụi tui hà. Đừng có về Việt Nam nha anh bạn Duôn.

Trời ơi! Thì ra họ muốn mình làm lính. Gã đi cùng, bây giờ tôi biết tên là Sarek mỉm cười phụ hoạ với ông lớn:

– Anh thích xài súng nào thì lựa cho mình một cây. Miệng nói, tay y chỉ về phía góc căn hầm nơi có đống súng AK 47, CKC, M 16, B 41… dựng sát cạnh bên nhau. Thấy tôi yên lặng, gã tiếp: ” Anh biết không! Người Duôn trong quân đội Campuchia đông lắm. Ở luôn đây nha anh. Không về Việt Nam nữa nghe “. Y mỉm cười, giọng khẩn khoản.

Ngồi yên trên ghế, tôi ngẫm nghĩ lời hai người Khmer vừa nói. Họ người Việt Nam nay đã thành dân Khmer? Nhưng khuôn mặt cùng vóc dáng họ không có vẻ gì người Việt Nam cả. Tóc xoăn, da đen, tướng tá của họ rõ khác biệt với tôi. Không lẽ họ là người Việt gốc Khmer như sắc dân Khmer Krom sống ở các làng quê miền Nam Việt Nam lâu năm rồi hoàn cảnh đưa đẩy họ đến đây và thành người lính. Nếu đúng vậy, hai người họ ở đây được vì dầu sao cũng là bản quán thật. Còn tôi, người Việt Nam, quê hương và thân thuộc không ở đây. Phải từ chối. Nghĩ vậy tôi trả lời liền:

– Tôi thích đi lính lắm, nhìn các khẩu súng này tôi cũng muốn chọn một cây nhưng không thể được.

– Sao lại không thể được? Tại sao? Ông lớn hất cằm hỏi dồn.

– Vợ tôi đau nặng mà chưa biết sống chết ra sao bên quê nhà. Tôi phải về ngay. Nếu còn độc thân thì dễ tính quá nhưng không được, tôi phải về gặp mặt vợ tôi. Các anh thông cảm, đừng bắt tôi ở lại đây. Tội nghiệp.

– Anh không được ra khỏi đây. Đã đến thì ở lại với chúng tui luôn. Ông lớn quyết định như vậy. Đây là mệnh lệnh nghe chưa, không được cãi. Bây giờ không nói nữa, nằm nghỉ trưa đi. Sarek nhìn tôi, khoa tay dứt khoát.

Xong, y nằm lăn ra trên băng ghế dài. Tưởng y làm một giấc ngủ trưa nhưng không, Sarek nằm đó trò chuyện với tôi. Tôi cũng nằm dài trên băng ghế, trong lòng lo lắng xen lẫn buồn bã. Sarek cho biết đơn vị y có cấp số tới hơn một đại đội và phân tán thành từng nút chận trải dài trên trục lộ giao thông suốt từ Kompong Som cho tới gần phi trường Pochentong, cửa ngõ dẫn vào thành phố Nông Pênh ở hướng Nam-Bắc.

– Anh đi xe chắc có gặp các chốt chận dọc đường chứ? Sarek hỏi nhưng trả lời luôn: ” Các chốt đó là lính của đơn vị tui “.

Im lặng trong chốc lát, Sarek tiếp:

– Thực ra không phải tất cả các chốt chận đều thuộc lính ở đây. Bộ đội địa phương trong vùng cũng lập chốt và đôi khi cũng có cả tàn quân PolPot nữa.

– Tàn quân PolPot. Tôi ngạc nhiên, hỏi lại Sarek: ” Vẫn còn tàn quân PolPot sao! Họ có đông không, hoạt động gì dọc theo đường? “.

– Ít thôi, chủ yếu lén lút mò ra quấy phá cầu đường. Đó tại sao cây cầu nào cũng có lính đóng chốt.

– Họ võ trang, quân phục ra sao hả anh?

– Trước kia tụi nó mặc đồ đen, bây giờ tạp nham cũng như tụi tui. Võ trang chỉ AK 47, B 41 thôi… Yếu lắm, không có súng cộng đồng.

– Sao anh biết họ là tàn quân PolPot?

– Biết chứ! Lính chúng tui biết mặt nhau hết. Với lại, bọn nó chạy vào rừng ngay khi thấy tụi tui.

– Gặp vậy các anh có truy nã họ không?

– Trước kia có đấy nhưng giờ đám tui chán cảnh đánh nhau lắm anh. Bọn nó cũng vậy, thấy bên tui là tránh liền.

Sarek kể lúc nhỏ y sống nguyên thời ấu thơ bên Việt Nam rồi theo cha mẹ về lại Campuchia cho đến khi PolPot lên nắm quyền. Trên đường tản cư về miền quê theo lệnh của chính quyền mới, Sarek đã lạc gia đình. Về một vùng quê lạ, gã bị cán bộ Khmer Đỏ tập họp lại với các trẻ em khác sống chung trong khu tập trung có tên Phum Cùm Hu. Sarek phải dấu việc đã từng sống bên Việt Nam kể cả chuyện y biết tiếng Việt khá sõi. Sarek thuật lại các vụ Khmer Đỏ hành quyết ghê rợn những người đã dính líu đến Việt Nam trong thời gian đó. Sống tập trung trong phum cho đến khi gặp bộ đội Việt Cộng. Biết tiếng Việt, Sarek được Việt Cộng chọn huấn luyện riêng nhưng sau đó gã đã trốn trại huấn luyện để đi tìm lại cha mẹ. Gã đi kiếm nhiều nơi nhưng hoài công. Khi về Nông Pênh để kiếm việc làm, tình cờ Sarek gặp lại bạn cũ và người đó dẫn y đến nhập lính ở đây.

– Cha mẹ tui không còn sống đâu anh. Ang Ka dạy tụi tui phải biết căm thù người Duôn căm thù luôn cả những người Khmer có liên hệ với dân Việt Nam. Ang Ka giết người nhiều quá nên chắc ông bả chết cả rồi. Campuchia bây giờ lớp người trẻ như tui mồ côi cha mẹ nhiều lắm, lớn lên mà không thân nhân cũng không biết gốc gác gia đình ở đâu ra.

Sarek buồn bã kể chuyện sống trong phum thời PolPot nhưng khi nói về Việt Nam, giọng y vui vẻ hẳn:

– Gặp được anh tui rất mừng. Tui vẫn nhớ những bạn người Duôn thuở xưa khi sống bên Việt Nam.

Sarek kể lại thời niên thiếu sống trong làng ở miền Nam nước Việt, về các kỷ niệm với bạn bè chung lớp tiểu học. Mỗi lần phấn khích trong câu chuyện, y lập lại: ” Anh ở đây chung với tụi tui nha. Chỉ có tui với ông lớn biết tiếng Việt giờ thêm anh nữa càng vui “.

Nhớ lại Sarek khô khan, lạnh lùng trong lần đầu mới gặp tôi thật khác hẳn với thái độ y bây giờ. Định mệnh cay nghiệt đã đổ xuống gia đình và bản thân y nên biến Sarek có lúc thành con người cộc cằn, thô lỗ nhưng tận cùng, tôi nghĩ Sarek là người tốt.

Ông lớn nằm yên không góp chuyện. Nghĩ ông đã ngủ say nhưng chợt tai tôi nghe một tiếng thở dài đánh sượt. Ai thở vậy? Tôi nhổm đầu dậy nhìn chung quanh. Ông lớn nằm yên trên võng, hai mắt thao láo nhìn lên trần hầm. Vẻ mặt ông trông thật hiền. Chuyện Sarek kể chắc tương tự chuyện riêng đời ông, đã dắt ông về các hoài niệm cũ làm ông nhớ đến các thân nhân và ông đã buồn. Chắc vậy! Không biết thời PolPot cai trị, hoàn cảnh riêng của ông ra sao? Câu chuyện quay về tôi khi Sarek một mực bảo phải ở lại và không về Việt Nam nữa.

– Chúng ta bạn của nhau từ bây giờ. Anh xuống xe đò Kamaz  ngay chỗ tui đóng quân, có nghĩa số phận chúng ta gặp nhau và sẽ gắn liền sống chết bên nhau. Phải không? Sarek ngồi dậy, mỉm cười nhìn tôi và ông lớn sau câu nói.

Ở lại đây và sống chết bên nhau với họ. Nếu hai người Khmer nầy muốn vậy thì làm sao mình về tới Việt Nam được đây. Biết cớ sự như vầy thà tôi nghe lời Hường-Liên ở nán lại Kompong Som còn hơn cố về nhà để mắc kẹt… Nhưng làm sao mà biết trước được để tránh. Tôi phân vân, rối trí quá. Mới vài tiếng đồng hồ trước còn ngồi trên xe Kamaz mà giờ phải bó tay trong căn hầm xa lạ này. Biết làm gì đây? Tôi thật sự tuyệt vọng và buồn cho hoàn cảnh mình. Tại không có đủ tiền xe mà ra… Tiếng Sarek cắt đứt mối suy tư của tôi.

– Sao! Ở lại đây ha anh bạn? Im lặng là đồng ý mà… Ha ha…

Tôi ngồi dậy nhìn hai người Khmer rồi khăng khăng nói phải về Việt Nam với lý do vợ bệnh nặng đang nằm chờ ở nhà thương. Khi bịa ra chuyện có vợ bệnh, trí óc tôi nghĩ đến Ánh Phương tự dưng làm tôi chảy nước mắt. Tiềm thức về số phận Ánh Phương khiến tôi khóc dễ dàng.

– Thôi đừng khóc nữa… Đừng khóc nữa. Đủ rồi! Em thương con vợ bên quê nhà dữ ghê ha! Anh hiểu em rồi, em trai ơi! Hà hà…

Ông lớn đột ngột thay đổi cách xưng hô. Ông cười to tiếng, bước rời khỏi chiếc võng và đến bên vỗ vào hai vai tôi. Sarek cũng im lặng nhìn tôi mà không nói một lời.

Vừa lúc, một gã lính chạy vào hầm nói một tràng tiếng Khmer xong y quay chạy trở ra ngay. Ông lớn xốc dây súng trên người cho gọn gàng rồi với tay lấy cái ống nhòm treo trên vách và đội mũ vải hoa dù lên đầu. Sarek cầm khẩu AK 47, miệng y hối tôi đi theo ngay. Ba chúng tôi bước nhanh ra khỏi căn hầm chữ A đi đến một cái hầm khác nhỏ hơn có một gã lính ngồi cạnh cái bàn gỗ. Tay gã lính cầm ống nghe truyền tin áp sát vào tai bên phải. Gã đưa cái ống nghe cho ông lớn rồi cầm vào cái cần bên cạnh một hộp máy và quay liền vài vòng. Loại máy truyền tin dùng dynamo quay tay cổ lỗ trong quân đội của khối Cộng Sản. Ít phút sau, tôi theo chân ông lớn và Sarek băng qua các vạt cây rừng cùng các tảng đá để đi lên một bờ dốc cao. Đứng trên bờ dốc, ông lớn và Sarek dừng lại chuyền tay nhau cái ống nhòm nhìn ra một hướng thấp thoáng vài chiếc xe đậu xa xa. Tôi quay nhìn khu vực chung quanh, các hầm trú ẩn, bờ đá lô cốt phòng thủ cùng các lỗ châu mai còn sót lại của một căn cứ hay trại lính cũ.

Theo con đường khác với lối cũ buổi trưa, tôi đi cùng ông lớn và Sarek ra trở lại mặt đường lộ. Một dãy xe vận tải lớn hiệu Hino-Isuzu của Nhật đang nổ máy, đậu dọc sát lề đường trước mặt tôi. Từng thùng mì gói, thuốc lá thơm Ăng-Lê ba số 555, bia lon, kẹo bánh cùng đồ hộp… được lính Khmer chuyển tiếp từ trên các xe tải này xuống bỏ nằm lăn lóc dưới đất. Nhìn đoàn xe vận tải, chiếc nào cũng ken các cọc cây khá cao để chở thêm hàng hóa. Hàng trên thùng xe hầu hết là mô tô Honda hư cũ, loại xe người trong nước gọi chung cái tên là cúp cánh én hai bánh nghĩa địa. Chúng được nhập cảng vào nước Khmer từ các bãi phế thải ở Nhật Bản, Đài Loan hoặc Hàn Quốc sau khi chạy được quãng đường 5000 km. Đoàn xe vận tải vừa từ cảng Kompong Som về.

Một gã Khmer to lớn mặc áo thun mỡ gà đến nhìn tôi xong khoát tay ra dấu theo y đi lại chiếc xe ở đầu đoàn. Loại xe ca bin đôi, gã Khmer mở cửa cho tôi trèo lên ngồi vào băng ghế rồi y bỏ đi. Thêm hai người Khmer trèo vào trong ca bin xe ngồi chung băng ghế với tôi. Nhìn bên ngoài, tôi chợt lo khi thấy Sarek và ông lớn cùng gã Khmer áo thun mỡ gà đến cạnh xe nhưng họ không lộ ra thái độ gì. Ông lớn, Sarek và gã Khmer đứng đó trò chuyện với nhau. Chốc lát sau gã Khmer leo lên xe, tôi nhìn ông lớn và Sarek, cả hai mỉm cười rồi vẫy tay từ biệt tôi.

Đoàn xe từ từ lăn bánh tiếp tục chạy về hướng Nông Pênh.

Xe chạy khá xa tôi mới thật yên tâm. Ông lớn đã đổi ý vào phút cuối và còn giúp tôi có phương tiện để về Nông Pênh. Tạ ơn Thượng Đế. Chuyện đời Sarek kể thêm các giọt nước mắt của tôi đã đánh động lòng ông. Cuộc đời ông chắc từng biệt ly với người thân nên ông đã đồng cảm với hoàn cảnh tôi? Họ tuy dân Khmer nhưng nói tiếng Việt rất rành rọt. Khi gặp tôi, đã vui như gặp được đồng hương nơi xứ lạ nên muốn tôi ở lại với họ lâu dài. Tôi nghĩ họ từng có bạn người Việt và tình bạn giữa họ cùng những người Việt đó phải rất tốt nên họ mới có mối hảo cảm với cá nhân tôi. Nếu sống bình yên êm ả trong một thôn xóm, gặp người như họ để tôi làm bạn thiết cũng điều rất nên.

Ca bin xe tổng cộng năm người, tài xế và gã Khmer áo thun mỡ gà ngồi ở băng ghế trước. Băng sau, tôi và một đôi nam nữ khác ngồi chung. Đôi nam nữ nhắm mắt như ngủ vì mệt hoặc đang nghĩ về sự việc vừa xẩy ra cho cả đoàn xe? Băng trước, tài xế và gã Khmer áo thun mỡ gà cũng im lặng. Có lẽ họ biết tôi không nói được tiếng Khmer còn họ cũng không biết tiếng Việt. Ông lớn gửi gấm tôi cho họ sao đây? Muốn bắt chuyện để biết sự vụ nhưng tôi chịu, đành dõi mắt ra ngoài nhìn cảnh vật hai bên đường. Nước Campuchia sau khi Việt Cộng rút về chỉ trong một thời gian ngắn, đời sống người dân khấm khá thấy rõ. Khi còn bên quê nhà, người dân Việt chạy xe Honda nghĩa địa nhập cảng từ ngoại quốc về. Có gặp đoàn xe vận tải, tôi mới biết chúng từ các lái buôn Khmer tập trung và chuyển về tiêu thụ bên Việt Nam. Tất cả xe Honda nghĩa địa ở Việt Nam đều một loại tay lái cánh én 50 phân khối cylinder. Ở Kompong Som, dân Khmer không thèm dùng loại xe cúp cánh én. Đa số họ chạy xe Honda Dream hay tệ hơn thì cũng xe Suzuki 100 phân khối. Có lẽ họ chê Honda cánh én vì xe nhỏ, yếu và trông không đẹp mắt.

Càng về gần Nông Pênh đường lộ càng ít hư hỏng và nhờ vậy tốc độ của đoàn xe chạy nhanh hơn. Xe vận tải Hino-Isuzu rất tốt, bỏ xa loại xe Kamaz của khối Đông Âu Cộng Sản. Sau chốt kiểm soát đó, đoàn xe không gặp thêm các chốt chận khác của lính Khmer hoặc phe Polpot nữa. Hai bên đường thấy nhiều khu nhà dân hơn trước rồi đoàn xe đi vào một trạm kiểm soát của công an-quan thuế Khmer. Những chiếc xe đò, xe chở hàng Kamaz mà tôi và Hường gặp hồi sáng sớm ở bến xe Kompong Som đang đậu dọc bên lề đường để chờ nhân viên đến xem xét. Khá đông người Khmer bán hàng rong vây chung quanh xe y như ở các trạm kiểm soát bên Việt Nam. Thấy đoàn xe Hino-Isuzu, vài người bán hàng chạy vội đến ngay. Tiếng họ rao vang vang chung quanh xe nhưng một nhân viên trong bộ đồng phục đã hướng dẫn đoàn xe chạy vào lối riêng khác. Người bán hàng rong không được phép đi theo vào với đoàn xe. Chạy từ từ dọc theo lối đi đến một dãi nhà dài và hẹp nằm cạnh một hàng cây rậm rạp, đoàn xe ngừng lại. Gã Khmer áo thun mỡ gà cùng vài người ở các xe khác xuống xe, đi vào trong gian nhà trình giấy. Chốc lát, cả bọn quay ra, trở về xe và tiếp tục chuyến đi.

Ngang qua phi trường Pochentong, vài máy bay sơn trắng dân sự cánh quạt đậu yên trên phi đạo gần hàng rào kẽm gai sát vệ đường. Cảnh trông không khác ở phi trường Tân Sơn Nhứt ngay khu vực Bà Quẹo thuộc quận Tân Bình-Sài Gòn. Gặp phi trường Pochentong, có nghĩa Nông Pênh cũng chẳng còn bao xa. Nông Pênh chính là Nam Vang trong tiếng Việt. Hồi còn ấu thơ bên quê nhà, nghe cha tôi kể thời tổng thống Ngô Đình Diệm, dân Việt chạy xe mô tô bình bịch từ Sài Gòn sang Nam Vang mua sắm hàng hóa, ăn hủ tiếu, du ngoạn… Đi và về chỉ nội nhật trong ngày nhưng khi đó đang trong các giai đoạn thanh bình của miền Nam Việt Nam Cộng Hòa.

Đến Nông Pênh lúc 3:45 phút chiều, đoàn xe chạy vòng vèo trong các con phố, những con đường với vỉa hè không khác ở Sài Gòn. Người người bước dạo trên vỉa hè dưới các tàng cây trồng trước cửa tiệm. Xe cộ đó đây chạy ngược xuôi hú còi inh ỏi. Một rạp chiếu bóng trông bề ngoài giống hệt rạp Casino gần chợ Bến Thành cùng những tấm pano quảng cáo phim trước cửa. Sau rốt, đoàn xe chạy vào một sân bê tông rộng với bờ tường vây chung quanh và tắt máy ngừng hẳn. Gã Khmer áo mỡ gà ra dấu tôi rời khỏi ca bin. Nhiều xe vận tải khác đậu xa xa trong sân. Gã Khmer dẫn tôi đến một xe tải khác trong đoàn. Gã chuyện trò với ba người ở xe đó rồi một người trẻ trong số họ tách ra ngoắc tôi theo y ra tuốt bên ngoài cổng. Ra ngoài cổng, gã Khmer trẻ yên lặng nhìn xuôi ngược dòng xe hai bánh đang chạy trên đường như mong chờ ai đó. Chợt gã ngoắc tay, một xe Honda ôm quay đầu ngừng lại bên cạnh. Gã Khmer trẻ hất đầu ngầm bảo tôi trèo lên yên xe.

Xe chở ba người chạy lòng vòng trong thành phố rồi ngừng lại cạnh một toà nhà khá lớn. Xuống xe, gã Khmer trẻ lấy tiền trả cho tài xế và ra dấu tôi đứng chờ phía trước của tòa nhà rồi y đi thẳng vào bên trong. Hơn 5 phút rồi 10 phút tôi chờ, vẫn chưa thấy gã Khmer trẻ quay ra. Tài xế xe Honda ôm sốt ruột hỏi vài câu Khmer nhưng tôi lắc đầu, khua tay tỏ ý không hiểu lời y. Rảo vài bước chân, tôi nhìn vào trong tòa nhà. Qua ô cửa kiếng rộng, hàng chữ Hotel du Bayon gắn nổi trên tường dưới ánh sáng đèn chiếu. Gã Khmer trẻ vào khách sạn này làm gì? Các mặt tường khách sạn ốp đá cẩm thạch mầu xanh lá cây cùng cửa kiếng mầu phớt tím bóng lộn trong suốt. Các nhân viên tiếp tân trong đồng phục xanh cúc mạ vàng đang đứng tại quầy trò chuyện với nhau. Chùm đèn trắng lớn buông thỏng từ trần nhà rọi sáng các bụi kiểng trang trí cùng vài bức tranh thật đẹp treo trên tường. Hai khách trọ từ phía trong đi ra nhưng không phải gã Khmer trẻ tôi đang chờ. Quay ra bên ngoài, tôi nhìn sang bên kia đường đối diện với khách sạn. Một công viên nhỏ với các hàng cây, bụi hoa được cắt tỉa thật đều, gọn đẹp. Vài khách du đang chậm rãi tản bộ trên các con đường nhỏ trong công viên và một người già ngồi xem báo ở băng ghế đá. Tôi để ý đến khối kiến trúc khá lớn hình tròn sơn mầu vàng nằm phía cuối con đường cắt ngang một giao lộ. Không biết nó là chợ hay một trụ sở hành chánh của chính quyền nhưng kiến trúc đó trông khá lạ mắt.

Vừa quay nhìn lại bên trong khách sạn, tôi thấy gã Khmer trẻ đi ra cùng với một người đàn ông khác. Trò chuyện với nhau xong, gã Khmer trẻ giơ tay ra dấu từ biệt người đàn ông rồi y leo lên xe Honda ôm vẫn chờ tại chỗ. Xe nổ máy chạy liền ngay, người đàn ông còn lại đến bên tôi, nói:

– Chào anh. Anh khỏe không? Mình đi xuống bến Tắc Ca Mau ngay bây giờ nghe.

Tôi gật đầu, mỉm cười với ông ta. Nhìn vào đồng hồ đeo tay, người đàn ông như chợt nhớ điều gì nói thêm:

– Ồ! Bây giờ còn sớm lắm… Hay chúng ta đi ăn uống cái gì đã rồi tính sau nghe… Với lại, tui với anh cũng chưa biết gì về nhau mà. Phải không? Tui là Danh Ngạnh còn anh tên gì vậy?.

Tôi nói tên và nhìn vào khuôn mặt ông. Danh Ngạnh chắc đã trên 40 tuổi, có vóc dáng vạm vỡ, khuôn mặt khắc khổ đen sạm nhưng cười rất tươi với hàm răng trắng đều đặn. Vừa lúc, một xe Honda ôm bỏ khách xuống ngay gần bên đường, ông vội ngoắc chiếc xe lại rồi mặc cả. Tài xế chở chúng tôi đến một khu vực bán hàng ăn uống khá rộng nằm không xa khách sạn Hotel du Bayon. Trời bây giờ chiều hẳn, đèn điện trong các cửa hàng trên đường và trong khu bán hàng đã cháy sáng. Khá đông thực khách đang ăn bữa chiều hay lai rai ba sợi y chang các điểm ăn nhậu bên Việt Nam. Hễ nước càng nghèo thì càng nhiều hàng quán bán đồ ăn uống, một người nào đó đã nói với tôi. Ngẫm nghĩ thật đúng. Mở hàng bán thức ăn, bữa nào rủi vắng khách thì gia đình chủ quán dùng ngay các món bán ế thay cho bữa cơm trong ngày.

Danh Ngạnh đưa tôi lên tầng hai một cửa hàng và chọn chiếc bàn ẩn khuất sau bụi dừa kiểng. Ngồi đó, tôi thấy lại xa xa khối nhà lớn mầu vàng hình tròn lúc đứng chờ ở khách sạn. Hỏi, Danh Ngạnh cho biết đó là chợ Ô Sây, một chợ lớn nhất nhì ở Nông Pênh tương tự như chợ Bình Tây trong vùng Chợ Lớn-Sài Gòn. Một người hầu gái trong quán tiến đến chào, đặt tờ thực đơn trên bàn. Danh Ngạnh nhìn tờ thực đơn nói tôi tùy ý chọn món. Ngỏ ý muốn ăn hủ tiếu Nam Vang để xem coi tại nơi gốc món này có hương vị ra sao nhưng vừa nghe tôi nói, Danh Ngạnh xua tay liền:

– Chọn món khác đi anh bạn. Hủ tiếu Nam Vang thường lắm, có gì lạ đâu mà ăn.

Đành để Danh Ngạnh chọn món ăn. Y gọi các món lươn, ốc, cua… và cả bia nữa nhưng tôi nói không uống được bia xin cho thứ khác. Nghe vậy Danh Ngạnh mỉm cười, lắc đầu chê tôi đàn ông-con trai mà yếu quá vậy. Vừa ăn vừa nói chuyện, Danh Ngạnh hỏi về sự việc của tôi. Vắn tắt tôi thuật lại câu chuyện cho Danh Ngạnh nghe, từ lúc xuống cá lớn ở Vàm Rầy-Hà Tiên cho đến khi bị sa vào tay hải tặc Thái Lan. Những ngày ở đảo hoang cùng đảo Cô Tan rồi phải lang thang trên đường vì không đủ tiền vé trong chuyến xe Kamaz. Gặp toán lính Sarek cùng với ông lớn rồi được họ giúp cho quá giang đoàn xe Hino-Isuzu về Nông Pênh và sau cùng gặp được y. Nghe xong chuyện tôi kể, Danh Ngạnh ngồi yên trong chốc lát rồi nói:

– Tui nghĩ anh quá sức hên là hên khi gặp Sarek. Nói thật, lúc lang thang trên đường nếu gặp bọn PolPot thì chưa biết mạng anh sẽ ra sao? Cầm chắc chúng sẽ kéo anh vào rừng rồi giết anh ngay. Giết chết tươi đó nghe.

– Ghê vậy. Mình có làm gì họ đâu anh? Tôi hoảng hồn.

– Vậy! Chúng muốn giết thì giết, muốn tha thì tha. Chả biết đâu mà lường trước được. Tụi lính Polpot, nhiều thằng rất thù ghét người Việt nhưng có đứa lại không. Ai xui xẻo mới gặp mấy thằng hung thần đó… Ngay cả người Khmer tụi tui, bọn nó cũng không tha. Mà nghĩ cho cùng, cũng do số phần cả thôi anh.

Dứt câu, khuôn mặt Danh Ngạnh trầm ngâm lộ vẻ buồn buồn. Y ép tôi ăn uống cho mạnh vào để bù những ngày thiếu thốn vừa qua. Ăn xong, chúng tôi rời quán, đón một xe Honda ôm xuống bến tàu đò chạy đường sông Châu Đốc-Nông Pênh. Bến đò có tên Tắc Ca Mau hay còn gọi bến đò Cây Nhãn. Trời bắt đầu tối nhưng vẫn rõ cảnh nhộn nhịp trong bến tàu. Mấy chục ghe bầu khá lớn nằm liền bên nhau ở sát cạnh bờ. Người lên bờ, kẻ xuống ghe nườm nượp. Bảng hiệu ở các điểm giao dịch, các tiệm ăn trong bến và dọc sát bờ tuy viết bởi ba ngôn ngữ Khmer-Tàu-Việt nhưng tai tôi chỉ nghe lời trò chuyện, gọi nhau oang oang bằng tiếng Việt. Hình ảnh bến tàu, tiếng rao của dân bán hàng rong cùng tiếng phu khuân vác ơi ới khiến tôi có cảm tưởng đang đứng ở một bến đò nào đó bên quê nhà. Thấy tôi và Danh Ngạnh, vài người chạy vội đến nhao nhao:

– Anh Hai đi ngay bây giờ hay đi chuyến kế để thằng em lo vé cho… Đệ tử có vé tốc hành đây, lấy một hay hai vé hả các huynh?

Danh Ngạnh lắc đầu từ chối lời mời của các tay cò bán vé. Ông im lặng, đi dọc theo cạnh bờ nhìn vào các ghe bầu rồi đột ngột dừng lại ở một chiếc và bảo tôi đứng chờ. Danh Ngạnh theo tấm ván gỗ bắc thẳng từ trên bờ xuống dưới ghe. Cơn triều đang lên kéo theo một mùi tanh tanh của nước, của cá và bùn non trong cơn gió thốc thẳng vào mũi tôi. Cái mùi của bến đò thủy không lẫn vào đâu được. Nhìn về hướng Tây, sao Hôm đã xuất hiện lấp lánh trong bầu trời chập choạng tối. Chợt nghe tiếng gọi, tôi vội quay đầu nhìn lại ghe. Danh Ngạnh ngoắc tay ra dấu cho tôi bước xuống. Chầm chậm từng bước tôi lần theo tấm ván, những giề lục bình xanh hoa tím cùng rác rưởi nổi rập dềnh theo con nước sát cạnh thân ghe. Một phụ nữ từ phía sau lưng Danh Ngạnh bước ra nhìn mặt tôi, hỏi:

– Cậu này đây hả? Để tui lo cho, anh Hai cứ yên tâm.

Chị phụ nữ vóc dáng cao ráo nước da bồ quân, người quấn xà rông đen cùng áo bó sát thân. Chị cười thật tươi phô hàm răng trắng, quay lưng đi trước dẫn Danh Ngạnh và tôi vào bên trong lòng ghe. Mái tóc chị đen bóng mượt, kẹp thành một lọn dài sau lưng phảng phất mùi dầu dừa. Ghe bầu ở bến đò Tắc Ca Mau thân to, rộng, dài và chia ra thành ba tầng. Tầng dưới và tầng trên cùng làm nơi chứa hàng hoá của dân buôn. Tầng giữa, nơi khách đi ghe nghỉ ngơi. Hàng chục dân buôn nam nữ ngồi hoặc nằm trong các tấm võng căng sát cạnh nhau, mắt họ dán vào màn hình TV lớn đang chiếu một phim Video quyền thuật Hồng Kông. Đến một tấm võng bỏ trống, chị ta quay qua nói với tôi:

– Cậu trẻ nằm ở võng này nghe. Muốn đi vệ sinh thì ra thẳng phía đằng sau ghe. Cần gì thì cứ hỏi tui nha cậu, đừng có ngại. Lúc nào mệt cứ nằm nghỉ như ở nhà.

Danh Ngạnh cho tôi biết ghe sắp sửa rời bến, ông tiếp: ” Sớm mai anh sẽ đặt chân lên Châu Đốc. Mọi việc sẽ ổn, tui về nghe “.

Danh Ngạnh vỗ vai tôi từ biệt. Đi theo ông ra phía bên ngoài phần mép chiếc ghe bầu nơi đặt tấm ván nối lên bờ, tôi lí nhí nói lời cảm ơn nhưng Danh Ngạnh chỉ khoa tay không trả lời. Đảo mắt nhìn những người khách đang nằm hoặc ngồi trong các chiếc võng ở lòng khoang ghe, Danh Ngạnh miệng cười tủm tỉm, cúi đầu nói nho nhỏ vào tai tôi:

– Giấc khuya thấy mấy người ở đây làm trò gì thì đừng có ngạc nhiên nghe cha nội.

Tôi im lặng nhìn Danh Ngạnh, ông ta nói vậy là sao? Thấy tôi chưa hiểu lời vừa nói nhưng Danh Ngạnh chỉ cười cười, vẫn không cho biết rõ. Tôi nhìn kỹ mặt Danh Ngạnh, lòng nhủ thầm ông quá tốt với tôi như những người Khmer Sok Sammath, ông lớn, Sarek… Những chuyện kể về mối thù truyền kiếp giữa người Việt và người Khmer cùng hình ảnh đoàn người Khmer tay lăm lăm vũ khí, mắt trắng dã man rợ đuổi bắt rồi tàn sát người Việt trong chuyện kể Cáp Duôn đã ít nhiều tan biến trong tôi. Chị phụ nữ mà Danh Ngạnh gọi tên Ba từ trong đi ra đến gần bên, nhìn hai chúng tôi trong yên lặng. Danh Ngạnh đến trước mặt tôi, đặt hai tay lên bờ vai, thân mật hỏi:

– Sống ở đâu bên Việt Nam vậy, em trai?

– Cần Thơ anh. Tôi buột miệng trước mặt hai người Khmer này.

Nghe tôi trả lời, mắt Danh Ngạnh sáng lên:

– Cần Thơ. Ồ! Chỗ nào vậy? Anh từng sống một thời gian ở Cần Thơ đó em.

Trời ơi! Tại sao tôi lại nói dối với Danh Ngạnh. Chút ân hận, mắc cỡ lan tỏa trong lòng tôi. Thói quen luôn dấu diếm, nói dối hoặc nói trí trá loanh quanh trong xã hội Cộng Sản bên quê nhà đã lậm vào người tôi rồi. Nói dối cả lúc không cần thiết và ngay với các ân nhân của mình. Danh Ngạnh vừa đổi cách xưng hô, coi tôi như đứa em trai ông. Tôi bối rối và một thay đổi nho nhỏ trong tâm hồn, tôi biết mặt đã đổi sắc. Mong trời trong lúc xẩm tối, Danh Ngạnh và chị phụ nữ không thấy nét biến đổi trên mặt để biết tôi vừa nói láo với họ. Danh Ngạnh mỉm cười, tiếp tục câu chuyện:

– Trước đây anh sống gần bến Ninh Kiều. Còn em ở đâu Cần Thơ, có gần đó không?

Phóng lao thì phải theo lao, tôi tiếp tục vì đã lỡ:

– Nhà em ở đường Mậu Thân, anh à.

– Ồ! Anh nhớ rồi. Nhà cửa chỗ đó khó kiếm lắm đa. Đánh số lộn xộn tùm lum hà.

Nói xong câu, Danh Ngạnh chợt nhìn đồng hồ đeo tay nên vội quay đầu bước theo tấm ván hướng lên bờ và nói vói lại:

– Chị Ba đây sẽ lo cho em. Anh về nghe, chúc em thượng lộ bình an.

Danh Ngạnh dần dần khuất khỏi con đường sát cạnh các ghe bầu. Trời đã tối nhưng sinh hoạt của bến đò vẫn nhộn nhịp. Tiếng máy đò vang vang đây đó cùng với tiếng gọi nhau của thương lái và phu khuân vác. Cứ vừa có ghe xuất bến thì một ghe khác ở đâu cặp vào thế chỗ liền. Tấm ván được phu khuân vác ở trên bờ kéo ra khỏi ghe bầu. Tiếng máy nổ lớn hơn, ghe từ từ chạy lui ra xong quay trở đầu vòng lại để bắt đầu chuyến hải hành. Tôi sắp sửa rời xa Nông Pênh, một cảm giác luyến tiếc trong lòng. Phải chi có tiền bạc cùng dư dả thì giờ chắc tôi sẽ ở lại để đi xem Chùa Tháp hoặc đi thẳng về hướng Tây, làm một chuyến viếng thăm hai ngôi đền cổ Angko Vat-Angko Thom nổi tiếng.

Tôi quay vào trong và đi lần ra phía đuôi ghe, một khoảng trống khá rộng sau buồng lái được dùng làm chỗ bán hàng ăn uống. Chị Ba cùng một bà lão Khmer đang lui cui nấu món ăn hoặc pha nước uống cho khách buôn trong ghe. Thấy tôi, chị hỏi muốn uống cà phê, nước ngọt hay ăn uống gì để chị làm. Tôi mỉm cười với chị, lắc đầu nói vừa mới cùng Danh Ngạnh ăn xong trước khi xuống ghe nên bụng vẫn còn no. Ở đây có buồng tắm và phòng vệ sinh cho khách buôn và thấy sẵn nước, tôi vội vàng rửa ráy qua loa thân thể rồi thay bộ quần áo khác xong giúp chị Ba mang cà phê hoặc thức ăn cho khách buôn ngồi trong võng. Các người Khmer biết tiếng Việt tôi đã gặp như Sok Sammath, Sarek, ông lớn, Danh Ngạnh cũng như chị Ba đều nói bằng giọng miền Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tôi chưa gặp người Khmer nào nói tiếng Việt bằng giọng miền Trung hoặc miền Bắc. Khi đã rảnh tay, chị Ba cho biết chị tên là Thạch Sa Thi, người gốc Trà Vinh. Nghe chị hỏi về quan hệ với Danh Ngạnh, từ từ tôi thuật câu chuyện từ đầu đến cuối. Xong, chị nói:

– Lúc đầu ổng xuống dưới ghe nhờ giúp cho cậu về Việt Nam được an toàn, tui cứ nghĩ cậu trong đường dây làm ăn của ổng rồi gặp chuyện rắc rối gì đó với công an nên phải về Việt Nam gấp gáp. Ai ngờ!

Chị Sa Thi kể Danh Ngạnh trước đây nằm trong nhóm đưa người Việt và cả người Khmer vượt biên đường bộ sang đất Thái Lan. Tổ chức đi lọt được nhiều lần nhưng trong chuyến lo cho vợ con và bản thân của Danh Ngạnh thì lại bị kẹt. Đám Việt Cộng và bọn Khmer đỏ dắt đường vì trục trặc ăn chia sao đó đã bỏ khách giữa chừng. Vợ con của Danh Ngạnh mất tích chung với đám khách Việt trong rừng sâu vùng Battambang. Danh Ngạnh bị bắt nhưng sau đó, đường dây lo lót cho ông ra khỏi nhà giam. Khi làn sóng vượt biên giảm bớt, nhóm làm ăn của Danh Ngạnh xoay qua bắt mối tiêu thụ hàng tàu viễn duyên từ cảng Kompong Som về. Nghe chuyện, tôi hiểu tại sao Danh Ngạnh lộ vẻ buồn khi ở quán ăn và vì chung cảnh ngộ nên ông đã sốt sắng giúp đỡ tôi. ” Do số phần cả thôi “, tôi nhớ lại lời Danh Ngạnh nói lúc chiều.

Ghe chạy đều đều, êm ả trong đêm tối. Thỉnh thoảng kéo từng thôi còi dài khi gặp ghe chạy ngược chiều hoặc vượt mặt một chiếc khác. Ngang những khúc sông gần khu thị tứ, thấy rõ phố xá cùng xe cộ chạy gần bờ dưới ánh sáng của dàn đèn đường. Về khuya bớt việc, chị Sa Thi bảo tôi đi nghỉ cho khỏe vì phải gần sáng ghe mới đến bến xuống. Đung đưa trên võng, tôi quan sát những khách thương hồ chung quanh trong ánh sáng lờ mờ của màn hình TV. Võng đàn ông, võng phụ nữ, người nằm kẻ ngồi xen kẽ căng sát cạnh nhau đang xem một đoạn phim Video ma Hồng Kông. Vừa xem họ vừa nói chuyện với nhau về công việc làm ăn hoặc về những đoạn tin thời sự. Gió sông thổi luồn vào khoang ghe thoảng mát không một tiếng muỗi vo ve. Thấy phim chiếu dở, tôi đổi chiều nằm trên võng định ngủ. Nằm yên lại nghĩ về Ánh Phương, về hai chị em Hường-Liên. Ánh Phương, Mỹ An cùng các cô gái khác trên tàu hải tặc Thái Lan ra sao rồi? Khi tàu hải quân của Sok Sammath ghé lại đảo hoang, hai tài công có chịu theo về Cô Tan hay tiếp tục trốn ở lại? Tôi nghĩ về Dũng, thằng Minh và anh Tấn. Họ ở đâu? Từ lúc gặp hai gã cán bộ lãnh sự quán Việt Cộng tới giờ đã được vài ngày chắc người trong đoàn ghe cũng đã về tới Việt Nam. Mong những suy nghĩ của tôi sẽ đúng.

Khẽ đung đu nhè nhẹ võng, ký ức tôi đảo đi đảo lại những chuyện vừa xảy ra. Lúc trưa tưởng phải ở luôn với đám lính Khmer nào ngờ nhờ vậy mà mình lại có mặt trong chiếc ghe bầu tối nay. Mới chiều tối hôm qua tôi và Hường còn ngồi với nhau dưới gốc cây trứng cá ở sân sau nhà nàng chứ có lâu la gì. Hường lấy tay hất mái tóc dài của nàng về đằng sau lưng, giọng buồn bã:

– Em có lúc vẫn muốn đi tiếp nhưng chuyện vượt biên thành công thấy thật khó. Với lại em đi nữa thì gia đình sẽ ra sao? Liên coi vậy nhưng nó vụng lắm còn mẹ em đã yếu hơn trước. Chỉ mong có chuyến nào thật an toàn sẽ cho Cao đi nhưng mà…

Hường bỏ lửng câu nhưng tôi biết điều nàng muốn nói. Làm sao biết chuyến đi nào sẽ thật an toàn để mà yên tâm vượt biên? Ngay cả nếu không bị lừa mất vàng thì chưa chắc trên đường đi ghe đã êm xuôi đến được trại tị nạn. Bà cụ đã bộc bạch muốn lo Cao thoát được ra nước ngoài để có tương lai nhưng lại sợ những rủi ro khi nói: ” Gia đình tôi chỉ trông vào mình nó, nếu có mệnh hệ gì tôi ăn nói làm sao với ông nhà dưới suối vàng “. Hình ảnh của Hường đứng bên vệ đường trong buổi sáng nay khi nàng tiễn tôi và đã chờ cho đến khi xe khuất bóng khỏi bến Kompong Som. Sau lúc đưa tôi mẩu giấy viết vài câu Khmer, Hường trải lòng:

– Thân em bây giờ coi như bỏ đi, chỉ nghĩ cho mẹ và cho gia đình thôi. Về nhà an toàn, có chuyến mới xin anh cố gắng báo cho em biết để gia đình lo cho Cao đi chung. Giả dụ nếu anh về, gặp khó khăn không yên với công an thì… cứ chạy sang đây với gia đình em nha anh Vũ. Chỉ biết nói vậy thôi, em chúc anh mọi việc sẽ may mắn.

Chưa biết khi về được tới nhà sẽ ra sao với bọn công an khu vực vì chuyến đi của tôi đã khá lâu và điều lo nhất trong ghe có người đã bị hải tặc Thái Lan bắt mất. Tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào cũng không biết.

Thật lâu sau tôi chợt tỉnh giấc khi chung quanh im vắng cách lạ thường. Mắt tôi nhắm nhưng tai nghe tiếng rên rỉ từ đoạn phim trên màn hình. Chồm người dậy, tôi định bụng rời cái võng để ra phía đuôi ghe đi tiểu. Tôi thấy một việc lạ. Những tấm võng cạnh tôi bây giờ bỏ trống không người nằm. Khách buôn ở các võng đi đâu? Tôi biết ghe chạy chưa tới Châu Đốc mà. Tiếng phụ nữ ở màn hình rên rỉ tiếp. Tôi nhìn lên, phim Video đang chiếu một cảnh con nhà nghèo trong ánh sáng lờ mờ và tôi cũng thấy rõ ràng chuyện đang xẩy ra trong khoang ghe. Từng cặp người ôm nhau trên mặt sàn ghe ngay dưới các tấm võng. Không ai trong số họ thèm để ý chung quanh hoặc xem phim Video nữa. Một cô gái nằm bên dưới thân của người đàn ông gần võng tôi chợt hé mắt nhìn lên. Bắt được tia mắt cô gái, tôi vội vàng thụp mình nằm xuống trở lại. Tôi bật cười, hiểu lời Danh Ngạnh trước phút chia tay.

Khách thương hồ trong khoang ghe đang tự đóng phim riêng với nhau. Chắc chắn họ không phải vợ chồng và chỉ buôn hàng chung chuyến ghe. Tình nhân mới táo bạo, liều lĩnh như vậy. Đúng dân buôn hàng chuyến biên giới kiếm tiền dễ nhưng cũng dễ bỏ nhau như vài gia đình chạy hàng trong khu phố gần nhà tôi. Thảo nào!

Tôi nằm yên xem phim, một cảnh ái ân nam nữ thật cuồng bạo. Tình dục, món quà tặng của Thượng Đế dành cho người yêu nhau có thực dữ dội, mãnh liệt và dung tục như đôi nam nữ đang diễn trong phim? Chỉ chốc lát ngắn ngủi tôi đã thấy chán và nhắm mắt ngủ lại. Muốn ngủ nhưng thực sự thật khó vì tiếng rên rỉ cùng tiếng động chạm xác thịt vẫn vọng đến tai đã kích thích khiến tôi rạo rực định nhổm dậy khỏi võng để nhìn trộm những cặp người đang quấn chặt nhau dưới sàn buồng ghe. Tôi lại sợ họ bắt gặp tại trận như ánh mắt cô gái vừa rồi nên thôi. Phim Video chấm dứt khá lâu nhưng tiếng động, rên rỉ, cười khoái trá vẫn tiếp diễn cho đến khi đèn trong khoang ghe đột ngột bật sáng thì sinh hoạt mới trở lại bình thường. Thật không khác trong một rạp phim, khách buôn ngồi lại trong võng, ai cũng vẻ mặt tỉnh queo làm như không hề có các chuyện vừa xẩy ra. Tôi rời võng để đi ra phía sau chiếc ghe và khi quay vào, gặp chị Sa Thi đang lui cui sắp xếp các ly tách trong gian hàng. Thấy tôi, chị Sa Thi ngoắc tay dừng lại, nói:

– Mình sắp đến trạm kiểm soát hỗn hợp của hai nước. Trước khi đến trạm, ghe sẽ ngừng lại để cho khách xuống và rước thêm các khách mới. Em sẽ phải xuống ngay. Nếu đi tiếp khi đến trạm kiểm soát, công an Campuchia và công an Việt Nam sẽ biết em không phải khách buôn. Họ sẽ bắt em ngay.

– Trời ơi! Phải rời ghe. Rồi em sẽ đi đâu tiếp? Tôi lo lắng.

– Đừng sợ em trai. Đừng sợ! Mọi chuyện chị sẽ lo cho em. Em sẽ đặt chân lên Châu Đốc ngay sáng sớm cho xem. Chị Sa Thi cười rồi tiếp: ” Lúc tối ngủ ngon chứ? Chị làm cà phê sữa đá cho em uống nha. Cứ ngồi yên chỗ, khi nào chị nói em xuống thì mới xuống “.

Khoảng tiếng đồng hồ sau, ghe bầu chạy chậm để đón khách lên hoặc xuống khỏi ghe. Tiếng người rao đổi tiền Việt sang tiền Khmer vang vang trong khoang ghe. Còn duy nhất trong người một tiền giấy 100 Riel mầu đỏ nhưng tôi giữ lại làm kỷ niệm vì giá trị nó quá nhỏ. Chị Sa Thi đến vẫy tay tôi theo chân chị xuống khỏi ghe bầu. Phía trước mặt, trong ánh đèn điện vàng vọt, các xuồng tắc rán nhỏ chở khách đang băng sang phía bên kia sông. Tắc rán nào cũng có một đèn bão treo lủng lẳng dưới mái che. Dẫn tôi đến gần một tắc rán chạy sát bờ, chị Sa Thi gấp gáp dặn:

– Em theo tắc rán qua bên kia. Lên bờ rồi hễ gặp xe Honda ôm chạy về bến Cồn Tiên thì mới đi. Khi đến Cồn Tiên, em ngồi chờ khi nào thấy có chẹt thì đón ngay. Chẹt là phà nhỏ, sẽ chở em qua khỏi cồn. Qua được cồn, em đặt chân vào Châu Đốc. Kế tiếp, em đón xe Chành hay nếu gặp Honda ôm càng tốt. Bảo tài xế chở đến chỗ xe đò tốc hành chạy hướng Cần Thơ. Nhớ hết tất cả lời chị dặn chưa? Đây, chị gửi em ít tiền. Em xuống tắc rán bây giờ nha, nó đến rồi. Chúc em đi đường bình an.

Xuồng tắc rán cập vào, tôi bước xuống với hai người khác cùng qua sông. Lên được bờ, đám chạy Honda ôm nhao nhao bằng tiếng Việt hoặc Khmer ghé đến tìm khách. Tôi chọn một người chạy xe ôm còn trẻ. Cậu ta phóng xe thật nhanh trong đêm tối chở tôi đến bến Cồn Tiên khi trời vẫn chưa sáng. Các quán ăn trên bờ đã mở hàng thật sớm. Chọn một quán gần bờ nhất để tầm mắt tôi có thể nhìn thấy được chiếc chẹt đón khách như lời chị Sa Thi dặn và ngồi đó nhâm nhi ly cà phê nóng như khách địa phương bình thường. Dù vậy, tôi vẫn mối lo vì còn ở trong địa giới nước Campuchia. Qua được bên kia cồn an toàn hơn nhưng cũng chưa chắc. Trời bình minh dần, chỉ ít phút nữa tôi sẽ đặt chân vào Châu Đốc. Mọi sự sau đó diễn ra đúng như chị Sa Thi dự liệu.

Trong chiếc xe đò tốc hành chạy tài nhất đi Cần Thơ, tôi nhìn cảnh vật hai bên đường mà lòng thoáng buồn vì chuyến vượt biên bất thành phải quay về. Hết buồn lại đến mối lo khi nhẩm tính đã rời nhà cả tháng trời. Thời gian vắng nhà lâu như vậy, công an khu vực có biết chuyện mình vượt biên? Bây giờ mình về nhà có thực an toàn không? Thằng Minh trong khu phố đã về nhà chưa hay còn lòng vòng đâu đó bên Campuchia? Tôi nghĩ đến Ánh Phương, thằng Dũng và cả anh Tấn nữa. Lục trong túi xách, tôi xem lại tấm Chứng Minh Nhân Dân của Ánh Phương, tự hỏi có nên tìm đến nhà để báo tin cho thân nhân nàng biết chuyện không may? Trời càng lúc càng sáng rõ, gió sớm mai thổi vào xe mát lạnh có lúc làm tôi nổi da gà. Thỉnh thoảng xe dừng lại đón thêm khách bên đường. Ở một chỗ ngừng gần một ngã ba nhỏ, vài gã công an áo vàng đứng trò chuyện với nhau mà không buồn để mắt đến khách trên xe. Cuối cùng, xe chạy tới Cần Thơ và vào trong bến. Xuống xe, kiểm tiền trong túi tôi còn đúng 2000 tiền già Hồ. Chị Sa Thi đã lo thật chu đáo nhưng tôi còn phải về tận Sài Gòn. Nói nhà ở Cần Thơ nên chị giúp về tới Cần Thơ, giờ làm sao tôi có tiền để đón xe đi tiếp? Chợt nhớ đến người bạn tôi đã quen trong lần tù vượt biên trước đây tên Thành nhà ở đường Mậu Thân. Khi nói với Danh Ngạnh sống ở đường Mậu Thân, tôi cũng từ chuyện anh Thành mà ra. Gặp anh, tôi sẽ mượn tiền để về Sài Gòn ngay hôm nay và cho em gái mang xuống trả lại sau.

Người đạp xe Chành chở tôi đến đường Mậu Thân chóng vánh. Trả tiền cuốc xe, tôi dò từng căn nhưng số nhà lộn xộn không theo thứ tự liền nhau. Đúng boong lời Danh Ngạnh đã nói, đi tới đi lui mỏi cả chân nhưng tôi vẫn không tìm được. Hỏi thăm vài người sống tại đây thì họ lắc đầu không biết. Mệt mỏi đành ngồi nghỉ chân trên thềm một căn nhà đóng cửa, tâm trí tôi vừa bực bội lẫn lo lắng thì thật may, nhà anh Thành nằm chình ình xeo xéo phía đối diện. Kiếm mãi không thấy, ngồi không lại hiện ngay trước mặt. Tôi bước vội sang gõ cửa kêu tên anh Thành thật to, một bà cụ từ bên trong lê dép lẹp xẹp bước ra, hé cửa hỏi:

– Cậu là ai? Quen biết sao với thằng Thành con tui?

Kể sơ về quan hệ giữa tôi và anh Thành cho bà cụ nghe. Bà mời tôi vào trong nhà dùng nước rồi buồn bã nói:

– Thành nó vắng nhà 2 năm nay mà không có tin tức gì. Lúc nẫy nghe thấy cậu gọi tên nó tui mừng quá, nào ngờ.

Ngồi nghỉ chân trong chiếc ghế dựa, tôi nhớ buổi đầu khi gặp anh Thành. Hơn ba năm trước trong một chuyến vượt biên tại huyện Xuyên Mộc, tôi bị du kích địa phương chận bắt giải giao cho xã Phước Thuận. Trong trại tạm giam của công an, gã cán bộ chấp pháp tên Mười Lý đã ra giá người bị bắt viết thư về nhà báo gia đình mang một cây vàng 24 lên nạp, y sẽ thả tự do ngay. Ai không có vàng sẽ bị y giải giao cho công an huyện. Giam chung phòng, tôi và anh Thành nhanh chóng làm bạn với nhau. Bị bắt từ chuyến vượt biên một tuần trước, anh hiện đang chờ tin của người nhà. Lớn hơn tôi ba tuổi, anh Thành gốc lính tác chiến trong Sư đoàn 9 Bộ binh VNCH. Ít ngày sau, mẹ tôi tìm đến nơi đóng vàng cho gã cán bộ Mười Lý. Khi chia tay, tôi và anh Thành cho địa chỉ nhưng chưa lần nào có dịp rảnh rỗi để ghé thăm nhau. Bác Tư, mẹ anh Thành kể:

– Mười Lý nó đòi một cây vàng mới chịu thả thằng Thành mà cậu coi nhà tui đâu có khá giả gì. Tui mang được 5 chỉ vàng 24 thôi. Lấy 5 chỉ rồi nhưng không thả thằng con tui, một hai bắt phải mang tiếp cho chúng 5 chỉ nữa mới đủ số. Nói trong nhà không còn vàng chúng đâu chịu tin. Ở trên đó tới ba ngày, tui làm dữ với đám ác ôn, nói nếu không thả thằng Thành thì trả lại 5 chỉ vàng đó rồi giải giao đi đâu thì tùy. Tụi nó xuống giá bảo đưa thêm 3 chỉ rồi 2 chỉ… tui một mực lắc đầu. Cuối cùng, không moi được thêm, thằng Mười Lý cũng phải thả con tui.

Tôi cạo râu rửa mặt mũi sạch sẽ sau đó dùng bữa cơm trưa vội vã với gia đình. Không gặp anh Thành lại nghe chuyện bà cụ kể, tôi cũng buồn. Nhiệm, em gái út trong nhà cho biết thêm về chuyến đi 2 năm trước của anh trai mình:

– Em chỉ biết ảnh vượt biên bằng đường bộ băng ngang Campuchia đến Thái Lan. Từ đó đến nay gia đình không nghe tin gì hết, cha mẹ em lo buồn lắm anh. Nhiệm lắc đầu, tiếp:  ” Không biết ảnh ở đâu, sống chết ra sao? Nay có anh đến nhà, em mới biết chuyện người Việt vượt biên sống bên Campuchia. Tội nghiệp họ quá há anh! Em hàng đêm vẫn đốt hương cầu mẹ sanh mẹ độ phù hộ cho anh Thành em. Mong ảnh được bình yên sống đâu đó ở bển “.

Tôi thật ái ngại số phần anh Thành khi nhớ lời kể của Hường-Liên về các trại tị nạn người Việt ở Dongrek, Nong Chan và Nong Samet nhưng chỉ biết an ủi Nhiệm và hai ông bà cụ. Tôi lấy tờ giấy bạc 100 Riel đỏ còn lại trong người làm quà tặng bác trai trước khi chia tay với gia đình. Quay trở lại bến xe Cần Thơ và đón kịp chuyến xe tốc hành sắp rời bến, tôi về được xa cảng miền Tây-Sài Gòn vào lúc xẩm tối. Ngồi nhâm nhi cà phê cho đến khi trời tối hẳn tôi đón xe Honda ôm về. Mẹ và các em gái trong nhà bàng hoàng khi gặp lại tôi, chắt lưỡi nói gầy gò hốc hác quá nhìn không ra. Ai cũng nghĩ chuyến ghe đã đến được trại tị nạn vì thời gian qua khá lâu. Tôi hỏi thăm về thằng Minh, vẫn chưa thấy nó ló mặt. Thật lạ! Vậy nó ở đâu? Tôi dặn các cô em gái phải giữ kín chuyện để dò tình hình trong khu phố xem sao.

Âm thầm về trong đêm tối tưởng không ai biết nhưng ngay ngày hôm sau bà Sáu mẹ thằng Minh đã mò đến nhà tôi để hỏi thăm chuyến đi và tin tức đứa con trai. Tôi lần lượt kể lại mọi chuyện cho bà nghe. Bà ta vật mình khóc lóc than van gây sự chú ý của những gia đình gần bên. Tôi trấn an:

– Bác Sáu về nghỉ ngơi, cố bình tĩnh đừng khóc. Nay hoặc mai thằng Minh sẽ về tới. Khóc chẳng giúp gì, để công an biết thì chết cả đám luôn.

Trước giờ, ai đi vượt biên không thành nếu yên ổn quay về và đừng để công an biết thì không sao. Trong khu vực do chúng kiểm soát, biết ai vắng mặt để vượt biên thì chuyện sẽ khác. Chuyến tôi đi đã hỏng còn bị hải tặc bắt mất người, tôi càng nghĩ càng lo nhưng thực sự tôi chưa biết cách thức sẽ phải đối phó? Những ngày kế vẫn chưa thấy thằng con trai, bà Sáu lại đến nhà cật vấn đủ điều làm như tôi phải chịu trách nhiệm về chuyến đi. Bà Sáu ỷ mình thuộc gia đình cách mạng, quen biết nhiều cán bộ trên phường trên quận nên không sợ, cứ đi lòng vòng ghé nhiều nơi trong khu phố kể lể chuyện thằng Minh rồi lại khóc than ầm ĩ. Bà sót thằng con trai chưa về, mẹ tôi bảo vậy. Tôi cố làm mặt tỉnh khi có chuyện đi ra bên ngoài. Vài người trong khu phố kín đáo nhìn tôi. Họ đã biết chuyện từ miệng bà Sáu, công an cũng sẽ biết.

Hai tuần sau, lúc uống cà phê trong một quán thiết kế kiểu sân vườn ở gần nhà, tôi gặp ông Nam chủ tịch khu phố ngồi ở bàn không xa. Thấy tôi, ông ngoắc tay gọi qua ngồi chung. Gốc dân Bắc Kỳ di cư 1954 nhưng ông hoạt động nằm vùng cho Việt Cộng từ lâu. Nhà ông, một địa chỉ đỏ trong bản danh sách gia đình cách mạng địa phương. Do quen biết khá thân với thầy mẹ tôi từ lâu nên biết chuyện gì từ phường hay quận, ông vẫn thường báo cho gia đình biết trước để phòng. Nhìn ông Nam, tôi biết có việc liên can và chắc chỉ chuyện vượt biên. Đảo mắt chung quanh quán một lần cuối, ông Nam nói nhanh:

– Tụi thằng Hùng thằng Tứ vừa mới họp với ủy ban cho biết nay mai sẽ làm việc với cháu về chuyến đi vừa rồi. Gia đình liệu sao thì liệu… càng sớm càng tốt. Về nhà nhớ cho bác gửi lời thăm mẹ cháu.

Hai chữ Làm Việc của công an Việt Cộng mang cái nghĩa điều tra-thẩm cung. Nghe ông Nam báo tin dữ, tôi càng sợ. Điều tra-thẩm cung là khai báo rồi bị công an đánh đập, cùm kẹp và nhốt tù. Hùng và Tứ, tôi không lạ hai gã công an hung thần của nhiều nạn nhân sống trong địa phương. Cả hai đều to xác, mặt mũi bậm trợn và rất dữ đòn. Mẹ tôi nghe kể gặp ông Nam, nói:

– Con lên Đà Lạt chỗ nhà cậu Khánh sống ở đó một thời gian xem sao. Mẹ tôi lại đổi ý liền: ” Thôi đừng. Đà Lạt xa lại lạnh lắm hay con thử lánh mặt trên rẫy của chú Kim đi. Dầu sao cũng gần Sài Gòn và an toàn hơn ở nhà “. Chú Kim em ruột ba tôi, có rẫy cà phê ở vùng Túc Trưng gần Dốc Mơ-Gia Kiệm.

Nghe mẹ tôi nói vậy, các cô em gái trong nhà lên tiếng:

– Mấy nơi mẹ vừa nói, anh Vũ cũng không thoát khỏi tay bọn công an đâu ngoại trừ một chỗ.

– Chỗ nào? Mẹ tôi hỏi liền.

– Nước ngoài. Anh Vũ chỉ an toàn khi ở nước ngoài thôi. Kim Thu, em gái út tôi cười khi trả lời.

– Mẹ biết, nhưng làm sao có chuyến đi ngay bây giờ? Thế mới khổ!

Quá lo, lúc ăn lúc ngủ lòng tôi chẳng yên. Một sáng tôi dậy sớm, lách mình ra khỏi nhà rảo bước định đến tiệm phở Quỳnh ngay ngã ba đầu khu phố thì tiếng xe hai bánh thắng gấp ngay trước mặt. Hai gã thanh niên lạ hoắc, mặc thường phục nhìn tôi, hỏi:

– Anh tên Vũ phải không? Phạm Thắng Vũ!

Vừa gật đầu thì nhanh như một tia chớp, tên ngồi phía sau tót xuống lấy tay đẩy tôi lên yên xe Honda SS 67 ngay. Y ngồi kẹp tôi vào chính giữa, gã cầm lái rồ máy vọt thẳng ra đường chính. Trong chốc lát ngắn ngủi, xe ngừng lại trước cửa trụ sở công an quận. Gã ngồi sau đẩy tôi băng qua cổng nhỏ đi thẳng vào trong một căn phòng đầy bàn ghế rồi nói:

– Anh ngồi đây chờ gọi làm việc và không được đi đâu hết. Nghe chưa?

Gã quay ra ngoài và tiếng xe nổ lớn chạy xa bỏ tôi ngồi một mình ở căn phòng vắng vẻ trong cơn hoảng hốt. Mình mới ra khỏi nhà, chúng phục sẵn bắt liền, hàng xóm có ai biết việc vừa xẩy ra? Hai gã lạ mặt bắt tôi tên gì, chức vụ? Một lúc sau, sự bình tĩnh dần dần trở lại trong tôi. Cái gì tới nó sẽ tới, tôi tự trấn an mình phải bình tĩnh. Thật bình tĩnh để tìm cách thoát. Hai gã này lạ mặt, chắc vừa bổ sung về quận từ trường đào tạo công an. Lát nữa khi bị gọi làm việc với hai gã, tôi phải thật khéo léo. Nếu không thoát được, bất quá chấp nhận ngồi tù vượt biên vài năm. Cơn sợ qua đi, tôi cảm thấy buồn vì đã hai lần ra khỏi nước còn phải quay trở về chịu tù. Bỏ nghề dậy học, mất việc làm khi vượt biên rồi sáng nay phải ngồi đây chưa biết số phần sẽ ra sao? Hay số mình không thể vượt biên đi thoát? Đang suy nghĩ, một phụ nữ bước vào căn phòng chào tôi rồi bà lặng lẽ quét nhà và sắp xếp các ghế ngồi cho gọn gàng. Căn phòng có các dãy ghế dài xếp gần bên nhau và hai cái bàn đặt riêng. Ghế dài cho dân ngồi chờ và hai cái bàn để công an làm việc? Chắc vậy.

 

Tôi đứng dậy, nép mình bên cửa sổ quan sát khuôn viên toàn trụ sở công an quận. Ba dãy nhà nối thành hình chữ U với các phòng nằm liền sát nhau. Có phòng cửa đã mở sẵn, vài gã công an đi vào đi ra. Cửa lớn ngay cổng đóng kín mít chỉ dùng cửa phụ nhỏ bên hông. Một công an viên ngồi trực trong chốt gác nhỏ sát bên cánh cửa phụ. Dân địa phương có việc phải vào trong trụ sở hay đi ra ngoài đều qua tay gã này xem xét.

Chị phụ nữ dọn dẹp xong căn phòng thì đã có người lục tục kéo vào ngồi chờ. Bắt chuyện với người đàn ông gần bên tôi mới biết mình đang ở trong phòng tiếp dân của công an quận. Hỏi thêm, ông ta nói đến vì giấy mời do liên can vào một vụ ấu đả tại gia. Hỏi một chị phụ nữ khác thì cho biết đến để làm giấy bảo lãnh người con trai từ trại giam Bố Lá về nhà. Ai có công chuyện mới có mặt ở đây và người nào người nấy đều lo lắng, sợ hãi. Gã thanh niên lạ mặt đẩy tôi vào phòng nói chờ làm việc nhưng chắc chắn chỉ chuyện vượt biên. Cũng một phần do cái miệng bà Sáu nên công an mới biết. Khóc lóc, than vãn với bà con trong khu phố cũng đâu giúp thằng Minh về ngay được. Nay mai khi con bà ló mặt tới nhà, nó sẽ biết tay công an. Bà Sáu ơi! Bà thật quá dở… tôi lẩm bẩm.

Hai công an một nam một nữ vào phòng ngồi riêng ở mỗi bàn và bắt đầu tiếp chuyện từng người một. Nhìn về phía cổng, thấy những người xong việc thơ thới đi ra bên ngoài khiến tôi nẩy ra một ý. Làm vẻ mặt thật tỉnh, tôi đi ra cửa như một người vừa xong việc nhưng gã công an trực tại chốt chận ngay lại, hỏi:

– Anh đi đâu đây?

Tôi hoảng hồn, cố lấy vẻ tự nhiên trả lời:

– Ra bên ngoài mua thuốc lá hút.

– Không được. Gã công an lắc đầu.

– Mua xong quay vào liền mà. Tôi nhỏ nhẹ.

– Anh đi vào trong ngay, không được ra ngoài đây. Gã nói dứt khoát.

Tôi trở vào phòng, ngồi yên kín đáo quan sát. Dân thường, nhiều người ra hay vào cái cửa nhỏ ở cổng thật dễ đâu bị gã công an chận hỏi. Tại sao gã chỉ đế ý đến mình tôi? Hay gã thấy tay thanh niên đẩy tôi vào đây lúc sáng và được dặn dò riêng? Nếu mình nghĩ đúng, coi như kẹt rồi, tôi thất vọng. Ngồi mãi không ai hỏi đến tôi và cũng không gặp lại hai gã thanh niên lạ mặt hồi sáng. Chờ đợi quá lâu, tôi cảm thấy mệt. Gần trưa, phòng tiếp dân bớt dần người. Đói bụng, mắt nhíu buồn ngủ tôi chẳng thiết việc chung quanh cho đến khi nghe tiếng chân dừng ở bên cạnh và giọng một phụ nữ:

– Anh đến đây có chuyện gì, sao không cho tui biết?

Tôi mở mắt nhìn, một nữ công an trẻ tuổi đứng trước mặt hai tay ôm chồng giấy tờ, ánh mắt chiếu thẳng dò hỏi. Tôi sửa lại thế ngồi, trả lời không có chuyện gì hết. Một thoáng ngạc nhiên, cô ta hỏi tiếp giọng miền Nam:

– Không có việc cần sao anh ngồi ở đây? Lạ vậy!

Nghe cô ta hỏi, tôi im lặng rồi nhớ một chuyện vừa xẩy ra trong khu phố liền buột miệng trả lời:

– Tôi đến đây để làm nhân chứng cô à.

– Làm nhân chứng… mà vụ gì? Ở đâu?

– Một vụ trộm tài sản tư nhân ở gần nhà. Tôi nhìn cô công an, trả lời.

Hai ngày trước, trong khu phố đã xẩy ra một vụ trộm lúc gần khuya. Kẻ gian bẻ khoá vào nhà một gia đình cán bộ trẻ nhưng đang lúc tẩu tán món trộm, vợ chồng chủ gia trở về đúng lúc. Hai tên trộm liền vất hàng bỏ chạy thoát thân. Không biết rõ mặt hai tên trộm, gã cán bộ lại đổ cho một thanh niên sống trong khu phố. Dân phòng theo lời cáo giác liền kéo đến nhà nghi can. Đến nơi mới biết anh ta đang xỉn với bạn nhậu ở quán cóc trong một hẻm khác cùng khu phố. Dù chủ quán lẫn bạn nhậu làm chứng tình trạng ngoại phạm nhưng gã cán bộ vẫn quả quyết anh thanh niên vừa nhập nha nhà y. Gã ta một hai buộc dân phòng phải bắt nhốt ngay anh thanh niên say rượu. Dân phòng bỏ về khi thấy anh thanh niên loạng choạng chỉ vài bước chân đã nằm vùi luôn tại quán. Chuyện có vậy, tôi bịa thêm gã cán bộ làm đơn thưa vụ trộm và anh thanh niên đó nhờ tôi làm nhân chứng. Nghe kể, cô ta hỏi:

– Giấy mời làm việc của anh đâu, đưa cho tui xem.

– Không có giấy mời nào cả. Làm vẻ ngạc nhiên, tôi lắc đầu.

– Anh không có giấy mời sao! Vô lý. Cô công an nhăn đôi lông mày trên khuôn mặt khá đẹp.

– Sáng nay có một anh trong này chạy xe đến nhà gặp tôi, hỏi về chuyện trộm tối hôm đó rồi chở tôi đến đây nói làm nhân chứng… Tôi chờ mãi chẳng thấy ai hỏi gì hết cho đến khi gặp cô, cô à! Tôi tỉnh bơ một hơi.

– Anh nhớ ai đã chở anh đến đây không? Anh biết tên người đó không? Cô ta hỏi vặn.

Tôi lắc đầu, thừ người trong ghế. Đứng yên một lát rồi nhìn đồng hồ trên tay, cô công an bảo tôi ngồi chờ và đi ra khỏi căn phòng. Sau đó, cô ta quay lại cùng một thanh niên trẻ và nói:

– Bây giờ trưa rồi. Đồng chí đây chở anh về nhà ăn cơm. Ăn xong, ảnh sẽ chở anh về lại đây ngay. Phiên làm việc chiều, tui sẽ hỏi các đồng chí khác về chuyện anh vừa kể.

Nói xong câu, cô ta bỏ đi về phía nhà nhỏ để xe  máy riêng của cán bộ. Một công an khác ngồi tại chốt ở cửa cổng thay cho gã cũ đã chận tôi hồi sáng. Dắt chiếc xe Honda SS 67 ra khỏi cổng, tay thanh niên trẻ đạp máy bảo tôi ngồi lên yên sau lưng y. Xe chạy, y hỏi tôi địa chỉ và trong chốc lát đến ngay trước cửa nhà. Nghe tiếng xe ngừng bên ngoài, mẹ tôi cùng đứa em gái trong nhà chạy ra.

– Con đi đâu từ sáng tới giờ lại không nói cho ai hay vậy. Ăn cơm gì chưa? Mẹ tôi hỏi.

– Đói bụng quá sức phải về ăn cơm nè mẹ. Tôi mỉm cười, trả lời.

Nghe thế, mẹ tôi hối đứa em gái vào trong dọn cơm rồi quay sang gã thanh niên, bà tiếp:

– Cháu cũng bạn với Vũ hả? Tiện thể, vào dùng cơm luôn với gia đình bác nghe cháu?

Gã thanh niên ngồi yên trên xe không trả lời. Tôi nhìn y dò ý. Chợt gã ngoắc tay vẫy tôi lại gần, nói nho nhỏ:

– Anh tranh thủ vào ăn cơm với gia đình ngay đi. Cho anh 15 phút, tui đi đằng này một lát sẽ quay lại ngay. Nhớ nghe, 15 phút nữa tui quay lại đây đó.

Dứt câu, gã chào hai mẹ con chúng tôi rồi quay đầu xe chạy thẳng ra hướng ngoài đường lớn. Mẹ tôi thấy gã bỏ đi ngay, liền hỏi:

– Bạn con hả? Đứa nào thế? Sao nó không vào nhà lại bỏ đi ngay vậy.

Im lặng, tôi nhìn theo chiếc xe Honda  SS 67 cho đến khi hút bóng khỏi ngõ hẻm liền cất tiếng gọi em gái tôi. Mẹ tôi đứng yên, ngơ ngác. Cô em gái chạy đến, tôi thúc hối lấy chìa khoá và dắt xe Honda Dame ra khỏi nhà ngay.

– Chuyện gì từ từ giải quyết sau, vào ăn cơm đã rồi tính. Mẹ tôi gắt giọng.

Cầm tay lái xe Honda Dame từ cô em gái, tôi ngồi lên yên rồi đạp cho nổ máy. Nhìn cả hai người, tôi nói chậm rãi:

– Thằng vừa rồi là công an quận, đâu phải bạn con. Lúc sáng sớm có hai thằng đến bắt con mà trong nhà không ai biết. May lừa được tụi nó cho về ăn cơm nè. Giờ con phải đi ngay kẻo không còn dịp. Lát nữa thằng đó quay lại, mẹ cứ nói con đang ăn cơm thì có người đến gọi chở đi rồi. Nếu tụi nó đến nhà mình hỏi thêm, mẹ liệu đường mà trả lời. Đưa con ít tiền để con đi ngay bây giờ.

Tôi cùng cô em gái chạy xe một lèo lên Hố Nai tá túc nơi nhà người bà con họ bên ngoại. Ở được hai ngày, em gái tôi lên cho biết tin về Dũng. Một thanh niên được thả từ trại giam công an huyện Bến Cầu-Tây Ninh tìm đến nhà thằng Dũng, báo tin nó bị bắt tại cửa biên giới Mộc Bài-Svay Rieng và đang bị nhốt trong trại giam huyện. Còn Ánh Phương, cứ nấn ná mãi chưa kịp tìm đến nhà nàng để bây giờ tôi bị kẹt ở đây. Mãi hơn 10 năm sau tôi mới biết các tin tức của Ánh Phương khi đến gặp gia đình nàng. Và anh Tấn? Theo địa chỉ anh ghi trong mẩu giấy năm xưa, thân nhân anh rất mừng khi gặp tôi, nghĩ tôi đến cho họ biết tin về anh nhưng đã thất vọng. Gia đình bặt tin anh sau chuyến vượt biên tại Vàm Rầy-Hà Tiên năm đó. Tôi không bao giờ quên lúc chia tay vội vã với anh tại bến xe, những lời anh tâm sự với tôi trong buổi tối tại khu vực hải quân ở cảng KompongSom. Vĩnh biệt anh Tấn, một trong những người anh tôi rất mến.

Ba ngày sau nữa, em tôi chạy xe đến thăm cho biết gia đình đã tìm được mối cho chuyến vượt biên mới. Chuyến vượt biên ra khỏi nước lần thứ ba trong đời tôi.

Chương Ba

Đến Trại Tị Nạn Galang, Cửa Ngõ Vào Thế Giới Tự Do Nhưng… Chưa Thoát.

Sống tạm trú tại nhà người cậu ruột ở vùng Hố Nai được hai ngày trong tâm trạng lo sợ có thể bị công an bắt lại được khiến tôi vẫn ăn ngủ không yên. Lãnh thổ VNCH bị Cộng Sản chiếm đoạt đã hơn mười lăm năm trời. Mạng lưới tai mắt, tình báo nhân dân cho công an đã hình thành khá lâu ở nhiều nơi. Do đó, người lạ mặt lảng vảng tại địa phương, sớm muộn gì cũng bị người dân trong vùng báo cho chúng biết. Dân báo tin không vì cảm mến dành cho chế độ mà do sợ hãi nên phải cộng tác. Vài năm trước, hai người thân trong họ từ miền Bắc vào thăm gia đình tôi, mới ở được ba ngày thì đã bị công an khu vực nửa đêm ập vào nhà xét coi giấy tờ. Biết họ từ miền Bắc vào, công an không làm khó nhưng kín đáo cảnh cáo gia đình tôi phải lên ủy ban phường ghi danh bất kỳ thân nhân ghé tạm trú trong nhà. Hàng xóm nào đã báo cho công an biết về hai người bà con miền Bắc? Gia đình không biết nhưng chính vậy khiến tôi đâm sợ những láng giềng đến nhà cậu mợ bây giờ. Tôi cảnh giác, lúc nào cũng thu mình ở trong buồng kín.

Một buổi chiều cuối tuần, mẹ tôi cùng em gái lên cho biết đã tìm được chuyến đi mới và sẽ khởi hành sớm. Theo đó, tôi sẽ lên đường ngay sáng hôm sau. Gia đình đã chồng đủ vàng cho đám tổ chức. Tội nghiệp mẹ tôi, tôi vượt biên nhiều lần, làm bà hao tốn của cải còn phải lặn lội đi thăm nuôi hoặc chung vàng chuộc mạng khỏi tay công an nữa. Nếu chế độ Việt Cộng không phân biệt, hành xử vô luật pháp với người dân VNCH, chắc có mấy ai tính chuyện vượt biên. Vượt biên đâu như một chuyến du lịch dù thực tế có nhiều ghe may mắn gặp được tàu nước ngoài vớt khi vừa mới ra ngoài biển lớn không xa. Mỗi lần vượt biên, mỗi lần đánh đu với tử thần. Đêm tối đến, mẹ tôi ở lại nhà người cậu ruột còn cô em gái chạy xe về lại Sài Gòn để lo cho chuyến đi sáng mai.

Cậu mợ tôi có hai người con trai tuổi lớn hơn tôi nhiều nhưng lại vai em. Họ có gia đình và đã ra ở riêng. Có người Việt suốt đời không bao giờ nghĩ đến chuyện vượt biên dù họ cũng không thích sống dưới chế độ Cộng Sản. Họ từng bị chúng ngược đãi, đày đoạ, bỏ tù oan ức… nhưng vẫn không nghĩ chuyện đào thoát khỏi quê nhà. Đơn giản vì họ không muốn rời khỏi quê hương và sống nơi xa lạ nước ngoài. Tâm trạng hai người con trai cậu tôi cũng tương tự. Cả hai đều an phận, bằng lòng với đời sống thường ngày. Sau bữa cơm tối, họ nán lại chuyện trò khá lâu với tôi trước khi từ giã, chúc tôi thượng lộ bình an, vượt thoát đến trại tị nạn sớm và không hề đá động đến chuyến đi. Trong huyết quản hai người họ không có máu vượt biên. Mẹ tôi dặn dò đủ điều như chưa bao giờ có dịp như vậy. Có lẽ bà linh cảm chuyến tôi đi lần này sẽ thành.

Lúc trời mờ sáng, tôi từ giã gia đình cậu mợ và ra xe đi ngay. Cô em gái chạy xe chở tôi ngược về hướng Sài Gòn đến gần xa cảng miền Tây rồi dừng lại tìm xe tốc hành. Đón được xe, tôi đến ngã ba Trung Lương liền xuống tìm vào một quán ăn bên đường theo chỉ dẫn của cô em gái. Ngồi ở quán chờ người trong nhóm đến đón về Bến Tre. Một thanh niên chạy xe Honda Dame vào quán nhận tôi ra rồi chở thẳng về Bến Tre. Nhóm tổ chức chuyển tôi qua nhiều chặng đường cho tới khi gặp Chợ Thơm. Nghỉ ăn cơm lấy sức rồi tiếp tục đi nữa, khi bằng xe Honda hoặc bằng ghe nhỏ gắn máy… vượt qua nhiều cầu, nhiều chợ nằm dọc gần bờ. Cứ vậy cho đến chỗ ngừng sau cùng trong căn nhà ở vùng Rạch Dầu gần biển thuộc huyện Thạnh Phú của tỉnh Bến Tre.

Nhóm tổ chức ém tôi trong buồng nhỏ của căn nhà lợp ngói vững chắc. Chủ nhà tên là Ba, một người đàn ông trộng tuổi. Trong buồng nhỏ, ngoài tôi thêm hai cô gái người miền Nam tên Bẩy và Đào có mặt từ trước. Hỏi thăm, cô Bẩy nhà ở phường Thắng Tam ngoài Vũng Tàu-Bà Rịa. Cô Đào người Mỹ Tho, nhà ở phường 9 gần cầu Quay. Ba người chúng tôi là dân thành thị nên bà Ba tiếp đón, lo cơm nước rất chu đáo. Chỉ một khó chịu nhỏ, giường và ghế trong căn buồng có quá nhiều rệp. Bắt hơi người lạ, lũ rệp từ các ngõ kín bò ra cắn đến nỗi không ai dám nằm trên giường hay ngồi trên ghế. Cả ba ngồi bệt xuống sàn nhà, dựa lưng sát tường ngủ ngồi gà gật như vậy cho đến sáng. Buổi trưa qua đi rồi chập choạng chiều, một người đàn ông vào buồng cho cả ba chúng tôi biết sẽ lên đường ngay trong giấc khuya nay. Ông ta niềm nở:

– Tui tên Hai Nghệ, cứ gọi bằng anh đừng ngại. Giờ an toàn rồi, ba người ra khỏi buồng không cần ém nữa.

Tôi, Bẩy và Đào cầm túi xách bước theo chân anh Hai Nghệ ra phòng khách, khép nép ngồi xuống ghế bên chiếc bàn gỗ mặt đá rửa mầu xanh ngọc thạch hình chữ nhật trước cái tủ thờ. Ông bà Ba chủ nhà, vẻ mặt hiền lành ngồi không xa ở bộ ván ngựa lên nước láng bóng. Tôi nhìn sơ căn phòng. Bộ lư đồng cùng hai chân nến xỉn màu đặt trên nóc tủ thờ. Một lư sành nhỏ chi chít chân nhang nằm trước các khung hình người quá cố. Trên cao sát với mái ngói, hai trang thờ phủ kín vải đỏ. Không có hình Phật Thích Ca hay tượng Phật Bà trong nhà. Nhìn qua các cột gỗ, tôi sững người khi thấy các tấm biển tổ quốc ghi công với chữ ký của gã thủ tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng cạnh dấu tròn đỏ. Kín đáo liếc nhìn ông bà Ba, nhủ thầm mình đang ở trong nhà một gia đình cách mạng. Quay nhìn mé sau lưng, vài bảng nhỏ huân chương kháng chiến hạng hai, hạng ba treo trên vách nhà. Tôi đâm sợ vì các tấm biển ghi công, huân chương nhưng lại bớt lo. Gia đình cách mạng nằm trong đường dây tổ chức, chuyến vượt biên sẽ an toàn. Đón rồi ém ba chúng tôi trong nhà, ông bà Ba làm y như trước đây với cán bộ Việt Cộng khi còn hoạt động. Niềm tin vào chủ thuyết Cộng Sản chỉ còn trên giấy và trong khẩu hiệu. Tôi mỉm cười vì ý nghĩ trong lòng, chợt nghe anh Hai Nghệ nói:

– Mình đi bằng ta xi đến điểm hẹn tối khuya nay. Khi đủ khách, cá lớn chạy khoảng 4 tiếng đồng hồ thì sẽ gặp biển.

– Bốn tiếng đồng hồ gặp được biển. Sao nhanh giữ vậy anh? Tôi hỏi.

– Đây với biển gần lắm mấy em. Anh Hai Nghệ trả lời.

– Các cháu có tắm rửa, thay đồ gì thì làm ngay bây giờ chứ để xuống dưới ghe rồi đi mấy ngày mới tới bển khó chịu lắm. Bà Ba chen vào.

Hai Nghệ ra bên ngoài nhà xách thêm nước đổ vào lu trong buồng tắm cho 3 người chúng tôi. Hai cô gái lần lượt đi tắm trước để mình tôi ngồi với hai ông bà. Ông Ba cho biết trong vùng chỗ nào cũng gặp kênh rạch cùng nhà cửa cất sát bên cạnh. Đi đâu một bước phải dùng xuồng hay ghe. Nhà dù giàu hay nghèo cũng phải có cái xuồng, chiếc ghe để làm chân đi. Ai không có ghe có xuồng  rất bất tiện. Ghe xuồng ở đây như xe gắn máy 2 bánh của dân thành phố. Hỏi về các tấm biển tổ quốc ghi công hoặc huân chương kháng chiến, bà Ba nói của hai người con một nam một nữ đã chết từ lâu. Cô gái út còn sống là vợ anh Hai Nghệ. Điều tôi không ngờ, anh Hai Nghệ đi lính Sư đoàn 7 bộ binh VNCH. Nhiều gia đình tại Việt Nam có tình trạng tréo ngoe tương tự. Người ở bên phía VNCH, người đi theo phe Việt Cộng.

– Anh Hai lính chế độ cũ hả bác? Anh có đi chuyến tối nay không? Tôi hỏi ông Ba.

– Nó muốn đi lúc nào mà không được cháu, nhưng nó nói tiếng Tây tiếng U không biết sang đó làm giống gì ăn. Cháu coi, đi đâu cũng phải làm mà ở đây sống dễ chịu quá nên vượt biên làm chi. Lại nữa, nó nói bây giờ bắt đầu có tuổi rồi, còn ham hố gì. Ông Ba cười nụ, trả lời.

Thiệt tình! Người muốn vượt biên lúc nào cũng có dịp lại không thèm, người tìm đủ cách vẫn không ra. Thậm chí có người bị lừa mất vàng, bị bắt còn chưa sờ tay được vào thân cá lớn nữa.

Anh Hai Nghệ châm thêm nước xong, hối tôi đi tắm. Những giọt nước mát xối lên người cho tôi một cảm giác khoan khoái dễ chịu vô cùng. Tôi thử hớp một ngụm nước, nó có vị lờ lợ nhưng cũng rửa sạch lớp cặn mồ hôi bám lên tóc lên người trong suốt thời gian rời khỏi nhà người cậu ruột cho tới giờ. Tắm xong, tôi giặt vội bộ quần áo và đem phơi nó trên hàng dây bên hông tường. Gió từ hướng vườn cây đằng sau nhà thổi rất mạnh. Gió cùng hơi nóng buổi chiều sẽ làm bộ quần áo mau khô để tôi mang theo tối khuya nay. Đằng sau căn nhà ông bà Ba, chục khạp mầu nâu hình quả dừa chứa nước mưa để uống để nấu ăn được đậy kín miệng nằm dưới chòi lá. Nước sinh hoạt tắm giặt, gia đình ông bà Ba lấy từ con rạch gần nhà. Cơn triều lên, họ kín nước đổ đầy lu, phi sắt rồi đánh phèn làm trong trước khi dùng. Sau chòi lá, hàng cây ăn trái xum xuê cùng các bụi chuối thấp thoáng. Điệu lý cải lương réo rắt từ máy cassette xa xa vọng lại lúc nhỏ lúc to trong tiếng gió.

Vùng đồng quê miền sông nước thật êm ả, bình dị khác với vùng Hố Nai ồn ào chỗ nhà cậu mợ tôi. Giờ này chắc mẹ tôi đã về nhà dưới Sài Gòn. Lúc còn ở nhà cậu mợ, bà kể gã thanh niên trẻ chạy xe đến đón đã chưng hửng khi nghe nói có người ghé nhà chở tôi đi khỏi không lâu. Nghe vậy, gã thanh niên vọt xe máy chạy liền và chiều hôm đó quay lại nhà tôi với một công an khác. Hai gã hỏi người trong gia đình về chuyện đón tôi đi lúc trưa. Mẹ tôi đành phải xí gạt:  ” Hai chú không tin lời thì cứ đi vào nhà mà xét xem coi có thằng con tôi không? Hỏi hoài, mệt quá đi! “.  Dò la mãi không ra manh mối, hai gã công an hậm hực bỏ đi. Em gái tôi cho biết thằng Minh vẫn biệt tăm tích chưa về.

Người dân sống trong vùng sông nước ở đây trồng nhiều loại cây ăn trái như cam, mãng cầu, ổi, mít, xoài, chuối… và loại trái nào cũng ăn rất ngọt. Dọc đường đi, tôi đã qua các vườn cây rậm rạp, trù phú nhưng thấy chỉ có dừa được trồng nhiều nhất. Đủ loại dừa từ loại dừa lửa nhỏ trái, dừa bị xanh to hoặc dừa xiêm vừa vừa cho nước uống ngọt thanh. Dừa nhiều, dân trong vùng làm thành kẹo dẻo ăn rất ngon. Trời tối hẳn, bà Ba dọn cơm ra bàn cùng ăn chung với ba chúng tôi bữa tối cuối cùng ở nhà. Kinh nghiệm từ các chuyến đi vượt biên, tôi không dám ăn no trước khi xuống ghe. Đào, Bẩy cũng sợ say sóng sẽ ói nên chỉ lùa vài miếng qua loa. Bữa cơm chấm dứt mau lẹ, bà Ba dọn dẹp rồi mang nước lá dứa nóng và kẹo dừa ra bàn. Anh Hai Nghệ ghé miệng vào sát ngọn đèn dầu hỏa, bập vài hơi mồi lửa điếu thuốc rê rồi nói:

– Bây giờ mấy đứa có buồn ngủ thì ngủ ngay đi còn không ngồi chơi với tía má anh. Có kẹo ngọt nước nóng cứ nhâm nhi cho vui miệng. Anh đi liên lạc xem đưa đón ra sao khuya nay.

Ba người chúng tôi vẫn ngồi yên chỗ, sắp xuống taxi có ai ngủ được. Đào, Bẩy mặc bộ quần áo mầu đen cho tiệp với bóng đêm, tôi thì bộ đồ công nhân xanh cũ. Trong ánh đèn dầu vàng mờ, chúng tôi quây quần như người cùng một gia đình trò chuyện sau bữa cơm tối. Bà Ba thỉnh thoảng châm thêm nước cho mọi người uống, xởi lởi:

– Từ đây ra ngoài vàm không xa đâu. Lên được ghe lớn rồi chịu cực vài bữa mấy cháu tới bển liền.

Ông Ba hỏi thăm về gia đình tôi ở Sài Gòn. Từ hôm trú ẩn trong căn buồng gói cho tới giờ mới có dịp ngồi cạnh ông, tôi muốn hỏi nhiều việc để biết. Vùng này gần biển, dân cư đã sống từ lâu hay mới về lập vườn lúc gần đây. Không biết thời còn chiến tranh có ai sống đây không hay chỉ thuần một vùng đất hoang? Nhìn các tấm ảnh thờ trên tủ và những tấm biển ghi công huân chương, tự nhiên tôi tò mò:

– Hai người này chết chắc lâu? Gia đình bác liệt sĩ cách mạng hả?

Nghe câu tôi hỏi, ông Ba nhăn mặt im lặng, bà Ba cũng ngưng chuyện dở dang với hai cô gái và khẽ liếc mắt nhìn tôi. Thấy cử chỉ của hai ông bà, tôi chột dạ thầm nghĩ mình vụng về đã làm hỏng bầu không khí đang vui. Tôi vội lập bập với ông:

– Cháu lỡ lời làm bác giận, xin bác…

– Đừng hỏi chuyện ngày xưa nữa mậy. Gia đình tao dám chứa tụi bây vượt biên thì cũng đủ hiểu rồi mà còn bá láp. Mầy làm tao ghét quá! Thằng Bắc Kỳ con. Ông Ba khoát tay, đột ngột đổi cách xưng hô.

Nói xong câu, ông hầm hầm ngồi yên và xoay mặt nhìn qua chỗ khác. Tôi thật dở ẹt khi hỏi kiểu điều tra về chuyện riêng gia đình làm ông Ba hiểu lầm, đành luống cuống ngồi im. Đào và Bẩy không biết rõ chuyện nhưng kín đáo nhìn tôi với ánh mắt trách cứ. Không khí im lặng ngột ngạt, tôi chưa biết phải làm gì, chợt bà Ba xen vào:

– Ông này, có gì chấp nhứt mấy đứa cho mất vui. Lại còn Bắc Kỳ với Nam Kỳ nữa!

Dứt câu bà cười xòa nhìn cả ba chúng tôi đầy thân thiện, thông cảm. Ông Ba không nói một lời, đứng lên bỏ đi vào trong buồng riêng. Tôi liền xin phép bà Ba đi nằm nghỉ ở bộ ván ngựa. Đào, Bẩy tản ra lấy giỏ sách rồi sắp xếp lại quần áo cùng vật dụng bên trong. Nằm trên bộ ván, tôi nhắm mắt vờ ngủ nhưng mong chuyến taxi mau đến. Đồng hồ trên tay đã 8:17 tối.

Gần tiếng đồng hồ sau thì anh Hai Nghệ về tới và hối ba chúng tôi theo chân đi ngay. Bà Ba ở lại coi nhà, cả bọn cùng kéo nhau ra bên ngoài. Xuyên qua các tàn lá cây trong vườn, bầu trời trên cao vắng lặng đầy sao không một gợn mây. Anh Hai Nghệ cầm đèn pin đi trước dẫn đường, gió thổi nhẹ lay động những tàu lá chuối cùng các cành của bụi cây thấp. Chúng tôi băng qua vườn cây cùng những con mương nhỏ dẫn nước đến chỗ taxi là chiếc xuồng ba lá đang nằm chờ sẵn dưới hàng dừa cạnh một con rạch. Hai cô gái bước xuống xuồng, tôi đứng lại từ giã anh Hai Nghệ. Quay qua ông Ba, tôi ấp úng xin lỗi về chuyện lỡ lời làm ông giận khiến anh Hai Nghệ ngạc nhiên nhìn trân trối. Nghe tôi nói, ông Ba cười độ lượng, nắm chặt tay ân cần:

– Cháu đừng bận tâm chuyện đó nữa… bác cũng nóng, giờ đã quên hết. Thằng Hai gốc lính Cộng Hoà còn làm rể trong nhà thì cháu phải hiểu gia đình bác. Chúc cháu với hai cô tối nay đi đường bình an.

Tôi ngồi vào giữa xuồng đối mặt với cô Bẩy đằng trước và cô Đào sau lưng. Hai người đàn ông chèo xuồng dặn cả ba tuyệt đối ngồi yên, giữ im lặng. Xuồng bắt đầu tiến nhè nhẹ giữa hai bờ rạch tối đen, cây cối lùm xùm. Quen đường đi nước bước, hai người phu dễ dàng chèo chiếc xuồng ra khỏi con rạch và nhập vào dòng kênh rộng hơn. Cứ vậy, xuồng ba lá chạy gần một giờ thì gặp sông lớn. Trăng lờ mờ hiện ra ở đường chân trời. Gió xuôi cùng con nước ròng giúp hai người phu chèo xuồng thật nhanh thật nhẹ. Nước chảy rất xiết nên xuồng chỉ dám chạy sát bờ trong làn hơi nước từ mặt sông hòa với gió thổi mát lạnh. Nhìn mặt nước rộng, tôi không thấy được phía bờ đối diện và cũng không rõ đang ở trên sông nào? Khi chia tay ở xa cảng miền Tây, em gái tôi cho biết có thể cá lớn sẽ ra biển bằng ngã Bình Đại nhưng lại không chắc. Đám tổ chức đã chở tôi vượt qua Mỏ Cày trước khi xuống tới Rạch Dầu-Thạnh Phú. Từ đây muốn đến Bình Đại phải qua Giồng Trôm và như vậy tôi phải ở phía bên kia sông lớn. Hồi còn học giờ địa lý bậc trung học, tôi nhớ Bến Tre thông ra biển bằng các cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và cửa Đại. Học từ lâu nay đã quên hết, định buột miệng hỏi hai người phu nhưng nhớ lời họ đã dặn nên tôi ngồi im. Cửa sông nào cũng được, miễn sao cá lớn ra biển an toàn, tôi nhủ thầm.

Ngồi yên lại nhớ chuyến đi không thành vừa qua, nhớ về mẹ tôi cùng các cô em gái trong nhà. Nhớ những lúc ngủ ngồi gà gật liền mấy ngày trong căn buồng đầy rệp đói và chuyện vô tình khiến cho ông Ba hiểu lầm. Thường thì người hiền lành ít nói như ông Ba lại có tính rất cục, lẽ ra tôi không nên hỏi vớ vẩn với ông. Đột nhiên tôi nhớ mình đã bỏ quên bộ quần áo giặt sạch phơi bên hông nhà hồi lúc chiều.

Chạy trên dòng sông lớn chưa lâu, ba người khách chúng tôi một phen hốt hoảng khi bị một ghe gắn máy chận lại. Hai người phu chèo xuồng vội cập sát vào chiếc ghe máy đó và giúp cả ba trèo qua. Bóng điện nhỏ xíu gắn bên vách mái ghe soi sáng một dãy hơn mười người ngồi bó gối trong khoang che kín mít. Tiếng máy ghe nổ đều nhẹ, không ai nói với ai một lời, cứ im lặng tuân theo sắp xếp của người tổ chức. Ba chúng tôi chui vào ngồi yên xong xuôi, ghe máy tách khỏi xuồng ba lá rồi tăng tốc chạy tiếp. Đây mới ghe taxi, xuồng chèo tay vừa rồi chỉ chuyển tiếp vì nó không thể chở khách đến thẳng cá lớn đang chờ đâu đó trên mặt sông rộng. Ghe taxi có lúc giảm tốc độ rồi lại chạy thật nhanh hoặc đảo hướng chạy ngược về đoạn sông cũ. Khách ngồi trong khoang ai cũng lo sợ, căng thẳng. Sát bên tôi, cô Đào thở hắt từng hơi hồi hộp.

Quần tới quần lui cả hơn nửa giờ đồng hồ trên sông, ghe taxi mới gặp được cá lớn. Ghe chậm dần và cập lại bên hông cá lớn trong sự vui mừng của khách vượt biên. Lần lượt từng người chui ra khỏi ghe taxi và nhanh chóng trèo sang cá lớn. Tôi chui ra sau cùng, trèo qua đứng loay hoay trên mặt sàn cá lớn. Gió trên sông thổi mạnh hơn cùng tiếng nước vỗ vào thân ghe làm tôi có cảm giác sờ sợ. Một người đứng gần liền cầm tay tôi, ấn tôi chui tọt ngay xuống khoang hầm. Trong khoang hầm, mùi dầu máy, hơi người quyện cùng mùi dầu gió xanh con ó nồng nặc. Cái mùi quen thuộc trong các chuyến vượt biên khi trước. Cá lớn chạy chầm chậm nhận thêm khách chuyển tiếp ở các ghe taxi khác. Khoang hầm càng lúc càng đông người cho đến khi có tiếng phản đối:

– Chỗ đâu nữa mà nhét hả các cha nội.

Nói thì nói, khách vẫn được chuyển tiếp lên cá lớn và nhồi xuống luôn khoang hầm. Thật lạ lùng, đông người vậy mà vẫn đủ chỗ. Nam hay nữ gì bất kể, mặt kề sát vào lưng hoặc đè lên chân lên thân của nhau.Tôi thấy khó chịu, phải ngửa mặt lên ô trống cửa khoang hầm mong tìm chút không khí để thở. Chắc chắn sẽ có người xỉu nếu cứ ở lâu trong khoang hầm tối đen nóng nực, ngột ngạt và chật chội. Chợt tiếng người trên mặt sàn ghe nói vọng xuống:

– Cá lớn bắt đầu chạy, tụi tui phải đậy kín nắp hầm đó. Ráng chịu đựng một chút nghe bà con.

Tiếng máy nổ to hơn, cá lớn rùng mình và từ từ tăng tốc độ. Tiếng nước vuốt sát vào ván thân ghe kêu rào rạo. Cá lớn chạy rồi, ai nấy thở phào mừng rỡ. Nắp khoang hầm nói đậy kín nhưng chỉ che hờ, nhờ vậy gió bên ngoài thổi tốc xuống dưới làm không khí bớt ngộp bớt nóng. Tôi mỏi mệt khắp cả người, cảm giác tê dại lan dần xuống hai đùi rồi hai chân nhưng vẫn không cách nào nhúc nhích thân mình được. Cá lớn chạy được một lúc khá lâu thì người ngồi ngay trước mặt giơ hai tay choàng vào cổ tôi và sau đó gục hẳn đầu xuống. Từ từ người đó chúi đầu vào ngực tôi, xòa những lọn tóc dài phủ trên hai cánh tay. Một cô gái và không phải Đào hay Bẩy vì mầu áo trắng nhờ nhờ. Cô gái này chúi đầu mãi thì làm sao có thể thở được và sẽ càng say sóng hơn. Nghĩ vậy, dùng hai tay, tôi nâng người cô ta ngồi thẳng dậy rồi nói:

– Cô ráng ngửa mặt lên mà thở, sẽ thấy dễ chịu. Đừng cúi đầu xuống mãi, chóng mặt lắm.

Làm theo lời vừa nghe nhưng chỉ được chốc lát, cô ta lại chúi đầu tiếp vào ngực tôi. Mỗi lần như vậy tôi phải nâng người cô ngồi thẳng lên. Tôi cũng quá sức mệt mỏi rồi thiếp đi cho đến khi cửa hầm được mở hẳn ra, kéo theo luồng không khí mát lạnh vào khoang kèm cùng lời báo.

– Mình ra biển lớn rồi bà con ơi. Ra biển lớn rồi!

Không một tiếng người trong khoang hầm đáp lại. Ai nấy đều mệt nhoài vì say sóng vì ngồi mãi một thế trong chỗ ngột ngạt. Ra tới biển lớn, không khí trong khoang ghe bớt ngộp thì một cảm giác khó chịu khác xuất hiện. Sóng biển vỗ mạnh vào thân ghe làm mọi người nôn nao, bần thần say sẩm. Tôi bắt đầu chóng mặt và buồn ói dù trong bụng lép xẹp. Lúc chiều khi ở nhà ông bà Ba, tôi chỉ ăn uống qua loa nên giờ thức ăn trong bụng đã tiêu hết. Buồn ói nhưng chỉ ợ toàn hơi nhưng nhờ ợ được mới thấy dễ chịu trong người. Chung quanh tôi, tiếng người rên vì mệt vì kiệt sức hoặc vì nôn ọe. Một dòng âm ấm chảy từ từ xuống ngực rồi lan xuống bụng tôi, cô gái ngồi trước mặt đã ói. Cô ta tiếp tục ợ rồi ói luôn vào người tôi. Được một lúc, cô thì thào:

– Em mệt lắm anh ơi. Em xin lỗi anh… Khó chịu quá, chắc em chết.

Nghe giọng cô, tôi biết là người miền Bắc và còn trẻ. Ngửa mặt lên, cô ta rùng mình nhiều lần rồi lại ói nữa. Mùi chua nước chanh pha lẫn mùi béo hủ tiếu mì cùng mùi thịt nướng bốc lên từ bệt ói trên người, tôi ghê quá, rồi nghĩ mình mặc duy nhất bộ quần áo lấy đâu ra bộ khác để thay. Ói đầy người tôi, cô gái này làm phiền quá nhưng cũng không trách được. Khoang hầm tối hù không ai biết mặt ai, người nằm rũ đè lên người khác. Chỗ nào cũng bê bết những vệt nước bẩn, đồ ói của nhau. Có người càu nhàu, than vãn vì bị nước đái thấm ướt người.

Cá lớn cứ chạy cho đến khi trời sáng dần. Ánh sáng chiếu vào mới thấy có quá đông người trong khoang hầm. Người lớn, trẻ em, nam và nữ… san sát bên nhau trong một không gian nhỏ xíu. Người người bó gối, cong lưng, nằm ngang, dựa ngửa, nửa đứng nửa ngồi lom khom sát vách hầm hoặc đè lên nhau chịu đựng. Ai nấy nhắm mắt như ngủ, gục đầu gật gù hoặc ngửa mặt lên phía cửa khoang. Trước chuyến đi nhiều người đã uống thuốc chống ói nhưng cũng chẳng ăn thua. Ói vẫn cứ ói. Cô gái ói vào người tôi mặc chiếc áo mầu hồng nhạt, ngồi gục đầu bất động rũ rượi. Tai tôi nghe có tiếng con nít kêu khóc đâu đó trong ghe rồi tiếng phụ nữ dỗ nhè nhẹ. Trẻ em đi cùng cha mẹ trên cá lớn và chúng đang ở đâu? Trong khoang hầm bên cạnh hay ở trên buồng máy? Được một lát tôi lại ngủ thiếp đi, ngủ rồi thức sau đó lại ngủ tiếp cho đến lúc có tiếng người vọng xuống báo tin cá lớn đã ra khỏi vùng biển Việt Nam.

Cá lớn đã ra khỏi vùng biển Việt Nam, chúng tôi đã thoát tay công an biên phòng. Tài công cho phép ai muốn lên trên mặt ghe thì lên nhưng phải cẩn thận khi đi lại. Rủi bị rớt xuống biển không ai biết thì ráng chịu mà ngay cả có người trông thấy cũng chưa chắc ghe sẽ quay lại vớt. Các tài công nói thêm nếu ai cảm thấy ở dưới khoang ghe được thì cứ ở dưới, đông người trên mặt sàn ghe cũng không tốt. Nghe xong, vài người ngồi gần cửa hầm đã lấy sức đu thân trèo hẳn lên trên rồi lại có thêm một số người khác leo ra tiếp.

Không khí ở khoang hầm bớt nóng nhưng mùi đồ ói, mùi nước tiểu, mùi dầu máy ghe hoà với mùi dầu gió xanh vẫn nồng nặc khiến tôi nghĩ mình phải ra khỏi đây. Liền đó, tôi lách người kéo cô gái ngồi dậy và nhẹ nhàng dời cô dựa lưng vào sát vách ghe. Cô ta ngửa mặt lên hé mắt nhìn tôi, miệng thều thào: ” Em cám ơn anh “. Đúng như tôi nghĩ lúc khuya, cô gái này còn rất trẻ, chắc trên dưới 20 tuổi. Nét mặt cô mệt mỏi, tiều tụy nhưng trông rất xinh. Bước tới chỗ nắp cửa hầm, lấy sức, tôi đã chồm tới được và một người ngồi ngay cạnh liền nắm tay giúp leo hẳn lên.

Trên mặt sàn ghe đầy nhóc người ngồi nằm la liệt bên nhau. Nhìn đồng hồ đeo tay đã 6:25 chiều, tôi cúi người lết lại một chỗ trống gần phía mũi ghe và nằm ngửa vật ra đó. Cá lớn vẫn chạy băng băng có lúc cỡi sóng làm văng nước tung toé vào mặt vào người bọn chúng tôi nhưng vẫn thật dễ chịu so với lúc chen nhau chật cứng dưới khoang hầm. Trời xâm xẩm tối dần rồi đêm hẳn. Bầu trời trong vắt đầy sao lấp lánh, cá lớn chạy hết tốc lực mà tôi cảm giác mình vẫn đang nằm yên tại chỗ. Tôi luồn tay nắm chặt đoạn dây thừng nối từ mũi ghe cho an toàn và cứ nằm yên cho đến lúc lại ngủ thiếp nữa. Rồi thức rồi ngủ trong đêm dần dần qua cho đến khi trời bình minh. Một tròng đỏ trứng gà từ từ nhô lên trên mặt biển xanh ở phía đông xiên xiên cạnh bên thân cá lớn. Bóng tròn đỏ mặt trời lơ lửng trên bầu trời buổi sớm mai và in hình phản chiếu trong làn sương mờ của mặt nước xanh dương không một gợn mây. Cảnh bình minh trên biển trông thật đẹp. Đã qua cơn say sóng, tôi ngồi nhổm thẳng dậy nhìn xuống quần áo mình. Những bệt loang lổ đã khô của thức ăn ói hồi khuya giờ dính cứng trên mặt vải. Thầm nghĩ mình bẩn quá nhưng lấy đâu ra quần áo sạch để thay! Không thấy Đào và Bẩy trong số người ngồi trên mặt sàn ghe, tài công đã ém hai cô gái vào chỗ nào trong đêm tối khi từ ghe taxi chuyển sang? Bây giờ, tình trạng hai cô ra sao?

Không còn say sóng, tôi đi lần ra đằng sau cá lớn, nhìn vào buồng lái thấy khá đông phụ nữ cùng trẻ em chen chúc sát bên nhau trên cái sập gỗ. Phần đuôi ghe sau buồng lái cũng đầy người đang ngồi hoặc nằm la liệt ở mặt sàn hầm máy tàu. Hai phụ nữ đang lui cui nhóm lửa bếp dầu hôi để chuẩn bị nấu bữa ăn. Một cái nồi khá lớn đầy mì gói bẻ vụn, cơm nguội và thịt băm nhỏ để trong dĩa ngay bên cạnh. Gần đó, một phi nhựa lớn nước lã được người đàn ông trộng tuổi ngồi kế bên canh giữ. Tôi lại gần xin ông ta chút nước uống. Ông liền mở nắp phi nhựa, múc ít nước bằng cái ca mủ nhỏ xíu đưa cho tôi rồi nói:

– Uống vậy thôi nha cậu, còn phải để dành cho người khác nữa.

Mì nấu chín, hai phụ nữ múc lần lượt cho từng người một bát nhỏ. Nhận bát mì, có người cố nuốt lấy sức nhưng vài người lắc đầu từ chối. Từ lúc xuống cá lớn tới giờ không một chút gì bỏ bụng nên khi bát cháo chuyền đến, tôi cầm lấy và húp liền từng ngụm. Cháo nấu lạt nhách. Hai người phụ nữ đã cố ý nấu cháo lạt vì những gói bột nêm còn nguyên nằm cạnh bếp lò. Cho bột nêm vào nồi cháo, người trên cá lớn khi ăn xong sẽ phải uống thêm nước mà nước rất giới hạn cho từng người.

Cá lớn vẫn chạy êm ả suốt trọn buổi sáng trên mặt biển bao la, vắng lặng không một bóng tầu. Những người ngồi nằm gần bên tôi vẫn lừ đừ cơn say sóng. Cả bọn chúng tôi mệt mỏi, áo quần bẩn thỉu nhìn nhau không ai buồn nói chuyện với ai. Có anh thanh niên nằm như đang ngủ chợt ngồi nhổm dậy, lết đến sát mép ghe và ói ra chút nước đặc quánh mầu vàng. Anh ta đã ói ra mật? Nhìn đồng hồ trên tay đã 2: 45 chiều, chợt tai tôi nghe tiếng nói lớn:

– Ê! Hình như có tàu lạ đuổi theo ghe mình bà con ơi.

Nghe lời báo động, tôi đứng hẳn người lên nhìn ở mé sau cá lớn. Lờ mờ một chấm đen nhỏ bằng cỡ hạt đậu xanh tuốt tận đằng xa xa. Vài người khác cố đứng lên nhìn chấm nhỏ đó rồi có tiếng hỏi:

– Sao ông biết tàu đó đuổi theo ghe mình! Có chắc không?

– Tui để ý cả tiếng đồng hồ từ lúc nó mới chỉ như một cái chấm. Nó cứ chạy theo mình, có vẻ càng lúc càng nhanh hơn. Tui phải báo tin cho mấy cha tài công biết.

Dứt câu, người đó đi vào trong buồng lái ghe và ngay sau quay trở ra với một người đàn ông trung niên vẻ mặt mệt mỏi như vừa thức dậy sau giấc ngủ vùi. Bước đến gần chỗ chúng tôi, ông đó lấy tay che mắt, tránh những tia nắng phản chiếu từ mặt nước biển để nhìn cái chấm đen. Đứng yên im lặng suy nghĩ trong chốc lát rồi hướng mặt về buồng lái, ông ta nói:

– Thử đổi hướng khác xem sao Thuận ơi.

Ông này là chủ ghe và chỉ huy đám tài công cùng thợ máy trên cá lớn? Khuôn mặt ông xương xương, để râu mép, da hơi đen, thân người gầy gò và dáng vẻ khắc khổ. Ông đến cạnh phi nhựa đựng nước lã, người đàn ông ngồi đó đưa ngay ra một ca mủ lớn. Ông cầm và múc một ca nước đầy đến miệng. Uống ngay vài ngụm rồi bước ra sát mép ghe, ông đổ nước vào tay thấm ướt mặt, xúc miệng lục bục rồi sau đó nhổ thẳng xuống biển. Đúng là xếp xòng vì người đàn ông ngồi giữ phi nước không hề phàn nàn gì, lại hỏi:

– Có lấy thêm nước nữa không anh Tám?

– Không. Vậy đủ rồi anh. Ông ta lắc đầu.

Cá lớn đã đổi hướng chạy, cả bọn chúng tôi ngồi yên nghĩ mọi việc đã qua mối lo nhưng không lâu sau, người đàn ông tên Tám cau mặt, lẩm bẩm:

– Cha chả! Nó cũng đổi hướng chạy theo mình cà. Thuận ơi, đổi hướng khác lần nữa xem mậy.

Tàu lạ cũng đổi hướng bám theo cá lớn chúng tôi. Người đàn ông tên Tám quay vô buồng lái rồi trở ra tay cầm theo một cái ống nhòm khá lớn. Loại ống nhòm quân đội  VNCH trước đây thường dùng. Ông ta đứng dựa lưng sát vào cột gỗ sau buồng lái, chỉa ống nhòm nhìn về chấm đen. Ông im lặng quan sát khá lâu rồi đưa cái ống nhòm cho vài người chung quanh của nhóm tổ chức. Họ lần lượt chuyền tay cái ống nhòm nhìn con tàu lạ. Người đàn ông tên Tám ra lệnh:

– Thuận ơi! Cho máy chạy hết tốc lực đi.

Đám người tổ chức ngồi hẳn xuống sàn ghe ngay cái bếp nấu, mặt người nào người nấy nhìn nhau căng thẳng. Vài người ngồi gần hỏi mượn cái ống nhòm để nhìn con tàu lạ. Đến phiên tôi, nghĩ mình thử nhìn xem con tàu lạ ra sao! Tôi hướng ống nhòm nhìn cái chấm đen xám. Nó lớn hơn khi nhìn so với bên ngoài nhưng khó mà đoán được hình dáng thực. Chỉ biết tàu lạ vẫn cố bám theo sau chúng tôi. Tôi chuyền cái ống nhòm cho người khác. Người đàn ông tên Tám trấn an bảo ai nấy bình tĩnh đừng lo lắng gì. Ông giao cái ống nhòm cho một thanh niên và dặn tiếp tục theo dõi. Nghe lời ông, đám chúng tôi tản ra nhưng trong bụng ai cũng vẫn mối lo.

Cá lớn chạy mãi cho đến khi trời và nước đổi sang màu xám của hoàng hôn. Chiều xuống, gió thổi càng lúc càng dữ dội và vì vậy mặt biển nổi đầy những cơn sóng khá mạnh làm ai cũng sợ. Trời đã 5 giờ rồi 6 giờ… mặt biển dần xẩm tối và sóng nhẹ hơn trước. Anh thanh niên cầm ống nhòm cất tiếng gọi:

– Anh Tám ơi lại xem ngay nè, có thêm một tàu nữa đuổi theo ghe mình đó.

Nghe báo, chúng tôi vội đứng lên nhìn và sau đó lại chuyền tay nhau cái ống nhòm. Rõ ràng thấp thoáng thêm tàu thứ hai chạy xiên xiên nhắm hướng về cá lớn trong làn sóng nhấp nhô. Tài công Thuận cho máy chạy hết tốc lực nhưng khoảng cách giữa hai bên đã gần hơn trước nên người trên ghe thấy rõ hình ảnh của hai tàu lạ. Với tôi, chúng trông rất quen và thôi chết, tôi đã nhận ra hai tàu đánh cá Thái Lan. Quay đầu nhìn nhóm người của ông Tám, tôi định nói cho họ biết về ý nghĩ của mình thì một thanh niên thì thào:

– Hai tàu đánh cá Thái Lan. Mình gặp bọn hải tặc rồi.

Ai có mặt tại chỗ đều nghe rất rõ lời anh thanh niên. Một luồng ớn lạnh chạy dọc cơ thể hằn lên nỗi sợ hãi trên mặt mọi người chúng tôi. Người đàn ông tên Tám vụt đứng lên, vỗ hai tay vào nhau và nói lớn:

– Nghe đây, nghe đây! Chúng ta đang cơn nguy hiểm bà con ơi. Rồi ông tiếp liền một hơi: ” Tàu hải tặc theo sát ghe mình. Tui là Tám Kiệt, chủ ghe này. Mong bà con bình tĩnh góp sức với anh em tui để chống lại bọn chúng “.

Tám Kiệt cho biết trước khi vượt biên, dự trù ghe có thể gặp tàu công an hoặc bọn hải tặc truy đuổi nên ông đã đích thân xem xét thân ghe thật kỹ, cho gắn máy mới và mang theo ít vũ khí phòng thân. Ông tiếp:

– Tụi tui có một quả da láng (lựu đạn M 26 hình tròn, vỏ láng bóng như quả vú sữa) và hai trái mini (lựu đạn trái nhỏ, các đơn vị biệt kích quân đội VNCH thường sử dụng). Súng thì một AK 47 báng gấp và một Cabin cưa bỏ báng gỗ. Đạn mỗi súng chỉ có một băng 30 viên thôi. Rất cần các anh các chú giúp, ai từng đi lính quốc gia hoặc bộ đội hãy ra góp sức với tụi tui ngay.

Những người có mặt trên sàn cá lớn không còn cảm thấy say sóng hay buồn ngủ nữa, ai nấy đều tỉnh hẳn. Tám Kiệt vừa dứt lời, tiếng vài người nói ngay: ” Chú ơi để cháu sử dụng cây AK cho ” hoặc ” Anh để tôi thủ cây Cabin nghe “. Tiếng một người khác: ” Đưa tui trái mini đi, tui ném chết mẹ tụi nó luôn “. Trong chốc lát những người hưởng ứng ngồi quây quần chung quanh Tám Kiệt và một phương án tác chiến cấp tốc được họ vạch ra. Kinh nghiệm từ những ghe vượt biên gặp hải tặc trước đây kể lại trong thư gửi về cho thân nhân thì hai tàu hải tặc sẽ chạy ép ghe chúng tôi vào giữa. Ép cho đến khi ghe vượt biên phải ngừng lại, chúng sẽ nhẩy qua dở trò. Tám Kiệt cho biết khi hai tàu hải tặc áp sát bên cá lớn thì đúng dịp thuận tiện gần tầm tay nhất, người thủ lựu đạn phải mở kíp ném thẳng sao cho lọt vào tàu hải tặc. Ném lọt được xuống hầm máy tàu chúng càng tốt. Người thủ súng AK hay Cabin phải hổ trợ bắn gục ngay bất kỳ tên hải tặc nào định nhào qua hay vừa nhẩy sang được mặt sàn cá lớn.

Một người đàn ông nói giọng Bắc góp ý:

– Mini rút chốt xong sẽ nổ lập tức khi ném và sức sát thương rất lớn. Do vậy, tôi đề nghị hai quả mini được ném liên tiếp ngay vào hai tàu chúng. Ai cầm quả da láng phải hờm sẵn trong tay, nếu thấy quả mini nào không nổ hoặc nổ nhưng không phá được tàu chúng thì phải ném bồi tiếp quả da láng liền. Nhớ nghe, mini rút chốt phải ném ngay. Da láng rút chốt rồi phải đếm từ một đến năm mới được ném. Ném sớm quá, coi chừng bọn hải tặc nhặt được rồi quăng lại bên ghe mình thì khốn.
Tất cả những điều họ nói ra thật đúng. Phải chờ khi hai tàu hải tặc Thái sáp lại cạnh bên hông cá lớn đúng tầm và ném được lựu đạn lọt vào trong tàu chúng thì chúng tôi mới có hy vọng thoát nạn. Điều quan trọng đừng để bọn hải tặc biết trên cá lớn có vũ khí vì như vậy chúng sẽ húc thẳng cho bể ghe thay vì áp sát vào để bắt sống người.

– Mình có ống nhòm, biết đâu chúng cũng có để theo dõi mình đó. Cẩn thận đừng để chúng thấy vũ khí mình cầm trong tay. Một người khác góp ý.

Cầm cây viết, Tám Kiệt vẽ phác hình hai tàu Thái Lan kè sát cá lớn vào giữa. Thật không ngờ nét vẽ của ông khá đẹp. Cung cách và nét vẽ của ông ta, tôi nghĩ Tám Kiệt không phải một chủ ghe bình thường. Tám Kiệt cùng nhóm tác chiến sắp xếp vị trí phải đứng, thủ vũ khí gì trong tay để có thể tiếp ứng cho nhau trong việc đối đầu với hai tàu hải tặc. Chợt ánh đèn pha sáng rực từ hai tàu Thái chiếu thẳng vào ghe chúng tôi làm ai nấy chói mắt. Chúng vừa mở đèn và khoảng cách đã gần kề cá lớn hơn trước. Tám Kiệt lấy tay che mắt nhìn hai tàu Thái rồi nói:

– Nếu bọn chúng chỉ có một chiếc mình cũng chẳng sợ vì nó đuổi thì đuổi mình chạy cứ chạy. Tui biết ghe mình gắn máy Yanmar đời mới thật nhưng làm sao chạy bằng tàu Thái được, máy tàu tụi nó loại Ray 6 chạy nhanh hết biết nhưng mình cứ chạy hết tốc lực, nếu nó sáp lại gần thì mình tách ra. Giờ nó có tới hai chiếc thì việc lại khác, các anh các chú đã nhận trách nhiệm thì phải thật bình tĩnh đối phó với bọn chúng. Muốn tránh gặp chúng mà không được, mình đành phải tự bảo vệ lấy thôi. Lựu đạn khi nổ có thể sẽ văng miểng gây thương tích người trên ghe nhưng đành phải chịu. Giữa cái xấu và cái tồi tệ, chúng ta phải chọn cái xấu. Biết đâu bọn chúng cũng có súng và như vậy sẽ có người của phe mình bị thương hoặc chết. Chúng ta phải chấp nhận may rủi. Phải không?

Một người tham gia tác chiến phụ họa:

– Tàu hải tặc Thái chỉ có trên dưới mười thằng trong khi mình tới sáu bẩy chục nam giới và có cả vũ khí nữa, không lẽ chịu thua bọn chúng sao! Mình phải lì, bình tĩnh khi hành động và đừng có sợ tụi nó.

Ông ta nói đúng. Mỗi tàu đánh cá Thái Lan có rất ít ngư phủ. Ỉ tàu lớn và ghe vượt biên nhỏ nên chúng sáp lại ăn hiếp. Nếu gan dạ đối đầu, chưa chắc bọn chúng làm gì được ghe vượt biên. Chúng tôi phải can đảm đối mặt và không còn sự lựa chọn nào khác.

Đột nhiên có tiếng súng nổ từ hướng hai tàu Thái. Tiếng súng lại nổ tiếp từng phát một vang vang. Chúng bắn chỉ thiên hay bắn thẳng vào cá lớn? Tám Kiệt đã tiên liệu đúng, tàu hải tặc có súng. Tám Kiệt liền bảo khách ngồi trên sàn ghe chui xuống khoang hầm cho an toàn nhưng chỉ một vài người chịu nghe lời ông. Đã trải qua cái mệt, ngột ngạt khi ở dưới khoang hầm nên bây giờ bảo họ chui xuống trở lại rất khó. Chết thì chết, họ vẫn cứ ngồi trên mặt sàn ghe, chờ đợi những chuyện sắp sửa xẩy đến. Hai tàu Thái đến gần hơn, y chang những tàu hải tặc tôi đã gặp trong chuyến vượt biên kỳ trước. Dàn đèn pha sáng rực chiếu thẳng vào cá lớn cùng tiếng loa kêu stop… stop văng vẳng trong gió từ hướng hai tàu hải tặc. Bất chấp tiếng súng nổ tiếng loa gọi, cá lớn chúng tôi vẫn chạy. Sợ và dừng máy lại để chết vào tay chúng sao. Có mà điên! Đã có kế hoạch tác chiến rồi, hai tàu hải tặc áp sát lại hai bên hông cá lớn đi sẽ biết. Tám Kiệt lệnh lấy ngay túi vũ khí ra phân phát cho những người tác chiến và ông dặn phải thật khéo đừng để bọn tàu Thái trông thấy. Nhưng thật không ngờ! Túi đựng vũ khí không có trong cá lớn dù tay chân Tám Kiệt kiểm đi soát lại mọi ngóc ngách cùng các túi xách cá nhân ở trên ghe.

Không ai tìm thấy túi đựng vũ khí đâu cả mà hai tàu hải tặc đến quá gần cá lớn rồi. Chúng chạy song song với nhau chỉ để một khoảng hẹp giữa hai thân tàu. Khoảng hẹp dành để ép cứng cá lớn chúng tôi phải dừng đứng lại. Tám Kiệt hoảng hốt thật sự, thúc hối tìm bằng được túi đựng vũ khí ngay nhưng vô vọng. Ai đó trong nhóm tổ chức đã bỏ quên nó dưới một ghe taxi khi vội vã chuyển người sang cá lớn. Biết sự thực phũ phàng, Tám Kiệt ngồi bệt hẳn xuống sàn ghe, hai tay ôm đầu rầu rĩ. Thình lình ông ta đứng bật dậy, gầm lớn:

– Đ.M! Tụi chúng mầy làm ăn như con C. Việc quan trọng như vậy mà làm cũng không xong. Bây giờ lấy cái gì để chơi với tụi nó đây? Tao đã dặn đi dặn lại mà vẫn quên. Trời ơi là trời!

Tám Kiệt lảo đảo tiến đến dựa vào cây cột phần đuôi ghe, nhóm người tay chân im lặng nhìn ông rồi quay ngó nhau trong bối rối. Tám Kiệt từ từ ngồi bệt xuống sàn ghe, mặt thiểu não nhìn hai con tàu Thái, khẽ lẩm bẩm trách móc:

– Tao đã quá tin tưởng tụi bay… Lẽ ra phải tự tay tao làm…Tội nghiệp con tui vợ tui… Làm sao bây giờ?

Một hồi còi lảnh lót vang lên từ phía hai tàu Thái làm chúng tôi giật nẩy mình. Hồi còi như tiếng cười tiếng hú của loài ác thú sắp vồ được con mồi sau đoạn đường rượt đuổi. Tiếng hú đắc thắng trước con mồi nhỏ, cố chạy vì không phương chống cự và sắp sửa sa vào tay chúng. Tôi nhìn Tám Kiệt cùng đám người tay chân. Ánh mắt thất thần của họ làm tôi nhớ lại khuôn mặt của anh Tấn và hai tài công trong chuyến vượt biên vừa qua. Khuôn mặt hối lỗi vì một toan tính sai lầm để gây hậu quả không may cho cả ghe. Tôi thấy lại khuôn mặt của Ánh Phương và của Mỹ An đang hiển hiện trong ánh mắt các phụ nữ trên sập gỗ ở buồng lái cá lớn. Những phụ nữ, thiếu nữ vẻ mặt tuy tiều tụy nhưng vẫn xinh đẹp, hấp dẫn bọn quỷ sống. Chận được cá lớn tối nay, sau khi vơ vét tài sản thì có thể chúng chỉ bắt đi toàn bộ nữ giới và tha không giết đàn ông-thanh niên như ở ghe tôi vượt biên. Tôi nghĩ vậy nhưng cũng không chắc vì khi đó chuyến tôi đi đang ở trong vịnh Thái Lan nơi có nhiều ghe thuyền qua lại khiến chúng chùn tay. Giờ đây, cá lớn ở trong vùng biển quốc tế bao la và nhất là đang trong đêm tối. Bóng tối đồng lõa với tội ác, chắc chắn số phận bi thảm sẽ đến cho người trên cá lớn chỉ trong một chốc lát nữa. Vài thiếu nữ luống cuống cố thu mình trước ánh đèn pha hai tàu Thái và có người đã rấm rứt khóc.

Đám nam giới chúng tôi ngồi bất động yên lặng, không có vũ khí trong tay nên ai cũng mất tinh thần. Người nào người nấy nhìn nhau thầm hỏi biết làm cái gì để thoát tay hai tàu Thái. Tôi nghĩ về mẹ tôi cùng các em trai em gái trong nhà, mình vừa thoát tay công an giờ lại gặp bọn hải tặc. Tôi nhớ lời dặn dò của Hường nếu gặp chuyến vượt biên phải báo tin cho nàng biết để gia đình sắp xếp gửi Cao đi cùng. Mấy ngày ẩn náu ở nhà ông Ba, thâm tâm tôi đã ray rức vì không làm tròn điều Hường gửi gấm. Không ngờ như vậy lại may cho gia đình nàng. Tôi nghĩ tới thằng Dũng với lời nó từng kể: ” Số tao, mấy người coi tử vi nói đi vượt biên khó thành vì mệnh có cách ngựa què Chiết Túc Mã “ mà hoang mang hay mạng của bản thân mình cũng thế? Tôi đã gặp hải tặc một lần và đã thoát nhưng còn bây giờ? Thêm hồi còi lanh lảnh rít lên từ hai tàu Thái khiến tôi phải ngẩng mặt nhìn chúng. Một chữ T lớn nổi rõ ngay mũi con tàu cao vút phăng phăng lướt sóng theo sát sau chúng tôi. Tiếng loa stop… stop chung với tiếng còi vang vang làm ai nấy trong cá lớn khiếp đảm, tay chân run rẩy kinh hoàng. Ngồi thu mình cạnh cột gỗ, tôi cúi đầu lẩm bẩm: ” Mẹ ơi! Tàu Thái đến gần quá rồi, con sắp chết đây “.

Bất ngờ, thật bất ngờ. Một việc xẩy ra nhanh như cái chớp mắt và tương tự phép lạ đã giúp ghe vượt biên chúng tôi thoát tay bọn hải tặc chỉ trong gang tấc.

Sự việc xẩy đến thật nhanh và bất ngờ trong lúc tôi đang nghĩ về mẹ tôi. Người mẹ hiền, cao tuổi, suốt một đời lo lắng và săn sóc từng chút một khi tôi sống bên bà. Trong mắt bà, tôi vẫn chỉ đứa con trai bé nhỏ dù bây giờ đã hơn ba mươi tuổi. Tôi khiếp sợ lúc thấy hai con tàu Thái đến quá gần vì biết khi ép bắt được cá lớn, chúng chẳng cần giết đám nam giới làm gì cho mệt sức. Chỉ quăng từng người một xuống biển là xong. Sóng biển cùng cơn nắng nóng chỉ trong vài ngày cả bọn người trên cá lớn chúng tôi sẽ từ từ kiệt sức và chắc chắn là chết. Đó là chúng không giết ngay, còn không thì với dao to bản, đòng (sào cây dài gắn dao sắt nhọn như dáo dùng để đâm cá dữ trong lưới) là đồ nghề của ngư phủ cũng sẽ thành vũ khí để chúng thanh toán thuyền nhân nào còn lóp ngóp dưới nước. Khi còn ở trên tàu hải tặc trong chuyến vượt biên lần trước, tôi thấy chúng còn có cả búa tạ, mỏ lết lớn và các đòn sắt dài nữa. Một trong các thứ đó sẽ phạm vào người mình, tôi nhắm mắt ôm chân cột của mái che cá lớn mà rên rỉ. Ôm chân cột hay đang ôm chân từ mẫu, tôi lầm thầm xin bà tha thứ cho các lỗi lầm đã làm thì tai nghe tiếng động rào rào đều khắp. Tiếng rào rào phát ra từ trên nóc ca bin buồng lái càng lúc càng lớn hơn và át cả tiếng máy ghe cùng tiếng người gọi nhau lao xao. Những giọt nước lạnh bắn hất vào người làm tôi bừng tỉnh, mở to mắt nhìn.

Một cơn mưa bất thần đổ xuống cá lớn và hai con tàu Thái. Trong phút chốc, hai tàu hải tặc thành các vệt đèn pha mờ đục ngay sau cá lớn chúng tôi. Hạt mưa phản chiếu ánh sáng từ dàn đèn pha vô tình đã tạo thành một bức chắn che mù đôi mắt loài cú nhìn mồi ngon. Mưa dầy nặng hạt quất xối xả vào thân cá lớn làm tôi phải lách người vào sâu hơn trong mái che để tránh nước kịp thấy Tám Kiệt đứng bật dậy lao tới buồng máy, hét lớn:

– Tắt máy… Tắt đèn… Ngừng ghe ngay, Thuận ơi!

Máy ghe liền im bặt, cá lớn chạy chậm từ từ. Thuận tắt luôn cả các bóng đèn nhỏ nơi buồng lái và mái che phía sau cá lớn. Chớp mắt, hai con tàu Thái lướt nhanh qua rồi mất dạng trong cơn mưa mù mịt, tầm tã. Chúng đã không thấy cá lớn chúng tôi giữa đêm trường thăm thẳm. Cơn mưa vẫn rớt xối xả khá lâu mới nhẹ hạt dần và từ từ dứt hẳn. Chúng tôi nhìn mặt biển tối đen chung quanh, hai con tàu Thái giờ chỉ là đốm đèn sáng nằm cách chúng tôi tít đằng xa nơi một chân trời. Tám Kiệt cho nổ máy ghe trở lại và dùng ngay đốm sáng của hai con tàu Thái làm điểm chuẩn, y đổi hải trình chạy sang một hướng khác. Cơn mưa bất ngờ đã cứu mạng ghe vượt biên chúng tôi.

– Chúng ta thoát nạn rồi bà con ơi. Ha ha!

Tám Kiệt nói và cười hoan hỉ với những phụ nữ vẫn còn đang trong tâm trạng sợ sệt ngồi đầy trên sập gỗ ngay sau lưng y. Vài người hét lên vì quá vui trước chuyện may bất ngờ. Chúng tôi, ai nấy thở phào nhẹ gánh mối lo. Bây giờ đến phiên Tám Kiệt chạy ghe thay cho tài công bước ra khỏi buồng máy. Thuận đến gần chỗ tôi ngồi và dọn sơ những mảnh vụn mì sợi vương vãi trên sàn ghe ướt nước rồi anh nằm vật ra ngủ thật ngon lành.

Bình minh đến với hình ảnh cũ, một tròng đỏ trứng gà từ từ nhú lên khỏi mặt biển xanh phẳng lì. Gió thổi nhè nhẹ, mặt biển buổi sáng thật yên lặng không một lọn sóng. Trong cá lớn, hầu hết mọi người vẫn đang cơn ngủ say. Vài người cho nhau biết họ buồn tiểu nhưng dù cố hết sức vẫn không rặn ra được một giọt. Không hiểu tại sao hay đây là dạng sinh lý cơ thể người say sóng biển. Tôi lại kiếm chỗ ngủ cho đến khi tai nghe tiếng người gọi nhau ơi ới để xem cảnh cá heo bơi đua song song với cá lớn. Cá heo cả bầy 3, 4 con có lúc vọt hẳn thân hình xám trắng thon gọn lên mặt nước như thách thức tốc độ, trông thật ngoạn mục. Ở mặt sàn, tài công Thuận ngủ li bì khá lâu như chưa bao giờ anh có giấc ngủ như vậy. Cũng phải thôi, anh đã cầm lái suốt từ lúc cá lớn còn ở trên sông bên quê nhà cho đến tối đêm qua. Nhìn Tám Kiệt bên tay lái ghe, tôi phục ông đã nhanh trí cho ngưng máy đúng lúc. Ngẫm lại cũng là chuyện lạ vì mưa đến rất nhanh, hai con tàu Thái vừa vượt qua cá lớn một quãng xa thì cơn mưa đó liền dứt đột ngột. Một phối hợp nhịp nhàng chính xác lạ lùng. Không ai ngờ đã có cơn mưa kịp lúc và đã mở sinh lộ cho đám người vượt biên chúng tôi. Nếu mưa mang niềm vui cho người này thì sẽ mang nỗi buồn cho kẻ khác như khi mình so sánh giữa người làm ruộng và người bán nước mía khi cả hai cùng trong một cơn mưa.

Cá lớn vẫn chạy đều đều êm ả. Mặt biển chung quanh vẫn một mầu nước xanh và không một bóng tàu, ghe qua lại. Biển ở đây có mầu xanh lá cây rất đậm và có lúc đổi sang tím thẫm. Trời về trưa làm bầu không khí nóng nực, vài người mặt mũi đỏ bừng vì ở ngoài nắng nhiều giờ. Những cụm mây trắng đứng yên trên bầu trời xanh trong vắt không một cánh hải âu. Sau cơn hoạn nạn người trên cá lớn cảm thấy thân thiết hơn, ngồi bên nhau, bàn luận rôm rả về chuyện hai con tàu hải tặc hồi hôm. Ai cũng mừng vì một kết cuộc may mắn đã đến với mọi người trên ghe. Chuyện đã qua, giờ nghĩ lại nếu khi đó chúng tôi có vũ khí và không có cơn mưa thì chưa biết hậu quả của hai bên sẽ ra sao. Có người quả quyết:

– Ghe chúng ta có ông bà theo phù hộ cho con cháu nên mới khiến đổ mưa đột ngột như vậy. Bầu trời trước đó trong veo tui có thấy mây thấy miếc gì đâu.

– Lúc đó tui cứ nghĩ ghe mình tiêu tùng rồi. Nói thật, vái đến được trại tị nạn tui sẽ cạo đầu ăn chay một tháng liền. Một thanh niên vẻ mặt chất phác, góp lời.

Ai cũng đồng ý chuyện ghe bị tàu Thái đuổi đêm qua mới biết hải tặc lúc nào và thời nào cũng có. Thực ra chúng là ghe đánh cá nhưng hễ có cơ hội thì sẵn sàng xuống tay liền. Bàn luận vui vẻ, chúng tôi mới biết thêm về từng người trong nhóm hưởng ứng tác chiến hồi hôm. Dũng, thanh niên nói Tám Kiệt cho sử dụng cây AK vốn từng là bộ đội Việt Cộng thuộc Trung đoàn Gia Định. Người dành sử dụng cây Cabin là cựu lính địa phương quân thời trước 30-4 và người thủ lựu đạn mini từng có thời gian đi lính trinh sát thuộc sư đoàn 7 Bộ binh VNCH. Đàn em Tám Kiệt là những người nhận quả da láng hổ trợ hoặc quả mini còn lại. Cả bọn ngồi bên nhau thân thích như bạn bè hay họ hàng ruột thịt đã xa cách lâu ngày mới vừa gặp lại. Tôi sáp lại ngồi gần họ cho vui. Ông cựu binh địa phương quân nói:

– Mấy anh biết, tui nhận cây Cabin mà lo không biết có tỉa trúng táo thằng giặc Thái nào không, lâu rồi đâu có cầm đến súng.

Một thanh niên ngồi đối diện ông cựu binh, góp lời:

– Tui cũng vậy, lúc nhận lời anh Tám thủ lựu đạn để ném sang tàu chúng, tui cũng lo lắm vì không biết có làm được như ý mình muốn không.

Ông cựu lính trinh sát cười nụ, nói:

– Bây giờ sức bọn lính gìa như mình cũng đâu có còn được như mấy cậu trẻ. Có điều như anh Tám nói, mình không còn sự chọn lựa nào khác, đành phải làm thôi.

– Ông nói đúng đa! Giờ nghĩ lại tui mới thấy sợ. Lựu đạn nổ đúng theo ý mình định đi rồi AK hoặc Cabin quất ngã vài đứa tụi nó và bên ghe mình cũng bị chúng bắn sang làm bị thương hay chết người. Giả dụ tàu bọn chúng bị lựu đạn nổ có thể chìm. Có thể lắm chứ vì mấy ông biết, sức nổ của mini thì ngay cả lô cốt bê tông còn chịu không nổi huống chi là thân tàu gỗ. Tất nhiên ghe mình cũng có thể bị ảnh hưởng vì cự ly hai bên quá gần mà, phải không? Nếu ghe mình an toàn chạy được đến trại tị nạn sẽ phải khai báo ra sao đây? Rắc rối chứ chẳng chơi dù bọn mình trong tình trạng tự vệ. Người đàn ông giữ phi nhựa chứa nước ngọt nói vọng xuống.

Rõ ràng, cơn mưa đột ngột đã vô tình giúp cho cá lớn thoát tay hải tặc và việc đàn em Tám Kiệt bỏ quên túi vũ khí cũng một điều may cho cá lớn cũng như cho cả hai con tàu Thái. Hai phía đã tránh được một đối đầu tàn khốc. Ai nấy đồng ý thêm một điều giúp cá lớn chạy thoát là có máy ghe quá tốt. Từ lúc khởi hành tới giờ chỉ ngưng máy một lần ngắn ngủi, thời gian còn lại chạy suốt mà tiếng nổ vẫn dòn vẫn êm. Tài công Thuận tỉnh dậy đã vào thay cho Tám Kiệt đi nghỉ. Trời bắt đầu về chiều, gió thổi mạnh làm mặt nước biển sao động thành những cơn sóng. Mỗi khi chiều xuống, mặt trời vừa tắt bóng thì gió biển bắt đầu thổi mạnh liền. Gió thổi càng mạnh, cơn sóng càng lớn thay nhau nhồi lắc thân cá lớn. Những lúc đó, cảm giác say sóng làm cơ thể mệt nhoài trở về với nhiều người trên ghe. Chỉ đến khuya thì trời bớt gió bớt sóng, mọi người khi đó mới dễ chịu hơn và hầu như ai cũng lăn ra ngủ để hồi phục sức lực cho đến lúc bình minh ló dạng. Mặt biển sẽ hoàn toàn êm ả trong ánh nắng ban mai của một ngày mới.

Trời tối dần rồi một đêm êm ả trôi qua, cá lớn vẫn không gặp bất kỳ chiếc tàu chiếc ghe nào khác trên mặt biển bao la. Trưa đứng bóng, Tám Kiệt cùng đám tay chân chụm đầu bàn chuyện riêng mà mặt cả đám lộ vẻ lo âu. Tám Kiệt cùng vài người trong nhóm tác chiến theo ông leo lên nóc buồng lái. Trên mặt ván bằng phẳng, Tám Kiệt trải tấm hải đồ khu vực biển tiếp giáp giữa vùng cực nam Việt Nam với nam Thái Lan và Mã Lai Á rồi y nói với những người chúng tôi vây chung quanh:

– Ghe chúng ta đã đi lạc, tui nghĩ chắc chắn vậy. Bây giờ thực sự tụi tui không biết phải làm sao vì nếu cứ chạy ghe lòng vòng mãi rồi sẽ đến lúc hết dầu, mong các anh em góp ý cho đám tổ chức tụi tui.

Tám Kiệt cho biết vì phải đổi hướng chạy liên tục từ lúc gặp tàu hải tặc và sau cơn mưa nên cá lớn đã không theo đúng hải trình như hồi đầu. Nhìn trời bao la không một bóng chim và mầu nước biển xanh đen thẫm, chẳng nói thì ai cũng biết cá lớn hiện đang ở trong vùng biển rất xa với đất liền.

– Lẽ ra theo tính toán thì ghe chúng ta đã phải gặp các dàn khoan dầu Mã Lai từ ngày hôm qua. Chỉ vào tấm hải đồ, Tám Kiệt tiếp: ” Tụi tui không biết ghe mình đang ở đâu trong vùng lãnh hải này? Các anh từng ở trong quân đội, thử nghiên cứu xem có cách nào giúp cho cả ghe “.

Cá lớn tuy có hải bàn, hải đồ và tài công chạy ghe giỏi nhưng đâu phải là hoa tiêu tàu hải quân viễn duyên chuyên nghiệp. Ông tên Hưng, cựu lính trinh sát sư đoàn 7 Bộ binh VNCH nhìn Tám Kiệt và hết thẩy chúng tôi, nói:

– Hồi trước mỗi lần đi công tác trong mật khu Việt Cộng, tụi tui từng dùng địa bàn định phương hướng và vị trí đứng trên mặt đất liên tục để khi xong nhiệm vụ hoặc lỡ khi bị bọn nó phát giác thì gọi trực thăng UH đến bốc cả toán ra khỏi vùng địch ngay. Khi đó thì có mang theo bản đồ với tỷ lệ xích rất rõ nên việc xác định tọa độ không khó. Ngoài địa bàn và bản đồ, tụi tui còn dựa vào mỏm núi hoặc con suối hay cây to trong vùng để biết chính xác vị trí. Còn bây giờ… Người cựu binh ngập ngừng: ” Cái này… chắc tui chịu anh Tám à “.

– Tàu hải quân viễn duyên ngoài hải bàn, hải đồ hướng dẫn thì họ còn có các dụng cụ khác như kính lục phân đo chiều cao bóng mặt trời và tầm xa đường chân trời khi muốn biết tàu của họ đang ở toạ độ nào giữa kinh tuyến, vĩ tuyến trên mặt biển. Thêm vào đó, họ còn phải có niên giám hàng hải cập nhật hàng năm để đối chiếu các dịch chuyển của dòng nước biển nữa. Muốn biết chính xác hơn, các sĩ quan hoa tiêu trên tàu còn phải tính toán cả độ dời sóng. Phải dùng compa, thước kẻ đo đạc và tính toán ngay trên hải đồ. Trời! Chuyện này khó lắm các ông. Một người nói giọng miền Bắc khoát tay phân bua.

Thật đúng, biết được chính xác vị trí ghe tàu trên mặt biển bao la đâu phải một chuyện dễ dàng với những người không phải dân hải quân chuyên nghiệp như Tám Kiệt cùng đám đàn em.

Chúng tôi ngó tấm hải đồ rồi nhìn nhau, lắc đầu xác nhận bó tay. Tám Kiệt lập lại nỗi lo của y khi cho biết dầu diesel chạy máy chỉ còn khoảng trăm lít, cá lớn cứ chạy lòng vòng không phương hướng mãi thì rồi sẽ đến lúc cạn dầu phải ngừng và khi đó sẽ phải thả trôi vô định trên biển. Thấy cả bọn chúng tôi không ai góp tiếng, Tám Kiệt bồi tiếp:

– Nước uống trong phi nhựa cũng sắp cạn, đâu ngờ mình lại chạy lạc như vậy. Không có đồ ăn còn cầm cự được vài ngày nhưng cạn nước uống thì sẽ có người chết ngay. Tui lo nhất là mấy đứa trẻ, các anh em không giúp được thì đành trông vào tàu nước ngoài, may ra gặp được.

Đi vượt biên ai cũng sợ ghe đi lạc ngoài chuyện gặp hải tặc hoặc bão tố, chúng tôi buồn lo vì bó tay không giúp được chuyện Tám Kiệt cần. Tám Kiệt lệnh cho một thanh niên trong nhóm ông ở lại nóc ghe dùng ống nhòm theo dõi mặt biển chung quanh. Xong, ông cùng cả bọn chúng tôi leo xuống trở lại sàn ghe. Cá lớn giờ đây chỉ chạy tốc độ cầm chừng, ai cũng mong gặp được tàu viễn duyên và nếu họ vớt hết người chúng tôi thì quá tốt. Nếu không được như vậy, ít ra cũng sẽ có thêm nước, thực phẩm cùng dầu diesel chạy máy. Ngoài ra, điều quan trọng nhất là chúng tôi sẽ biết vị trí cá lớn ở đâu trên mặt biển và hiện đang cách đất liền bao xa.

Nắng dịu dần và gió bắt đầu thổi mạnh từng cơn khi trời bắt đầu gần chiều. Chợt anh thanh niên trên nóc ghe thò đầu xuống, thảng thốt báo tin:

– Anh Tám ơi! Có tàu lớn phía sau ghe mình, ở hướng 8 giờ đó.

Tám Kiệt cùng cả bọn chúng tôi vội trèo lên nóc ghe trở lại và lần lượt chuyền tay nhau cái ống nhòm để xem. Một chiếc tàu lớn mầu trắng chạy tuốt đằng xa và chờ khi nó đến khá gần cá lớn thì Tám Kiệt ngồi chồm hổm cúi đầu xuống buồng lái, nói lớn:

– Thuận, Thuận ơi! Tạm ngừng máy đi mậy… thả trôi ghe xem sao.

Chúng tôi đứng hết cả lên, hồi hộp nhìn con tàu lạ càng lúc càng rõ. Nó đang đến gần ghe chúng tôi đây. Một con tàu viễn duyên to như ngôi nhà lớn sơn mầu kem trắng lừng lững lướt qua trong ánh mắt theo dõi, trầm trồ của tất cả người đứng người ngồi trên cá lớn. Nhưng! Suốt dọc theo thân tàu, trên hàng barrie an toàn ở các khoang và cả trong cabin cửa kiếng trong vắt, chúng tôi không thấy một bóng người lai vãng. Con tàu này trông khác với hình ảnh thường thấy ở chỗ nó có bốn cái bồn tròn khổng lồ chiếm hết mặt khoang. Tiếng la tiếng hét cùng những cánh tay vẫy từ người ở nóc ghe, trên mặt sàn… mong có ai đó trên tàu viễn duyên thấy mà ngừng lại nhưng con tàu khổng lồ vẫn êm ả lướt nhanh làm như các hoa tiêu đã xếp đặt máy móc để nó chạy tự động. Chúng tôi tuyệt vọng nhìn vét đuôi con tàu đang dần dần trôi xa. Ai cũng cảm thấy chán nản, mệt mỏi vì con tàu viễn duyên… vô tình. Một người trong đám tay chân Tám Kiệt bực bội, hỏi đổng :

– Sao nó không ngừng lại ta? Kỳ vậy! Bộ bọn người trên tàu đó đi ngủ hết cả rồi chắc?

– Tàu nước nào mà không thấy treo cờ gì cả, phải chi mình có súng bắn hỏa pháo lên để họ biết. Một người đàn ông bảo.

Con tàu chạy đã thật xa, mọi người trên nóc ghe thất vọng, từ từ ngồi xuống trở lại. Thuận ở dưới buồng lái hỏi vọng lên:

– Mình chạy theo đuôi nó hả anh Tám? Em nghĩ cứ bám đằng sau thì thế nào cũng gặp hải cảng hà.

Ý kiến thật hay! Tám Kiệt đã cố tình cho tắt máy ghe, hy vọng con tàu trông thấy may ra sẽ dừng lại giúp nhưng nó bỏ đi thẳng vậy thì mình phải chạy theo nó. Bám theo, chúng tôi rồi sẽ tìm được đất liền vì tàu hàng viễn duyên nào cũng phải ghé vào một hải cảng. Tám Kiệt gật đầu, trả lời đồng ý. Thuận vừa cho máy ghe nổ ròn rã và chuẩn bị vào số để chạy thì có tiếng nói của ai đó:

– Ê! Bà con! Tàu nó quay đầu lại kìa.

Chúng tôi lại nhìn về con tàu viễn duyên đó. Đúng vậy! Nó đánh một vòng cua rồi quay mũi chạy ngược thẳng về phía chúng tôi. Tám Kiệt thấy vậy vội nói lớn:

– Tắt máy đi, nó quay lại kìa. Tắt ngay đi… Thuận.

Tiếng máy của cá lớn lại tắt phụt, chúng tôi hồi hộp nhìn con tàu. Khi chạy đến gần, con tàu kéo một hồi còi rền vang như gửi lời chào rồi nó giảm bớt tốc độ, từ từ đánh một vòng chung quanh cá lớn và sau cùng dừng hẳn lại. Một nhúm 6, 7 người đứng lố nhố bên nhau sát cạnh hàng song sắt barrie gần một cabin cao vút. Một người trong số họ cầm cái loa pin trong tay, nói bằng Anh ngữ vang vang:

– Các bạn biết nói tiếng Anh không?

Tiếng trả lời có thật lớn cùng một lúc vọng vang từ ghe chúng tôi. Người cầm loa tay đó cho biết không thể vớt chúng tôi được vì trên tàu chở hoá chất nguy hiểm nhưng họ sẽ giúp thực phẩm và nước uống. Nghe họ báo, tôi nhìn kỹ 4 cái bồn tròn khổng lồ, đoán hóa chất chắc chứa bên trong đây. Hèn gì mà họ không thể giúp. Rồi, người cầm loa tay hỏi có cần thêm những thứ gì khác, chúng tôi nói cần dầu diesel chạy máy. Liền sau đó, vài thùng thực phẩm, nước lọc và các can nhựa đựng dầu diesel được con tàu viễn duyên vất thẳng xuống mặt biển. Trước khi bỏ đi, người cầm loa tay cho biết tàu họ đang trên đường đến cảng Kelang của Malaysia. Nghe vậy, chúng tôi vội hỏi cảng Kelang khoảng cách bao xa, ở đâu thì được họ trả lời độ 2 giờ đồng hồ đi biển cùng hướng mà cá lớn phải đi.

Chúng tôi cho nổ máy ghe trở lại và chạy tìm vớt các thùng hàng các can nhựa của chiếc tàu vừa giúp. Hai thùng giấy bọc nhựa kín chứa bánh ngọt loại cracker, mì gói ăn liền và ba thùng nước lọc đóng trong các chai nhựa nhỏ. Ba can nhựa chứa tổng cộng khoảng 90 lít dầu diesel. Bánh cracker và mì gói được chia đều cho mọi người nhấm nháp ăn liền tức khắc. Vỏ các gói thức ăn in bằng tiếng Anh và một ngôn ngữ lạ không phải tiếng Tàu hay tiếng Nhật. Nhưng khi đọc thấy hàng chữ nhỏ xíu Made in the Democratic People’s Republic of Korea trên một gói mì sợi thì ai nấy hết hồn. Vài năm trước đã có vụ ghe vượt biên gặp tàu Liên Xô vớt tưởng đã an toàn nào ngờ tàu Liên Xô đó vừa từ Việt Nam ra. Vớt người vượt biên xong, tàu Liên Xô đã quay mũi trở lại cảng Vũng Tàu và giao nộp toàn bộ người trên ghe cho công an Việt Cộng. Tàu Bắc Hàn này lại khác với chuyện về tàu Liên Xô bắt người vượt biên năm xưa mà cũng có thể vì cá lớn chúng tôi đang trong vùng hải phận Mã Lai Á nên họ mới hành xử như vậy. Thuận cho cá lớn chạy theo đuôi con tàu Bắc Hàn giờ chỉ là một chấm nhỏ nhưng không lâu nó cũng mất hút dưới đường chân trời. Nó chạy quá nhanh so với ghe chúng tôi nhưng không hề chi vì Tám Kiệt đã biết phương hướng rồi.

Không một ai trong chúng tôi biết cảng Kelang nằm ở đâu bên nước Malaysia. Làm chuyến vượt biên nhắm hướng Mã Lai Á, thâm tâm Tám Kiệt và đám đàn em nghĩ sẽ dễ dàng đến được đảo tị nạn Bidong nhưng do đi lạc, giờ đây sẽ phải ghé vào cảng Kelang nên ai cũng lo lắng lẫn háo hức. Cảng Kelang này ra sao, cách đảo tị nạn Bidong bao xa? Hình ảnh bến Bạch Đằng cùng các cầu tàu vùng Khánh Hội lại trở về trong trí người gốc Sài Gòn như tôi, Kelang có giống như vậy không?

Nói chỉ 2 giờ đi biển thì sẽ gặp cảng Kelang vậy mà chúng tôi phải chạy ghe tới hơn 4 tiếng đồng hồ mới thấy được vầng sáng phản chiếu của một vùng đất liền khu vực gần cảng. Lúc này thì trời đã sâm sẩm tối rồi. Thấy đến được đất liền, ai nấy trên cá lớn đều mừng rỡ la hét rùm trời. Ngay cả những người nằm dưới khoang hầm cũng cố sức leo lên mặt sàn ghe để nhìn cho rõ. Chúng tôi sắp sửa đặt chân lên một vùng đất nước ngoài chỉ trong buổi tối nay hay sáng sớm ngày mai thôi. Chuyến vượt biên thành công, ai nấy đều nghĩ như vậy và nhìn nhau cười rạng rỡ. Thôi nhé, những ngày lao động chết người, cơn sốt rét rừng ở vùng kinh tế mới, đêm ngủ bất an vì sợ tiếng đập cửa xét nhà thình lình, ánh mắt cú vọ dò xét của công an khu vực… Tất cả, xin vĩnh biệt từ giờ phút này. Thật là mừng.

Tám Kiệt cho cá lớn chạy chầm chậm dọc theo bờ biển khá lâu nhưng vẫn không tìm được lối dẫn vào cảng Kelang dù thấy đường phố, đỉnh lầu các tòa nhà và các dome tròn nhà thờ đạo Hồi thấp thoáng xa xa sau các rặng cây xanh đen trong ánh sáng đèn chiếu đô thị. Vài ghe ngư dân địa phương chạy ngược chiều với cá lớn chúng tôi. Người trên các ghe đó lấy tay chỉ trỏ vào phía bờ biển phủ khói sóng như làn sương xám. Tám Kiệt rất muốn các ghe dân địa phương này ngừng lại để hỏi thăm nhưng họ bỏ chạy xa mất. Dọc bờ biển, nhiều chỗ là các vách đá cao làm chúng tôi sợ vướng đá ngầm ở gần nên không dám chạy thẳng ghe vào. Thấy trời càng lúc càng tối đen khó mà quan sát, Tám Kiệt lệnh cho Thuận kiếm chỗ an toàn, ngừng máy rồi buông neo để sáng hôm sau sẽ tính. Ai nấy rôm rả trò chuyện toàn về các tin vui rồi sau đó lăn ra ngủ ngon lành, một giấc ngủ thực sự an tâm kể từ lúc đặt chân lên cá lớn.

Khi những tia nắng mặt trời ban mai vừa mới ló dạng xua bớt đám sương mù la đà sát mặt nước biển, một chiếc canoe có gắn hàng chữ Pilot từ phía trong bờ chạy ra và đến sát bên cá lớn chúng tôi. Ba người trên chiếc xuồng máy đó bằng Anh ngữ, cho biết họ sẽ chạy trước dẫn đường ghe chúng tôi lối vào cảng Kelang. Các Malaysian này nói họ đã biết cá lớn từ tối hôm qua và định chạy ra đón ngay vì sợ chúng tôi có thể đi vào vùng đá ngầm nguy hiểm nhưng thấy đã neo ghe lại nên họ để yên. Chiếc canoe dẫn chúng tôi đến một vùng cảng tấp nập các con tàu to đùng đang neo gần bên nhau. Tàu hóa chất Bắc Hàn nằm yên lặng khuất sau một bờ kè không xa lắm. Chúng tôi chạy băng ngang qua những cần cẩu khổng lồ gầm gừ, vươn các cánh tay dài vận chuyển hàng hóa lên hoặc xuống cạnh các con tàu lớn. Nhiều người trên ghe xuýt xoa khi lần đầu trong đời được tận mắt thấy một vùng đất của nước ngoài. Hải cảng Kelang này quá rộng, quá đẹp so với thương cảng Bạch Đằng ở Sài Gòn.

Xuồng máy Pilot đó dắt cá lớn chúng tôi đến một bãi vắng vẻ cách xa khu vực cảng và những toà nhà trên bờ. Lấy tay chỉ vào một bãi cát thoai thoải nằm khuất sau một bờ đá, một người Mã Lai Á trên xuồng máy bảo chúng tôi lái ghe tắp vào đó và đậu yên chờ chính quyền họ sẽ đến tiếp xúc sau. Chờ cho tài công Thuận chạy cá lớn vào sát bờ và tắt hẳn động cơ, xuồng máy Pilot mới chịu quay mũi đi ngược trở ra. Đợi một lúc khá lâu để chắc chắn xuồng Pilot đi khuất xa hẳn, Tám Kiệt hối Thuận nhanh chóng nổ máy ghe trở lại, chạy lùi ra một quãng khá xa bờ. Từ nơi này, Thuận đã để máy nổ hết tốc lực rồi cho ghe lao thẳng như tên bắn lướt qua mặt nước, nằm phơi gần hết cái lườn trên bãi cát thoai thoải sát bờ.

Cá lớn đã làm xong nhiệm vụ của nó. Tám Kiệt bước sát bên lườn ghe, ngó xuống mặt nước rồi quay lại nói: ” Thử cho ghe chạy lui xem coi Thuận “. Tiếng máy nổ vang vang, ghe nhúc nhích cố thụt lùi nhưng chỉ giần giật vài cơn. Thuận tăng tốc, máy nổ to hơn mà chiếc ghe vẫn đứng yên không thể chạy lùi ra được. Lườn nó đã bám sát dính vào mặt cát như có keo dán. Tám Kiệt mỉm cười, khoát tay ra dấu cho Thuận tắt máy ghe. Tiếng máy im bặt trả lại sự vắng vẻ, tĩnh mịch của khu vực.

Kinh nghiệm từ những người vượt biên trước viết thư về kể lại, chúng tôi mong khi thấy cá lớn mắc cạn, chính quyền địa phương sẽ không đẩy ghe quay trở lại biển cả. Nhìn mớn nước sát với bờ cát mịn thoai thoải, hiện thời không ai biết con nước đang lên hay xuống. Thấy nước cạn, vài người cả nam lẫn nữ vội tuột xuống bước lội vào bờ, xuyên qua các hàng cây để làm việc vệ sinh cá nhân. Tôi nhìn bao quát chung quanh, xuồng Pilot dẫn cá lớn cập vào một vùng ở đây thật vắng vẻ không bóng người qua lại. Bờ biển rất nhỏ, khuất sau một khu rừng và các đụn cát thâm thấp trải dài rõ là chỗ tắm vắng người. Sau đêm dài ngon giấc, chúng tôi ai nấy đều tỉnh hẳn người kéo nhau bỏ khoang hầm, ngồi chật cứng trên mặt sàn ghe. Dầu vậy, khuôn mặt người nào trông cũng tiều tuỵ vì trải qua những ngày đi biển vất vả và trong bộ quần áo bẩn thỉu.

Chợt có tiếng máy xe nổ gần đâu đây và rồi một chiếc xe sơn mầu xanh lá cây vượt ra từ một bờ cát dọc theo bờ biển tiến thẳng lại chỗ chúng tôi. Một chiếc xe tải quân đội. Chiếc xe dừng hẳn lại, ba người đàn ông da ngâm đen dáng vạm vỡ cao to, mặc quân phục hoa dù, đầu đội mũ beret đỏ nâu, tay thủ súng trường M 16 lần lượt nhẩy xuống. Ba người lính đứng trên bờ dưới các hàng cây im lặng quan sát bọn chúng tôi. Quân phục họ mặc y chang lính nhẩy dù, biệt động quân VNCH trước đây. Chiếc xe đánh vòng quay đầu và chạy biến mất sau một bờ cát. ” Mấy cha lính này có nhiệm vụ canh giữ cá lớn phòng ngừa mình gặp dân địa phương đây “, chúng tôi nghĩ vậy. Ánh nắng ban mai chói lọi rực rỡ, trời đã sáng hẳn rồi, vài phụ nữ trên cá lớn giơ tay vẫy chào ba người lính gác. Họ nhìn chúng tôi, mỉm cười phô hàm răng trắng đều và vẫy tay chào đáp trả. Một dấu hiệu thân thiện.

Gần 2 giờ đồng hồ sau, lại có thêm ba chiếc xe nhà binh chạy đến. Một xe chở đầy lính, một xe đầy các bao bố loại 50 kg căng phồng cùng hai thùng phi sắt nằm trên sàn và chiếc xe thứ ba kéo theo một rờ moọc đằng sau. Đám lính nhanh chóng làm một hàng người sát bên nhau thẳng từ trên bờ xuống cạnh cá lớn rồi họ dùng tay chuyền từng bao bố lên cho chúng tôi. Người trên ghe phải dồn lại để có chỗ chất những bao bố. Chuyền xong các bao bố, đám lính chia ra hai toán chiết nước uống từ cái rờ moọc và dầu diesel ở hai thùng phi sắt sang các can nhựa loại 20 lít. Can nhựa đựng nước uống và dầu diesel cũng được chuyền lên trên cá lớn luôn. Nhìn việc đám lính vừa làm, Tám Kiệt làu bàu:

– Chết mẹ rồi. Nó tiếp tế cho mấy thứ này là để tống cổ mình đi khỏi đây đó mấy cha.

Đúng vậy! Xong xuôi thì một gã lính trên bờ ra lệnh chúng tôi nổ máy và chạy lùi ghe trở ra. Thuận đành phải nổ máy, ai nấy trên ghe hồi hộp chờ chuyện sẽ xẩy đến. Sau chuyến hải hành, cặp được vào bờ an toàn thì người trên ghe rất sợ phải chạy tiếp trên biển. Có sợ cũng phải chấp nhận. Tiếng máy ghe nổ dòn, cá lớn nhúc nhích nhưng không lùi được dù đã gầm rú hết sức. Thật may cho chúng tôi, mớn nước đã lùi khỏi thân ghe vì biển bắt đầu cơn ròng. Đám lính trên bờ chụm đầu trò chuyện rồi khoát tay ra dấu bảo tắt máy ghe và họ tản ra chờ đợi. Không lâu sau, chiếc xuồng máy Pilot hồi lúc sáng và một tàu đánh cá Mã Lai Á lớn hơn chạy đến ngay sau cá lớn chúng tôi. Một thủy thủ nhẩy xuống, lội sang và dùng dây buộc chặt vào hai cột của nóc buồng máy cá lớn. Hai đầu dây còn lại thì được nối thẳng vào mũi chiếc xuồng Pilot và tàu đánh cá. Thuận lại được lệnh của họ cho nổ máy ghe trở lại. Tiếng máy vang lên ròn rã, ai trên ghe đều hiểu chuyện bọn người Mã Lai Á làm. Thế là xong, chúng tôi thật lo vì nghĩ chắc sẽ phải làm tiếp chuyến hải hành.

Thuận cho máy nổ dòn chạy số lùi hợp với sức kéo từ hai con tàu Mã Lai Á chực sẵn cố lôi ghe chúng tôi ra khỏi chỗ cạn. Tiếng động cơ của ba cỗ máy gầm rú từng chập nhưng cá lớn chỉ rung nhẹ và vẫn nằm yên tại chỗ. Nước biển đang ròng, cát dán chặt lườn ghe dính chắc luôn vào bãi. Gã chỉ huy trên bờ nói lớn hiệu lệnh cho cả đám lính chạy xuống biển đến sát dọc bên lườn cá lớn và khom người cố sức đẩy. Thấy cá lớn không nhúc nhích, đám lính xì xồ miệng, tay ra dấu lệnh chúng tôi phải nhẩy xuống nước cùng phụ đẩy với họ. Trên cá lớn hầu như chỉ còn phụ nữ và trẻ em. Quá đông người nhưng đứng chùm nhum trong một diện tích nhỏ nên dù loay hoay hợp sức đẩy với đám lính một hồi mà cá lớn vẫn chẳng hề xoay chuyển. Chúng tôi mừng thầm vì rõ ràng con nước đã ròng mạnh, ghe thực sự mắc cạn và lườn bị cát hít dính như keo dán. Thấy chuyện định làm nhưng không thành, đám lính kéo nhau bỏ hết lên bờ. Một gã đến gần ra lệnh cho chúng tôi rời ghe lên bờ nghỉ ngơi, xuồng máy Pilot và tàu đánh cá cũng đã tháo dây bỏ đi. Trước khi đoàn xe nhà binh chạy khỏi bãi biển, gã chỉ huy cho biết sẽ quay trở lại sau buổi trưa.

– Mẹ bà, tụi này nó nhất quyết đẩy bọn mình ra biển đây. Tám Kiệt nói.

Thấy đám lính đi khỏi, chúng tôi vội chuyền vài bao thực phẩm xuống và tản ra ngồi dưới các bóng cây. Mở miệng một bao ra xem thì thấy bên trong có mì gói ăn liền, bánh biscuit, gạo xấy, thuốc lá, diêm quẹt, trà, cà phê, đường và sữa bột. Bao nào cũng kèm theo cả các muỗng nhựa và khá nhiều lon sắt nhỏ mầu đen. Cầm một lon lắc thử nghe tiếng kêu óc ách. Món gì trong lon và sao nó lại sơn đen? Một người reo lên:

– Úi cha! Có đồ khui nè, mình thử mở xem cái gì bên trong vậy.

Nắp chiếc lon vừa mở kéo theo một mùi thơm bốc lên mũi. Cá mòi sốt với cà chua đỏ đặc sền sệt. Chúng tôi khui thêm các lon khác và cũng món cá mòi đóng hộp. Không có cơm trắng thì đành ăn cá mòi hộp với bánh bisquit mà cũng ngon. Vừa ăn, có người lại thắc mắc tại sao họ phải sơn đen cái lon? Bộ không muốn ai biết lon này chứa thứ gì và từ đâu ra! Có lẽ như vậy vì các gói thức ăn khô ở bao bố được đóng trong bao nylon cũng không một dòng chữ một tờ nhãn ghi bên ngoài. Đúng như lời Tám Kiệt nói, đám lính Mã Lai Á cố tình đẩy ghe mình ra biển sau khi tiếp tế thực phẩm, nước uống và dầu diesel chạy máy. Khi ra biển trở lại, rủi chúng tôi gặp tai nạn thì sẽ không ai biết ghe đã ghé vào Mã Lai Á nhưng không được chính quyền cho cập bến.

– Hồi xưa khi bọn Cộng Sản Bắc Việt chở hàng tiếp tế cho bọn Việt Cộng miền Nam thì cũng có cái màn xoá hết dấu vết, xuất xứ… từ vũ khí, thuốc men, thực phẩm và cả máy móc trên con tàu chúng. Ở nước nào cũng vậy, bọn gây chuyện ám muội thì bao giờ cũng dấu việc chúng làm. Người đàn ông nói giọng Bắc ngồi dưới một bóng cây mát gần đó cho biết.

Sẵn có thực phẩm, có thuốc lá, chúng tôi bảo nhau phải ăn phải hút trước hết cho đã miệng, mọi chuyện để qua một bên tính sau. Người hút thuốc thả khói thơm lừng, người ngồi dựa lưng vào thân cây nhâm nhi từng cái bánh nhỏ. Có người ăn vã mấy hộp cá mòi liền mà không ngán miệng. Ăn uống xong xuôi, vài người đi vào khu rừng cây lục lọi sau đó quay ra báo tin có dòng suối nhỏ nước trong vắt ở gần đó. Tôi cùng vài người ngồi gần vội đến ngay và thật may là suối nước ngọt dù chỉ cách bãi biển không xa. Nhiều người thấy có suối nên quá mừng vội cởi ngay quần áo, vục nước lên người tắm kiểu dã chiến. Tôi cũng vậy, giặt sạch bộ đồ bộ đội cũ xong rồi vắt khô mặc trở lại người. Tuy còn ẩm ướt nhưng vẫn dễ chịu hơn cứ khoác mãi bộ đồ hôi hám, bẩn thỉu. Thêm nhiều người khác nghe tin báo về con suối nên cũng mò đến nữa, kể cả phái nữ. Cả mấy ngày liền trên ghe ai nấy quần áo đều dơ dáy, nhơ nhớp nay có dịp gặp nước ngọt nên vội tắm táp, giặt gịa liền. Sau khi tắm rửa sạch sẽ, có người vất bỏ quần áo bẩn tại chỗ mà không giặt. Thấy quần áo họ vất bỏ, nghĩ vì chỉ có duy nhất bộ đồ bộ đội đang mặc trên người nên tôi đến, lựa ra được hai áo thun và hai quần dài còn khá tốt rồi quay qua chung quanh, hỏi:

– Mấy bộ đồ này của ai? Còn mặc nữa không? Nếu vất bỏ thì cho tôi xin nha.

Không ai lên tiếng trả lời, tôi hỏi thêm lần nữa thì một thanh niên đứng gần bên nói:

– Quần áo này dơ rồi, họ không giặt lại vất ở đây là bỏ đó. Anh muốn thì cứ lấy xài.

Tôi định đem 2 bộ quần áo bẩn xuống suối giặt thì tai nghe có tiếng xe hơi và sau đó giọng người gọi lớn: ” Ê! Có mấy người Mã Lai Á đến kìa “ nên vội vàng quay trở ra bãi biển. Hai người đàn ông lớn tuổi, mặc thường phục theo kiểu đạo Hồi áo trắng cùng mũ nồi đen đội trên đầu khệ nệ bưng các thùng giấy nhỏ từ trong một xe van mầu trắng ra. Huy hiệu vầng trăng khuyết đỏ thêu trên ngực áo của hai người. Họ là nhân viên hội Hồng Nguyệt, một hội bác ái y như hội Hồng Thập Tự. Cả hai ông mang cho chúng tôi một số hộp nhỏ nước giải khát như trà hoa cúc, sữa đậu nành, rau má, nước mía ép… Tiếc cái họ không nói được Anh ngữ còn chúng tôi thì cũng chẳng biết tiếng Mã Lai Á nên đành cố hiểu nhau qua các cử chỉ ra dấu. Cả hai người họ dường như không muốn chúng tôi quay ghe ra biển đi tiếp. Họ lập đi lập lại hai chữ Sungei Besi, Bidong với nhóm người chúng tôi đứng vây quanh. Trước khi bỏ đi, một trong hai ông kín đáo chỉ vào cá lớn và bằng hai bàn tay chụm lại làm bộ dạng như đang đào vật gì đó trên đất. Lập đi lập lại cử chỉ đó nhưng không ai trong chúng tôi hiểu ý định của ông ta. Thấy nhóm người chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, ông ta mỉm cười hiền lành và quay trở về chiếc xe van.

Mã Lai Á là một quốc gia Hồi giáo trong vùng đông nam châu Á. Y phục trắng với mũ nồi đen trên đầu, hai người nhân viên hội Hồng Nguyệt trông như các tín đồ đạo Hồi ở vùng Hoà Hưng thuộc quận Tân Bình-Sài Gòn. Tại đó có một đền thờ đạo Hồi và khá đông tín đồ sống rải rác chung quanh. Nhóm dân đạo Hồi ở Hòa Hưng không biết chính xác thời điểm bắt đầu cư trú tại địa phương nhưng, nội việc có riêng một nghĩa địa trong vùng thì ắt hẳn họ đã có mặt từ rất lâu đời. Tuy cùng nói tiếng Việt nhưng khuôn mặt và vóc dáng họ vẫn khác hẳn với người Việt Nam vì mái tóc quăn, da ngâm đen, mắt có khoen và cơ thể họ cao to hơn.

Cử chỉ của ông nhân viên hội Hồng Nguyệt khi chụm hai tay đưa lên đưa xuống như đào đất vẫn chưa ai hiểu ý. Đám chúng tôi bàn bạc hay ông ta bảo mình bới cát và đào rãnh dưới lườn cá lớn để nó dễ dàng tuột ra khi cơn triều lên? Không phải như vậy vì ông đã khoa bàn tay lắc lắc khi chỉ ra biến và ngón tay trỏ ông chỉ vào hướng rừng kèm theo các chữ Bidong, Sungei Besi. Cuối cùng, đoán là ông ta muốn chúng tôi ở lại đây và đừng đi tiếp nữa. Ông Hưng, cựu lính trinh sát chợt nghĩ ra một điều nên nói:

– Tôi nghĩ ông ta bảo mình đục cho thủng ghe, mấy anh thấy sao?

Chúng tôi nhìn nhau. ” Chắc vậy rồi anh Tám. Phải đục lủng ghe thôi “, một thanh niên trong nhóm tổ chức khẽ trả lời.

Phải đục cho lủng ghe nhưng đục ở chỗ nào để bọn lính khi quay lại sẽ không biết do chúng tôi cố tình phá. Nghĩ vậy nhưng lấy cái gì để làm việc này? Thuận nói ở dưới ghe có sẵn cái búa nhỏ dùng bửa củi nấu ăn cùng một con dao to bản và nhận sẽ thử làm xem sao. Nghe vậy, Tám Kiệt đảo mắt chung quanh và hối Thuận thi hành ngay nhưng kín đáo đừng để thêm người biết chuyện, nhất là đám đàn bà-con gái. Trời đã quá trưa, ánh nắng chiếu chói chang nóng bỏng. Cảm giác chao đảo khi ở dưới ghe rồi trở về đất liền mà người ta gọi là say đất đã hết thêm có thức ăn, nước uống lại có cả nước suối để rửa ráy mặt mũi tay chân và thay y phục sạch sẽ nên hầu như người nào cũng rút vào trong các bóng râm để nghỉ. Vài bóng hải âu đảo qua đảo lại tìm mồi xa xa ngoài biển. Thấy không một bóng người trên bãi cát gần với cá lớn, Tám Kiệt gật đầu ra tín hiệu cho Thuận cùng hai thanh niên khác vọt ngay ra. Biển bắt đầu cơn triều lên, nước đã mấp mé thân cá lớn. Cả ba người nhẩy phóc lên và chui tọt ngay xuống hầm máy ghe. Chốc lát sau họ trở lại mặt sàn và nhẩy xuống nước mà trên vai vác theo một bao thực phẩm cùng hai can nước ngọt làm bộ ra ghe để lấy thêm cho những người cần thêm trên bờ.

– Xong rồi, nước đang vào. Tụi em đục hai chỗ ở phần đuôi. Thuận mỉm cười, nói tiếp:

– Ghe mình coi vậy mà không chắc đâu nha anh Tám. Mới bửa mạnh vài búa mà ván đã bục ra liền. Nước vô xối xả làm em thấy sợ luôn.

Đám chúng tôi chờ xem chuyện sẽ đến trong tâm trạng lo lắng. Mọi người tản ra tìm chỗ nghỉ, tôi bẻ vài cành nhỏ có nhiều lá rồi đem trải chúng xuống sát một gốc cây và nằm ngay xuống. Gió từ biển thổi vào thật mát, tôi nhắm mắt lim dim ngủ cho đến khi nghe tiếng xe tiếng người nói và tiếng còi huýt toe toe từng chập ngắn. Tôi choàng dậy khi đám lính Mã Lai Á đã quay trở lại đầy đủ ở bãi biển. Lần này chỉ một chiếc xe tải nhà binh nhưng lại có thêm một xe ủi đất bánh xích nhỏ. Một gã lính vẫn huýt còi gọi tập họp trong khi các gã khác xục hẳn vào từng bụi cây để lùa bọn chúng tôi đi ra hết. Họ ra lệnh chúng tôi đứng gọn tại một chỗ. Nhìn nhau, chúng tôi phải trên một trăm người là ít. Đám lính Mã Lai Á  cũng lắc đầu vì không dè cá lớn lại có thể chứa được nhiều người như vậy. Nước biển đã dâng lên ngang thân cá lớn và thỉnh thoảng có sóng nhỏ làm nó khẽ lúc lắc, xê dịch. Đám lính Mã Lai Á nhìn nhau mỉm cười chắc mẫm lần này việc kéo cá lớn ra khơi dễ dàng và như vậy, công tác của họ sẽ kết thúc chóng vánh. Tiếng ghe máy văng vẳng từ xa vọng đến và chỉ có một chiếc là chiếc xuồng Pilot khi sáng. À! Đám lính Mã Lai Á biết nước biển lên cao chỉ cần chiếc xuồng máy Pilot đã đủ sức để kéo cá lớn chúng tôi ra khỏi chỗ cạn. Nếu chiếc xuồng Pilot không đủ lực, đám lính sẽ dùng thêm xe ủi đất phụ sức đẩy cá lớn xuống hẳn dưới nước.

– Thôi rồi. Mình sẽ phải đi tiếp trên biển nữa. Có xuồng máy kéo rồi xe ủi đất phụ đẩy, chắc chắn họ sẽ lôi ghe mình ra khỏi chỗ cạn dễ dàng. Một người lẩm bẩm than.

Xuồng máy Pilot đến sát phía sau cá lớn, một thủy thủ Mã Lai Á phóng xuống nước bơi đứng đến cá lớn và leo lên mặt sàn. Tay y cầm sợi dây định buộc vào cá lớn như lúc sáng đã làm nhưng khi nhìn xuống hầm máy, gã này liền quay mặt hướng về đám lính Mã Lai Á đứng ở trên bờ và xổ ra một tràng. Ngay lập tức hai gã lính khác chạy ra, bước lội đến rồi trèo lên và nhìn xuống khoang hầm ghe. Cả hai gã đi dọc trên mặt sàn và lần lượt nhẩy hẳn xuống khoang hầm xem xét rồi sau đó quay trở về bờ cát trên bờ. Đám lính tụ lại nói chuyện xì xồ với nhau trong tia mắt giận dữ. Họ đã biết ghe bị chúng tôi đục cho lủng. Nửa tiếng đồng hồ trôi qua trong sự lo âu lẫn mừng vui của đám chúng tôi. Mừng vì biết sẽ không bị ngồi xuống ghe kéo ra biển lớn nhưng lo âu những gì sắp sửa xẩy đến.

Gã chỉ huy khoát tay ra dấu cho xuồng máy Pilot và cái xe ủi đất rút lui. Tiếng còi toe toe lại nổi lên, đám lính ra lệnh cho chúng tôi xếp thành một hàng dọc di chuyển theo song song với họ. Vài phụ nữ hì hục xách theo các gói thức ăn còn sót trên bờ nhưng bị mấy gã lính ra hiệu phải bỏ lại trên mặt đất và chỉ được mang các túi xách cá nhân. Đi theo đám lính, chúng tôi vượt qua các đụn cát cùng phần rừng cây thưa thớt rồi đổ xuống con dốc lài và sau cùng băng qua mặt đường nhựa để vào một vườn hoa khá đẹp. Qua khỏi vườn hoa thì đến một sân gạch tiếp nối vào các căn nhà lớn cửa đóng kín mít, đám lính lệnh chúng tôi phải giữ im lặng và ngồi theo từng hàng mười người một. Sau đó, đám lính tản ra đếm tổng số rồi họ đưa một tập giấy để tự chúng tôi chuyền tay nhau, ghi tên và đánh số của từng người. Ngồi gọn thành từng hàng nên rất dễ đếm và thật không ngờ, tổng cộng người trong ghe chúng tôi là 135 người. Vậy, quá nhiều so với sức chứa của một chiếc ghe đi biển nhỏ tí xíu.

Ngồi ở cái sân gạch cả mấy tiếng đồng hồ mà không gặp bất kỳ nhân viên của hội đoàn thiện nguyện quốc tế như Hồng Thập Tự, Cao Ủy LHQ… làm chúng tôi lo lắng không yên. Muốn bắt chuyện với đám lính để dò tin nhưng nhìn quanh thấy họ cố ý đứng ra xa, tách biệt hẳn với đám người Việt chúng tôi. Tuy ngồi thành từng hàng nhưng nhiều người bắt đầu hoán chuyển chỗ với nhau. Họ muốn ngồi gần để có gì thì cùng chịu sống chết bên nhau và chính vậy mới có thêm lệnh mới của đám lính là phải giữ trật tự, ai ngồi đâu yên đấy. Đã có vài người chịu cú đấm, cái đá từ bọn lính rõ là chúng không còn vẻ hiền lành như lúc đầu nữa.

Trời chiều dần rồi xẩm tối, muỗi rừng đánh hơi người vo ve bay ra đậu trên mặt trên tay và ngay cả ở phần lưng. Kim chúng vừa nhọn vừa cứng thọc xuyên qua cả vải dầy, chích phát nào phát nấy muốn nhẩy nhổm. Tiếng trẻ con khóc cùng với tiếng đập muỗi lép bép nho nhỏ trong bóng đêm tĩnh mịch. Mùi máu tanh từ xác muỗi bết trên da càng lôi cuốn những con khác đến kiếm ăn. Ai thủ được dầu gió xanh con Ó thì còn đỡ nếu không phải đành chịu trận, chỉ một cách lấy tay xoa xoa hoặc làm quạt để xua đuổi chúng đi. Đám lính mưu chuyện đẩy ghe chúng tôi trở lại biển không được nên đành phải đưa chúng tôi vào ngồi ở đây lâu như vậy, tuy không trò chuyện được với nhau nhưng ai cũng nghĩ chắc để chờ một quyết định từ chính quyền?

Chợt có tiếng xe hơi cùng ánh đèn chiếu lấp loáng từ xa chạy đến làm chúng tôi phải ngẩng đầu lên nhìn. Một xe bus lớn dừng lại gần, đám lính từ các chỗ tối chung quanh tiến lại bên xe và một gã nói to:

– Trẻ em cùng phụ nữ lên xe còn nam giới ngồi yên tại chỗ, xin quí vị thi hành ngay.

Ánh đèn pin trong tay các gã lính loang loáng soi cho đám phụ nữ cùng trẻ em thấy đường để lên xe bus. Vài người trù trừ không muốn chia lìa khi phải đi trước để chồng, thân nhân họ còn kẹt lại. Họ dùng dằng nhưng bị đám lính thúc hối phải trèo lên xe ngay. Xe bus vừa chạy khuất trong bóng đêm, đám lính dồn chúng tôi ngồi gọn lại trên sân gạch và tuy không thấy mặt nhau nhưng chúng tôi ai cũng bồn chồn lo lắng vì cái vụ đi trước đi sau này. Thêm một xe bus nữa có gì khó nhưng sao bọn lính Mã Lai Á lại không cho. Chúng tôi ngồi đó chờ tới gần 2 tiếng đồng hồ nữa thì chiếc xe bus mới quay lại. Lần lượt từng người chúng tôi theo thứ tự đi lên xe. Mọi việc xong xuôi, hai gã lính Mã Lai Á đóng cửa trước cửa sau xe lại rồi đứng trấn tại chỗ. Lên xe rồi mới biết tài xế ngồi lái phiá bên tay mặt và xe chạy giữ lề trái trên đường ngược hẳn với Việt Nam. Xe bus ra khỏi khu vực và nhập vào một con đường to, rộng hơn xa lộ Biên Hoà. Xe chạy rất nhanh rồi rẽ vào một thành phố đèn đuốc sáng rực với các cửa hàng người ra kẻ vô tấp nập. Có lúc xe bus cắt ngang qua các giao lộ đầy nghẹt xe hơi và xe gắn máy nối tiếp đuôi nhau thành dòng khá dài. Chúng tôi trố mắt nhìn phố xá Mã Lai Á về đêm. Sự phát triển và văn minh một đô thị, có lẽ chỉ dễ thấy nhất khi đêm về qua ánh đèn mầu quảng cáo bên vệ đường hoặc từ mặt tiền các tòa bin đinh lộng lẫy. Người ngồi trên xe lao nhao, chắt lưỡi tiếc nuối:

– Nhìn phố xá nước người ta kìa, bỏ xa Sài Gòn mình, cũng do cái bọn Việt Cộng mà ra cả.

Chúng tôi còn muốn được thấy thêm các khu phố khác nhưng xe bus lại quay trở ra xa lộ và sau đó chui vào một con đường đất dẫn vô rừng cây rậm rạp. Đường rừng nên khấp khểnh nhiều ổ gà và các hố lớn đầy nước giữa hai hàng cây. Ánh đèn pha cùng tiếng xe bus khiến một con chim to như con gà hoảng hốt vỗ cánh bay vội vào bóng tối để lại tiếng kêu táo tác trong đêm trường vắng lặng. Một thân cây khô khá lớn bật gốc phơi nùi rễ xù xì, còng queo cùng cành khô không lá nằm sát lề đường và một gò mối nổi hẳn trên mặt đất như ngọn núi nho nhỏ gần ở lối mòn dẫn vào rừng. Chạy xe vào con đường này, không lẽ họ để chúng tôi sống trong rừng sao? Nghĩ như vậy mà đúng vì xe bus chậm dần và từ từ tiến vào một bãi đất trống rồi ngừng hẳn.

Chúng tôi có lệnh rời xe trong trật tự. Đèn điện giăng đây đó trên các hàng cọc bờ rào và từ trong các nhà lều soi rõ khu trại vắng vẻ. Hai nhà lều lớn dựng gần bên nhau và cái lều thứ ba nhỏ hơn, nằm xeo xéo đối diện gần cổng gỗ ra vào. Một trại lính dã chiến giữa rừng.

Phụ nữ, trẻ em của chuyến xe bus đến trước im lặng, ngồi tò hỏ gọn một chỗ trong căn nhà lều lớn nhìn đám nam giới chúng tôi mới đến đang đứng tập trung trước sân trại. Trông thấy mặt nhau, ai cũng thở phào nhẹ nhõm. Nam giới chúng tôi được lệnh vào căn nhà lều lớn còn lại sau khi đám lính kiểm danh xong. Tất cả phải để dép ở bên ngoài lều và tự ý sắp xếp chỗ ngồi chỗ nằm của từng người. Nền lều được trải bằng vải bạt dầy nhưng mùi ẩm mốc lẫn với hơi đất vẫn bốc lên mũi. Một gã lính chỉ chỗ nhà vệ sinh rồi thông báo:

– Khuya lúc 10 giờ thì máy phát điện sẽ ngừng chạy chỉ còn đèn bão (đèn dầu có bóng che kín chịu được gió mạnh), khi đó các anh phải nằm yên trong lều và giới hạn đi lại. Cấm ngặt nam giới không được bước vào lều của nữ giới dù với bất cứ lý do gì. Bây giờ mời tất cả quý vị tập trung ra ngoài sân để dùng tạm thức ăn, nước uống thay cho bữa chiều.

Nam nữ chúng tôi kéo nhau ra hết ngoài lều đứng thành hai dãy dài. Các gã lính phát cho mỗi người một gói bánh biscuit và một chai nước lã để lót dạ trước khi ngủ. Vài phụ nữ kể xe bus chở họ đi trước để vào trại dọn dẹp cho sạch hai cái nhà lều dành cho cả bọn. Một bà chu mỏ:

– Tụi tui làm mệt chết mẹ luôn, hai cái nhà lều lâu rồi có ma nào ở đâu, bụi ơi là bụi… Đàn ông-con trai mấy người đi sau khoẻ ru chẳng phải làm cái gì hết, vô đến nơi có sẵn chỗ ở rồi. Chỉ tụi nầy là cực.

Không lẽ ở các nước Hồi giáo, nữ giới bị xem nhẹ hơn cánh đàn ông? Hay là việc dọn dẹp nhà cửa cho gọn gàng, phụ nữ làm tốt hơn nam giới?

Được đám lính cho sinh hoạt thoải mái trước khi máy phát điện ngừng chạy, tôi rảo bước nhìn bao quát chung quanh. Căn trại được ngăn cách với rừng bằng một hàng rào gỗ, rác rưởi vương vãi cùng cây bụi nhỏ mọc từng chùm đây đó trên mặt sân. Tiếng ì ì của máy phát điện nằm dưới một mái che gần bên một rờ moọc đựng nước, loại đã tiếp nước cho cá lớn buổi sáng ở ngoài bãi biển. Hai dãy vừa bàn vừa ghế bằng gỗ rừng nằm dưới hàng cây cao to gần cổng ra vào. Rõ ràng đây là một trại bỏ hoang khá lâu không có người ở. Chỉ còn ít phút nữa phải vào lều đi ngủ, chúng tôi thỏa thuận ngày mai sẽ sắp xếp lại chỗ cho từng người, bây giờ thì nằm tạm. Điện tắt, bóng tối phủ trùm trong tiếng côn trùng rỉ rả khúc nhạc bất tận của rừng đêm. Nửa khuya về sáng trời trở lạnh, không chăn mền đắp ai nên cũng co quắp tay chân sát bên nhau tìm chút hơi ấm. Khác hẳn với lúc ngồi trong cái sân gạch, chúng tôi ở đây ở giữa rừng nhưng không một tiếng muỗi, hình như bọn lính đã xịt thuốc khử cả rồi. Thao thức nhưng rồi cả đám chúng tôi từ từ chìm vào giấc ngủ của đêm đầu tiên ở nước Mã Lai Á.

Tôi tỉnh giấc khi tiếng chim hót cùng tiếng thú rừng kêu râm ran trong làn sương mờ của buổi ban mai. Ở căn nhà lều nhỏ, mấy gã lính Mã Lai Á vẫn cuộn tròn người trong các tấm võng. Trời còn sớm chưa thể ra bên ngoài được, tôi đành ngồi tại chỗ co duỗi tay chân cho bớt mỏi. Ngồi như vậy cho đến khi có tiếng kẻng báo hiệu mới được ra khỏi lều để làm vệ sinh cá nhân. Đến 8 giờ sáng một xe quân đội khá lớn chạy vào trại, vài đứa nhỏ tò mò đến gần xem. Ba gã lính từ căn nhà lều nhỏ đi ra và phụ sức với hai gã khác trên xe khiêng xuống những thùng giấy khá lớn. Có lệnh chúng tôi xếp hàng tập trung theo thứ tự để nhận đồ dùng cá nhân.

Nghe tin xếp hàng để đám lính phát đồ thì lập tức có màn chen nhau dành chỗ đứng đầu dẫn đến to tiếng cãi cọ. Thấy đám lính bực tức giương mắt nhìn, Tám Kiệt rồi ông Thăng cùng vài người khác vội nói:

– Xếp hàng có thứ tự đi bà con, lần lượt ai cũng có phần hết. Tranh nhau chỗ đứng làm gì, ra khỏi nước rồi mà còn kiểu dành giựt như bên quê nhà tụi lính nhìn vào mang tiếng cả đám đó.

Nói thì nói, tranh dành vẫn tranh dành và chỉ trật tự khi đám lính can thiệp mới yên. Người nào cũng hai gói một lớn một nhỏ như nhau. Mang phần của mình về căn nhà lều, tôi liền mở gói lớn ra xem thấy có kem đánh răng, bàn chải xúc miệng, xà bông cục, khăn nhỏ, khăn lông tắm, cuộn giấy vệ sinh, ca nhựa có nắp đậy và cái chăn đắp. Gói nhỏ thứ hai gồm bịch bánh biscuit và một bọc trà đường còn âm ấm. Cái chăn tuy mỏng tang nhưng khổ đủ rộng cho một người, dầu sao có cái đắp còn hơn không. Bữa ăn sáng chấm dứt mau lẹ. Một xe hơi nhỏ chạy vào ngừng ở sân, hai người mặc thường phục một già một trẻ bước ra gặp đám lính. Tiếng còi toe toe lại nổi lên, tất cả người lớn chúng tôi được lệnh ra sân tập họp trở lại. Ông Mã Lai Á mới đến hỏi: ” Trong quý vị, người nào biết Anh ngữ “. Vài cánh tay giơ lên, ông ta gật đầu rồi hỏi vài câu tiếng Anh sau đó chỉ định hai người làm leader cho cả đoàn. Một là ông Thăng, người nói giọng Bắc. Hai là ông Phát, người giữ phi nước ngọt trên cá lớn trong suốt chuyến hải hành. Không ai ngờ tuy nhìn vẻ bề ngoài chậm lụt, lù đù nhưng ông Phát lại nói Anh ngữ như sáo với các ông Mã Lai Á. Cả hai leader, kể từ lúc này sẽ nhận lệnh từ đám lính và chịu trách nhiệm quản lý số người Việt.

– Tôi là Alek, nhân viên bộ Nội vụ. Bên quân đội báo tin có ghe quý vị ghé vào khu vực cảng Kelang và không thể tiếp tục cuộc hành trình nên họ đưa quý vị tạm dung tại đây từ tối hôm qua. Nay, tôi đến thăm và sẽ cố hết sức để liên lạc với viên chức Cao Ủy LHQ về tình trạng của quý vị. Trong thời gian tạm dung ở đây, mong quý vị giữ gìn nội quy của trại, tôi hứa sẽ liên lạc sớm. Ông Mã Lai Á lớn tuổi nói.

Một gã lính chờ sẵn, cầm tờ giấy đọc lớn các nội quy cho cả bọn chúng tôi nghe. Y đọc to hai lần từng điều một và lệnh cho hai ông Thăng, Phát phiên dịch những việc mà ai cũng biết sẽ phải theo khi sống trong môi trường tập thể như giữ gìn vệ sinh chung, không được ấu đả, không lấy trộm đồ đạc cá nhân của nhau… Có một nội qui khi nghe ông Phát dịch xong đã làm vài cô gái mắc cở nhưng đám thanh niên lại cười đó là cấm không được làm tình với nhau khi sống ở trại.

Khi hai viên chức bộ Nội vụ ra về, hai ông Thăng và Phát cho biết tất cả phải đi tắm ngay, đàn ông con trai đi tắm trước xong rồi sẽ đến nữ giới. Được phép đi tắm ai cũng khoái nên vội vã quơ quào quần áo, khăn lông, xà bông theo ngay. Một gã lính tay thủ súng trường M 16 dẫn cả đám nam giới ra khỏi trại hướng vào rừng theo lối mòn cũ. Cây rừng có nơi rậm rạp mọc lấn ra tận ngoài mặt đường, nơi lại thưa thớt toàn lau sậy cùng các vạt đất trống xanh rêu. Dấu chân của loài thú nhỏ hai móng chẻ in trên đất đã khô ở vài chỗ ngay mặt đường. Qua khỏi một đoạn khoảng 200 thước, gã lính rẽ vào lối đi nhỏ cắt ngang đường mòn và chỉ hướng dẫn xuống con suối. Y ngồi ở thân gỗ khá lớn gần ngay đó, tựa cây súng trên đùi và bảo chúng tôi tắm giặt trong vòng một giờ đồng hồ. Con suối khá rộng, nước trong vắt chảy lững lờ uốn cong qua các phiến đá bằng phẳng rồi luồn khuất sau các hàng cây rừng xa xa. Theo một đường dốc thoai thoải, chúng tôi lần lượt đặt chân xuống bờ suối. Không có mặt nữ giới, trong chúng tôi có người cởi bỏ hết quần áo tồng ngồng tắm tự nhiên. Nước buổi ban mai rất lạnh làm ai nấy nổi da gà run rẩy nhưng chỉ lát sau thì quen dần. Sẵn xà bông, chúng tôi thoải mái tắm gội và giặt giũ quần áo bẩn. Có người nhắc lại lời hứa của ông bộ Nội vụ và về nội quy của trại nhất là điều bị cấm. Một thanh niên vui vẻ:

– Không được làm tình với nhau dù là vợ chồng. Cấm thì cấm, dễ gì chịu ăn chay hả anh Tám?

– Nói vậy chứ tao biết anh Tám mình nhát hít hà. Có thèm cũng phải nhịn, sức mấy mà dám mậy. Người khác trả lời.

Đám thanh niên trẻ cười vang nhưng Tám Kiệt khẽ nháy mắt, kín đáo lấy tay chỉ vào thằng bé con y đang ngồi vộc nước gần đó ngầm ra dấu đừng nói bậy, rồi trả lời nho nhỏ:

– Mẹ kiếp! Mầy làm như chỉ có mình tao là có vợ đi theo chắc. Thiếu gì người trong ghe nha.

Sau này, tôi mới biết Tám Kiệt không hề là người nhát gan, chính y liều lĩnh đã phá rào bất tuân lệnh cấm của đám lính coi trại.

Tuy có những đứa con nít khác đang tắm chung với số người lớn nhưng chuyện tầm bậy tầm bạ vẫn được đám thanh niên trẻ tiếp tục kể rồi cười khoái trá với nhau. Suối ở đây, nước từ trong rừng chảy xuống tràn qua một bãi đá bằng phẳng rồi tạo thành một cái hồ nhỏ dưới đáy toàn sỏi cát, người đứng chỉ tới ngực. Tắm táp đã đời bù lại nhiều ngày ở dưới ghe hôi hám, có người còn nằm lăn trên bãi đá để cho nước chẩy tràn trên thân mình. Ánh nắng bắt đầu chiếu xuyên qua các tán lá cây gần bờ suối, cơn lạnh ban mai đã biến mất hẳn, người nào cũng thơm tho mát mẻ và mái tóc không còn bết cứng như trước. Tôi cũng vậy, tắm sạch sẽ và giặt xong quần áo bộ đội của mình cùng hai bộ nhặt được ngoài bãi biển. Ai cũng muốn ở lại tắm nữa nhưng tiếng còi báo hết giờ từ gã lính gác vọng lại khiến cả bọn phải kéo nhau ra về. Đi trên đường, một người thắc mắc, hỏi:

– Đám phụ nữ cũng tắm ở suối này luôn sao mấy cha. Tắm, theo tôi nghĩ họ sẽ để nguyên áo quần nhưng lấy chỗ nào để thay đồ? Không lẽ phải vào lùm bụi thay như tụi mình hoặc tỉnh bơ ngay bờ suối? Với lại, còn thằng lính gác nữa chứ.

Thắc mắc cũng phải vì có vợ, con gái họ đi cùng. Hai ông Thăng, Phát cho biết đám lính lệnh đi tắm là đi chứ họ đâu dè ở lộ thiên ngoài suối. Bọn thanh niên quả quyết thể nào tụi lính cũng rình xem lén cho đã mắt nhưng chẳng trách đám lính vì, đang trong tay chúng và thực tế nếu mình mà là bọn lính thì cũng làm y vậy. Có tội nghiệp mấy cô con gái tre trẻ thôi còn đàn bà sồn sồn lớn tuổi thì ai mà thèm nhìn. Tiếng cười hô hố phụ họa, ông Phát phải cau mặt:

– Nữ giới tắm suối mà lính canh trên bờ là nam thì kẹt thật nhưng coi vậy chứ dễ gì mà nhòm lén họ được các cha! Có khăn lông, họ che cho nhau hết, mấy bả hay lắm. Mà thôi, đi vượt biên là phải chấp nhận hết mọi thứ chứ.

Về tới trại, cả bọn nam giới chúng tôi tản ra phơi quần áo trên các sào ngang ở hàng rào cây. Đang lui cui vuốt cho thẳng các bộ đồ ướt, chợt có tiếng nói sau lưng tôi :

– Anh, Anh! Cho xin lại mấy quần áo của em.

Một thanh niên tuổi cỡ 22, 23 mỉm cười sau câu nói, lấy tay chỉ tay vào bộ quần áo tôi đã nhặt và vừa giặt sạch sẽ. Ngạc nhiên tôi hỏi:

– Cậu nói gì, muốn xin lại bộ đồ này?.

Người thanh niên đó ú ớ gật đầu, tôi hỏi tiếp:

– Sao lúc ngoài bãi biển tôi hỏi ai bỏ thì tôi lấy sao cậu không trả lời? Cậu vất bỏ nó mà, phải không?

Cậu ta không trả lời câu hỏi mà cứ nằng nặc xin lại bộ quần áo. Nghe tiếng đôi co, một thanh niên mặt bậm trợn khác đứng gần đó tiến lại bênh tôi:

– Đúng rồi! Khi đó tao có mặt ở đó nè mầy. Ông này hỏi hai ba lần mà không ai trả lời. Mầy cũng có mặt ở đó, bỏ thì người ta lấy. Giờ đợi người ta giặt sạch sẽ xong xuôi mới đòi xin lại. Đ.M! Mầy tính chơi đểu hả?

– Em chỉ có hai bộ, tưởng đến trại sẽ được phát quần áo mới, đâu ngờ. Tắm xong em chỉ còn quần đùi nè. Cậu ta lí nhí.

Tôi đang trần xì độc một quần tà lỏn, khăn lông khoác trên người và nếu không nhặt hai bộ quần áo ngoài bãi biển thì cũng sẽ không khác. Thôi thì! Tôi khẽ gật đầu đồng ý  cho cậu thanh niên đó lấy bộ quần áo. Chờ cậu ta bỏ đi, người thanh niên còn lại nhìn tôi, nói:

– Anh dễ tính quá, phải em là không được. Ban nãy ở ngoài suối nó cũng thấy anh giặt quần áo chứ bộ, sao không mở miệng xin lại đi, tới đâu thì tới em cũng không trả. Anh tên gì, em là Đỉnh.

– Anh tên Vũ, cám ơn Đỉnh. Tôi trả lời.

Hai chúng tôi rảo bước về căn nhà lều nam giới. Chuyện vừa xẩy ra làm tôi suy nghĩ vẩn vơ không biết sẽ có ai đến xin bộ quần áo còn lại nữa đây? Nam giới về trại giờ đến lượt phe nữ đi tắm, Đào đi cùng Bẩy vừa thấy tôi liền bước đến hỏi:

– Anh Vũ. Nghe nói lính họ cho mình tắm ở dưới suối hả?

Tôi gật đầu xác nhận, hai cô gái nhìn nhau bối rối. Đào tiếp:

– Trời! Ai mà tắm như vậy được.

Làm sao mấy cô gái nầy có thể tắm ngoài suối như đám nam giới! Đây đâu phải là một bãi biển đông người mặc quần áo tắm và nhất là có một gã lính đi theo nữa. Dễ gì mà đám đàn bà-con gái tự nhiên được và đã có người dùng dằng nửa muốn đi nửa lại không. Nhưng nếu không đi, phải chờ ngày mai vì nội quy chỉ cho phép ngày tắm một lần.

– Đám lính ra lệnh đi tắm lè lẹ kìa mấy bà mấy cô, làm ơn nhanh chân lên. Ông Thăng đi tới đi lui thúc giục

Trong căn nhà lều, ông Thăng ông Phát và Tám Kiệt đã sắp xếp lại chỗ ở cho cả bọn. Nam giới cả thẩy là 64 người lớn và 8 bé trai, cứ chỗ cha con, anh em ở gần bên nhau. Căn nhà lều chúng tôi ở nó lớn như một cái nhà nho nhỏ, sườn là các thân gỗ tròn nối với nhau bằng khoen sắt. Nóc phủ vải bạt nhà binh, vách cũng vậy và được kéo căng bằng các dây cố định ở các cọc. Những năm 1972, 1973 ở vùng Củ Chi-Tây Ninh, chính quyền VNCH đã dựng hàng loạt loại nhà lều này cho Việt kiều tránh nạn cáp Duôn hồi hương từ Campuchia về. Một nhà lều, chỗ tạm trú cho hai hoặc ba gia đình nhưng ở đây với 72 người, chúng tôi đành phải vạch 4 phần trên sàn chia chỗ cho cả bọn. Mỗi phần là chỗ nằm của 18 người. Để tiện đi lại, một khoảng trống nhỏ rộng 40 cm hình chữ thập nằm chính giữa bốn phần.

– Bên lều nữ giới cũng phải chia như vậy khi họ đi tắm về, ông Phát nói.

Chỗ tôi và Đỉnh ở sát bên nhau. Tấm bạt nền lều mới toanh thơm mùi thuốc nhuộm lót trên các ván gỗ ép bằng phẳng. Tám Kiệt kể vợ y nói hôm qua vào sớm dọn dẹp hai nhà lều, đã nhặt được các giấy báo cũ tiếng Việt còn sót lại chứng tỏ có thuyền nhân từng tạm trú ở đây. Hai dãy bàn ghế gần cổng trại ước chừng chỉ ngồi được độ 60 người, như vậy trại này dành cho những thuyền vượt biên nhỏ.

Lần lượt vài phụ nữ đi tắm về trong tay cầm bộ quần áo vừa giặt. Ai cũng trông tươi tắn trong bộ quần áo sạch sẽ và có người lại cầm cả chùm trái chôm chôm vàng tươi. Chôm chôm này ở đâu ra? Một bà đưa vài quả chôm chôm cho thằng bé con trong nhà lều. Hỏi, bà ta trả lời:

– Cây chôm chôm gần chỗ tắm trái nhiều lắm nhưng còn xanh, tui bứt được ít trái chín ở cành thấp thôi.

Cây chôm chôm gần chỗ tắm! Như vậy, đám nữ giới chúng tôi đã tắm ở một chỗ khác của con suối.

Đến trưa, đám lính thổi còi tập hợp khi có một xe nhà binh vào trại. Xe chở cơm cho chúng tôi cùng đám lính gác. Hai thùng nước nóng được chuyền xuống cùng các thùng chứa cơm, canh. Như buổi sáng, trẻ em đứng trước rồi phụ nữ và sau cùng đám nam giới. Ba người lính chia cơm trắng, cá, canh rau đựng trong dĩa và tô giấy cứng. Chỉ có muỗng bằng nhựa đúc. Hai dãy bàn ngồi chật chỗ, người đến sau đành đứng hoặc chồm hổm trên đất. Mỗi người bất kể lớn nhỏ đều một con cá chiên rất dòn. Món canh không ai ngờ, đó là rau muống nấu với cá cơm nhỏ. Ông Thăng nói.

– Mấy bà miền Nam hết nói chúng tôi dân Bắc Kỳ rau muống nghe, thấy người Mã Lai Á họ cũng ăn rau muống chưa?.

– Họ biết mình người Việt nên nấu canh rau muống cho mình ăn đó. Một người cãi lại.

– Thôi đi cha, sao họ biết mình ghé vào mà trồng sẵn rau muống. Mình là ông nội họ chắc? Tui nghĩ dân Mã Lai Á cũng ăn rau muống nhưng khác ở chỗ họ nấu bằng cá cơm thay vì thịt heo hay tôm khô như mình. Người khác đáp lại.

Cơm ngon nhưng chỉ có một dĩa nên ai cũng thanh toán lẹ làng, đám lính trên xe thu dọn đồ lề rồi rút gọn. Một giờ sau lại có lệnh buộc đám nam giới chúng tôi dọn dẹp sân trại lần nữa và sửa chữa cái hàng rào cùng bàn ghế hư cũ. Ông Thăng, ông Phát liền chia người ra ba nhóm đi vét các rãnh nước chung quanh hai căn nhà lều phòng trời mưa và đào thêm nhà vệ sinh cùng các hố tháo nước. Nhóm còn lại vào rừng chặt một số cây thẳng để gia cố các chỗ hỏng, gẫy mục cho cứng chắc.

– Không nên một mình vào rừng vì ở đây có cọp, trăn và rắn độc. Gã lính dặn dò nhóm người chặt cây làm hàng rào.

Phía nữ được ở yên chỗ, một bà thấy chỉ có nam giới phải đi làm nên nói:

– Tối hôm qua mấy ông ở không, giờ họ bắt làm bù mới công bằng chứ.

Tôi và Đỉnh ở trong nhóm mười hai người đi vào rừng chặt cây. Gã lính dặn ông Thăng nói chúng tôi phải xong mọi việc trước 5 giờ chiều rồi y lấy ra 3 cây mã tấu cho cả bọn dùng. Đi chung với nhau ai nấy cười đùa vui vẻ, nếu có cọp hay trăn mà gặp đám đông như vầy thì cũng phải chạy tét. Mấy thanh niên cầm mã tấu đi đầu, tay loang loáng chặt các cây nhỏ cản đường. Nói vào rừng chặt cây nhưng thực tế chúng tôi phải đi kiếm mới có loại cần dùng. Cả đám vượt qua các khoảng rừng cây to, có lúc gặp thân cây mục nằm vật ngang giữa đường phải tìm cách trèo qua đi tiếp. Gặp cả những bụi tre rừng rồi qua bãi cỏ tranh thì may sao gặp được một khu vực có cây chồi nhỏ mọc sát thân thẳng tắp. Chúng tôi dừng lại, trong nhóm có người từng có thời đốn cây rừng hầm than góp ý:

– Mình chẳng ở trại này lâu, theo tôi nên tìm cây tạp đừng lựa cây lá kim gỗ cứng khi chặt sẽ đau tay lắm, phí sức.

– Tụi này đâu biết cây nào gỗ tạp cây nào lá kim… Ông nói vậy thì chỉ cho biết đi. Một người khác nói.

– OK! Đưa tôi cây mã tấu. Người đàn ông gợi ý trả lời và rồi cầm cây dao to từ tay một thanh niên trong nhóm. Ông ta xăm xăm lại đám cây mọc chen sát thẳng bên nhau cao vút và vung dao chặt đứt vài cành thấp của một số cây trước mặt, miệng nói: ” Cây này… cây này… cây này nữa… mấy cây này thì bỏ, không chặt “.

Ông ta đã làm dấu và chúng tôi cứ theo đó mà đốn ngã từng cây một rồi vạt bỏ hết cành chung quanh. Một thanh niên vừa làm vừa hỏi thêm:

– Sao ông biết phải chọn những cây này?

– Kia kìa! Thấy lá của nó không… nhỏ tí xíu so với mấy cây mình chặt. Ống ta hướng đầu về một đám cây rừng gần đó và thêm: ” Cây lá kim hầu như lớn chậm lắm nhưng gỗ rất tốt. Tốt nên nó nặng hơn loại cây tạp, nhẹ hều. Dân đốt lò trên rừng hầm than thường lựa loại cây gỗ tốt như Cầy, Căm xe… Khi thành than rồi nó vừa nặng, đốt rất đượm lại lâu tàn. Khi bán mới có giá. Chỉ lúc hết cây tốt thì mới phải dùng tới cây tạp thôi “.

Những cây chúng tôi lựa to cỡ cườm tay và được chặt dài khoảng 3 m theo lời dặn của ông Thăng. Không lâu sau đó đã đủ số được giao 3 cây cho mỗi người. Cả đám xong việc sớm ngồi nghỉ, vài người phàn nàn về bữa cơm trưa. Con cá chiên khá lớn và canh nhiều mà cơm lại ít xỉn, người lớn hay trẻ nhỏ gì cũng một dĩa bằng nhau. Chia hết vòng vẫn còn dư cơm mà đám lính cũng không múc thêm cho. Một ông vóc dáng to con, bực bội:

– Nói thẳng, sức tôi phải 2 dĩa thì mới thấm. Mấy người có con nhỏ còn được ké thêm. Cơm dư trong thùng mang về cũng bỏ, không lẽ lính chịu ăn thừa? Vậy mà cũng không cho.

Có lẽ phần ăn của từng người chúng tôi là như vậy, đám lính chỉ thừa hành lệnh cấp trên.

Ngồi không, có người đề nghị đi sục sạo kiếm trái cây rừng để ăn cho vui miệng nhưng người khác lại sợ vì lời dặn của đám lính trước khi đi. Rừng Mã Lai Á có loài cọp nhỏ cỡ con chó lớn nhưng rất hung dữ. Còn trăn? Tuy không có nọc độc nhưng loài này có thể quấn chết rồi nuốt sống gọn một người lớn như chơi. Nhất là loại trăn gió, chúng có thể chuyền từ cây nầy sang cây khác để tìm mồi mà không gây một tiếng động. Ngồi không mãi một chỗ cũng chán, cả bọn quyết định cắt rừng để quay trở về. Gần tới trại, chúng tôi gặp một khoảnh đất trống trải nằm lọt thỏm giữa cây rừng bao chung quanh. Cả đám dừng lại bên cây Thánh giá gỗ có hàng chữ đen Truong Cong Dai mờ nhạt cắm ở một trong các gò đất lúp xúp. Một nghĩa địa người vượt biên từng sống ở đây. Tên là nam giới rõ ràng nhưng Dai là Đại, Đãi hay Đài? Người này chết lâu mau vì không thấy ghi ngày sinh ngày tử? Tuy vậy, nạn nhân vẫn hơn các người khác vì có cây Thánh giá ghi tên. Nằm xuống vĩnh viễn ở rẻo rừng xứ người, chắc gì thân nhân của họ bên quê nhà đã biết tin.

Gặp nghĩa địa, đám chúng tôi ai nấy cũng cảm thấy buồn buồn trong lòng. Một ông làm dấu đạo Thiên Chúa, miệng lầm thầm nguyện kinh nho nhỏ. Đêm bị tàu hải tặc đuổi, nếu không có cơn mưa đột ngột, số phần chúng tôi chắc không khác những người tị nạn bất hạnh nằm ở đây. So ra, ghe chúng tôi thật may mắn vì đến được xứ người bình an.

Cây thẳng mang về tới trại, gã lính mang ra búa và đinh cho cả bọn gia cố các chỗ hư hỏng ở hàng rào và ở hai dãy bàn ăn. Hai nhóm kia cũng đã làm xong các việc được giao, căn trại bây giờ trông sạch sẽ hơn. Ai nấy mồ hôi nhễ nhại nên ông Thăng ông Phát xin phép bọn lính cho chúng tôi được đi tắm thêm lần nữa. Đám lính gật đầu, chúng tôi hăm hở lên đường. Đến gần suối, để ý thật kỹ cả bọn mới thấy có thêm một lối mòn khác nằm phía tay trái, ngược với hướng con suối nam giới tắm. Lối mòn đó là hướng đi tắm của nữ giới trong trại.

Bữa cơm chiều cũng món ăn y như khi sáng nhưng nam giới do làm việc, ai cũng đói bụng nên ăn thật ngon.

Chúng tôi đã sống trong căn trại này được ba ngày. Cứ tuần tự sáng dậy sớm lúc 7 giờ vệ sinh cá nhân, 8 giờ ăn điểm tâm, 9:30 nam giới đi ra suối tắm giặt. Khi đám nam giới về thì đến phiên nữ giới. Xong vụ tắm giặt trời đã trưa, chúng tôi phải chờ đến 1 giờ thì xe chở cơm mới đến. Bữa cơm chiều lúc 5 giờ, sau đó chẳng có việc gì làm ngoài chuyện nằm ngủ, đi tới lui trong sân hoặc tụ họp nói chuyện đời cho đến khi trời tối. Tối, cả bọn kéo vào căn nhà lều và chờ đến 10 giờ khuya khi đám lính ngưng máy điện thì ngủ.

Lính gác trại không ăn sáng như chúng tôi mà hầu như chỉ cà phê thuốc lá. Thỉnh thoảng, mới thấy họ nấu mì gói để điểm tâm. Cơm trưa hoặc cơm chiều khi xe chở đến trại, đám lính cũng nhận khẩu phần đựng trong các khay nhôm che kín nên không ai biết loại thức ăn gì ở bên trong? Ngày hôm qua, ông nhân viên bộ Nội vụ và hai sĩ quan quân đội vào thăm chúng tôi sau bữa ăn trưa. Đi lòng vòng trong trại, vẻ mặt họ hài lòng khi thấy căn trại sạch sẽ và gọn gàng. Ba người họ thông báo cho chúng tôi biết là đã liên lạc với đại diện của Cao Ủy LHQ tại Kuala Lumpur xong. Ông Thăng hỏi họ bao lâu nữa thì chúng tôi rời khỏi trại và rồi sẽ đi đâu? Vào Sungei Besi hay ra đảo tị nạn Pulau Bidong? Ông Alek bảo chúng tôi cứ chờ và sẽ được thông báo sau. Khi biết ghe chúng tôi ra khỏi nước đã hơn tuần lễ, một sĩ quan quân đội lấy ra một chồng giấy cùng bút mực và bì thư cho chúng tôi, nói ai muốn gửi thư cho thân nhân thì viết ngay. Ông ta sẽ ghé lại trong vài ngày tới và chuyển các thư về Việt Nam liền. Tôi xin giấy, viết liền thư cho gia đình.

Ăn ở không nhưng ai cũng cảm thấy bụng rất mau đói và mong giờ cơm tới sơm sớm. Có một bất tiện trong việc ăn uống đó là xong bữa cơm chiều lúc 5 giờ thì chúng tôi phải qua một đêm dài đến 8 giờ sáng hôm sau mới có điểm tâm mà chỉ vỏn vẹn một gói bánh qui nhỏ cùng bịch nước trà đường nóng khoảng 1/3 lít. Thời gian cách quãng giữa hai bữa ăn đó quá dài làm nhiều người cảm thấy sót ruột vì bụng trống, nhất là các cháu bé. Trẻ nít khóc vì đói, cha mẹ nhìn con mà bó tay còn người lớn đánh lừa bao tử bằng các hớp nước lã. Những người có con nhỏ như Tám Kiệt, ông Thăng… bàn nhau thử dò hỏi bọn lính gác để mua thêm thức ăn. Đám lính lúc đầu gồm 6 người nay rút xuống chỉ còn 3. Mới bàn và chưa kịp dò ý với bọn lính thì chính chúng lại tỏ ý trước. Chúng biết người vượt biên có vàng, dollar mang theo. Xã hội nào cũng có người nghiền thuốc lá điếu, cà phê và nếu thiếu các thứ này, mặt người đó sẽ tiều tuỵ, cơ thể mệt mỏi tuy… không chết. Sơ khởi, bọn lính mang thuốc lá điếu và cà phê ra bán nhưng chỉ nhận tiền Ringgit (tiền Mã Lai Á) thôi. Thấy người trong chúng tôi sùy ra dollar, chúng vờ vĩnh không biết xài mà chỉ đòi tiền Ringgit. Do vậy, đành phải để chúng đổi dùm luôn. Cứ 100 dollar Mỹ, chúng đổi lấy 200 Ringgit. Hối suất hai loại tiền thực sự bao nhiêu thì không ai biết nhưng bọn lính phải có lời. Được cái tiền Mã Lai Á có giá trị vì chỉ 10 Ringgit thì cũng mua được kha khá thức ăn. Ai không có dollar mà có nhẫn vàng 24 cara thì chúng cũng sẵn sàng đổi giùm luôn. Thậm chí, đồng hồ đeo tay chúng cũng nhận đổi nhưng phải còn mới và tốt.

– Đến được đây coi như thành công, còn cái đồng hồ đổi lấy tiền mua thuốc lá hút cho miệng đỡ nhạt. Không có đồng hồ cũng chả sao. Một ông tháo cái đồng hồ Seiko 5 trên tay, phân bua trước khi đưa cho gã lính.

Giờ đây muốn có thứ gì chỉ cần đưa tiền ra, đám lính phóng xe máy chạy đi mua liền. Có người nhờ mua cả bếp dầu, chảo và xoong-nồi nhỏ nhưng không phải ai cũng có dollar thủ trong người hoặc sẵn vàng, tư trang quý để trao đổi với đám lính. Người có Ringgit mua thêm thức ăn, cà phê và thuốc lá về nhâm nhi làm người không có rất thèm. Đành chịu, không lẽ mở miệng xin. Tám Kiệt thấy vậy, y lẳng lặng bỏ tiền mua thêm cà phê, thuốc lá cùng bánh kẹo cho người trong trại hưởng chung. Tâm lý con người thật kỳ, lúc đầu thấy hành động của Tám Kiệt làm thì ai cũng khen thầm rồi chỉ sau một hai ngày cà phê thuốc lá đã có tiếng xầm xì sau lưng. Nói Tám Kiệt thu được khối vàng khi tổ chức vượt biên và hối lỗi, muốn mua cái đức cho mấy đứa con sau cơn hút chết trên biển. Tám Kiệt nghe được các chuyện đó, mỉm cười thố lộ:

– Đầu người đi trong ghe chỉ 2 cây nếu khách trực tiếp nói chuyện với tui. Còn mối của ai khác sang qua mất bao nhiêu tui không quan tâm. Cả ghe 135 người đi thì đã 30 người là gia đình, bà con và trong băng tui. Số khách còn lại, tưởng nhiều thật nhưng tiền công đưa rước rồi phải cúng cho bọn công an nên cũng chẳng dư bao nhiêu. Cái chính là tui đưa gia đình đi thoát là mừng, sang được xứ người thì mình sẽ làm lại cuộc đời mấy hồi.

Thực ra trong túi nhiều người cũng còn tiền nhưng loại tiền đã thành các tấm giấy màu không chút giá trị, đó là tiền in hình lão già. Đủ loại tiền từ tờ bác đau gan, bác sợ cho đến bác say rượu (tiền Việt Cộng có hình mặt Hồ Chí Minh mầu vàng 200 $, mầu xanh xám 50.000$ và mầu đỏ 500$, 10.000). Nhiều người lấy tiền đó vất bỏ gần hố rác sau khi cho đám lính xem. Thấy vậy, tôi gom lại được một bó ước đoán trên 7 triệu đồng và cất trong túi xách dù chưa biết sẽ làm gì với số tiền này.

Buổi tối, bóng người lui cui nấu nướng bên những ánh lửa xanh của các bếp dầu ở mé sau căn nhà lều nữ giới. Mùi món ăn, cà phê nóng bay thơm ngào ngạt trong tiếng xèo xèo chảo chiên.

Mối thân thiện giữa đám lính gác và người trong ghe tăng lên. Một gã lính trẻ tên Daniel có máu văn nghệ, y có một cây đàn guitar. Vài người trong ghe cũng biết guitar nên nhanh chóng thân thiện với gã. Trưa nào cũng vậy, sau bữa cơm thì túm tụm dưới bóng mát một nhúm con trai con gái đàn hát bên nhau. Nhạc Việt, nhạc Mã Lai Á hoặc nhạc trẻ ngoại quốc văng vẳng trong cái tĩnh mịch của trại lính giữa rừng.

 

Thư chúng tôi viết xong, viên sĩ quan quân đội ghé vào trại lấy đi rồi nên ai cũng vui khi nghĩ thân nhân bên quê nhà sớm muộn gì cũng biết tin về chuyến đi. Ở yên chỗ, tạm thời vất bỏ các lo lắng trước mắt, các cô gái trẻ se sua lại y phục, trang điểm khuôn mặt và mái tóc mỗi khi đi tắm về. Theo đề nghị của nhiều người, đám lính cho phép chúng tôi vào rừng lần nữa để chặt cây về làm thêm hai dãy bàn ăn. Rồi kế đó thì ở mé sau căn nhà lều nam giới, đất cũng được chúng tôi san phẳng và cất một lều tròn nhỏ lợp tranh có cả bàn ghế nghỉ trưa. Nhờ vậy, tới giờ ăn, ai cũng có chỗ ngồi ở bàn gọn gàng không còn cảnh bưng dĩa cơm đứng lêu bêu hoặc ngồi bệt dưới đất như trước nữa. Ngồi chung bàn ăn cơm, một hai lần tôi đã đối mặt với cô gái ở dưới khoang hầm cá lớn và biết tên cô là Đoàn Hải Yến, 20 tuổi. Chim én biển họ Đoàn, cái tên đẹp như khuôn mặt cô. Từ lúc còn ở ngoài bãi biển, cô đã nhận ra tôi là người bên cô dưới khoang hầm cá lớn và đã đến hỏi chuyện. Én biển nhưng chịu không nổi các cơn sóng. Có lần, trong bữa cơm Yến đã hỏi tôi khi đó đang ngồi chung với Đỉnh:

– Anh Vũ! Yến nghe mấy chỉ nói người nào là lính VNCH hoặc liên quan với chế độ cũ thì sẽ được họ cho vào Sungei Besi, còn không thì sẽ phải ra đảo Bidong ở. Phải không?

Tôi gật đầu dù không biết chắc về cái tin đồn. Đầu đuôi câu chuyện là do lính gác trại xì ra cho mấy cô gái biết và đám đàn ông đã bàn bạc liền ngay đó. Người gốc lính hoặc viên chức thời VNCH như ông Hưng ông Thăng, ông Phát… đều phấn khởi vì nghĩ vào được Sungei Besi thì chỉ chờ làm thủ tục đi định cư tại đệ tam quốc gia. Phải chuyển ra đảo Bidong thì bị xét lý lịch và phải chờ rất lâu nếu nhân thân lờ mờ hoặc thuộc phe Việt Cộng. Đỉnh ngồi cạnh, hích nhẹ đùi vào chân tôi miệng cười tủm tỉm. Yến đã hai lần mang cho tôi mì gói và thuốc lá. Tôi không hút thuốc định đem trả thì Đỉnh giữ lại dành phần cho nó. Sau lúc đôi co giữa tôi với cậu thanh niên đòi lại bộ quần áo rồi do sắp xếp, Đỉnh và tôi nằm sát bên nhau trong căn nhà lều khiến cả hai thân thiện với nhau hơn, đi đâu cũng hai đứa. Có lần Đỉnh đã kể về cha ruột hiện đang sống tại Mỹ.

– Ba em là trung úy tòng sự tại nha an ninh quân đội  VNCH. Sau ngày 30-4-1975 ổng bị Việt Cộng tập trung cải tạo như các sĩ quan khác. Mẹ em tưởng chỉ có một tháng sẽ về nào ngờ ông đi đằng đẵng cả mấy năm. Anh biết khi đó em mới có 13 tuổi còn niên thiếu, biết gì. Lúc mấy tháng đầu không thấy ba trong nhà, em cứ hỏi mẹ rồi hỏi mãi thì mẹ em gắt không biết nên sợ không dám hỏi nữa. Cả năm trời không thấy ba em về mà cũng chẳng có tin tức gì của ổng, mẹ em ra chợ Tân Bình, sang lại một sạp buôn bán quần áo cũ sống qua ngày chờ xem tình hình. Bất ngờ có thư của ba gửi về cho biết chỗ ổng bị giam, mẹ em mừng quá liền đi thăm ngay nào ngờ khi đến nơi, quản giáo nói ông đã bị chuyển sang trại khác. Mẹ em đành quay về, lên phường xin giấy đi thăm nuôi thì bọn công an bảo chưa được phép, phải chờ. Chờ cả mấy tháng trời không được cấp giấy, mẹ em lại đến trại của ổng thì được biết đã chuyển đi nơi khác rồi và lần này thì quản giáo không biết ổng chuyển đi đâu nữa. Mãi hơn ba năm cho đến một hôm thì tự dưng bọn công an phường đến nhà hỏi thăm nhiều chuyện về ba càng làm mẹ em lo lắng, rối trí thêm. Rồi một lần, có vài người lạ mặt đến gặp mẹ em và gặp riêng cả em nữa anh.

Ngừng một chút, Đỉnh tiếp:

– Mấy người đó tự xưng họ ở trong tổ chức phục quốc và muốn liên lạc gấp với ba em, hỏi em biết ba đang ở đâu thì chỉ chỗ. Em đâu biết phục quốc phục kiết gì. Phần mẹ em thì ngạc nhiên vì từ lúc ba đi cải tạo tới giờ còn không biết chỗ để liên lạc thăm nuôi. Khi mấy người này đi khỏi nhà thì mẹ em lờ mờ đoán đã có chuyện với ba em. Khổ cái gia đình không biết đi hỏi dò tin tức ở đâu. Đỉnh dứt lời, ngồi im lặng như nhớ về chuyện cũ.

– Rồi sao nữa, kể tiếp? Tôi hỏi dồn Đỉnh.

– Một ngày vào cuối năm 1980, lúc đang bán hàng ở chợ thì mẹ em tình cờ gặp lại một thuộc cấp dưới quyền ba em khi trước. Nhờ ông này, mẹ em liên lạc được một người tù cải tạo đã có lúc ở chung trại với ba em và được chính quyền Việt Cộng  thả về sớm. Đến nhà ông ta rồi thì mẹ em mới biết ba đã trốn khỏi trại Suối Máu từ cuối năm 77.

– Trốn khỏi trại từ năm 77 mà ba mày không về nhà? Tôi hỏi.

Đỉnh lắc đầu, kể tiếp:

– Mẹ em nghe tin kể, về đến nhà thì lâm bịnh vì chuyện đó. Thời gian ổng bỏ trốn trại, tính ra đã quá lâu mà không thấy về nhà nên mẹ em nghĩ ba đã chết. Mẹ em bịnh nằm đó, bỏ mặc việc đời. Lúc đó em đã hơn 18 tuổi nên phải thay mẹ bán hàng nuôi cả nhà. Quên không nói anh biết trong nhà còn 2 đứa em gái nữa. Chính vì bán hàng ở chợ trời nên khiến em có cái tính du côn trong người nhưng thực sự không phải như vậy.

Đỉnh cười hiền lành, tiếp:

– Cả năm trời mẹ em nằm liệt trên giường gần như buông xuôi tất cả thì gia đình nhận được tin ba em đang sống tại Mỹ.

– Sống ở Mỹ! Sao biết ba em ở Mỹ? Tôi ngạc nhiên:

– Từ lá thư của ổng gửi bên Mỹ về và nó đã cứu mạng mẹ em. Trước lúc đó, anh biết sức mẹ em yếu lắm, bà buồn rồi bịnh gần như sẽ chết. Lá thư là thuốc tiên đã làm bà trỗi dậy được và hồi phục nhanh chóng. Sau lá thư là các thùng hàng ba em gửi về giúp gia đình. Nhờ vậy mà mẹ em đã có phương tiện để lần lượt lo cho từng người trong nhà đi vượt biên, kể cả mẹ em nữa. Người trong nhà em đi chuyến nào thắng chuyến đó, chỉ có mình em bị trục trặc hoài. Đánh chuyến nầy mới thoát đó anh.

– Ba mày trốn khỏi trại tù cải tạo rồi sau đó vượt biên tới Mỹ phải không Đỉnh? Chuyện ly kỳ nha mày!  Mà mày có biết chuyện của ông trốn trại như thế nào không? Tôi thắc mắc.

Đỉnh lắc đầu, tiếp:

– Đại loại câu chuyện là vậy. Em cũng không biết chuyện ông đã làm ra sao, định bụng khi nào sang được Mỹ gặp nhau thì sẽ hỏi cho rõ.

– Phải bị chuyển ra ở đảo Bidong khổ lắm, Yến nghe bảo còn phải chở nước uống từ đất liền ra nữa phải không hai anh? Lời cô gái kéo tôi về cuộc trò chuyện, Đỉnh ngồi yên không đáp, tôi nói:

– Anh không biết rõ. Nếu có như vậy thì chật vật thật mà cũng không chắc vì đảo nào cũng có các nguồn nước ngọt tự nhiên. Tôi kể cho Đỉnh và Yến nghe về lần bị kẹt ở hoang đảo trong chuyến đi vượt biên kỳ trước.

Có lần khi ở trong căn nhà lều, Đỉnh lôi trong túi xách vài tấm hình mầu gia đình chụp bên Mỹ ra cho tôi xem. Trong các hình, ba mẹ Đỉnh trông rất sang , đứng bên nhau trước khuôn viên một căn nhà thật đẹp có sân cỏ xanh rì bằng phẳng hoặc gần những bụi hoa bên cửa sổ lớn. Hai em gái Đỉnh trông thật duyên dáng ngồi ở sofa phòng khách gần bên cái TV to đùng. Vườn sau nhà, trồng những cây đào đang mùa cho trái. Những trái đào to mơn mởn thấy rõ cả các lông tơ trên bề mặt. Đỉnh lấy tay chỉ vào trái đào trong hình hỏi tôi:

– Anh biết trái đào này giống cái gì không?

– Giống cái gì? Tôi hỏi lại nó.

– Gò má con Yến đó. Trời ơi! Được cắn nhẹ vào đó một cái thì sướng lắm. Đỉnh cười thành tiếng, tiếp: ” Làm tới đi anh Vũ ơi “.

– Mày cứ đùa tao. Tôi trả lời.

– Không, không đùa đâu. Em biết con nhỏ thích anh. Anh không nhào vô ngay để thằng khác vớt mất uổng lắm. Đỉnh nhìn tôi.

– Thôi Đỉnh ơi! Nói tầm bậy tầm bạ không hà. Tôi ngắt lời.

– Thiệt! Em nhìn cặp mắt khi con nhỏ nói chuyện với anh là em biết liền. Chịu anh lắm đó anh Vũ. Tin em đi.

– Mắt nó! Sao mà mày biết nó chịu… tao. Nói nghe coi.

Đỉnh kẹp các tấm hình trong một quyển sổ rồi cất chúng lại vào túi xách xong, khẽ nói với tôi:

– Cặp mắt ướt rượt, đắm đuối khi nhìn anh là hiểu rồi. Em quan sát kỹ mỗi khi anh và nó nói chuyện với nhau. Tình yêu đến từ đôi mắt… Kinh nghiệm đã dạy em.

Kinh nghiệm của Đỉnh, theo nó nói là nhờ những năm tháng bán hàng ở chợ trời Tân Bình mới có được. Mỗi khi có khách ghé vào sạp, nó chỉ cần nhìn cặp mắt, lời nói và thái độ thì đã biết ngay người đó có muốn mua hàng hay không? Có khách say món hàng, chỉ sợ bị mua tranh mất khi thấy người khác mới đến xem. Những lúc như vậy thì rất ngon ăn, cầm chắc sẽ bán món hàng với giá hời. Ngay cả khách khi đến đưa hàng của họ ra để bán, Đỉnh kể nó có thể biết người khách muốn bán thật hay chỉ vờ dọ giá qua lời nói và thái độ. Đỉnh cười đắc chí rồi quay lại chuyện của Yến.

– Con nhỏ thích anh lắm mà em hỏi thật, anh và nó đã làm gì ở dưới ghe với nhau. Khai báo ngay.

Tôi kể vắn tắt cho Đỉnh biết về cái va chạm nhỏ giữa tôi và cô gái khi ở dưới khoang hầm cá lớn. Đỉnh yên lặng chốc lát rồi nói:

– Con gái nó vậy đó. Thích, thương hoặc ghét một thằng cà chớn nào có khi chỉ bắt nguồn từ những cái nhỏ nhặt, bất thường. Con nhỏ xinh gái lắm chứ anh, bộ anh không biết à? Nhào vô đi, đừng chần chờ nữa.

Đỉnh khỏi nói ra thì tôi cũng biết Yến rất xinh. Đỉnh xúi nhào vô, thật sự trong tim tôi có lúc vẫn còn hình ảnh của Ánh Phương và của cả Hường nữa. Ánh Phương thì chưa biết số phận ra sao còn Hường, chắc nàng vẫn mong sẽ có thư tôi sớm. Nghĩ về Ánh Phương và Hường làm tôi im lặng, phân vân.

Một buổi trưa khi đang thiu thiu ngủ trong căn nhà lều thì tai tôi nghe có tiếng la hoảng hốt vọng lại ở bên ngoài. Tiếng la từ phía cổng trại, tôi chạy vội ra xem. Một đám người lớn nhỏ đứng lố nhố chỉ tay về hàng cây rừng cạnh đường mòn hướng đi ra suối. Một con vật khá to, lông đen tua tủa đang lững thững đi từng bước từng bước về phía trại. Đầu con vật lúc lắc khi sang phải khi sang trái và có lúc, nó dừng lại nhìn đám người chúng tôi. Hai cái nanh vàng lườm dài cả gang tay lòi ra ở bờ mép, có người la lớn.

– Heo rừng bà con ơi, gọi tụi lính mang súng ra bắn nó.

Nghe ồn ào, hai gã lính gác tay thủ súng trường M 16 từ trong căn nhà lều nhỏ đi đến chỗ đám đông chúng tôi. Một phụ nữ tay chỉ con heo rừng, miệng lí nhí vài câu tiếng Anh: ” Animal, animal… shoot… shoot, please “. Con heo rừng chết tới nơi, ai cũng hồi hộp chờ xem một cảnh bắn thú hoang trước mắt. Thật ngạc nhiên, vừa thấy con heo rừng đó thì hai gã lính vội khoát tay xua chúng tôi quay trở ngay vào trại. Vài người còn cố nán lại nhìn con vật không có vẻ gì sợ người, đủng đỉnh đi từ từ và sắp khuất sau các bụi cây ở bìa rừng. Đuôi con heo, như một cái chổi cùn nhỏ vẫn còn quất qua đảo lại ở bờ mông to.

Đám chúng tôi bước trở vào trại thắc mắc tại sao bọn lính không bắn hạ con heo rừng? Phải chi hạ nó, ngay tối nay cả trại sẽ có món thịt quay thịt nướng ngon phải biết. Sống ở rừng, việc gầy một bếp than hồng rực lửa đâu khó khăn. Thịt heo tươi như thăn, đùi… mà nướng trên bếp than hồng còn gì hơn! Mỡ chảy xuống các hòn than đỏ, mùi thơm ngào ngạt bốc lên sẽ điếc cả mũi. Còn bộ lòng nữa. Không có nồi lớn để nấu cháo lòng cho cả bọn thì chia ra nấu bằng xoong nhỏ cũng xong. Chỉ nghĩ không thôi mà tiếc hùi hụi. Kể từ lúc xuống dưới ghe cho đến giờ, ai đã được nếm món thịt heo! Cơm hàng ngày trong trại chỉ rặt cá chiên rồi lại cá chiên. Cứ hết cá ngân lại cá bạc má hoặc cá lù đù rồi cá hường. Những ngày đầu ai cũng khen ngon vì bọn đầu bếp chiên cá rất dòn, ăn được luôn cả đầu. Nay ai cũng phát ngán, có dĩa cơm còn bỏ dở hơn nửa con cá. Người có tiền nhờ bọn lính mua thịt thì chỉ toàn thịt gà. Đỉnh đến bên tôi, chắc lưỡi tiếc vì cứ nghĩ nó sẽ chộp được một cái nanh heo để có dịp bịt vàng hình ông Phật đeo trừ tà.

– Anh Vũ biết không, ở chợ Tân Bình em đã thấy có người đeo những cái nanh bịt bạc nhưng ngắn ngủn đâu có dài bằng của con heo ban nãy. Uổng quá, dễ gì có bên Việt Nam mình.

Tôi và Đỉnh kéo nhau về lều tranh ngồi trò chuyện cùng những người khác. Không như bên quê nhà, thú rừng ở đây thấy người đã không sợ còn đủng đỉnh giương mắt nhìn. Người nói hai nanh lòi dài cả gang tay, con heo đã quá già thuộc loại lăn chai, độc chiếc… thịt dai nhách không ai thèm nên lờn mặt mới thong dong như vậy. Một cậu trẻ quả quyết bọn lính không bắn con heo rừng vì họ theo Hồi giáo có tục thờ heo. Câu ta so sánh với đạo thờ bò bên Ấn Độ. Nơi đó, dân chúng không dám xua đuổi khi con vật nằm ì ở giữa đường cản lối xe cộ qua lại. Thậm chí khi gặp được bò đang đái, có tín đồ còn hứng lấy nước tiểu rồi vuốt lên tóc lên mặt mình nữa. Con vật thiêng tôn giáo, như vậy ai mà dám giết. Phạm thượng sao! Nhưng ông Thái, người đã đọc kinh ở khu mộ địa khi nghe như vậy đã bật cười, cải chính:

– Cậu này nói sai rồi. Sở dĩ tụi lính không bắn con lợn lòi vì bởi tín lý đạo Hồi coi nó ô uế do bị ma quỷ đã nhập vào nên không bao giờ ăn thịt nó chứ không phải họ thờ heo đâu. Đạo Do Thái cũng tin y vậy đó.

Cậu trẻ im lặng không cải chính, ông Thái nói tiếp:

– Ngoài việc không ăn thịt heo, tín lý đạo Hồi còn không cho phép ăn thịt những giống vật bay trên trời, nằm vùi sâu dưới bùn hoặc bò lết trên mặt đất. Họ chỉ ăn thịt những con vật có chân hai móng chẻ và nhai lại như bò, dê, cừu… thôi. Con heo, có chân hai móng chẻ nhưng không thuộc loài nhai lại còn ngựa, tuy nhai lại nhưng chân nó chỉ có một móng nên họ cũng không ăn.

Sau hôm đó, bữa điểm tâm ngày kế thì không phải gói bánh qui nhỏ cùng bịch trà đường như thường lệ mà đám lính cho chúng tôi mỗi người một cái bánh patechaud khá lớn và một hộp nhỏ sữa lạnh. Hai thùng nước trà đường nóng thay cho nước lã đun sôi. Rồi khi nam giới chúng tôi đi tắm về, thấy một xe van trắng của hội Hồng Nguyệt đậu sẵn trong sân trại và được lệnh xếp chung hàng để ba nhân viên y tế khám bệnh, phát thuốc và chích ngừa sốt rét. Chúng tôi, mặt người nào ngươi nấy vui mừng thấy rõ và suy diễn đủ thứ tin có lợi.

Đã thế, bọn lính cho chúng tôi món ăn mới là thịt trừu kho và đậu ve luộc trong bữa trưa. Ở Việt Nam, kho thịt hay cá đều thắng đường làm nước mầu rồi nêm bằng nước mắm và cho hành lá vào. Cục thịt trừu kho trắng nhách trong ít nước mặn sền sệt mùi gây gây, trông không bắt mắt nhưng ai cũng ăn rất ngon, dĩa để lại trên các bàn sạch nhẵn. Bữa cơm đã củng cố niềm tin của cả bọn. Phần cơm cho người lớn cũng nhiều hơn và hai thùng nước mới đổi cũng đầy tới miệng là nước trà nóng pha đường.

Được nhân viên hội Hồng Nguyệt chích ngừa sốt rét rồi khám bệnh cho thuốc nên người nào cũng thủ được ít thuốc cảm, thuốc ho trong túi xách. Thức ăn đổi sang món khác khiến ai cũng phấn khởi, nghĩ cả đoàn ghe đã được chính quyền Mã Lai Á  chấp nhận cho vào trại tị nạn chỉ trong nay mai.

Trưa hôm nay trời đứng gió, không khí hầm hập nóng bức khiến không ai có thể ngủ trưa được nên kéo nhau ra ngồi ở lều tranh hoặc các chỗ mát trò chuyện. Như mọi ngày, một nhóm nam nữ ngồi túm tụm đàn hát với hai gã lính dưới một bóng cây gần cổng trại, gã lính còn lại thì nằm ngủ trong cái võng căng dưới một chỗ mát. Đây đó, những đứa trẻ la hét ầm ĩ đùa giỡn cút bắt với nhau. Trời quá nóng, Đỉnh và tôi lòng vòng trong sân rồi lách qua hàng rào trại để đi vào rừng. Cây to đan kín nhau che mất mặt trời làm không khí trong rừng thật mát khác hẳn khi ở sân trại. Vài con sóc chạy vội trên các cành cây tạo các tiếng động nhẹ. Chim chóc đảo cánh qua lại, kêu rả rích. Rừng ở đây có nhiều loại lan mọc tầm gửi trên các tầng cao. Có loại lan hoa màu cam hoặc mầu trắng nhỏ như hạt gạo nhưng nổi bật vẫn là các chùm lan Ngọc Điểm tím nhạt e ấp trong các tàu lá xanh. Lan rừng sẵn và dễ lấy sao không gã lính nào hái mang về trang trí hay là họ cũng vừa đến sống trong căn trại này? Hình như chỉ dân châu Á da vàng như người Việt, Tàu và Nhật Bản mới có cái thú chơi lan rừng thôi. Những lùm dứa dại có lá mầu tím mầu xanh thẫm nhô ra từ những cụm đá trắng trong ánh nắng trông thật đẹp. Nhiều đoạn dây leo mầu xám mốc trắng lốm đốm to bằng cổ tay bò quấn sát vào các thân cây trông thật giống một con rắn lớn. Lá vàng nằm rải rác trên mặt đất mềm còn in dấu chân thú, khúc rừng này khác với chỗ tôi vào chặt cây và đốn tranh trong hai lần trước.

Bước trên cỏ xanh mịn như nhung, rừng trưa thật tĩnh mịch và vắng lặng. Thấy đi đã khá xa trại, tôi kéo tay Đỉnh định quay về thì tai nghe một tiếng động nhỏ rồi im bặt. Không nghe thêm gì nữa, cả hai vừa mới dợm bước lại có tiếng như người rên nhẹ. Tôi và Đỉnh nhìn nhau, nghe rõ tiếng rên nhưng chưa biết là cái gì? Hai chúng tôi bước thêm vài bước, lắng nghe. Hình như tiếng rên đó phát ra trong một bụi rậm dưới bóng những thân cây lớn, nằm xê xế phía bên phải ở một quãng không xa.

– Chết… trời ơi… Âm thanh chầm chập trong trẻo của phụ nữ. Tôi và Đỉnh nhìn nhau thì tiếng thở phì phò liền sau đó chung với tiếng rên: ” Trời ơi! Chết… Chết thôi “.

Không gian tĩnh mịch chỉ có vài tiếng chim hót đây đó.

Tiếng phì phò lại nổi lên nhè nhẹ, tôi và Đỉnh nhìn nhau thất sắc. Chuyện về loài trăn gió khổng lồ trở về trong tâm trí vì mấy ngày trước theo toán người vào rừng cắt tranh, chặt trúc về lợp mái tròn chỗ nghỉ. Gã lính ôm súng đi cùng đã kể về chuyện trăn quấn người rồi nuốt trộng. Xứ này vì dân chúng không ăn thịt loài bò sát nên ở ngoài thiên nhiên, trăn thường rất lớn con. Tiếng phì phò vừa nổi lên lại tắt nghẽn làm như bị vướng một cái gì đó hòa với giọng nữ: ” Chết… Chết… Trời ơi! “, rên xiết như đang chịu cơn đau đớn.

– Trăn cuốn người, Đỉnh thất sắc nhìn tôi, thì thào.

Tôi im lặng gật đầu nhưng biết làm gì bây giờ đây? Hai đứa tôi chạy ngay về trại gọi lính gác nhưng khoảng cách trại khá xa, phải quyết định ngay kẻo không kịp. Đỉnh chộp lấy một khúc cây khô dưới đất còn tôi thì nhặt ngay cục đá lớn rồi nhè nhẹ từng bước từng bước… đến lùm cây phát ra các tiếng động. Lách mình vào đến nơi, hai đứa đứng yên sững người trước cảnh đang xẩy ra trước mắt khiến tôi vội kéo tay Đỉnh thối lui ngay lập tức.

Sững người và nhón gót rút lui thật nhanh nhưng hình ảnh vừa thấy vẫn như hiển hiện trước mắt. Hai thân người bắt cặp nhau trên đống quần áo trải trên mặt cỏ, nội y vất nằm từng cái ở gần bên. Cặp giò trường túc trắng hồng của người nằm bên dưới choàng lên ôm sát bờ lưng ngay phần eo người trên đang trong tư thế nửa ngồi xổm, nửa úp thìa không cho thoát. Tiếng rên và tiếng thở phì phò kêu nhè nhẹ theo nhịp lên xuống. Mái tóc dài đen nhánh lòa xòa che mất khuôn mặt người rên rỉ nằm dưới cùng đôi gò bồng đảo trắng hồng với núm đỏ lấp ló sau cánh tay và bờ lưng đen của người thở phì phò phía trên mà tôi thấy quen quen khi đi tắm suối chung trong các buổi sáng.

Nhón chân rút thật lẹ ra xa rồi, chợt Đỉnh nắm tay tôi kéo đứng khựng lại và khẩn khoản:

– Mình quay lại xem anh Vũ, mấy khi mà gặp dịp như vậy. Bỏ rất uổng anh.

Tôi nhìn Đỉnh rồi khẽ lắc đầu, trả lời:

– Đừng, Đừng! Mày biết ai đó không?

Đỉnh im lặng nhìn tôi rồi gật đầu. Cái lưng trần da ngâm đen, vóc người thon nhỏ lên xuống nhịp nhàng cùng tiếng thở phì phò đó làm sao chúng tôi lẫn được nhưng Đỉnh còn trù trừ, vẫn đứng yên tại chỗ. Tôi biết nó muốn quay trở lại để xem cho đã mắt nên bồi thêm:

– Quay lại xem rủi họ biết thì sao hả mậy? Giả đối với tụi mình tốt quá mà. Cà phê, mì gói… mua cho tụi mình ăn, thêm thuốc lá mày hút. Phải không? Thôi đi về, dứt khoát mình đi về. Chuyện này tao biết đối với mày đâu có lạ gì. Về Đỉnh ơi, bộ mày tưởng tao không muốn xem à… Nhưng không được

– Xem thấy cái vụ nầy khó chịu trong người quá anh Vũ, em đang tức… cái chỗ đó đây nè. Đỉnh cười cười rồi mặt nhăn nhó, tiếp: ” Anh biết nếu còn bên quê nhà như hôm nay, em phải đi kiếm ngay cho bằng được. Anh ngại cái gì không biết “.

– Trời! Mày tưởng tao gỗ đá chắc nhưng không được. Cha nội tốt với tụi mình quá mà. Kỳ lắm! Không được.

Trước đó, Đỉnh đã kể tôi nghe chuyện trai gái nó đã từng khi còn bán hàng ở chợ trời. Đỉnh chưa có bạn gái, nó kết thân với những tay bán hàng khác. Thỉnh thoảng cả đám vô mánh, kéo nhau đến nhà một người trong nhóm ăn nhậu và xem phim con nhà nghèo rồi hứng lên thì đi bắt một hai bò lạc về. Bò lạc là gái làm tiền. Cả bọn ép các cô nầy nhậu chung rồi cùng hành lạc tập thể với nhau. Chợt Đỉnh nói:

– Ông bà này bạo quá dám đưa nhau ra đây quằm, bọn lính mà biết thì chết với chúng. Có hai đứa con rồi mà cặp ngực bả còn ác liệt quá hả anh Vũ?

– Ừ! Mà sao bà la dữ mậy… Nếu cứ im re thì sao tao với mày biết. Bộ bà không sợ có người biết hay sao. Tôi nói với Đỉnh.

– Sao mà nín được anh, sướng quá mà. Trời có sắp sập họ cũng chẳng biết. Đỉnh trả lời.

Nội quy trại đã cấm nhưng hai người họ vẫn cố tình vi phạm. Không biết vợ chồng Tám Kiệt sẽ ra sao nếu hôm nay bị đám lính Mã Lai Á bắt được? Khi nghe đọc nội quy hôm mới vào trại, ông Thăng ông Phát cho biết ở mấy quốc gia Hồi giáo, chuyện tình dục nam nữ rất khe khắt. Người nào mà quan hệ giới tính lén lút hoặc ngoại tình nếu bị phát giác thì sẽ bị trừng phạt rất nặng và có khi, kẻ vi phạm phải nhận một cái chết thê thảm.

Về lại sân trại, tôi và Đỉnh nhập vào đám đàn ông con trai ở mái lều tròn nghỉ trưa. Các ông Thăng, Hưng, Phát, Thuận và vài tay thanh niên trong nhóm của Tám Kiệt đang kể chuyện tiếu lâm. Đám phụ nữ ngồi tản mát dưới những bóng cây xa xa. Đỉnh cúi đầu sát bên tôi nói nhỏ:

– Anh coi, lính thằng thì mải ngủ, thằng thì đàn đúm hát hò với đám con gái còn phe mình lo tụ họp nói chuyện… Nào ai biết hai ông bà đang cụp lạc trong rừng.

Vừa lúc, một người bước vào ngồi không xa chỗ chúng tôi, Đỉnh khẽ lấy đùi huých nhẹ vào chân tôi báo hiệu. Tám Kiệt, quần áo chỉnh tề, cười cười khi nhìn mọi người đang có mặt trong mái nhà lều. Thấy y, ông Thăng liền lên tiếng:

– Khoẻ anh Tám! Hôm nay trời nóng quá ha, chắc tối mưa chứ anh?

Tám Kiệt không trả lời, gật đầu nhè nhẹ với ông Thăng và y ngẩng mặt nhìn ngước ra phía bên ngoài mái nhà lều.

– Ban nãy, chị và sắp nhỏ đi kiếm anh đó, anh Tám. Thuận xen vô.

– Bả kiếm tao hả, lâu mau rồi mầy? Tám Kiệt giọng khào khào hỏi lại, hơi thở y phì phò, mệt nhọc.

Tôi và Đỉnh nhìn nhau, khẽ mỉm cười hiểu ý. Đúng cái hơi khè phì phò của con trăn gió ban nãy đây. Bây giờ thì trăn gió mệt rồi, chiến đấu ác liệt quá mà. Tám Kiệt lấy thuốc lá ra hít, nhả khói rồi vẫn ngồi im lặng và có lúc nhắm khẽ mắt dường như mơ màng, đang suy nghĩ về một chuyện gì. Vừa lúc, có bóng người từ bên ngoài lách vào kèm theo giọng nói phụ nữ:

– Anh đi đâu, em cùng sắp nhỏ kiếm nãy giờ mà không thấy?

– Đi lòng vòng gần đây chứ đâu, trời nóng quá… mà em kiếm anh có chuyện gì? Tám Kiệt mở mắt thật lẹ, miệng lắp bắp.

– Ra đây em nói cái này hay lắm. Người phụ nữ mới đến mặc áo mầu nâu nhạt để tóc ngắn, kéo tay Tám Kiệt đi ra và cả hai khuất sau căn nhà lều của nam giới.

Nhìn theo bóng hai người họ vừa khuất sau căn nhà lều, tôi hỏi Thuận:

– Ai vậy hả Thuận? Phải vợ anh Tám không?

– Chị Tám đó anh. Thuận gật đầu, nhìn tôi.

Chị Tám! Vậy người vừa bị… trăn gió quấn trong rừng là ai? Mái tóc dài, đồ bộ lụa mầu xanh lá mà vạt áo được kéo dồn tới tận cổ. Đỉnh nhìn tôi, nói nhỏ:

– Lúc đó em đã nghi họ không phải là vợ chồng của nhau.

Tôi im lặng chờ nghe Đỉnh nói tiếp nhưng nó lại giữ im lặng. Chỗ đang có đông người ngồi chung quanh, nói ra không tiện.

Bữa cơm chiều đến đúng 5 giờ vẫn món thịt trừu kho và đậu ve luộc. Tôi cố ý nhìn người phe Tám Kiệt ngồi ăn chung với nhau thành một nhóm như mỗi bữa. Xế trưa nay, tôi đã biết mặt vợ Tám Kiệt và bây giờ cũng biết người nằm bên dưới y qua mầu áo đang mặc. Đây là một phụ nữ trẻ đẹp nhưng quan hệ ra sao với người trong nhóm Tám Kiệt thì tôi và Đỉnh không biết.

Vừa xong bữa cơm chiều, trời đột ngột đen kịt vì những đám mây kéo đến báo hiệu cơn mưa sắp gần. Cùng tiếng sấm xa xa, gió ào ào mang hơi lạnh vào trại, chúng tôi vội kéo nhau vào hết trong hai căn nhà lều để tránh cơn mưa sắp đến. Người lớn thì im lặng còn đám con nít lại hò hét, lấy tay chỉ trỏ cột bụi của cơn lốc nhỏ đang di chuyển chầm chậm trên sân trại và sau đó bị tan biến khi vừa chạm vào cái hàng rào gỗ. Mây đen chuyển dữ cùng sấm ì ì nghe thật ghê vậy nhưng chỉ lát sau, cơn mưa đã đổi sang hướng khác. Trời quang đãng trở lại, tôi và Đỉnh cùng một số người khác lại tụ họp nhau nơi mái tranh uống trà đường nóng cùng tán chuyện. Thắc mắc còn lởn vởn trong đầu, tôi hỏi nho nhỏ:

– Sao mày biết họ không phải vợ chồng của nhau? Hay thiệt đó, nói tao nghe coi.

Đỉnh nhìn chung quanh, cười cười và thì thào bên tai:

– Vợ chồng khi vào chuyện đó, phụ nữ không có rên đâu… chỉ có tình nhân thôi.

Một khám phá mới, tôi hỏi tiếp:

– Nói tao chưa hiểu. Sao tình nhân mới rên còn vợ chồng lại không mậy?.

– Em cũng chẳng biết, mấy cha lớn tuổi bán hàng gần chỗ em kể vậy. Khi đó cũng có người hỏi như anh bây giờ. Để em nghĩ lại coi. À! Nhớ rồi, mấy chả nói vợ chồng vì quen mặt nhau nên đâu còn hứng thú như những ngày đầu, nếu có cũng in ít… Còn bồ bịch, tình nhân… thì lâu lâu lén lút gặp nhau nên hấp dẫn lắm, nhất là khi xáp trận làm một phát.

Ngừng một chút rồi Đỉnh tiếp:

– Ư, ứ, ử… như bị đánh bị tra tấn cũng vì kích thích cao độ.

– Chẳng tin! Mày và tao còn độc thân nên chưa biết chuyện vừa nói đúng hay không? Mày bảo lén lút mới rên, vậy tao hỏi ở trong phòng với nhau mà… ối giời ơi… thì người ta biết hết. Lạy ông con ở bụi này.

– Đấy, đấy… Người ta hỏi giống y chang anh. Họ chỉ rên rỉ khi nào ở chỗ an toàn vắng vẻ với nhau, lén lút ở trong nhà có thân nhân gần bên thì lại nín khe. Rên cho chết à, khùng chắc. Có khi còn cắn cả vào người nhau nữa. Đỉnh nói đến đây thì bật cười.

– Tao đâu ngờ mày rành dữ vậy. Tôi nhìn Đỉnh, lắc đầu.

– Tại anh hỏi. Nhưng anh biết lén lút được với ai mới ngon nhứt không? Tôi lắc đầu lần nữa thì Đỉnh tiếp:

– Mấy chả nói xáp được với bà con bên vợ như em hay chị gái ruột, người nào khác cũng không bằng. Kỳ vậy đó! Em biết bà hồi trưa thế nào cũng có dây mơ rễ má gì với vợ của Tám Kiệt cho anh xem.

Lời Đỉnh nói dám có lắm, tôi sẽ thử hỏi dò Thuận xem khi gặp dịp.

Gió đã làm loãng đi các cơn nóng sót lại từ lúc trưa, không khí trong trại bây giờ thật thoáng mát dễ chịu. Chúng tôi ngồi kín ở mái tranh trò chuyện rôm rả, vài người tản bộ tới lui trong sân, con nít chạy đùa í ới với nhau. Ông Thăng buột miệng:

– Mấy đời sấm trước có mưa bao giờ, kể đúng thật mấy ông.

Tính đến hôm nay, đã ngày thứ mười bẩy chúng tôi tạm trú ở đây. Khi ăn mãi cá chiên đến ngán, giờ ăn khỉa liên tiếp bốn ngày món thịt trừu kho cùng đậu ve luộc, ai nấy đều muốn có cá chiên dòn và canh rau muống trở lại.

Ngoài vụ bắt gặp tại trận hôm đó trong rừng, không biết còn cặp nào trong đoàn ghe dám xé rào nội quy trại không nữa? Đỉnh bảo:

– Cứ chịu khó đi rảo thật êm trong rừng, thể nào cũng có lúc anh em mình sẽ gặp. Sống đây lâu, phải có những cặp khác đóng phim chứ anh. Cái chuyện kéo nhau vô lùm bụi đâu cần phải có người chỉ thì mới biết. Họ phải giải tỏa, để tồn ở não sinh ngu sao! Lần này, phải xem cho đã nha, không có vụ thôi mầy ơi mày hỡi, kỳ lắm… gì gì hết nghe cha.

Hai đứa tôi cười vui với nhau. Thật vậy, rừng ở đây rất rậm, lủi vào đâu cũng gặp được những chỗ kín đáo khuất trong các lùm bụi. Chẳng cần đến chiếu hay y phục hoặc khăn lót trải xuống cho sạch vì mặt đất ở nhiều chỗ phủ đầy cỏ rêu mọc đều và mịn như tấm thảm nhung. Đỉnh thử lăn lộn trên mặt cỏ êm và sạch rồi cười hí hí, kêu:

– Có chỗ nằm ngon lành như vầy thì tha hồ làm cá làm thịt nhau, bẻ khóa động đào bố ai mà biết.

Ghe chúng tôi tổng cộng 135 người, vào trại kiểm lại danh sách có tới 49 đàn bà con gái. Có người thì đi cùng chồng và con hay bồ bịch với nhau như Tuyến-Hạnh, Dũng-Hằng, Trí-Minh hoặc độc thân như các cô Đào, Bẩy, Yến, Loan, Tuyết… Một buổi tối, lúc trại sắp sửa ngưng máy điện, Đỉnh vào lều nằm bên tôi, kể: ” Chậc! Em vừa thấy một cặp ôm nhau chặt cứng ngay góc khuất sau nhà lều nữ nè. Cứ như vậy thì chỉ có chết “. Vì vậy, Đỉnh hăng rủ tôi đi rảo trong rừng xem coi có thêm vụ… trăn quấn nào nữa không. Có lần hai đứa thấy động đậy trong một bụi rậm nhưng đó chỉ là chú thỏ rừng hốt hoảng nhẩy ra rồi chạy biến.

Có lẽ, duy nhất chỉ mình Tám Kiệt mới dám xé rào vì những cặp đã là vợ chồng hay bồ bịch chính thức với nhau thì lại không dám vi phạm nội quy trại. Họ sợ tụi lính gác trừng phạt nếu bị lộ và sẽ mắc cở với mọi người trong ghe. Đỉnh thì nói Tám Kiệt nghĩ bản thân y đã chơi đẹp với đám lính khi nhờ chúng đổi tiền, mua hàng… nên mới dám chơi bạo. Tám Kiệt khoảng 45 hoặc 46 tuổi, thân người rắn chắc, da hơi đen, mặt khắc khổ xương xương và mép để râu con kiến. Y có hàm răng trắng bóng dù rít thuốc điếu liên tục, cáu vàng nhựa thuốc chỉ bám nơi đầu ba ngón tay. Trầm tĩnh, chịu lắng nghe người khác nói và luôn nở nụ cười tươi với người đối thoại, Tám Kiệt nhìn có duyên ngầm. Thêm cách xử sự rộng rãi, chân thành khi giao tiếp, y lấy lòng người đối diện rất dễ. Nam giới chúng tôi, hầu hết đều mến y huống chi người khác phái. Mẫu người như Tám Kiệt, chẳng cần giỏi thuật xem tướng số thì cũng biết phụ nữ ngã vào tay y dễ dàng.

Vợ Tám Kiệt cũng như người đàn bà trong rừng với y rất đẹp. Cả hai người họ, một thì hơi lớn tuổi, một thì còn trẻ và đều là dân miền Nam.

Hôm nay thứ Hai đầu tuần, chúng tôi được lệnh khi đi tắm phải giặt sạch cái chăn trại đã phát. Chiều đến, lính gác sẽ kiểm tra từng cái một. Nguyên do trước giờ đi ngủ lúc hồi hôm, chăn của một cô gái đã bị người khác đổi bằng cái chăn ướt nước đái khai nồng. Đám lính được ông Thăng báo cáo vừa bực mình vừa tức cười, đã bắt những người có con nhỏ phải mang ra các tấm chăn ra cho nạn nhân nhận lại cái của mình nhưng việc không thành. Cái chăn nào cũng một cỡ và mầu sắc y nhau. Ai cũng nói con nít đái dầm ướt chăn, nghĩ trời khuya sợ con mình lạnh nên thủ phạm đã đánh tráo khi cô gái vắng mặt khỏi căn nhà lều.

Trời tuy còn sớm mà ông Aleck và hai người mặc thường phục đến trại tập họp chúng tôi ở giữa sân nghe thông báo. Ông ta cho biết ở đảo tị nạn Bidong đã chật cứng thuyền nhân rồi nên ông không thể chuyển đoàn người chúng tôi ra đó. Còn trại Sungei Besi thì cũng phải chờ ý kiến của đại diện Cao Ủy LHQ xem sao nhưng ông nói ở đó cũng rất đông người Việt. Hai người tháp tùng theo ông Aleck thì được giới thiệu là sĩ quan hải quân đóng ở cảng Johore giáp với Singapore. Hai sĩ quan hải quân đó lấy sổ tay của họ, nhìn chúng tôi rồi ghi ghi chép chép lia lịa và thăm hỏi vài người có con nhỏ đứng kèm bên cạnh. Trước khi rời khỏi trại, ông Aleck nói cho cả đám chúng tôi nghe:

– Nếu Sungei Besi tương tự như Bidong, chúng tôi sẽ dự liệu cho quý vị đến một nơi khác. Dù không muốn nhưng có thể chúng tôi buộc phải làm.

Chính vì lời tiết lộ của ông Aleck và vì có mặt hai sĩ quan hải quân ở cảng Johore nên suốt buổi đi tắm rồi cả sau buổi cơm trưa sau đó đã làm đám đàn ông chúng tôi bàn chuyện sôi nổi. Mã Lai Á có hai trại tị nạn chính dành cho người Việt vượt biên là Sungei Besi nằm gần thủ đô Kuala Lumpur và đảo tị nạn Bidong ở ngoài biển. Các trại nhỏ, biệt lập khác như cái trại này nhưng ở đâu thì không ai biết. Không bị ra Bidong, chúng tôi rất vui và mong đại diện Cao Ủy LHQ ở trại Sungei Besi sẽ nhận cho chúng tôi vào vì dầu gì, ở trại trong đất liền vẫn tốt hơn ở ngoài đảo. Có điều lo lắng là tại sao lại có mặt sĩ quan hải quân cảng Johore đi theo ông Aleck khi gặp chúng tôi? Johore là hải cảng cực Nam của Mã Lai Á cũng như của lục địa Châu Á tiếp giáp với Singapore. Hai ông Thăng, Phát hỏi dò bọn lính nhưng họ cũng chẳng biết gì thêm ngoài chuyện từ đây đến Johore bằng xe bus, phải mất gần một ngày đi đường. Không lẽ ở Johore còn có một trại tị nạn lớn nào khác dành cho người Việt? Chúng tôi thắc mắc mà đành chịu.

Chỉ chính quyền Mã Lai Á biết sự hiện diện của chúng tôi, nhân viên hội thiện Hồng Nguyệt đến khám bệnh, chích thuốc cũng người địa phương. Càng nghĩ càng đâm lo, tương lai chúng tôi thật mờ mịt, một người nói:

– Khi nào mà có tay mắt xanh, mũi lõ đến gặp bọn mình thì tôi mới yên tâm. Nói thật, đám Mã Lai Á kéo mình ra biển trở lại hay… giết hết cả bọn trong cánh rừng ở đây, thế giới cũng chẳng ai biết đến.

Nghe ông ta nói thấy ớn, nhưng kể cũng đúng. Trước đây, hãy nhớ tàu hải quân Mã Lai Á đã từng nhiều lần kéo ghe vượt biên người Việt ra tuốt hải phận quốc tế rồi cắt dây kéo, bỏ mặc. Không lẽ…? Tám Kiệt xen vào:

– Theo tui, nếu cố ý kéo mình ra trở lại biển thì họ đã làm rồi. Hôm đó đám lính cũng biết mình đục lủng ghe chứ bộ nhưng tại sao cứ để mình ở mãi trong khu rừng này thì tui chịu, không nghĩ ra được. Tám Kiệt nhìn chung quanh, tiếp: ” Chúng ta ở đây bao lâu rồi? Đã hơn nửa tháng, phải không? Tui nghĩ, càng suy đoán thì càng sợ và thêm mệt óc. Vượt biên, đủ thứ chuyện có thể xẩy ra. Trong tay họ, họ tha hồ vo tròn bóp méo mà mình phải chấp nhận. Cứ bình thản sống, cái gì tới nó sẽ tới. Tui, gia đình cả bầy đi theo còn không sợ nè “.

Tha hồ vo tròn bóp méo mà mình phải chấp nhận. Hai ngày trước, bọn lính gác đã làm một chuyện khi chúng tôi biết, dù rất bực tức nhưng đành phải im lặng. Chỉ biết an ủi nhau là sống trên nước họ thì may rủi mình phải chịu và coi như không có chuyện đã xẩy ra.

Hôm xẩy ra chuyện đó thì tôi và Đỉnh đang ngồi ở cái bàn ăn thường ngày, thấy một số phụ nữ vội vã về trại mà mặt người nào cũng hầm hầm đầy vẻ bực tức khi họ rù rì nói chuyện với nhau.

– Mấy bả vừa mới đi chưa được bao lâu, sao đã quay về gần hết anh. Kỳ vậy! Chắc có chuyện gì rồi, Đỉnh nói.

Ngoài sân trại, ông Thăng ông Phát, Tám Kiệt cùng vài phụ nữ chụm đầu nói chuyện qua lại với nhau. Trong sân trại, không một gã lính trực gác hoặc lảng vảng đi đi lại lại như thường lệ. Tôi nói với Đỉnh muốn biết chuyện, chắc mình phải hỏi mấy cô Đào, Bẩy hoặc Yến. Khi thấy ba cô gái từ nhà lều bước ra sân, hai đứa tôi vội vàng tiến đến hỏi chuyện. Thì ra sự việc như sau:

Thường lệ, cứ 10:30 gần trưa thì đám nữ giới đi tắm trong một căn nhà lộ thiên ở gần bìa rừng. Căn nhà tắm này, đám lính đã dựng từ lâu dành cho các thuyền nhân đến trại trước đây. Căn nhà rất hẹp chỉ hơi dài và phía quay mặt ra con đường mòn thì được che kín bằng tole, còn phía quay vào trong rừng thì lại để trống. Chỗ tắm trong căn nhà, được đóng thành sàn gỗ cao khoảng 1 m và có các vòi nhỏ cách nhau đều đặn từ một ống lớn chạy dọc theo vách tắm từ trên cao. Nước được máy bơm từ dưới suối lên, chẩy từ ống lớn chia đều ra các vòi nhỏ cho từng chỗ người đứng tắm. Hàng ngày khi tắm, đám phụ nữ trông thấy gã lính ngồi ôm súng chờ ngoài xa bên đường. Hai gã lính còn lại thì đang trực gác ở trại, đám nữ giới tha hồ tắm mát cùng giặt rũ ở phía bên trong căn nhà lộ thiên.

Nội quy trại cho phép chúng tôi chỉ được tắm một lần trong ngày. Do khi đến lượt nữ giới đi tắm thì trời đã gần trưa rất nóng nên ai cũng mong được tắm ngay một cái cho mát. Trời khiến cơ thể con người, nhất là phụ nữ mà không có nước tắm rửa thường xuyên thì thật khó chịu nên hầu như vừa đến căn nhà lộ thiên, họ đã vội chen nhau đứng dưới vòi nước ngay. Có nước suối mát lạnh và xà bông thơm mua từ bọn lính gác nên, ai cũng mải tắm giặt mà đâu biết có những cặp mắt nhìn lén sát gần bên. Mắt của bọn lính gác từ trong các bụi rậm không xa. Hôm nay, một bé gái không tắm nên ngồi yên chỗ dưới bóng cây chôm chôm chờ mẹ xong cùng về. Được một lát, bé gái đó lại đi vào rừng rồi lòng vòng và đã bắt gặp hai gã lính đang ngồi quay phim đám nữ giới đứng trên sàn tắm dưới các vòi nước. Từ sau lưng hai gã lính, bé gái đó đi bọc qua một ngã khác rồi quay lại căn nhà tắm và tri hô cho đám nữ giới biết sự việc. Ba, bốn phụ nữ sồn sồn thay vội quần áo rồi họ chạy ngay đến bụi rậm đó và bắt quả tang tại chỗ hai gã lính đang ngồi nhìn trộm. Buổi tắm vì vậy đã chấm dứt nhanh chóng và cả đám nữ giới lần lượt kéo nhau về trại sớm hơn thường lệ.

Ba gã lính về tới trại, vừa đi chúng vừa nói chuyện tỉnh queo như không xẩy ra chuyện gì. Đám phụ nữ nói với nhau là phải làm đơn thưa với ông Aleck nhưng bàn cãi tới lui, sau cùng đoàn người chúng tôi quyết định phải lờ đi. Ông Thăng nói:

– Bọn mình là khách không mời tự ý tìm đến nước họ và đang cần sự che chở thì đừng làm chuyện gì để họ ghét.

– Giả dụ mình đến tá túc nhà ai, chủ nhân cho mình chỗ ngủ, thức ăn nhưng trong đám con cháu họ lại có đứa nghịch phá mình thì sao. Không lẽ lại ăn thua đủ. Nếu mình tố cáo, chắc chắn họ sẽ bênh đám lính và không ưa mình. Họ phải giữ thể diện của họ chứ. Thưa kiện, cũng chẳng ăn thua gì, tốt hơn hết mình nên quên đi. Tám Kiệt đồng tình với lời ông Thăng.

Khi có ông Aleck đến, ba gã lính gác lộ vẻ sợ hãi nhưng chúng tôi im lặng không đả động gì về chuyện xẩy ra. Chỉ một an ủi là có xinh đẹp thì lính mới rình xem, dầu sao cũng một kinh nghiệm.

Bữa ăn hàng ngày của chúng tôi đột nhiên đổi khác, nhiều và ngon hơn. Điểm tâm thì bằng bánh hấp, bánh chuối, bánh khoai mì và cơm trưa lại có cả thịt bò cà ri hoặc thịt gà xả ớt trộn với sa kê sắt mỏng. Sa kê là loại trái bề ngoài trông khá giống mít non nhưng có vị bùi y như khoai môn pha bột. Ông Aleck đến trại thường hơn trước. Có khi ông đến ngay lúc bọn lính đang phân phát thức ăn, ông cũng đứng xếp hàng nhận dĩa cơm rồi cùng ăn chung. Có buổi chiều gần tối, ông còn đến và vào ngồi trong mái lều tranh hỏi chuyện với đám chúng tôi nữa. Chuyện ông Aleck làm chúng tôi phải suy đoán mà đa số thì cho là tín hiệu tốt, chúng tôi sẽ được chuyển vào trại Sungei Besi. Dù vậy, có người nhắc lại lời ông từng nói nếu Sungei Besi đầy người thì buộc lòng sẽ chuyển chúng tôi đến một nơi khác. Nếu có như vậy thì nơi đó ở đâu? Tám Kiệt tuy ngoài miệng nói cứng cái gì tới sẽ tới đừng lo nghĩ mất công nhưng bản thân y thì thường ngồi yên tư lự và rít thuốc lá điếu liên tục. Trừ con nít ra, đám người lớn chúng tôi ai ai cũng lờ mờ đoán sắp có chuyện.

Cái gì đến thì sẽ đến, một buổi chiều bọn lính lệnh chúng tôi tập họp hết tất cả mọi người ngồi chờ ở giữa sân trại. Lát sau thì ông Aleck đến cùng một nhóm khá đông người và ông báo tin vào sáng ngày mốt, chúng tôi sẽ phải chuyển xuống cảng Johore. Một sĩ quan hải quân đứng gần bên ông Aleck, tiếp lời:

– Một ghe to hơn chiếc cũ, đầy đủ gas chạy máy cùng lương thực, nước uống và trước khi khởi hành, quý vị có thể kiểm tra tình trạng máy móc. Tôi bảo đảm ghe rất tốt, có cả một máy bơm nước nữa.

Nghe rõ những lời thông báo của họ, dù đã tiên liệu từ trước nhưng cả đám chúng tôi vẫn thẫn thờ trong im lặng.

– Thưa ông, tụi tui phải rời trại và sau đó sẽ ra khơi trở lại bằng chiếc ghe mới từ cảng Johore? Tám Kiệt thay mặt cả đám, hỏi cho chắc ăn.

Ông Aleck gật đầu xác nhận, rồi nói:

– Để an toàn, chúng tôi sẽ giúp quý vị bằng cách kéo chiếc ghe từ cảng ra biển lớn, sau đó quý vị sẽ tự tiếp tục chuyến đi.

– Ông bảo tự tiếp tục chạy ghe, vậy chúng tôi sẽ đi đâu trong cái đại dương bao la? Chúng tôi trốn nạn Cộng Sản, tìm tự do, ghé vào đây rồi bây giờ ông lại bảo chúng tôi tiếp tục đi… đi nữa. Các ông có biết Cộng Sản như thế nào không? Sao các ông không hiểu cho hoàn cảnh, còn đẩy chúng tôi đi tiếp? Ông Phát to giọng bực tức, chất vấn.

Thấy vậy, hết ông Aleck rồi đến các sĩ quan khác thay nhau trả lời rằng họ biết chúng tôi đào thoát để tìm tự do, đã ghé vào cảng Kelang và vì vậy nên được cho tạm dung ở đây. Hiện thời vì Bidong và Sungei Besi quá đông người, không thể nhận thêm nên họ phải kiếm một ghe mới khác, mong chúng tôi thông cảm. Điều quan trọng khi xuống ghe đó, chúng tôi sẽ không được quay trở lại Mã Lai Á nữa. Ông Thăng khi nghe vậy, hỏi liền:

– Johore gần Singapore, ông nghĩ chúng tôi chạy ghe vào đó có được không?

– Tùy quý vị nhưng từ lâu rồi thì Singapore không nhận người Việt Nam, thêm nữa vùng biển gần cảng Singapore có rất nhiều tàu lớn nên có thể làm chìm ghe quý vị nếu chạy gần. Theo tôi, quý vị nên tránh cập bến Singapore. Một người trong đoàn ông Aleck, trả lời.

– Vậy thì chúng tôi sẽ tiếp tục đi đâu để gặp trại tị nạn? Ông Phát lập lại câu hỏi.

– Tốt nhất thì quý vị nên hướng đến Indonesia và nhớ đừng tiết lộ gì kể từ lúc vào Kelang, thời gian tạm dung ở đây cũng như chuyến đi sắp tới tại Johore. Trước giờ xuống ghe, quý vị sẽ phải mặc áo phao cứu sinh vừa với kích thước từng người. Một sĩ quan hải quân kết thúc câu chuyện.

Sau đó, các nhân viên hội thiện Hồng Nguyệt tản ra, lăng xăng khám sức khoẻ chúng tôi rồi cho mỗi người gói nylon nhỏ gồm trái cây tươi và bánh ngọt. Ai nấy thắc mắc về lời nói của viên sĩ quan, ghe mới to hơn và tốt hơn cá lớn nhưng sao lại phải mặc áo phao cứu sinh.

Ngày kế, lính gác lệnh đám nam giới chia từng toán nhỏ đi quét dọn các nơi cùng hai nhà lều, lấp hố rác và vào rừng khuân các thân cây khô về chất thành đống lớn để đốt lửa trại. Chốc lát xong việc, lính gác cho phép chúng tôi tự do đi tắm suối lần cuối, ai ai cũng một cảm giác nôn nao về chuyến sẽ đi vào sáng sớm ngày mai. Ngày qua đi thật nhanh rồi khi trời sẩm tối, thêm ba gã lính khác đi xe Jeep đến nhập bọn chung. Lửa trại bùng lên, chúng tôi ngồi xen kẽ với lính gác thành một vòng tròn khá rộng chung quanh. Gã lính Daniel chơi guitar một điệu tango vui mở màn, có người thổi sáo miệng phụ họa theo. Một thanh niên trong chúng tôi dùng hai chiếc muỗng làm đôi chập chõa hòa âm với gã lính đang gõ lên cái mũ sắt nhà binh thay cho trống. Cây guitar được chuyền tay lần lượt cho các người khác biểu diễn. Hát nhạc ngoại quốc chán thì đổi qua nhạc sến rồi ca cải lương. Và không ai ngờ, bằng cây guitar mà ông Phát lại gẩy được nhiều điệu cải lương réo rắt chung với người ca. Cải lương có nhiều bài bản bài lý cùng các loại hơi xuân hơi oán rất khó ca ngay cả với người miền Nam. Đám lính thì cũng hát hò nhạc Mã Lai Á góp vui. Lửa trại sẽ còn tiếp tục nhưng đám lính chấm dứt sớm, lệnh cho chúng tôi đi ngủ ngay để giữ sức cho chuyến đi vào ngày mai. Gã lính Daniel lộ vẻ buồn ra mặt vì y biết sẽ không gặp những cô gái trẻ trong đoàn ghe nữa, còn chúng tôi thì hầu như ai cũng cảm thấy khó ngủ vì lo lắng. Khung cảnh trơ lại cái tĩnh mịch trong ánh sáng bập bùng của lửa trại sắp tàn.

Tiếng kèn và ánh đèn từ hai chiếc xe bus đến thật sớm khi trời còn chưa sáng rõ đã đánh thức cả trại dậy. Vì chuẩn bị sẵn nên mọi người ùa ra làm vệ sinh cá nhân rồi điểm tâm qua loa nhanh chóng, sau đó lên ngồi kín trên hai chiếc xe. Khi kiểm danh đã đủ 135 người thì hai chiếc xe bus bắt đầu từ từ lăn bánh ra khỏi trại, Daniel cùng các gã lính khác đứng cạnh gần cổng ra vào vẫy tay từ giã chúng tôi.

Mỗi chiếc xe bus đều có hai gã lính thủ súng trường M 16 đứng trấn sát ngay cạnh cửa lên xuống ở bên trong. Xe chạy chầm chậm, lắc lư trên con đường gập ghềnh hoặc tránh các vũng nước nằm ngay giữa lộ đất đỏ. Trời sáng dần, tôi thấy rõ cây rừng đan chặt chỉ cách vệ đường vài bước chân và rừng trải dài bạt ngàn khi xe bus qua những chỗ thấp như thung lũng hoặc đồi cao. Văng vẳng tiếng chim hót râm ran hòa với tiếng hộc tiếng hú của muông thú chào đón đầu ngày mới. Ra khỏi khu rừng thì hai chiếc xe bus nhập vào một xa lộ rộng rãi, đầy xe để chạy về hướng Nam. Có lúc xe bus chạy ngang qua những đoạn đường trồng toàn cọ dầu tương tự cây dừa với chùm trái chín đỏ bên thân sau kẽ bẹ lá. Hàng cọ dầu thẳng tắp trồng thành rừng như cao su bên quê nhà, trái dùng để ép lấy dầu thực phẩm. Chúng tôi vượt qua các khu đô thị sầm uất với những công trình xây dựng rất đẹp, những thánh đường Hồi giáo với tháp cao riêng biệt hoặc nhiều khu dân cư vùng ngoại ô. Trông thấy phố xá đông người với các tòa nhà cửa kiếng bóng lộn bên dòng xe cộ mới thấy bên quê nhà đã bị đứng khựng lại từ nhiều năm. Chỉ mới đến các thành phố miền Nam Mã Lai Á thôi đã như vậy thì ở thủ đô Kuala Lumpur chắc chắn còn đẹp và phồn thịnh hơn nữa.

Đến một thành phố, hai chiếc xe bus ngừng sát cạnh bên vệ đường, gần những tiệm ăn và các cửa hàng thương mãi. Lệnh buộc chúng tôi phải ngồi yên trên ghế, đám lính gác rời xe đi lo công việc. Xe bus ngưng máy nằm yên bên đường, vài người mở hết cửa kiếng ra cho mát. Khách bộ hành địa phương đi qua đi lại, tò mò nhìn vào xe bus rồi một người trong số họ xì xồ tiếng Tàu. Có tiếng phụ nữ trong dẫy ghế phía trước xe trả lời và rồi hai bên trò chuyện qua lại với nhau. Người khách đó bỏ đi để rồi chỉ chốc lát sau kéo thêm các người khác đến bên hai chiếc xe bus với các thùng nước giải khát và bánh ngọt để cho chúng tôi. Họ là người Mã Lai Á gốc Tàu Triều Châu. Người phụ nữ trên xe cho biết người khách bộ hành đó đã đi báo tin về nhóm 135 người Việt tị nạn CS chúng tôi và họ mang quà đến cho. Chúng tôi chuyển cho nhau bánh ngọt, nước giải khát từ tay những Hoa kiều xa lạ nhưng thật tốt bụng. Đi từ lúc sáng sớm, ai cũng khát khô họng nên vội mở nắp uống ngon lành. Uống chưa cạn lon nước thì đã nghe tiếng người la hét vọng tới làm những Hoa kiều hoảng hốt nhìn chúng tôi, xì xào. Đám lính gác từ đâu quay trở lại và chúng thẳng tay xua đuổi các Hoa kiều đang vây quanh hai xe bus. Những lon nước giải khát, hộp bánh ngọt còn sót trong thùng chứa đã bị đám lính lôi ra, vất bỏ tung toé trên vỉa hè đường rồi họ còn đuổi đánh các người dân địa phương hiếu kỳ đứng gần xem.

– Mấy cha lính nầy dữ quá! Người ta cho bánh cho nước uống chứ có làm quái gì đâu mà cấm, một người trong xe than.

Lính gác cũng mang về hai chiếc xe bus các thùng carton cùng những lon nước lã khác của họ. Cửa xe bus được đóng lại nhanh chóng và sau đó xe chạy tiếp ra xa lộ rồi băng qua các khu dân cư thưa thớt vùng quê hoặc đi qua các thành phố sầm uất. Khi chạy dọc theo một cánh rừng cao su tương tự vùng Long Thành-Đồng Nai được một đoạn đường, hai chiếc xe bus quẹo vào lối nhỏ cạnh rừng rồi ngừng lại. Lính gác lệnh chúng tôi xuống xe nghỉ ngơi rồi họ phát cho mỗi người một gói thức ăn và một lon nước lã.

Rừng cao su ở đây, cây nào cũng có các rãnh cắt xiên bên thân và một chén nhỏ hứng mủ gài ngay dưới cùng của đường rãnh. Không biết thời xưa khi còn là thuộc địa của nước Anh thì đời sống người phu cạo mủ ở đây có giống như bên Việt Nam mình không? Có được những cánh rừng cao su như bây giờ, chắc chắn phải mất nhiều công sức và cả sinh mạng người phu cạo mủ trong những buổi đầu. Ăn uống và nghỉ ngơi được khoảng nửa tiếng đồng hồ, lính gác lệnh cho cả bọn chúng tôi trở về xe. Đêm hôm qua hầu như không ai ngủ được lại phải đi suốt từ lúc sáng sớm nên giờ đây nhiều người trong chúng tôi đã ngủ gà ngủ gật trên xe. Tôi muốn thức để nhìn cảnh vật hai bên đường cho biết nhưng không thể. Mắt đã nhíu lại và tôi đã ngủ cho đến khi tỉnh giấc vì những giọt mưa lạnh hắt vào mặt. Nhưng chỉ là cơn mưa bóng mây vài giọt rồi dứt hẳn. Tuy vậy cũng đã làm tôi tỉnh hẳn. Hai chiếc xe bus vẫn tiếp tục chạy chung với dòng xe cộ trên xa lộ dài hun hút, bên ngoài trời về chiều rồi tối dần dần. Cuối cùng, xe bus chạy vào một khu vực đèn đường sáng choang soi rõ từng dãy nhà thẳng tắp cùng những thân tàu lớn, đen đen đậu dọc theo bờ kè cạnh con đường.

– Mình đang vào căn cứ hải quân Johore, Đỉnh ngồi bên tôi khẽ nói.

Những dãy nhà cạnh bên những con đường thẳng tắp, sạch sẽ mà rất ít người qua lại. Có lẽ hai chiếc xe bus chạy vào một khu vực kín đáo, giới hạn người và được canh phòng cẩn mật. Đến một bãi trống trải, hai chiếc xe bus giảm tốc độ và dừng hẳn. Lính gác lệnh chúng tôi xuống xe và xếp thành hai hàng trên cái sân bê tông gần ngay một bến tàu. Đèn trên các hàng cột cao chiếu sáng chói chang khiến tôi phải dùng tay che mắt khi muốn nhìn kỹ một nhóm người đang đi đến gần. Chúng tôi gặp lại ông Aleck và các sĩ quan hải quân khi trước.

– Ông Thăng ông Phát đâu rồi! Mấy người Mã Lai Á này muốn nói cái gì nè. Tiếng một phụ nữ gọi lớn, thông báo.

Chúng tôi nối nhau thành một hàng dọc tiến về phía trước nơi đám lính gác chờ sẵn với một đống áo phao cứu sinh mới toanh bỏ nằm dưới đất. Mỗi người được phát một chiếc áo phao cứu sinh này. Các gã lính chỉ dẫn cách thức luồn sợi dây choàng qua hai đùi phía dưới háng từng người để cố định vị trí cái áo phao luôn luôn dính chặt vào thân mình. Ở túi ngực áo phao, có một còi hơi để thổi khi cần đến và một bóng đèn pin nhỏ sẽ cháy chớp tắt khi cái chốt nắm được giật tung ra. Lần lượt giúp từng người chúng tôi mặc áo phao cứu sinh xong, một sĩ quan hải quân nói:

– Ai cũng cần biết cách sử dụng còi và đèn để phòng khi nổi dưới biển, gặp tàu cấp cứu chạy đến gần sẽ dễ dàng biết vị trí của quý vị.

Buộc mọi người phải mặc áo phao rồi chỉ dẫn cách dùng còi và đèn báo khi thân người đang nổi dưới biển đã làm chúng tôi phải nghĩ ngợi pha chút lo lắng. Sẵn có còi hơi trong tay, vài trẻ nít cứ vô tư thổi toe toe và tắt mở bóng đèn pin để vui đùa với nhau. Đồng hồ trên tay tôi đã hơn 8 giờ tối và bầu trời thì tối đen không một ánh sao. Chúng tôi chỉ cho nhau thấy các thân ghe đậu lố nhố dưới chân cầu xa xa mà không biết chiếc nào sẽ thay cá lớn trong tối nay? Chợt ông Thăng lách đến gần chỗ tôi đang đứng, miệng nói gấp:

– Anh Tám và cậu Thuận đâu rồi? Đi ra với tôi ngay, mấy người hải quân họ muốn mình xuống xem ghe bây giờ nè.

Tiếng một người khác nói với theo:

– Ê mấy ông! Nhớ kiểm tra máy ghe, máy bơm nước xem coi nó có chạy ngon lành không nha.

Tám Kiệt, Thuận cùng các ông Thăng ông Phát theo chân ông Aleck cùng các sĩ quan hải quân tiến về phía những chiếc ghe đậu ở phía dưới bờ cảng. Họ đi xuống chiếc nào trong số ghe lớn, nhỏ đang nằm im lìm đó? Trong cái áo phao cứu sinh đồng một màu cam đỏ, chúng tôi bây giờ trông ai cũng giống như ai nếu không nhìn thấy mặt của nhau. Người lớn trong áo phao lớn, trẻ nhỏ trong áo phao nhỏ. Một mùi tanh cá, mùi mằn mặn của nước biển theo cơn gió thổi hắt lên bờ về phía đám chúng tôi đang đứng chờ tin. Lát nữa đây, chúng tôi sẽ phải tiếp tục cuộc hải hành mới, một cuộc hải hành tuy không muốn mà phải đi trong lo sợ. Tôi chợt run người vì sợ, tay tôi nổi chút da gà. Bên tôi, vài người nhìn mặt thấy rõ vẻ lo âu trong yên lặng. Cầu mong chuyến đi sẽ được suôn sẻ.

Tám Kiệt cùng Thuận, ông Thăng, ông Phát quay trở lại chung với nhóm người của ông Aleck. Thuận đi đầu mỉm cười và giơ ngón tay cái hướng lên trời với chúng tôi.

– Ghe, máy cùng bơm nước thì tụi tui kiểm tra thấy chạy rất tốt. Anh Tám và cậu Thuận đã xem đi xem lại thật kỹ rồi, tiếng ông Phát nói lớn cho cả đám nghe.

Tám Kiệt tiếp lời:

– Dầu chạy ghe đã được họ bơm đầy còn sơ cua thêm vài can nhựa 30 lít nữa. Ghe nầy rộng hơn chiếc cũ, máy mạnh hơn nhưng không có hải bàn vì tầu hải quân họ kéo đi theo và sẽ chỉ hướng để mình chạy tiếp. Thực phẩm và nước ngọt có đầy đủ dưới ghe, tụi tui đã xem xét kỹ lưỡng.

Ông Aleck tiến đến, đứng đối mặt với cả đám chúng tôi rồi khoa tay buộc mọi người chú ý và im lặng. Ông chậm rãi nhắc lại những cam kết của Mã Lai Á với Cao Ủy Tị Nạn LHQ khi nhận cho chúng tôi vào tạm trú nhưng do những khó khăn nội bộ nên buộc lòng họ phải sắp xếp để làm một chuyến hải hành mới. Rồi thay mặt bộ Nội vụ, ông mong chúng tôi thông cảm và quả quyết chuyến đi tối nay sẽ tốt đẹp. Một sĩ quan hải quân khác, thông báo:

– Lát nữa đây, tôi sẽ chỉ huy chiếc tàu kéo ghe quý vị đi ra tới biển lớn. Thuyền trưởng, tài công bên quí vị nhớ phải giữ khoảng cách an toàn ở phía sau tàu hải quân. Bây giờ, xin mời quý vị xuống ghe, di chuyển trong trật tự và im lặng.

Chúng tôi cầm hành lý cá nhân trong một tâm trạng hồi hộp vì sắp sửa bước xuống ghe để dự vào chuyến hải hành mới. Vài người lớn nắm chặt tay trẻ nhỏ như sợ chúng sẽ lạc mất. Trong những phút cuối cùng còn trên sân cảng, ông Aleck lách qua hàng người và tiến đến chỗ ông Thăng ông Phát đứng rồi đưa hai gói giấy vuông cạnh với dây mầu cột hình chiếc nơ khá đẹp cho hai người nầy. Ngay tức khắc, hai ông Thăng, Phát cùng mở hai gói giấy đó trước mặt chúng tôi rồi lấy ra hai quyển album thật đẹp. Ông Thăng giơ quyển album lên cho mọi người thấy, lắp bắp nói đây là quà của ông Aleck tặng riêng, trả công vì hai người họ đã giúp việc thông dịch cho đoàn người.

Đến giờ xuống ghe, chúng tôi lần lượt nối đuôi thành một hàng dọc theo nhau tiến về phía trước. Ông Aleck cùng các sĩ quan hải quân đứng yên tại chỗ và lần lượt bắt tay từng người chúng tôi. Đến phút phải chia tay với đất nước Mã Lai Á thật rồi. Đám chúng tôi băng qua hết bờ cảng bê tông rồi vượt qua một cầu tàu xi măng nhỏ để đến chiếc ghe mới trong tiếng máy nổ êm nhẹ cùng dàn đèn cháy sáng choang đậu riêng biệt sát cạnh cầu tàu. Xa xa, các ghe lớn nhỏ khác nhau đậu thành hàng im lìm trong ánh sáng đèn chiếu sáng rực. Không biết những ghe đó của dân hay của quân đội vì chúng tôi đang trong khu căn cứ hải quân Johore?

Tôi xuống ghe và đi dọc theo cạnh lườn sát căn buồng lái hướng về phía mũi rồi khoang hầm. Bắt chước người đi trước, tôi đu người chui xuống khoang hầm ghe. Đúng như lời ông Aleck nói, ghe này tuy to hơn chiếc cá lớn nhưng lòng nó thì cạn hơn. Khoang hầm khá rộng và được lót bằng ván gỗ mới nên trông rất sạch. Nhiều miếng vải vụn cùng các bịch nylon mới toanh được bỏ nằm vương vãi ở nhiều nơi trên mặt sàn khoang hầm. Một bóng đèn tròn lủng lẳng trên nóc soi rõ mặt từng người đám chúng tôi. Đào, Bẩy cùng Yến ngồi bó gối sát cạnh vách khoang ghe phía đối diện không xa chỗ tôi còn Đỉnh thì ngồi cùng bên cách tôi vài người. Lần đi này, trẻ em thì ngồi chung với gia đình chứ không tập trung hết trên buồng lái như ở cá lớn. Cùng một cảm giác như khi còn đang ở Việt Nam, ai cũng hồi hộp nhưng nhanh nhẹn như vừa từ taxi bước qua cá lớn và trám kín vào bất cứ chỗ nào còn trống của khoang hầm. Tám Kiệt, Thuận và hai ông Thăng, Phát thì ở trên buồng lái với đám hải quân Mã Lai Á. Một gã lính hải quân thò đầu xuống khoang hầm cười cười và vẫy tay chào với chúng tôi. Mọi người im bặt khi có tiếng ông Phát nói vọng xuống, báo tin:

– Tàu hải quân của họ sắp sửa kéo ghe mình chạy đó bà con ơi. Ai mà cảm thấy muốn ói muốn mửa gì thì cứ ói vào mấy bịch nylon để sẵn đó và ngồi yên chỗ, đừng di chuyển tới lui nha.

Tiếng máy từ tàu hải quân nổ lớn hơn rồi sau đó thì có một chuyển động nhẹ từ tấm ván nơi tôi dựa lưng và nó càng lúc càng mạnh hơn, ghe đã bắt đầu chạy. Đúng hơn, ghe đang được tàu hải quân Mã Lai Á kéo đi. Gần bên tôi, người thì hai mắt mở thao láo vô hồn, người thì ngồi nhưng mắt nhắm nghiền hoặc dựa lưng vào vách ghe như đang ngủ. Vài đứa bé nằm xoài người ra ngay dưới sàn hầm bên cạnh ba mẹ chúng. Đông người nhưng không quá chật vì như đã kể, khoang hầm ghe rộng bề ngang tuy không sâu như bên chiếc cá lớn. Cửa khoang hầm mở rộng do đó không khí bên ngoài thốc vào đã giúp chúng tôi bớt nóng và ngột ngạt. Nhìn trong khoang hầm và mũi ghe bầu tròn, sàn thấp thì có người nói đây không phải ghe đi biển đánh cá mà chỉ là loại chở hàng trên sông rạch hoặc trong vùng cận duyên. Số người có mặt trong ghe có lẽ chẳng là bao so với tải trọng thực của ghe và vì vậy, máy ghe chạy rất êm. Nói vậy nhưng cũng khó biết chính xác vì hiện ghe đang được tàu hải quân kéo bên ngoài. Những tấm ván mới cũ ghép bên nhau trên sàn hầm thì biết chiếc ghe này vừa được hải quân Mã Lai Á tân trang lại. Gốc gác nó từ ngư phủ Mã Lai Á hay của một chuyến vượt biên người Việt nào đó đã vất bỏ khi họ lên bờ? Biết đâu cá lớn chúng tôi bỏ tại cảng Kelang vừa rồi thì cũng sẽ được họ tân trang và dành cho chuyến chuyển tiếp người Việt khác sau này. Hơi đâu mà chính quyền Mã Lai Á bỏ tiền ra đóng ghe mới cho thuyền nhân Việt. Tận dụng ghe cũ là thượng sách, có hư hỏng thì sửa lại là xong. Và, để phòng các chuyện không hay xẩy ra thì cách tốt nhất họ dùng tàu hải quân kéo hẳn ghe ra tới biển lớn là hết trách nhiệm.

Có bóng đèn chiếu sáng lủng lẳng trên đầu, tôi xem lại cái áo phao mới toanh đang mặc. Ngay cổ áo, không có miếng vải nhỏ ghi xuất xứ làm tôi nhớ lời của ông Aleck và các sĩ quan hải quân đã dặn không được tiết lộ ghe này xuất phát từ cảng Johore ra. Đúng rồi. Họ cố tình không muốn ai biết về hành động của họ. Lúc mới xuống dưới ghe, tôi đã thấy trong buồng lái cũng có các bao thực phẩm y chang loại đã tiếp tế cho cá lớn khi còn ở cảng Kelang. Họ giúp nhưng lại muốn che dấu tung tích về chuyện đã tiếp xúc với chúng tôi, những người vượt biên quá trễ. Lòng nhân đạo của các nước lân bang đã quá mỏi mệt vì phải giúp thuyền nhân cả một thời gian dài khiến họ lúng túng trong cách đối xử với người vượt biên như chúng tôi bây giờ. Họ đã tàn ác hay vụng về khi kéo ghe trở ngược ra biển? Cũng khó mà hiểu tâm trạng cùng hoàn cảnh của người nước họ. Tiếng người nói chuyện lao xao chợt im bặt vì một tiếng giật mạnh chuyển vào thân ghe để rồi tiếp sau đó làm mọi người bắt đầu có cảm giác nôn nao.

Tàu kéo hải quân Mã Lai Á đã tăng tốc độ, ai trong khoang hầm cũng biết.

Ghe bây giờ chạy nhanh hơn, nước biển bên ngoài có lúc tung cao hắt văng xuống lòng khoang hầm làm những người ngồi gần ô cửa phải lết sang chỗ khác tránh. Cảm giác khó chịu của cơ thể vì chuyển động từ ghe càng lúc càng tăng và đã có người bắt đầu vớ lấy các bịch nylon hờm sẵn trong tay. Chỉ một lát sau, tiếng nôn oẹ ợ lên trong khoang hầm và đã có người bắt đầu ói. Hai phụ nữ ngồi gần tôi đã ói lọt bọt vào các bịch nylon. May là bụng ai cũng trống rỗng nên muốn ói mà chẳng có gì để mửa ra. Lúc còn đứng tập trung ở mặt sân bê tông tại cảng, đã có người trong đám chúng tôi than đói than khát và trách móc bọn lính Mã Lai Á cho ăn uống quá ít lại không phát thêm chút gì khác để dằn bụng. Nhờ vậy mà hay vì nếu có sẵn thức ăn bên cạnh, thể nào có người cũng sẽ nốc cho cố xác. No bụng, sẽ khổ cho cái thân và cho cả người ngồi cạnh. Để chúng tôi phải chịu đói khát trước giờ hải hành, hải quân Mã Lai Á ở căn cứ Johore rõ ra đã cố ý làm vậy và như thế, họ đã từng kéo ghe người Việt.

Chạy tiếp mãi như vậy khoảng bốn tiếng đồng hồ thì ghe bắt đầu từ từ chậm lại rồi ngừng hẳn. Tàu hải quân Mã Lai Á đến bên ghe và tiếng người nói lao xao ở phía trên, hai gã lính Mã Lai Á đi theo ghe từ lúc khởi hành lại thò đầu xuống khoang hầm cười cười rồi vẫy tay từ biệt chúng tôi. Giờ đây, đã đến lúc chúng tôi phải tự lái ghe lấy. Một hồi còi rít vang lanh lảnh, tàu hải quân Mã Lai Á từ từ tách ra xa rồi tiếng máy của nó nhỏ dần và mất hẳn. Tàu hải quân đi xa rồi, vài người trong khoang hầm tiến đến gần chỗ cửa để chuẩn bị trèo lên nhưng còn phải nghe ngóng chờ ý của Tám Kiệt đã. Nếu họ trèo lên thì mình cũng sẽ theo chân, tôi nhủ thầm. Chợt thấy Đỉnh trong số những người vừa lết lại gần cửa khoang hầm, nó cũng thấy tôi và khẽ giơ ngón tay trỏ quay quay vào đầu như cho biết đang cơn choáng váng. Không phải chờ lâu, tiếng chân người trên mặt sàn ghe bước đến gần và giọng Tám Kiệt vọng xuống:

– Ai muốn lên thì lên còn không cứ ở dưới. Bây giờ thì bọn mình giống y như lúc chưa ghé vào Kelang đó.

Tôi vội theo chân những người đu mình leo lên trên mặt sàn ghe rồi sau đó phóng tầm mắt nhìn biển chung quanh tối đen. Gió đêm thổi mát lạnh, xa xa trên mặt biển chỉ một chấm đèn nhỏ có lẽ là chiếc tầu hải quân vừa bỏ ghe chúng tôi. Một vầng sáng lờ mờ hắt lên từ dưới mặt nước biển ở đường chân trời, ai cũng cho chắc đó là cảng Johore. Bầu trời đen thui không một ánh sao đêm, Tám Kiệt đứng lẫn trong nhóm người vừa từ khoang hầm ghe vọt lên, nói:

– Bây giờ chúng ta nhắm hướng ánh đèn hải đăng phía trước mặt cho đến khi nào trông thấy cái hải đăng thứ hai thì đổi hướng theo ngay nó. Cứ theo như vậy lần lượt, mình gặp đến cái hải đăng thứ năm thì ghe sẽ vào Indonesia. Mấy cha hải quân nói khi gần sáng chúng ta sẽ đến nơi đó.

– Nơi đó là Galang hả anh Tám? Một người đứng gần tôi, hỏi.

– Không. Tám Kiệt lắc đầu mà không trả lời. Ông Thăng nhìn người vừa hỏi, xen vào:

– Lúc nãy tôi cũng hỏi như anh nhưng mấy bố hải quân nói Galang còn xa lắm. Galang cũng chỉ là một hòn đảo nhưng phải là dân Indonesia thì mới biết đường. Bây giờ, bọn mình chỉ còn cách duy nhất là đi theo ánh đèn hải đăng thôi.

Mọi người nhìn theo hướng tay của ông Thăng về một chấm nhỏ loé sáng rồi tắt sau đó lại sáng và tắt trở lại nằm tuốt tận chân trời xa xa tương tự như ánh đèn hải đăng nơi đỉnh núi Lớn ở Vũng Tàu. Vài người lấy tay che ngang trán ráng nhìn, người khác hỏi ống nhòm thì Tám Kiệt lắc đầu, trả lời không có.Từ khi còn ở trong nước, hầu như ai có máu vượt biên cũng đều biết bên Indonesia có trại tị nạn người Việt tên là Galang. Giờ đây mới rõ Galang chỉ là một hòn đảo và nằm đâu đó trong số hàng ngàn hòn đảo của Indonesia. Làm sao ghe chúng tôi đến được đảo tị nạn Galang đây?

Nhìn đồng hồ tay đã hơn 1 giờ sáng, chỉ còn vài tiếng nữa thì ghe chúng tôi sẽ cập vào Indonesia. Thấy có hải đăng chỉ đường nên ai nấy lộ vẻ vui mừng, nghĩ mọi việc rồi sẽ ổn. Có người rủ nhau leo xuống trở lại khoang hầm để ngủ trong khi chờ trời sáng. Tám Kiệt và Thuận đứng bên nhau trong buồng lái, chạy ghe nhắm theo ánh đèn hải đăng. Cảm giác nôn nao bớt hẳn trong người tôi nhưng lại thấy lạnh vì gió. Có tiếng gọi nho nhỏ, tôi quay mặt tìm và thấy Đỉnh đã ngồi trên mặt sàn ghe không xa, tôi liền lại gần bên, hỏi:

– Bớt nhức đầu chưa Đỉnh? Ráng lên, trời sáng là ghe mình sẽ cập được bến mới rồi.

Đỉnh nhìn tôi thật yếu ớt, nó khẽ gật đầu rồi cười. Chắc ai trên ghe cũng đều chung một ý nghĩ như tôi nhưng ngờ đâu, chỉ chốc lát nữa thôi thì mọi dự tính sẽ đảo lộn hết tất cả.

Ghe êm ả nhắm hướng ngọn đèn hải đăng chạy tới trong đêm trường tối đen như mực làm như chỉ có duy nhất đám chúng tôi đi trên biển. Đụng vào tay Đỉnh, tôi gọi nhỏ:

– Đỉnh, Đỉnh ơi! nhưng không một tiếng trả lời. Đỉnh đã ngủ say!

Tôi ngồi yên, nhắm hai mắt lại được một lát rồi nằm lăn ra ngủ như nó cho đến lúc bên tai nghe tiếng người nói lao xao:

– Biết hướng nào mà chạy hả trời! Cứ như vậy, đi lạc là cái chắc.

Tiếng nói đó làm tôi mở mắt rồi từ từ đứng hẳn lên ngó chung quanh. Đêm vẫn mầu tối đen nhưng nhìn kỹ mới biết có một làn mờ mờ trắng đục trên mặt biển bao phủ khắp chung quanh ghe. Sương mù trên mặt biển và ghe chúng tôi đã lần quần chạy vô định cả tiếng đồng hồ rồi. Tám Kiệt và Thuận đã để ghe chạy như một người mù sờ soạng lần từng bước chân trong bóng đêm, mong sẽ vượt qua được làn sương mù để bắt lại ánh hải đăng cũ nhưng vô vọng. Sương mù dầy đặc mà ghe lại không có hải bàn, chúng tôi chắc đã đi lạc cho dù nó có tan trước ánh sáng bình minh. Người đứng, người ngồi chung quanh tôi ai cũng lo vì làn sương mù quái ác thì chợt có tiếng la lớn ở nơi đầu ghe:

– Coi chừng! Có cái gì trước mặt mình kìa. Thấy không?… Hình như ở chỗ có ánh đèn lờ mờ đó mấy ông.

Tôi nhìn ngay về phía trước mặt ghe. Một vài chấm sáng nhỏ khá cao của một khối lù lù gần ngay trước mặt nhưng chưa ai biết đống lù lù đó là cái gì thì có tiếng thất thanh:

– Trời ơi! Tàu lớn ở ngay trước mặt mình đó… Cẩn thận ông Tám, chú Thuận ơi!

Đúng! Khối lù lù ai cũng thấy rõ là một con tàu lớn qua hình dáng của nó hiện ra lờ mờ chung với các bóng đèn điện nhỏ. Ghe chúng tôi đã đến sát thân tàu to đùng nằm chắn bất động ngay giữa đường trên biển. ” Thuận đâu rồi, ông Tám đâu rồi, có thấy không vậy? Đụng vào nó bây giờ “. Nhiều tiếng la theo nhau trong hoảng hốt, tôi tỉnh hẳn giấc ngủ.

La thì la, tốc độ cùng hướng chạy của ghe chúng tôi vẫn không đổi mà con tàu lớn trước mặt càng lúc càng rõ. Ông Tám hay anh Thuận đâu rồi. Có thấy tàu lớn ở trước mặt không hay cả hai đã ngủ gục hết cả? Chạy kiểu này cùng sức hút của dòng nước gần con tàu lớn đó sẽ kéo ghe chúng tôi vào và làm một cú đụng thật mạnh. Có thể vỡ tan ghe và chúng tôi trên mặt sàn sẽ văng hết xuống nước. Tự nhiên như một chuẩn bị cho việc sẽ phải ngâm mình trong nước biển khiến tôi đưa tay sờ vào chiếc áo phao đang mặc và cảm thấy bớt lo. Nhưng chợt nghĩ đến những người còn ở dưới khoang hầm, tôi dáo dác nhìn chung quanh xem coi có gặp Yến, Đào và Bẩy không thì ghe đã đến sát con tàu lớn bây giờ trông như một bức tường thành sừng sững trước mặt. Ghe chúng tôi lao vào khối sừng sững đó và thật may, nó lách qua được mà thực sự chúng tôi không biết ở phần mũi hay phần đuôi con tàu đó. Lách qua được nó trong khoảng cách chỉ vỏn vẹn vài thước kèm theo một tiếng kêu đánh rột khá lớn vọng lên từ dưới nước truyền vào thân ghe và vào người đám chúng tôi. Tim tôi thót lại, ghe vừa chạm vào phần gì đó chìm dưới nước của con tàu lớn nhưng sao nó vẫn chạy tiếp như thường. Đám chúng tôi quay đầu nhìn lại chiếc tàu đã trở lại nguyên khối lù mù và đột nhiên, đèn trên đó bật cháy sáng tạo thành một vầng vàng đục trong màn sương mù. Thủy thủ trên đó đã biết có chuyện vừa xẩy ra với con tàu họ. Còn bên chúng tôi, rõ ràng ai cũng nghe thấy tiếng kêu vọng từ dưới nước nhưng sao ghe vẫn chạy bình thường?

– Nhờ cái lai ký đó. May chưa! Nếu không có nó thì chết mẹ cả đám mình rồi. Tiếng một người trong nhóm Tám Kiệt nói.

Lai ký là cái gì? Có người lên tiếng hỏi thì anh ta giải thích nó là cái đường sóng nổi gồ chính giữa thân ghe ngay dưới đáy. Những ghe thường chạy trong vùng biển có các rạn đá, người chủ thường cho làm thêm cái lai ký để giữ ghe tránh các va chạm mà có thể làm bể ván phần đáy hoặc làm gẫy các chân vịt. Ghe chúng tôi vừa vượt qua sợi dây neo của con tàu, đúng hơn là vừa cán lên nó nên đã gây ra tiếng động lớn làm mọi người có mặt phải hết hồn.

Sau cú va chạm với con tàu lớn, Tám Kiệt và Thuận đã biết sợ nên cho ghe chạy chậm hẳn lại. Ai cũng căng mắt ráng quan sát màn sương mù càng lúc càng dầy hơn, mong tìm lại được ánh hải đăng dù trời đã bắt đầu hưng hửng sáng. Chúng tôi lần lượt thấy khá rõ các tàu lớn chạy gần ghe. Nhiều tàu lớn như vầy thì ắt phải có một bến cảng nào đó của nước Indonesia không xa lắm. Không có hải đăng dẫn đường cùng không hải bàn và chỉ chạy đại trong đêm tối, lại tránh được một tai nạn trong gang tấc để sau cùng, ghe chúng tôi cũng tìm đến được đất liền. Mọi người thở phào, nói Tám Kiệt cho ghe đi theo đuôi mấy con tàu lớn để mong tìm được lối dẫn vào bến cảng như hồi ở Kelang.

Trời đã sáng hẳn nhưng sương mù vẫn phủ dầy đặc chung quanh. Sương lạnh gặp hơi nóng của thân người đã đọng thành từng giọt nước nhỏ li ti nhuộm tóc, râu và cả lông mày lông mi của từng người đang ngồi túm tụm trên mặt sàn ghe thành một mầu trắng. Chúng tôi nhìn nhau và cười vì mặt vài người trông giống hệt các kiếm sĩ trong phim võ hiệp Hồng Kông. Ai cũng tỉnh giấc hẳn, ngồi im lặng bên nhau trên mặt sàn ghe mà dõi mắt quan sát những bóng tàu lờ mờ xê dịch hay đậu bất động trên mặt biển ở gần xa chung quanh. Chợt một thiếu nữ đưa tay chỉ xiên về hướng bên phải ghe nói khá lớn:

– Nhìn kìa mấy chú ơi. Có cái gì lạ quá, cháu không biết nữa ?

Theo hướng tay chỉ của cô gái, ai cũng thấy những khối thẳng khá cao nhưng bất động in hình lờ mờ trong sương mù xa xa. Những khối thẳng lờ mờ đó là cái gì ? Chắc chắn không phải các con tàu vì khác hình dáng mà cũng không phải núi vì núi nào ở giữa biển! Ai cũng cố đoán nhưng đành chịu. Tám Kiệt chắt lưỡi, lầu bầu nói phải chi mình còn giữ được cái ống nhòm thì chắc sẽ biết. Cái ống nhòm của Tám Kiệt đã bị lính Mã Lai Á thu giữ khi cập vào cảng Kelang. Hơi giá từ các giọt nước sương mù đọng trên người làm ai nấy thấm lạnh, run rẩy dù có áo phao mặc phủ bên ngoài. Tóc, mặt và tay chân người nào cũng ướt đẫm nước như vừa trúng một cơn mưa rào nặng hạt. Chợt sương mù sáng hẳn lên, mặt trời bắt đầu lộ rạng khi ánh ban mai từ từ đục thủng dần làn sương để chúng tôi càng lúc càng thấy rõ hơn cảnh vật ở trên mặt biển. Nhiều tàu lớn hiện ra gần gần rồi cả ở xa xa nữa khiến chúng tôi thắc mắc không biết ghe đang chạy vào hải cảng nào đây?

Một tiếng rít khá lớn từ xa vọng lại, tiếng của máy bay phản lực làm tôi nhìn lên bầu trời sương loãng. Hai chiến đấu cơ sơn mầu da ếch lượn sát mặt biển ngay phía trên đầu chúng tôi, giọng một người nói lẫn trong tiếng âm thanh ồn ĩ, chói tai: ” Chiến đấu cơ Phantom F4 đó, không biết của nước nào đây cà! “.

Hai F4, chiếc trước chiếc sau đánh một vòng khá rộng rồi biến mất trong đám sương mù xa xa. Tiếng động cơ nhỏ dần để sau đó nó vang vang trở lại và máy bay đánh thêm vòng tuần tra ngay trên đầu chiếc ghe chúng tôi khi phơi cái lườn trắng như mầu bụng ếch với hai cánh xiên cong cong. Người trên ghe đứng yên ngắm nhìn hai phản lực cơ vì chúng quá đẹp và hùng dũng lượn vòng như những cánh chim trong bầu trời sương mù đang tan loãng. Và, dưới các tia nắng sớm ban mai, những khối lờ mờ thẳng cao và bất động khi nãy, giờ đây đã lộ nguyên hình là những tòa cao ốc chọc trời sừng sững. Những tiếng ồ kinh ngạc, thán phục:

– Nhìn kìa… Nhìn kìa. Đẹp quá sức đi! Singapore đó, đúng rồi!

Những cao ốc chọc trời thẳng tắp như từ dưới đáy nước mọc vươn lên mặt biển cùng với quá nhiều tàu bè lớn nhỏ qua lại ngay phía trước các tòa cao ốc. Ai cũng nói hình ảnh các toà cao ốc trông rất quen như họ đã gặp đâu đó trên các trang báo. Vài người lao nhao, khẳng định: ” Mình vào Singapore thật rồi, các ông ơi! “. Trên ghe tuy chưa người nào có lần đến Singapore nhưng nhìn các tòa cao ốc thấy đúng là nó nên rất mừng. Mừng nhưng trong lòng ai cũng phân vân vì nhớ lời dặn của ông Aleck và các sĩ quan hải quân Mã Lai Á trước đó. Cả đám chúng tôi nhìn nhau, làm sao bây giờ? Tám Kiệt giảm tốc độ ghe và để Thuận cầm lái rồi bước hẳn ra ngoài buồng lái, hội ý với mọi người. Tám Kiệt hỏi:

– Tính sao bây giờ hả mấy ông, mình cho ghe chạy vào hay quay ra đây?.

Ông Thăng và ông Phát nói nên quay ghe ra ngay vì đã biết Singapore không có trại tị nạn dành cho người Việt, có vào được trong cảng thì cũng bị tàu hải quân của họ kéo ra biển lớn sẽ làm mất thời giờ của mình. Nhưng những người khác lại không chịu, bảo Tám Kiệt cứ chạy ghe vào trước đã, mọi chuyện khác nếu xẩy đến thì sẽ tính sau. Một người trong nhóm họ phân bua:

– Cái gì mấy ông cũng tin lời bọn Mã Lai Á không vậy? Tí xíu húc vào tàu lớn xém chết chưa sợ sao mà còn tính chuyện cho ghe quay ra chạy tiếp. Giờ gặp được Singapore thì còn chờ gì nữa mà không vào, vẫn tốt hơn là đi kiếm Galang ở tận đâu đâu. Ở dưới ghe tụi này ớn quá rồi.

Nhiều người khác hùa theo đám họ, bảo mình cứ vào cảng rồi kiếm chỗ nào đó cho ghe làm y như lúc ở Kelang thì bọn Singapore cũng sẽ phải nhận. ” Phải liều mạng thì mới ăn được chứ! “, giọng đàn ông nói to. Tám Kiệt đành xuôi tay. Thuận cho ghe chạy nhắm vào hướng các toà bin đinh chọc trời cái thấp cái cao thẳng tắp, đứng liền bên nhau với các ô kính màu xanh lơ, lấp lánh hình phản chiếu từ bầu trời cùng mây trắng buổi ban mai. Cảnh quá đẹp, dấu vết của một xã hội tiên tiến, thịnh vượng và giàu có. Một máy bay thương mãi từ từ hạ xuống dần, lướt đằng sau các toà nhà khổng lồ rồi mất hẳn ở độ thấp làm chúng tôi ngẩn ngơ nhìn nhau. Đảo quốc Singapore đây rồi! Chúng tôi đang đứng trước một hải cảng quốc tế lừng danh.

Vài chiếc ghe nhỏ của dân địa phương chạy đến gần bên chúng tôi, người ngồi trên đó giơ tay vẫy vẫy và mỉm cười thân thiện. Chỉ lát nữa thôi, sẽ là dịp để cả ghe biết đến cái thành phố nổi tiếng sạch sẽ nhất thế giới nhưng không biết chính quyền địa phương sẽ đối xử với chúng tôi ra sao, tôi đang nghĩ thì tai nghe tiếng còi hú vang vang từ xa. Tiếng còi hú từ một chiếc tàu nhỏ nhưng chạy nhanh như tên bắn đang hướng thẳng về phía ghe chúng tôi. Ông Phát vội nói Tám Kiệt cho Thuận ngừng ghe lại để xem tình hình.

Chiếc tàu nhỏ hú còi đó đã khá gần và rõ ràng nó chạy đến vì ghe chúng tôi. Ánh đèn từ các bóng chớp quay liên tục trên đỉnh cùng ổ súng đại liên hai nòng ở ngay ụ đầu mũi tàu nhắm thẳng vào ghe làm ai nấy đều biết đã gặp chuyện. Con tàu đó giảm dần tốc độ rồi cặp sát bên cạnh ghe, chúng tôi im lặng, đoán chắc việc sẽ không suôn sẻ. Bốn người trên con tàu mới đến mặc đồng phục áo xanh lơ, quần đen cùng vũ khí đeo bên hông, đưa mắt nhìn chằm chằm sang phía chúng tôi. Một người tay cầm cái loa chạy pin chĩa sang ghe, nói bằng Anh ngữ:

– A lô, a lô! Nghe đây! Chúng tôi là lực lượng tuần duyên nước Singapore, quý vị không được phép vào cảng và phải ra khỏi khu vực này ngay lập tức, nếu không buộc lòng chúng tôi phải dùng vũ lực. Singapore không có trại tị nạn dành cho quý vị và không muốn quý vị xâm nhập, xin vui lòng tuân thủ.

Hai ông Thăng ông Phát nhìn nhau cười vì thấy đúng như lời họ đã nói và vội giải thích cho các người trên con tàu tuần duyên biết lý do ghe đi lạc khi muốn trực chỉ đến Indonesia theo hải đăng chỉ đường. Một sĩ quan trên tàu tuần duyên gật đầu như thông cảm và ra lệnh ghe chúng tôi phải chạy theo sau con tầu họ. Con tầu tuần duyên và ghe chúng tôi quay mũi chạy ngược trở ra khỏi khu vực cảng trong sự tiếc nuối của nhiều người khi họ quay lưng nhìn những tòa cao ốc chọc trời cùng số tàu ghe chi chít trên mặt biển đang càng lúc càng xa dần. Vài người thắc mắc không hiểu sao tàu tuần duyên biết có ghe lạ vào mà chạy ra đón đầu chận bắt liền và còn biết mình là người Việt Nam nữa? Như vậy họ giỏi quá! Có người cho là vì cả ghe đầy nhóc người đứng, ngồi trên sàn lại mặc áo phao giống hệt nhau và rồi mặt mũi cả bọn nữa, trông đâu phải như ngư dân Singapore. Người khác nói là có thể do hai chiến đấu cơ F4 thấy ghe mình nên báo cho tàu tuần duyên biết nhưng cũng không chắc vì ghe chúng tôi nhỏ xíu so với cả trăm thương thuyền có mặt trong vùng. Có thể chính đám ngư dân Singapore thấy chúng tôi nên đã báo cho tàu tuần duyên biết vì họ đã được lệnh từ chính quyền lâu rồi.

Chạy theo đuôi con tàu tuần duyên Singapore này độ một giờ đồng hồ thì chúng tôi đã thấy hình dáng lớn nhỏ các hòn đảo lộ dạng từ rất xa ở phía trước mặt. Tàu tuần duyên từ từ ngừng lại và chờ ghe chúng tôi chạy đến rồi tắt máy dừng sát bên cạnh họ, một sĩ quan bên đó lấy tay chỉ về hướng các đảo xa xa, nói:

– Kia là các đảo của quốc gia Indonesia, quý vị biết rồi nha.

– Đảo Galang ở đâu xin ông vui lòng chỉ cho chúng tôi biết. Ông Thăng hỏi viên sĩ quan nhưng y lắc đầu, trả lời:

– Chúng tôi không biết, thật tình không biết vị trí của đảo Galang mà quí vị hỏi. Quý vị tự tìm lấy vậy nhưng hãy nhớ là không được quay vào hải cảng Singapore lần nữa. Chúng tôi vẫn tiếp tục tuần tra trong vùng và đã nhận diện được ghe quý vị rồi, mong quý vị tuân hành. Bây giờ là lúc chia tay, chúng tôi chúc quý vị may mắn.

Con tàu tuần duyên đảo một vòng, từ từ tăng tốc độ và chạy mất dạng mà Tám Kiệt cùng Thuận vẫn chưa nổ máy trở lại. Một cảm giác hụt hẫng, buồn bã trong lòng những người ngồi trên mặt sàn ghe vì bị xua đuổi phũ phàng. Trời buổi sáng đầu ngày trên mặt biển thật quang đãng và mát mẻ. Vài người lôi các túi thức ăn tiếp tế ra, chia nhau thuốc lá hút hoặc cùng ăn các gói bánh bisquit. Phía sau buồng lái ghe có cái bếp dầu to cùng một số muỗng, bát nhựa và hai nồi nhôm khá lớn để sẵn, hai phụ nữ trong nhóm Tám Kiệt bắt đầu nổi lửa nấu mì gói cho mọi người ăn chung. Những túi thức ăn y chang một loại đã phát cho chúng tôi khi còn ở cảng Kelang. Cũng các lon sắt cá mòi đóng hộp sơn đen che kín chung quanh và không một dòng chữ nào trên các vỏ thuốc lá điếu, bao mì gói hoặc bánh ngọt bisquit. Tám Kiệt đảo mắt nhìn về hướng các hòn đảo xa xa, nói:

– Ăn no rồi nghỉ ngơi chút xíu cho lại sức mới chạy ghe tiếp được. Đàng nào thì mình cũng biết hướng chạy vào rồi, chẳng cần đến hải đăng nữa. Nếu có gì kẹt thì ghé vào đảo nào đó hỏi thăm dân địa phương, mong là sẽ gặp được Galang nằm đâu đó trong vùng.

Mì gói vừa chín, bốc mùi thơm làm chúng tôi ai cũng thấy đói bụng và đều ăn rất ngon nhưng chia chưa hết lượt mà đã hết sạch làm hai phụ nữ phải nấu thêm nồi nữa. Có người khui cá hộp ra ăn thêm cùng với bánh bisquit. Ghe im lặng bất động vì Tám Kiệt và Thuận đã nằm ngủ bù cho cả đêm thức trắng. Gió thổi trên mặt biển lao xao thành những lọn sóng nhỏ đập bì bọp vào thân ghe. Chúng tôi người ngồi kẻ nằm yên lặng trong giấc ngủ và nghỉ ngơi. Vài cụm mây trắng trôi lơ lửng trên bầu trời xanh. Xa xa những con tàu lớn chạy ngang nhưng những người còn thức, không ai thèm để ý đến chúng nữa. Có người thì dõi mắt nhìn theo những cánh hải âu rồi thắc mắc không biết chim làm tổ ở đâu mà cả ngày bay lượn không mỏi mệt trên mặt biển. Nghỉ ngơi mới đó mà đã gần trưa, ánh nắng bắt đầu chói chang khiến ai cũng bị loá mắt khi cố nhìn cái gì khá lâu trên mặt biển. Một ông ngồi gần tôi, lấy nước đổ ra tay và dấp vào mặt nói:

– Tôi vẫn nhớ những ngày đi làm ruộng, cứ hôm nào sáng sớm mà có sương mù mịt thì y như rằng ngày hôm đó trời nắng lắm.

Nắng nóng nhưng nhờ các cơn gió biển thổi liên hồi nên những người ngồi trên mặt sàn ghe vẫn còn chịu đựng được. Tuy vậy, vài người sau khi ăn xong bữa ăn dã chiến, đã vội rút xuống trở lại dưới khoang hầm ghe để nằm ngủ cho mát.

Sau giấc ngủ ngắn, Tám Kiệt thức dậy rửa mặt qua loa xong y cho nổ máy ghe chạy tiếp, nhắm thẳng các hòn đảo trước mặt nhưng khi đến gần mới biết là các đảo hoang không người cư ngụ. Chạy thêm cả tiếng đồng hồ len lỏi trong các hòn đảo khác mà cũng không gặp một túp nhà, bóng người hay một ghe tàu nào cả. Cứ hòn đảo rồi lại hòn đảo tiếp nối nhau liên tục trong cái vắng vẻ, không một bóng người trên bờ và cả ở trên mặt biển. ” Những đảo này nhỏ lắm, không thể làm một trại tị nạn đông người được. Mình phải tìm ở các cụm đảo nào lớn hơn thì may ra mới gặp Galang “, ông Thăng cho ý kiến mà ai cũng biết. Tưởng dễ tìm được Galang nhưng không dè quốc gia Indonesia có quá nhiều hòn đảo mà lại chỉ trong một khu vực không lớn lắm.

Đến quá trưa thì chúng tôi gặp một hòn đảo rõ lớn nằm xiên ở phía tay phải của ghe, Tám Kiệt vội chạy tới ngay và khi đến gần mới thấy nó rộng hơn nhiều so với các hòn đảo đã đi qua từ sáng tới giờ. Trên đảo, có những cây rất to như đại thụ với những chấm đen lơ lửng cao thấp trên các cành khi ghe đến gần. Hòn đảo này, bề ngoài không thấy có dấu vết người ở nhưng ở sâu bên trong ra sao thì chúng tôi chưa biết. Chúng tôi đưa mắt nhìn Tám Kiệt thăm dò nên cho ghe ghé lại hay chạy tiếp nhưng rồi tất cả đồng ý thử cập vào. ” May gặp người Indonesia ở đây thì mình mới biết đường còn hơn cứ đi mãi mà chẳng kết quả “.

Tám Kiệt chạy ghe từ từ dọc bờ hòn đảo, kiếm chỗ thuận tiện để cập vào. Càng đến gần thì chúng tôi càng thấy rõ cây trên đảo to như những đại thụ trong mầu lá xanh đậm đan kịt bên nhau cùng với chi chít tổ chim mầu đen treo lơ lửng trên các cành. Có người cho là tổ chim dòng dọc nhưng lại phân vân vì nhiều tổ chim quá… Mà cũng có thể vì đảo hoang không người nên chim đã chiếm cứ làm giang sơn riêng. Tám Kiệt tìm được chỗ cho ghe cập bờ rồi ngừng lại ngay trên một vụng nhỏ có bãi cát mịn trải khá dài theo mép nước. Cạnh lườn ghe, nước trong vắt khiến chúng tôi trông rõ các hạt cát biển cùng vụn vỏ sò vỏ ốc chao qua đảo lại ở dưới đáy. Chúng tôi gọi nhau, đánh thức người nằm dưới khoang hầm dậy chuẩn bị rời ghe để vào bờ làm một vòng thám sát.

Đột nhiên! Luồng gió mạnh từ phía trong bờ thổi tốc ra ngay ghe làm nhiều người phải đứng lại, hít hà hai lỗ mũi rồi nhìn nhau trong ngạc nhiên cùng vui mừng.

Một mùi thân quen ở các vườn cây ăn trái xộc vào khứu giác chúng tôi. Tiếng lõm bõm từ các thân người chạm với nước cùng giọng một thanh niên lên tới bờ trước đó, xác nhận:

– Sầu riêng chín. Bà con ơi! Đã quá.

Mùi sầu riêng chín bay nồng nặc trong gió, không lẫn vào đâu được. Chúng tôi đồng nhau bỏ ghe đánh rụp cùng bước lội thật nhanh vào bờ. Vượt qua một thôi đường để cả đám thấy không xa sau những cây bụi là những quả sầu riêng gai nhọn ở ngay các cành thâm thấp. Vạch những cây bụi chận đường, chúng tôi tìm lối đi vào để kiếm quả chín rụng. Một đàn chim cao cát lông đen mỏ vàng chanh nghe động, vỗ cánh, kêu táo tác gọi bầy bay vút cao làm cả đám chúng tôi giật mình. Mặt đất dưới các gốc cây là những quả sầu riêng nằm sẵn không biết rụng từ bao lâu rồi. Vài thanh niên nhanh chân chạy ngay đến, khom người, nhặt những quả gần nhất rồi đi ra nhưng có người lại vất bỏ ngay để quay vào tìm quả khác. Quả sầu riêng bị vất bỏ vì đã nẫu. Lần lượt từng người nam hay nữ trong chúng tôi đều vội vàng rúc vào các tàng cây nhặt các quả mới rụng rồi tự kiếm chỗ ngồi và lấy tay tách vỏ móc múi ăn liền. Đang chần chừ chưa biết chọn cây nào thì có tiếng Đỉnh gọi tôi:

– Anh Vũ! Lại đây nè, sao cứ đứng sớ rớ ở đó hoài vậy ?

Ngay giữa quãng trống gần các cây sầu riêng, Đỉnh đứng đó, mỉm cười khoe tôi hai quả gai hở, vỏ căng tròn mầu vàng đậm trông thật hấp dẫn. Tôi tiến lại, Đỉnh đưa cho tôi một quả rồi ngồi xổm tại chỗ, hai đứa tôi dùng tay khẽ tách từ vết nứt nhỏ nơi cuống trái. Những múi vàng nằm phơi giữa bờ mép trắng toả mùi ngào ngạt. Cái mùi thật đặc biệt mà người ăn được sầu riêng thì cho là thơm, còn không lại lắc đầu, bịt mũi. Tôi và Đỉnh móc từng múi ra ăn ngon lành. Dưới các gốc cây sầu riêng, quả nằm la liệt đầy trên mặt đất. Có những quả nằm như vậy từ rất lâu giờ đây đã thành một nhúm đen mốc bên cạnh các quả vừa mới rụng, gai còn cứng mầu nâu xanh. Sầu riêng ở đây quả nhỏ, múi vàng ngọt béo thật nhưng phải cái, cơm mỏng mà hột lại to nên hai đứa tôi phải nhặt các quả khác ăn tiếp cho đến lúc cảm thấy ngán mới thôi.

Sau bữa ăn sầu riêng quá ể, đám chúng tôi tập họp nhau ngồi nghỉ ngơi dưới một bóng mát cạnh bờ đất gần lối đi xuống ghe và trò chuyện rôm rả. Thấy vài phụ nữ vẫn đang cho các trẻ em ăn thêm sầu riêng, ông Phát vội khuyên:

– Mấy chị đừng cho sắp nhỏ ăn no quá không tốt. Sầu riêng coi vậy chứ độc lắm.

Có thì giờ quan sát, ai cũng nói lần đầu mới thấy sầu riêng ở đây to cao như đại thụ. Có lẽ, cây sầu riêng lão ở vùng Lái Thiêu-Bình Dương có lớn lắm thì cũng chỉ bằng một cành to của cây ở đây. Nhưng ai cũng thắc mắc tại sao lại có sầu riêng mọc hoang nhiều đến như rừng? Hay do tay người trồng? Có thể lúc khởi đầu, dân địa phương đã mang sầu riêng đến đây ăn rồi vất hột và các hột đó mọc thành cây lớn rồi rụng trái, phát tán thêm thành các cây khác. Cây già chết đi được thay bằng các cây trẻ, cứ tiếp nối sinh sôi nẩy nở như vậy, để đến bây giờ mọc dầy đặc như một khu rừng.

Chúng tôi thấy có các cây sầu riêng nhỏ, nhú lá non từ phần hư nát của các quả mốc đen ở các khoảnh đất trống. Phỏng đoán vậy nhưng cũng có thể từ các hột còn sót lại từ một loài chim lớn nào đó đã kẹp sầu riêng chín đến đây ăn từ thời xa xưa? Nhìn sầu riêng dầy đặc, thân mọc sát cạnh nhau, cành đan qua lại chặt cứng khác với tay người trồng mà mọi người đồng ý là sầu riêng mọc hoang vì khoảng cách không đều đặn. Vì nếu trồng, ít nhất thì mỗi cây cũng phải cách nhau 7 hoặc 8 m như trong các vườn cây và giống phải to trái cho cơm dầy cùng hột nhỏ. Các cây sầu riêng ở đây tuy to cao nhưng đã kém giống, già lão mà người ta thường gọi là thoái hoá. Không biết nó cùng loại với các giống sầu riêng khổ qua, sầu riêng bí, sữa cơm vàng, Ri 6… như bên Việt Nam không? Vài phụ nữ đi gom các hột sầu riêng lại nói mang về ghe để luộc ăn. Đảo nầy không có giống khỉ vì nếu có chúng thì đã không có sầu riêng chín rụng đến hư thúi dưới gốc và khi cầm xem các trái mốc đen không còn hột bên trong, ai cũng cho là có loài bò sát nào đó tìm ăn các hột sầu riêng rụng.

Vài thanh niên thả bộ tà tà đi ra từ tuốt phía trong rừng cây sầu riêng, trên tay mỗi người cầm theo vài quả chín nói mang về dưới ghe ăn dần, đến chỗ đám chúng tôi ngồi, một cậu bảo:

– Sầu riêng cây nào cây nấy khổng lồ mà trên đảo lại không có ai ở mới lạ! Vô hơi sâu chút chút, có cả một con suối nước ngọt nữa.

– Hồi tôi làm việc chung với bọn Mỹ ở Bình Dương, có dịp đưa mấy chả đến vườn cây ở Lái Thiêu chơi trong dịp hè, tiện lúc đó hỏi về gốc gác cây sầu riêng thì một ông trả lời nó có nguồn gốc từ Indonesia ra. Và, cũng như người mình, trong số mấy người Mỹ hôm đó, có người ăn được sầu riêng, người thì không mấy ông ạ. Người Mỹ họ cho trái sầu riêng là loại quả bổ dưỡng nhất và cái mùi mà người nào ăn được bảo thơm hoặc không thì nói thối, thực ra chính là các chất ether thơm hay thối khi quả chín mà có nhiều nhất ở phần cơm vàng. Tùy theo khứu giác của từng người khi ngửi và cảm nhận nó trước hoặc sau mới khiến nghĩ vậy. Chất ether gây mùi thối có thành phần lưu huỳnh và đó cũng là điều người ta cho là ăn sầu riêng quá nhiều sẽ không tốt y như anh Phát nói can nãy. Mấy chả Mỹ nói cây sầu riêng có thể mọc cao tới 40, 50 thước nhưng tôi đâu tin, giờ ghé đảo nầy mới thấy đúng như vậy. Ông Thăng kể.

Phải công nhận sầu riêng chín tỏa mùi thật nồng mà có lẽ không loại trái cây nào sánh kịp. Ních đầy một bụng sầu riêng, giờ đây ai cũng cảm thấy khát nước rồi thấy trời đã bắt đầu về chiều nên mọi người gọi nhau tụ họp lại để chuẩn bị về dưới ghe. Tám Kiệt nhổm người đứng lên, vỗ hai tay vào nhau kêu bôm bốp và nói lớn:

– Xong hết cả chưa bà con? Ai cần tiểu tiện vệ sinh gì thì làm ngay đi, nửa tiếng đồng hồ nữa phải về lại ghe đó, rồi ông mỉm cười, dọa: ” Ai mà ham sầu riêng không về dưới ghe, bị bỏ lại làm Robinson Cruso (nhân vật sống trên hoang đảo, truyện của Daniel De Foe) ở đảo này thì ráng chịu nghe “.

Tám Kiệt nói vậy nhưng phải đến 5 giờ chiều thì chúng tôi mới lục tục kéo hết nhau rời hòn đảo sầu riêng hoang đó. Nhúng chân xuống bờ nước để lội trở về ghe, ai cũng cảm thấy lành lạnh. Tám Kiệt cùng hai ông Thăng, Phát bàn định đúng 6 giờ chiều sẽ cho ghe nổ máy và cứ để chạy suốt đêm may ra trong đêm tối, chúng tôi sẽ dễ dàng gặp lại ngọn hải đăng chỉ đường. Ông Phát nói:

– Chúng ta bắt đầu kiểm danh xem coi còn đủ 135 người không. Cứ ai đến chỗ mình thì làm ơn đọc to con số lên nghe bà con.

Chúng tôi kiểm danh xong và không vắng một người nào rồi sau đó cho ghe nổ máy đi tiếp cuộc hành trình, từ từ rời bỏ hòn đảo lạ kỳ mới thấy lần đầu trong đời.

Chúng tôi chạy tiếp qua nhiều hòn đảo nhưng đều không một bóng dáng dân cư ngụ cùng ghe xuồng trên mặt biển vắng lặng. Có lúc, từ xa xa, mọi người thấy rõ một nếp nhà tranh dựng sát bờ cạnh đảo nên vội cho ghe chạy đến định hỏi thăm đường nhưng khi lại gần mới biết căn nhà đã bị bỏ phế từ lâu. Trời bắt đầu sẩm tối kéo theo những cơn gió mạnh và lạnh hơn làm nhiều người phải mặc lại bộ áo phao cho ấm. Ăn sầu riêng quá no lúc xế trưa, giờ đã làm khổ vài người trong chúng tôi khi phải chờ đến lượt ngay trước chỗ tiêu tiểu ở phần đuôi ghe. Bị tháo dạ, trên ghe lại không có thuốc cầm nên người đó đành dùng dầu xanh con Ó bôi lỗ rún cho đỡ. Trời bắt đầu tối, chúng tôi cứ chạy thong thả mong nhìn thấy ánh hải đăng hay bóng leo lét của ghe xuồng dân địa phương từ màn đen tĩnh mịch. Lầm lũi chạy như vậy cho đến khi ghe bị vướng vào một bãi cạn nhưng may mắn Thuận đã khéo léo lái trườn ra kịp thời. Thấy tình cảnh nguy hiểm và sau khi hỏi ý các ông Thăng, Phát cùng nhiều người khác, Tám Kiệt quyết định cho tắt máy ghe, nghỉ đêm tại chỗ chờ mai trời sáng sẽ tính sau.

Trong đêm trường, chúng tôi nằm lăn ra trên sàn ghe, trò chuyện hoặc rút xuống dưới khoang hầm cho bớt lạnh vì gió. Có gió và vì ghe ở xa bờ nên không một tiếng muỗi vo ve. Ngửa mặt nhìn bầu trời sao, có người chỉ cho thấy từng chùm riêng biệt và cố đoán ra vị trí của ghe khi căn cứ vào một vầng sáng rực nổi rõ ở một hướng mà ai cũng cho là Singapore. Dần dần tất cả đều chìm vào giấc ngủ cho đến khi nắng ban mai vừa lộ rạng, giọng một người nói lớn chung với tiếng máy nổ nhè nhẹ vọng lại. ” Có ghe ngay kia kìa mấy ông ơi! Dậy đi “.

Tôi nhổm dậy, giương mắt nhìn một chiếc ghe nhỏ xíu chạy không xa lắm. Vài người trong đám chúng tôi vẫy tay, la hét mừng rỡ. Chiếc ghe nhỏ đổi hướng, từ từ đến gần trong kỳ vọng của chúng tôi. Hai người đàn ông một già một trẻ ngồi trên ghe tuôn ra những câu… Anda… Sayra… Việt Nam orang… nhưng không ai trong chúng tôi hiểu được ý nghĩa. Chiếc ghe đó không mái, cũ kỹ với cái máy đuôi tôm nhỏ xíu tương tự loại Kohler 4 gắn trên tắc rán của người dân vùng sông rạch miền Nam bên quê nhà. Ông Phát hỏi vài câu tiếng Anh nhưng hai người đó lắc đầu. Họ không biết Anh ngữ còn chúng tôi mù tịt tiếng Indo thì làm sao hỏi thăm nhau được? Tám Kiệt suy nghĩ chốc lát rồi lấy một tờ giấy, vẽ hình bản đồ nước Việt, vạch một đường thẳng xuống phía Nam vào một vòng tròn nhỏ trong khu vực nước Indonesia và ghi rõ hàng chữ Galang chung với một dấu hỏi rồi đưa cho hai người này xem. Cả hai người Indo nhìn vào tờ giấy rồi nhìn chúng tôi và gật đầu điệu bộ đã hiểu ý. Sau đó, dùng ngay cây viết của Tám Kiệt, một người họ vẽ từng cụm đảo, vị trí ghe của chúng tôi và chỉ dẫn hướng sẽ phải đi tiếp để đến một hòn đảo lớn khác không xa trong vùng. Nơi đó, chúng tôi sẽ gặp các orang American và orang Việt Nam, theo cử chỉ diễn giải của họ.

Chúng tôi chia tay hai người dân Indo đó sau khi tặng họ nguyên cả bao thực phẩm tiếp tế cùng một can nhựa 20 lít dầu diesel chạy máy.

Rong ruổi tiếp hải trình từ bản vẽ nguệch ngoạc của hai ngư dân Indo, chúng tôi vượt qua nhiều hòn đảo và ngay cả các ghe xuồng nhỏ của dân địa phương khi gặp dọc đường mà giờ đây thấy không cần hỏi thăm họ nữa. Chúng tôi cần phải đến nơi vừa biết càng sớm càng tốt. Cứ tiếp tục chạy ghe như vậy cho đến gần trưa thì chúng tôi đã trông thấy từ xa xa hình dáng một hòn đảo thật lớn làm ai cũng mừng. Đến gần, thấy lố nhố những cụm nhà cửa cùng bóng dáng người đi bộ, người chạy xe gắn máy hai bánh và cả xe hơi ở những cung đường vòng gần bờ biển. Tuy vậy, những cung đường vòng đó lại có các mỏm đá sát bờ hoặc vách đất cao vút cùng cây cối mọc lởm chởm nên chúng tôi không thể cho cập ghe vào được. Đây đúng hòn đảo mà hai ngư dân Indo đã vẽ chỉ đường trong tờ giấy. Tám Kiệt đành để ghe chạy từ từ dọc theo bờ tìm chỗ thuận tiện và thật may, khi vừa qua khỏi một doi đất thì chúng tôi thấy lừng lững một toà nhà chín tầng mầu trắng cao vút nằm sát liền cạnh bờ biển trên một mỏm đồi khá cao. Một căn nhà thuỷ tạ khá lớn được vây chung quanh bởi các canoe nhỏ đủ màu nằm liền sát bờ và nó nối thẳng lên tòa nhà trên cao bằng cầu thang trắng nhỏ. Thấy không một bóng người trong căn nhà thủy tạ, Tám Kiệt liền cho ghe tắp vào rồi lần lượt từng người chúng tôi bỏ ghe, nối đuôi theo một cầu thang nhỏ và kéo nhau vào hẳn bên trong.

Đến nơi thì vài người sức quá bết đã nằm lăn ra ngay trên mặt sàn gỗ, mắt nhắm nghiền như ngủ như bất cần biết sự việc sẽ diễn tiến ra sao. Người khác thì ngồi ngả lưng vào các băng ghế trống rồi nhìn nhau trong yên lặng chờ đợi. Tưởng không ai thấy ghe chúng tôi vậy mà chỉ lát sau đã có hai nhân viên nam nữ mặc đồng phục chạy đến gần nhìn cả bọn trong giọng xì xồ địa phương rồi họ quay lưng bỏ đi mất. Họ đi báo cáo, chúng tôi nghĩ vậy nhưng tới đâu thì tới, chỉ mong mọi việc sẽ suôn xẻ. Căn nhà thủy tạ này có mặt sàn bằng gỗ rất rộng cùng các băng ghế kê sát vách và không có bàn hoặc giường gì cả. Có vẻ nhà thủy tạ ở đây chỉ là chỗ để người địa phương xuống chơi, dùng canoe đi câu cá hoặc nghỉ mát vì ngồi ở các băng ghế, tầm mắt của bất cứ ai cũng ngắm được phong cảnh biển xanh lơ cùng các hòn đảo nằm ở xa xa thật đẹp. Hai nhân viên bỏ đi để chúng tôi chờ đợi trong làn gió biển buổi sáng thổi liên tục mát rượi.

– Dám mình ghé vào ngay một khách sạn quá mấy ông! Cứ nhìn căn nhà này, số canoe đậu ngay dưới, đồng phục hai người Indo vừa rồi cùng cầu thang trắng dẫn lên tòa nhà mà xem. Khách sạn sát bờ biển cho dân du lịch đó. Vị trí này đắc địa lắm chứ. Mình đến lúc trời còn sớm chứ thử trễ trễ hay lúc xế chiều xem, chắc chắn đầy nghẹt người, Tám Kiệt nói cho cả bọn nghe, ai cũng đồng ý.

Không lâu sau, có một nhóm người từ trên toà nhà cao vút lục tục theo cầu thang trắng chạy xuống căn nhà thủy tạ liền. Đi đầu là hai người nam nữ trẻ tuổi trong y phục sang trọng cúi đầu chào chúng tôi rồi hỏi bằng Anh ngữ:

– Quý vị là người Việt Nam phải không? Cần gì,  xin cho biết ? Chúng tôi sẵn sàng giúp. Đừng ngại!

Hai ông Thăng, Phát gặp họ và kể tóm tắt về tình cảnh của đoàn ghe cho hai người biết. Nghe xong, hai người quay sang nói nhỏ với những nhân viên mặc đồng phục đứng chờ ngay sau lưng họ điều gì đó. Đám nhân viên bỏ đi ngay để rồi nhanh chóng quay lại với các khay tròn bằng Inox rộng tương tự như một cái mâm với nắp thủy tinh đậy kín bên trên và đứng sau lưng hai người trẻ tuổi, chờ lệnh.

– Ghe mình ghé vào khách sạn Perang của đảo Batam. Chủ là người Singapore sang đây mở khách sạn và bây giờ gặp ghe mình, mời tất cả dùng bữa điểm tâm. Vậy ai thấy đói, cứ tự nhiên ăn nhưng phải giữ thể diện nghe. Ông Phát dặn dò sau khi trò chuyện thêm với hai người chủ.

Liền sau đó thì những nhân viên khách sạn tay bưng các mâm sáng loáng tản ra đến từng người chúng tôi đang ngồi, nằm la liệt trên sàn nhà và mời ăn. Trong lòng mâm có bánh ngọt đủ loại nóng hổi, ngào ngạt mùi thơm được xếp chặt từng hàng ngay ngắn. Món ăn ngọt thì có thứ giống y như bánh chuối, bánh bò hoặc bánh bông lan bên quê nhà. Còn món mặn lại có loại bánh mì kẹp trứng tráng hoặc mì sợi xào khô với tôm tươi hoặc cá. Cuối bữa điểm tâm đó họ mang nước lã đóng chai hoặc Coca Cola lon nhôm cùng chuối tráng miệng cho cả bọn. Theo yêu cầu của ông Thăng, nhân viên khách sạn còn mang thuốc tiêu chẩy cho những người bị tháo dạ vì ăn sầu riêng hôm qua và rồi còn có cả thuốc lá điếu cho chúng tôi hút nữa. Thuốc lá điếu nhân viên khách sạn đem cho là một loại thuốc hút lạ vì sợi của nó không phải lá cây thuốc lá thông thường mà từ lá của một loài cây có tên Gudang  Garam, họ nói. Khi mấy người trong đám chúng tôi hút nó, khói thở ra có mùi thơm ngọt là lạ khác biệt và thoang thoảng giống mùi thuốc hút ống pipe hiệu Haft & Haft nổi tiếng.

– Thuốc lá này mắc tiền lắm nghe, không vấn chung với đầu lọc khói đâu… Nhân viên khách sạn cho tui biết đó, ông Phát cho cả bọn biết.

Rồi hai vợ chồng chủ khách sạn bảo nhân viên họ mang ra cho chúng tôi các phong bì thư loại dán tem sẵn và nhận sẽ gửi giúp thư. Ai thấy vậy cũng mừng liền vội vàng nhận phong bì thư và hí hoáy viết vội nhưng chưa ai kịp viết xong thì đã nghe  tiếng la hét ồn ĩ ngay ở chân cầu thang chỗ nối vào tòa khách sạn. Nhìn ra, tôi thấy hai gã đàn ông da ngâm đen mặc đồng phục với dây thắt lưng có súng ngắn bên hông tiến vào nhìn cả bọn chúng tôi đang đứng, ngồi thành từng nhóm trên mắt sàn căn nhà. Hai gã nầy xì xào tiếng địa phương với các nhân viên khách sạn rồi khoát tay ra dấu cho chúng tôi phải đi ngay trong điệu bộ hất xua ra hướng biển. Mặt hai gã lộ vẻ bực tức, mắt ánh lên các tia hung hiểm làm chúng tôi ai cũng sợ. Nghe báo, người chủ khách sạn vội chạy lại tiếp xúc với hai gã và dù cố thuyết phục mà hai gã đó vẫn không đổi ý.

– Quý vị phải ra khỏi đây. Đi ngay bây giờ… Đi… Đi ngay, họ không đồng ý cho chúng tôi giữ quý vị ở lại lâu thêm, người chủ khách sạn nói với đám chúng tôi.

Nhân viên khách sạn, người nào cũng mặt lộ vẻ sợ hai gã khi họ bỏ ra đứng tuốt ở đằng xa.

Thấy đám chúng tôi vẫn còn ngồi lại trên sàn căn nhà, đôi vợ chồng chủ khách sạn đến thổ lộ với ông Thăng, Phát mong thông cảm cho hoàn cảnh của họ. Người chồng cho biết hai gã da đen đó là nhân viên an ninh của địa phương.

– Họ không cho phép khách sạn được lưu giữ quý vị lâu thêm. Đành phải chia tay sớm vậy, ông ta nói.

Chúng tôi nhìn nhau trong buồn bã lẫn bực tức vì niềm vui mới có mà đã sắp sửa vuột mất. Có người xì xào đoán chắc lại dân địa phương nào đó đã báo tin cho hai gã an ninh biết về chiếc ghe của chúng tôi.

Chúng tôi lục tục kéo nhau xuống trở lại ghe và nổ máy khởi hành trong ánh mắt lo lắng cùng buồn bã của hai vợ chồng chủ nhân và các nhân viên khách sạn. Phải đi tiếp thì trong lòng chúng tôi ai cũng buồn khi nghĩ lúc vào được Mã Lai Á bị tàu hải quân kéo ra khỏi hải phận rồi đi lạc vào đảo quốc Singapore lại gặp tàu tuần duyên ở đó từ chối. Niềm vui mới có trong những giờ ngắn ngủi ở sàn căn nhà thủy tạ đã tan biến mau lẹ. Chúng tôi buồn khi nghĩ việc đi tìm tự do thật không dễ dàng, đến được Mã Lai Á rồi đảo quốc Singapore và giờ đây là Indonesia  mà vẫn chưa xong… vì rõ ràng dân địa phương có người sẵn lòng chào đón chúng tôi nhưng có người thì lại không chịu. Tuy cùng một khối nước tự do nhưng thấy vậy mà không phải vậy. Trời bây giờ đã gần trưa nắng nóng, đảo Batam nhỏ dần dần sau lưng chúng tôi. ” Mình đi đâu tiếp bây giờ đây? Galang ơi, mày nằm ở đâu? Sao khó tìm quá vậy! “. Trong đầu chúng tôi, lập đi lập lại các câu hỏi. Nhìn những đảo to nhỏ gần nhau, có lác đác đác vài căn nhà ở sát bờ mà chúng tôi thấy buồn. Không lẽ lại cho ghe ghé vào các chỗ đó hỏi? Tám Kiệt và Thuận im lặng chạy ghe như vậy khoảng một giờ đồng hồ thì có tiếng người kêu to:

– Có canoe đuổi theo đằng sau ghe mình kìa anh Tám! Dừng máy xem sao, đừng chạy nữa.

Quay đầu nhìn về phía sau, ai cũng thấy một chiếc canoe nhỏ chạy với tốc độ thật nhanh cố đuổi theo chúng tôi. Tám Kiệt tắt máy dừng lại và trong chớp mắt, chiếc canoe lạ đến sát bên ghe. Mọi người reo mừng khi thấy ở ngay tay lái canoe là người chủ khách sạn. Ông ta mỉm cười, vẫy tay chào chúng tôi rồi bảo các ông Thăng, Phát bước sang bên canoe của ông. Trải tấm bản đồ khá lớn ngay trên mặt phẳng của mũi canoe và chỉ tay vào các chấm nhỏ trong đó, ông ta nói:

– Tôi phải tháo tấm bản đồ này ở phòng khách để mang tặng cho quý vị. Đây! Vị trí của chiếc ghe quý vị và đây là đảo Batam. Quý vị hãy đi theo hướng này sẽ đến được đảo Tanjung Pinang chỉ nội trong chiều tối hôm nay.

Ngừng một lát chờ hai ông Thăng, Phát xem kỹ vị trí các hòn đảo trên tấm bản đồ, ông ta tiếp lời:

– Đến được Tanjung Pinang thì quý vị sẽ dễ dàng tìm được đảo Galang như ý muốn. Vợ chồng tôi xin lỗi về chuyện vừa xẩy ra ở nhà thủy tạ và mong quý vị hiểu cho hoàn cảnh khi đó vì đã không giúp gì thêm được. Giờ đây, tôi chúc quý vị lên đường may mắn.

Khởi động cho máy nổ trở lại, người đàn ông tốt bụng đó tạm biệt chúng tôi và chỉ trong chốc lát chiếc canoe đã mất dạng sau các hòn đảo xa xa. Có bản đồ chỉ đường, ai nấy trong ghe phấn chấn lên tinh thần trở lại và trò chuyện rôm rả. Rồi ghe chạy êm ả hàng giờ trên vùng biển kín, vượt qua nhiều hòn đảo lơn lớn, nho nhỏ cho đến xế chiều thì chúng tôi tìm được đảo Tanjung Pinang. Hòn đảo này mới nhìn bên ngoài thì thấy còn trù phú hơn đảo Batam nữa qua các toà cao ốc cùng dòng xe cộ chạy vi vút trên các con đường gần bờ. Cũng gặp lại cảnh cũ là thấy nhiều ghe thuyền chạy tới chạy lui trên mặt biển cạnh hòn đảo. Tám Kiệt cho ghe tiến từ từ sát bờ mà chưa biết phải cập vào nơi nào thì có một chiếc xuồng gắn máy đuôi tôm nhỏ đang đậu ở khá xa trông thấy chúng tôi đã vội nổ máy chạy ngay đến. Hai ngư dân Indonesia  ngồi trên đó miệng gọi và khoát tay ra dấu ghe chúng tôi dừng lại. Có chuyện gì nữa đây? Tám Kiệt và Thuận liền cho ghe ngừng máy. Một ngư dân trên xuồng đó nhìn đám chúng tôi và hỏi bằng Anh ngữ :

– Có phải quý vị là người Việt Nam và đang tìm chỗ để cập bến?.

Chúng tôi gật đầu, hai ngư dân cho biết sẽ chỉ chỗ để chúng tôi cập ghe vào và họ kể thêm là hiện đang có người Việt Nam ở trong đó. Nhưng muốn được như vậy, hai ngư dân cười cười và nói chúng tôi phải cho họ ít dầu chạy ghe, thực phẩm cùng vài bộ áo phao.

Tưởng họ đòi vàng bạc gì chứ mấy thứ này thì dễ ẹt. Tám Kiệt gật đầu rồi nói mấy cậu thanh niên chuyển sang cho họ một can nhựa 20 lít dầu, một bao thức ăn và năm chiếc áo phao. Xong xuôi, chiếc xuồng đó liền chạy lên trước dắt đường ghe chúng tôi đánh vòng trở ra ngoài khơi để tiến về một hướng khác của hòn đảo. Sau gần nửa giờ đồng hồ thì chiếc xuồng ngừng lại, hai ngư dân đó chỉ cho chúng tôi thấy một cầu tàu hải quân thấp thoáng xa xa trong làn khói sóng của mặt nước biển đang về chiều. Giơ tay ra dấu từ giã, một người họ nói:

– Quý vị cứ chạy vào đó thì sẽ gặp người Việt Nam liền. Chúng tôi không được phép chạy vào vì lệnh cảnh sát cấm ngặt. Xin tạm biệt.

Chiều đã bảng lảng xâm xẩm tối. Chờ chốc lát để chiếc ghe nhỏ chạy thật xa, Tám Kiệt mới cho ghe nhắm hướng chạy vào và khi đến gần, chúng tôi đã thấy lố nhố nhiều người đang đứng hoặc ngồi trên sàn cầu bê tông vẫy tay mừng rỡ với đoàn chúng tôi. Những giọng nói quen thuộc, đồng hương Việt Nam thật rồi. Có khá đông người trong số họ cũng mặc cái áo phao giống hệt với loại của chúng tôi. Chạy đến gần, đã thấy lù lù cạnh bên chiếc thang sắt dẫn lên mặt sàn cầu tàu bê tông là một ghe đi biển còn lớn hơn chiếc ghe của chúng tôi nữa.

– Nhìn áo phao họ mặc kìa mấy ông! Sao giống mình quá vậy! Không lẽ họ cũng do tàu hải quân Mã Lai Á kéo ra? Tám Kiệt phân vân.

Tám Kiệt cho ghe cập nhẹ nhàng vào một cầu thang sắt khác nằm không xa với chiếc ghe lớn đó rồi lần lượt từng người chúng tôi rời ghe, đu xuống cầu thang để trèo lên mặt sàn cầu tàu bê tông. Vài người đứng trên đó tiến lại, vẻ mặt tươi cười với chúng tôi. Một người trong số họ hỏi:

– Nhìn áo phao mấy ông, tụi tui nghĩ chắc cũng từ Mã Lai Á chạy đến đây phải không?.

Chúng tôi gật đầu và cũng hỏi lại câu tương tự. Họ kể tóm tắt thì chúng tôi biết là ghe họ đã ghé vào cảng Kuantan của tiểu bang Pahang vào hai tuần lễ trước đó và cùng một bài bản y như bên cá lớn. Đám lính Mã Lai Á đã cho họ sống tạm trú trong một căn trại bỏ hoang sát bờ biển và cung cấp thức ăn đồ uống giống hệt chúng tôi. Họ cũng gặp ông Aleck, nhân viên hội Hồng Nguyệt và các sĩ quan hải quân ở cảng Johor. Cảng Kelang nơi cá lớn ghé vào cũng nằm trong tiểu bang Pahang vậy mà đám ông Aleck lại dấu không cho chúng tôi biết về chiếc ghe của đồng hương Việt Nam này? Sao không để cả hai ghe chúng tôi đi cùng một lúc cho gọn mà lại tách riêng biệt chuyến trước chuyến sau? Thật không hiểu việc họ làm. Một ông tuổi cỡ trung niên của ghe đó cho biết thêm:

– Chiều tối hôm qua tụi tui còn ở cảng Johor rồi tàu hải quân kéo ra biển lớn sau đó chỉ đường đi theo ngọn hải đăng đầu tiên…

Kể chưa dứt câu thì có tiếng của một thanh niên trong nhóm Tám Kiệt chận đầu:

– Lần lượt gặp thêm bốn hải đăng cho đến cái thứ năm là vào tới đây phải không? Tụi nầy cũng y như mấy ông vậy. Cũng do đám hải quân Mã Lai Á kéo ra từ buổi tối hôm trước nữa nhưng khi tàu họ vừa bỏ đi thì bị mất phương hướng lại còn đi lạc vào Singapore. May sao, tụi tui gặp người chủ khách sạn tốt bụng giúp cho bản đồ thì mới chạy được đến đây đó.

Những người trên ghe đó im lặng, vậy đúng y boong rồi! Cùng cảnh ngộ nên người của hai chiếc ghe thân thiện với nhau nhanh chóng. Người trong ghe chúng tôi kéo lên hết trên sàn cầu bê tông, đứng từng đám riêng biệt bỡ ngỡ chưa biết sẽ phải làm gì. Bề ngang sàn cầu bê tông này khá rộng và chạy dài thăm thẳm vào bờ, chỗ thấp thoáng những tòa nhà sơn trắng. Vài người của ghe đến trước chỉ cho chúng tôi biết một căn nhà nhỏ ở cuối cầu tàu bê tông và dặn:

– Ai muốn tắm rửa hay đi vệ sinh gì thì vào nhà đó đó và nhớ là đừng để con nít xả rác hoặc phóng uế bừa bãi trên sàn tàu nha.

-Tụi Indonesia ở đây không như đám Mã Lai Á đâu, gặp ai làm bậy thì đánh thẳng tay đấy. Chẳng cứ phụ nữ hay con nít gì hết. Một phụ nữ thêm vào.

Vài người tuổi trung niên từ xa đi đến chỗ chúng tôi, một trong số họ giới thiệu:

– Tôi là Chức, leader của ghe… Chuyến đi bên các ông ra sao, kể cho tụi tôi nghe cho vui?

Hai ông Thăng, Phát rồi cả Tám Kiệt kể vắn tắt cho đám người họ về hành trình của cá lớn. Người bên ông Chức cũng kể sơ cho chúng tôi biết về chuyến đi của họ:

– Tụi tui khởi hành từ Sài Gòn bằng ba chiếc xe buýt lớn. Vì phải nhận khách tuốt tận trên Đà Lạt, Phương Lâm và cả Biên Hoà nữa nên đã dàn cảnh làm chuyến đi du lịch cho công nhân. Xe buýt đi đầu có cả một banderole giả dạng công đoàn nhà máy Bột Ngọt Thiên Hương để che mắt công an. Chúng tôi đón khách ở Đà Lạt xong liền quay trở về Vũng Tàu tắm biển rồi chờ tối đến bỏ xe đi xuống thẳng dưới ghe, đánh ngay tại bãi sau luôn. Đi được ba ngày bốn đêm thì gặp ghe của ngư dân Mã Lai Á, tụi tui mừng quá ngừng lại hỏi thăm đường mới biết ở gần cảng Kuatan. Vậy mà cũng phải chật vật mới tìm được chỗ để ghe ủi thẳng vào và chúng tôi phá cho hư rồi ngồi chờ đó cho đến khi gặp bọn lính. Đám lính đến xem xét ghe tụi tui kỹ lắm trước khi cho vào trại rồi nhờ vụ điểm danh thì mới biết tổng cộng có tới 233 người. Nói là trại nhưng thực ra chỉ là một khu nhà bỏ hoang từ lâu. Ở đó được hơn hai tuần lễ, chúng tôi tưởng sẽ được họ chuyển vào Bidong hay Sungei Besi nhưng không, đám lính dùng xe buýt chở cả đám xuống cảng Johore và cấp cho chiếc ghe này rồi dùng tàu hải quân kéo ra biển để mình tự đi tiếp.

Ghe của đám người đến trước trông to lớn và vững chắc với mũi kiểu Thái Lan cao vút. Loại ghe lưới cào, đi biển xa và có động cơ loại Ray 6 rất khỏe. Cả ghe tới 233 người nên mới được đám ông Aleck cho chiếc ghe lớn như vậy. Một người họ cho chúng tôi biết thêm:

– Sáng sớm nay khi tụi tui ghé vào thì có mấy sĩ quan an ninh ra gặp, hỏi sơ sơ nhưng cho biết phải ngày mai họ mới có tài công vì hôm nay là Chủ Nhật, ngày nghỉ việc cuối tuần. Thấy ghe mấy ông vào, thế nào họ cũng ra ngay bây giờ cho coi.

Trời bắt đầu tối và khi ánh sáng từ các dàn đèn cao áp chạy dọc theo sàn cầu bê tông vừa bật cháy thì nhiều người lấy tay chỉ về phía nơi có hai đốm sáng của một chiếc xe hơi đang tiến chầm chậm ra chỗ chúng tôi. Chiếc xe hơi chạy đến và ngừng tại chỗ chúng tôi đang đứng, ba người đàn ông da đen mặc thường phục bước ra khỏi xe và một trong số họ nói bằng Anh ngữ:

– Tôi là Ubino, sĩ quan trực chiến hôm nay, xin quý vị cho tập trung những người của chiếc ghe vừa mới đến lại đây ngay. Tôi muốn biết ghe đó có bao nhiêu người và ai là leader?.

Nghe vậy, ông Thăng vội tiến ra khỏi hàng và trả lời:

– Tôi đây. Trong ghe có tổng cộng là 135 người lớn cùng trẻ nhỏ, thưa ông.

Rồi ông nhanh chóng gọi cả đoàn chúng tôi gom lại đứng thành từng hàng người. Tuy vậy, cũng vẫn còn thiếu một số nên ông Phát cùng Tám Kiệt phải cho người đi kiếm về trình diện cho đủ số vừa báo cáo. Ông Ubino cùng hai người Indonesia đưa tay đếm sơ qua đầu người chúng tôi đứng thành từng hàng trên mặt sàn cầu bê tông rồi sau đó quay nhìn khắp lượt, nói:

– Rất tiếc trại chúng tôi trong bờ lại không có nhà lớn đủ cho tất cả mọi người ngủ qua đêm nên chúng tôi buộc lòng để quý vị nghỉ ngơi tạm thời ở đây, mặt sàn cầu bê tông này. Sáng ngày mai thì chúng tôi sẽ sắp xếp ghe tàu để đưa quý vị sang Galang và điều quan trọng là những ai có con nít đi cùng phải tự trông chừng lấy. Cầu tàu này tuy có lan can an toàn nhưng nếu có trẻ em lọt xuống nước thì chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm về các rủi ro đó và quý vị phải nhắc nhở nhau để giữ kỷ luật cùng vệ sinh chung.

Coi như xong việc, ba người Indonesia đó đánh xe quay đầu tại một chỗ sàn cầu bê tông khá rộng có hình chữ I rồi sau đó họ chạy mất biến vào bến cảng xa tuốt nằm trong bờ.

Chúng tôi từ từ tản ra, một số thì đi xem coi có ai thân quen ở trong chiếc ghe 233 người, số khác lại vội vã vào ngay căn nhà cuối sàn tàu để tắm rửa cùng giặt giạ qua loa. Tôi cũng vậy, đi dọc theo sàn cầu bê tông và nhìn mặt người trong chiếc ghe đến trước đang ngồi nằm đây đó mong thấy được người quen nhưng không gặp ai. Mặt sàn cầu tàu bê tông ở đây vì được nước mưa gột rửa cùng các cơn gió thổi mạnh thường xuyên nên trông rất sạch. Tôi thấy Đỉnh đang ngồi trò chuyện chung một nhóm mấy thanh niên mà nó mới làm quen của chiếc ghe 233 người. Sẵn trà, cà phê, bánh và thuốc lá từ các bao thực phẩm tiếp tế, mọi người của hai chiếc ghe quây quần thành từng đám nhỏ ngồi ăn uống chung với nhau. Cứ thấy nước nóng dùng để pha trà, cà phê vừa cạn thì họ lại xuống bếp dưới ghe nấu tiếp nồi mới lên thay.

Khách đi trong ghe chúng tôi hầu hết là dân miền Tây Nam Bộ và Sài Gòn còn ghe 233 người đó lại là dân tứ xứ bên quê nhà qua các giọng họ nói ra khi trò chuyện. Người miền Nam, miền Trung vùng Bình Định, Phú Yên, dân xứ Quảng, Huế và cả giọng miền Bắc rặc nữa. Bẩy và Đào ngồi chung với một đám phụ nữ miền Nam có con nhỏ còn Yến thì nhập bọn với những người vùng Hố Nai-Biên Hoà.

Người của hai ghe thân thiện nhau cách dễ dàng. Đây đó trên mặt cầu tàu bê tông là từng nhóm 4, 5 người ngồi quây quần kể lại chuyến đi của mỗi bên. Tôi ghé vào một nhóm và nghe một người nói:

– Mấy ông sướng quá trời! Đi tắm suối y như cắm trại rồi còn gặp đảo sầu riêng ăn no chán chê lại được chủ khách sạn chiêu đãi bữa điểm tâm nữa! Vậy mà còn than thở cái chi. Chẳng bù tụi tui phải ở trong cái trại bỏ hoang ngó chung quanh toàn các chấn song sắt khác chi ở tù rồi khi xuống ghe thì đi một lèo tới đây luôn. Tụi tui cầu ghe được đi lạc như mấy ông đó. Gặp đảo sầu riêng, cứ ở lại ăn hai ba ngày cho đã miệng rồi mới xuống ghe đi tiếp.

Một thanh niên bên ghe chúng tôi trả lời:

-Ăn liên tiếp hai ba ngày sầu riêng không được đâu cha! Tiêu chảy thấy mẹ luôn… Tụi tui có người bị nè, tới giờ còn xanh mặt.

Ai cũng vui vẻ trong câu chuyện kể cho nhau nghe về những tuần lễ sống tạm dung tại Mã Lai Á và lúc nhắc lại lời nói của ông Ubino, một cảm giác phấn khởi khi nghĩ chỉ trong ngày mai, chúng tôi sẽ đặt chân lên Galang và không còn nỗi lo bị kéo ghe ra biển lớn nữa. Đến được Galang rồi coi như chỉ trong một thời gian ngắn thì chúng tôi sẽ đi định cư ở Hoa Kỳ, Canada, Úc, Nhật hay các nước phương Tây như Pháp, Đức, Anh… thôi.

– Trong thời gian chờ đợi đi định cư thì chỉ có một việc bọn mình phải lo phải làm là ráng học Anh ngữ cho giỏi, giữ sức khỏe cho tốt . Một người hào hứng kết luận.

Hơn 8 giờ tối, gió đột nhiên thổi mạnh làm ai cũng cảm thấy lạnh nên uống cà phê, nước trà nóng nhiều hơn. Ánh lửa bếp dầu dưới ghe lúc nào cũng sáng xanh lơ vì luân phiên có người xuống nấu nước để pha trà, cà phê hoặc mì gói ăn thêm trước khi ngủ. Người của ghe đến trước kể cho chúng tôi biết là bọn hải quân Indonesia ở đây chẳng ngó ngàng gì đến chuyện ăn uống mà để người Việt mình phải tự lo lấy. Có lẽ, họ biết dưới ghe vượt biên nào cũng thủ đầy thực phẩm hoặc biết chúng tôi sẽ không ở cầu tàu nầy lâu. Ngồi chán rồi lại bỏ đi lòng vòng cho đỡ cuồng chân, tôi thấy một nhóm gồm Tám Kiệt, Thuận cùng các ông Thăng ông Phát và những người của chiếc ghe đến trước đang ngồi chung một đám ở ngay trên mặt sàn hầm của chiếc ghe chúng tôi. Thấy tôi, Thuận ngoắc tay nói:

– Xuống đây ngồi uống trà, cà phê nóng cho vui anh Vũ. Có gặp người quen nào không vậy anh?.

Tôi theo cầu thang sắt bước chuyền xuống ghe. Một bình cà phê và một nồi nước trà lớn còn khá đầy toả hơi thơm nghi ngút cùng 5, 6 cái bát nằm ngay chính giữa vòng người ngồi. Thuận múc một bát nước cho tôi. Trà này thật thơm, không phải loại trà đen trong bao thực phẩm của Mã Lai Á. Thấy tôi ngạc nhiên, Thuận khoe:

– Trà Blao ướp hoa lài đó, đã chưa!.

Tôi hớp thêm một ngụm nữa, trời lạnh uống trà nóng mà nhất là trà Blao ngon như vầy thì còn gì. Nhưng không biết ở đâu mà Thuận lại có loại trà này? Tôi đã biết khi gặp ánh mắt vui vui của một người trong ghe đến trước. Chắc ông này dân Blao hay Di Linh gì đây vì nhớ lại lời của đám ông Chức kể, xe của họ còn đón cả khách tuốt tận trên Đà Lạt nữa mà. Chợt một người hỏi:

– Cái nước Indonesia sao lắm đảo quá hả mấy ông? Ông nào đọc sách nhiều, biết nước nầy có bao nhiêu hòn đảo không vậy? Ông Thăng ngồi gần tôi, đáp: ” Tôi thì không biết rõ con số bao nhiêu nhưng nghe nói Indonesia là nước có nhiều hòn đảo nhất trên thế giới đó  “.

– Sáng nay, lúc có mấy tay Indonesia ở đây thì tôi đã nghe có người hỏi câu này mà mấy cha nội trả lời lúc hơn 3000 lúc lại nói 5000 hòn đảo. Thiệt tình! Người nước họ mà còn không biết rõ có bao nhiêu hòn đảo nữa. Vậy quá dở đi chứ. Một ông bên ghe đến trước góp lời.

Nhưng Tám Kiệt lắc đầu bất đồng, nhỏ nhẹ:

– Cũng không chê trách họ được. Vì nói ngay như bọn mình đây nè, bây giờ có ai hỏi nước Việt mình có bao nhiêu đảo lớn nhỏ thì ai trả lời ngay xem thử? Có bao nhiêu? Trả lời coi!.

Không ai lên tiếng đáp lại câu hỏi của Tám Kiệt. Đúng vậy! Ai mà nhớ mà biết chính xác con số bao nhiêu hòn đảo nhưng quả thật, chúng tôi cảm thấy nước Indonesia có quá nhiều đảo lớn nhỏ. Bằng chứng đoạn đường ghe chạy qua, chúng tôi đã gặp rất nhiều chuỗi đảo vắng lặng. Indonesia còn có tên trong Việt ngữ là Nam Dương quần đảo cơ mà. Trên bản đồ địa lý thế giới thì đất đai thuộc lãnh thổ quốc gia này rộng lớn tới 4 múi giờ và nhiều vùng, khu vực cùng hòn đảo chưa hề có dấu chân người lai vãng.

Trời bắt đầu vào khuya, lần lượt từng người cáo lui, đứng dậy kiếm chỗ nghỉ ngơi. Ông Thăng thấy vậy, nói:

– Mình cũng tan hàng thôi mấy ông. Đi ngủ lấy sức để mai còn phải ngồi tiếp dưới ghe nữa đó, đâu biết Galang cách nơi này bao xa.

Nhìn số người đang nằm la liệt ngủ dọc theo suốt chiều dài cầu tàu bê tông, giang sơn tạm thời của đoàn người Việt tha hương trên xứ lạ, tôi nghĩ ngày mai nếu đám ông Ubino chở cả bọn người Việt sang đảo tị nạn Galang bằng tàu hay bằng ghe gì của họ thì cũng phải rất to mới chứa hết được ngần này người. Tha hương là bạc phận. Câu nói mà những người bên quê nhà từng nói khi trỏ về số phần vất vả của một ai đó  nếu phải rời bản quán, xứ sở để tìm kế mưu sinh. Vậy mà chúng tôi phải rất chật vật mới đến đây được, cầu tàu bê tông này để làm một người tha hương. Đỉnh và các cô Đào, Bẩy, Yến chắc đã nằm ngủ lẫn trong đám người ở đâu đó. Đến một chỗ trống cách xa cột đèn cao áp, tôi nằm xuống mong ở chỗ có ít ánh sáng, sẽ dịu mắt và dễ ngủ.

Ngửa mặt nhìn các vì sao xanh sao vàng lấp lánh trong bầu trời đen thẩm không một gợn mây cùng ánh trăng sáng, tôi dễ dàng nhìn ra chùm Bắc Đẩu bẩy ngôi thân quen. Indonesia nằm trong vùng xích đạo nên vẫn thấy được chùm sao nầy nhưng những nước nằm hoàn toàn trong nam bán cầu như Úc và Tây Tân Lan thì chắc không thể. Sao Bắc Đẩu ở đây còn đâu là sao Nam Tào? Tôi thực không biết. Giờ giấc chênh lệch nhanh hơn một tiếng đồng hồ, như vậy, ở nhà tôi cũng đang 11 giờ hơn. Không biết mẹ và em tôi đã ngủ hay còn thức? Lúc còn ở trại lính giữa rừng, nếu viên sĩ quan hải quân Mã Lai Á gửi hộ các thư cho chúng tôi thì thân nhân mọi người trên ghe đã biết chuyến đi an toàn, nhưng cũng không chắc vì nếu người nầy nhận thư lại không gửi thì sao? Và nếu thực như vậy thì chắc mẹ và em gái tôi phải lo lắng lắm vì thời gian đã qua cả tháng trời rồi. Ghé vào khách sạn Perang, thêm một cơ hội để chúng tôi báo tin cho thân nhân khi được phân phát các phong bì in sẵn tem, nhưng đã bị vuột mất vì sự phá đám của hai gã an ninh địa phương. Trong túi tôi vẫn còn giữ lá thư viết dở dang đó. Chỉ cần hai gã hắc ám đó đến trễ chừng nửa giờ thì chắc chắn mẹ và các em gái tôi sẽ nhận được tin về chuyến đi. Tôi còn nhớ buổi sớm mai trước lúc đi vội cùng đứa em gái nơi nhà người cậu ruột ở Hố Nai, mẹ tôi trông đã yếu lắm khi bà dặn dò tôi làm điều nầy điều kia. Những khi xa nhà, cô quạnh như bây giờ, tôi mới có lúc nhớ đến bà. Tôi, đứa con trai quá tệ vì khi còn ở nhà chỉ dành thời gian cho bà thật ít. Có đi xa thì mới biết lòng mình, tôi chẩy nước mắt lúc nào mà không hay.

Đêm rồi cũng từ từ trôi qua và dù chung quanh khu vực cầu tàu bê tông vẫn còn mờ mờ chưa rõ sáng mà tiếng ồn ào từ các ghe, thuyền chạy tấp nập băng ngang đã đánh thức đám chúng tôi dậy. Tuy không nói nhưng ai cũng đoán các ghe, thuyền đó là của cư dân Indonesia từ các đảo trong vùng đổ về Tanjung Pinang để mua bán và trao đổi hàng hoá. Ghe, thuyền chạy tấp nập như vậy thì thương mãi trên đảo Tanjung Pinang chắc phải phồn thịnh lắm. Chỉ tiếc là ghe chúng tôi tuy đậu vào một cầu tàu bê tông của đảo nhưng lại không có dịp để lên bờ vào xem phố xá cho biết.

Trời đã sáng rõ, sinh hoạt trên cầu tàu bê tông khác hẳn. Tiếng người gọi nhau í ới nơi này nơi kia hoặc người đi lên đi xuống bếp của hai chiếc ghe để nấu nước nóng pha trà, cà phê hay làm mì gói ăn sáng. Một dòng người xếp hàng chờ trước căn nhà vệ sinh ở cuối cầu tàu. May mắn là nhà vệ sinh này tuy nhỏ nhưng có đầy đủ nước cho nhu cầu và người của hai ghe đã biết phải sắp hàng chờ theo lượt nên đã không xẩy ra vụ cãi cọ gì. Chưa biết vào lúc nào trong ngày hôm nay thì chúng tôi sẽ đến đảo tị nạn Galang nhưng chắc chắn một điều là chúng tôi sẽ được sống một trong những dãy nhà dài sơn trắng nằm sát nhau trên cao hay dưới thấp theo thế đất hoặc ở ven đồi như trong các tấm hình chụp tôi xem được. Những tấm hình của người từ Galang gửi về cho thân nhân trong khu phố khi còn ở bên quê nhà. Tôi sẽ gặp bãi biển có làn nước xanh lơ trong vắt cùng bờ cát trắng xoá như ở Long Hải-Vũng Tàu. Tôi sẽ đi trên những con lộ hẹp với các tiệm bán hàng nho nhỏ của người tị nạn ở hai bên đường trong trại. Tôi mỉm cười khi nghĩ rốt cuộc thì mình cũng đã đến được nơi từng ao ước.

Chúng tôi chờ cho đến 9 giờ mà vẫn chưa thấy bóng dáng của đám ông Ubino tối hôm qua đâu cả. Ai cũng lộ vẻ sốt ruột, vài người đi tới đi lui mắt ngóng về hướng các căn nhà sơn trắng tuốt trong bờ nơi đầu cầu tàu bê tông để mong thấy bóng một ai đó. Rồi cho đến khi thấy có xe hiện ra xa xa thì mọi người báo cho nhau biết và thu gọn đứng nép vào bên cạnh lan can cầu. Chiếc xe đó chạy đến từ từ rồi ngừng lại ngay đoạn giữa nơi có hai chiếc ghe chúng tôi. Một toán bẩy người trong đồng phục hải quân áo xanh lơ quần đen bước ra khỏi chiếc xe và lệnh cho chúng tôi đến gần, dồn lại với nhau trước mặt họ. Cái ông Ubino chúng tôi chờ thì lại không thấy trong số bẩy người họ. Bằng Anh ngữ, một người Indonesia  ra lệnh cho chúng tôi hễ ai thuộc chiếc ghe nào thì phải xuống trở lại ghe đó trong sự yên lặng và trật tự. Riêng với các tài công và leader thì phải đứng yên tại chỗ để chờ lệnh khác.

Tuần tự, đám chúng tôi gọi nhau rồi chen chân theo cầu thang nhỏ để xuống dưới ghe. Vậy là họ không có ghe tàu nào hết, bẩy người Indo này sẽ cùng đi chung với chúng tôi sang đảo Galang. Kiểm tra nhà vệ sinh ở cuối cầu tàu xong xuôi, bẩy người Indonesia  đó chia thành hai toán theo các tài công và leader xuống thẳng theo ghe. Tám Kiệt, Thuận và hai ông Thăng, Phát cùng ba người Indonesia  đứng chụm đầu bàn bạc với nhau cái trong buồng lái ghe nhỏ hẹp.

Tiếng nổ bụp bụp của máy hai chiếc ghe vang lên ròn rã, Tám Kiệt và Thuận bắt đầu cho ghe trở lui chầm chậm. Một gã Indonesia còn lại ở trên sàn cầu bê tông nhanh chóng tháo các dây cột từ các chốt cố định ra. Hai chiếc ghe lần lượt nối đuôi nhau tách ra khỏi cầu thang sắt để bắt đầu chuyến hành trình mới mà cũng là chuyến đi cuối của đám chúng tôi trên đường vượt biên. Từ từ, hai ghe chạy ra khỏi khu vực cầu tàu hải quân vắng lặng. Ngư dân địa phương trên các tàu xuồng gần đó giương mắt nhìn đám chúng tôi lạ lẫm với bộ áo phao đồng màu đang đứng ngồi lố nhố trong ghe. Gió buổi sớm mai mát lạnh làm chúng tôi phấn chấn tinh thần, háo hức chờ đón hình ảnh của nơi sắp đến. Bầu trời trong xanh với các cụm mây trắng và xa xa ở phía gần bờ đảo, những cánh hải âu xam xám chao lượn lên xuống kiếm ăn sát với những bóng thuyền ghe trên mặt biển.

Tám Kiệt, Thuận và ba người Indonesia đi theo thay phiên nhau vừa lái ghe vừa chỉ hướng của hải trình. Hai ghe của chúng tôi chạy cách xa chiếc trước chiếc sau ở một quãng ngắn. Từng hòn đảo lớn nhỏ lần lượt xuất hiện rồi từ từ chạy lùi và biến mất trong các bọt sóng trắng ở sau lưng ghe. Chạy được khoảng 4 giờ đồng hồ thì ghe đi vào một vùng nước êm ả có các hòn đảo nho nhỏ nối liền nhau. Một gã Indo cho chúng tôi biết sắp sửa đến đảo Galang và tin đó đã gây một phấn khích làm ai cũng tỉnh táo hết còn cảm giác say sóng. Rồi không lâu sau thì ai cũng hồi hộp khi thấy ghe giảm dần tốc độ. ” Mình sắp đến nơi rồi “, tiếng xì xào giống nhau.

Nhiều người nháo nhác nhìn về phía trước ghe và rồi khi vừa qua một khúc ngoặt của bờ đá cao từ một đảo nhỏ thì ai cũng thấy thấp thoáng một cầu tàu bê tông xa xa. Cầu tàu bê tông đó nhỏ và ngắn, nằm sát bờ của một hòn đảo trước mặt hai ghe chúng tôi. Đúng nó Galang rồi! Nằm kín ở đây, bố ai mà biết đường để chạy ghe đến được. Cầu tàu hẹp và ngắn ngủn nên hai ghe chúng tôi phải cập sát đuôi nhau mới có chỗ để trèo lên bờ. Những tiếng reo vì mừng của đám chúng tôi khi thấy có khá đông đồng hương người Việt đang chờ sẵn trên bờ đảo. Sau một hồi còi báo lảnh lót, máy hai chiếc ghe tắt lịm, chúng tôi cầm hành lý cá nhân trên tay để chờ lệnh.

Nhìn vào bờ, một tấm bảng sơn trắng kẻ hàng chữ đen Welcome to Galang Refugee Camp được đóng cứng ở hai cây cọc nằm ngay phía trước căn nhà vách ván gỗ ép mái lợp tôn khá rộng tiếp nối với sàn gỗ. Lệnh rời ghe vừa được một gã Indo loan báo, ai nấy vội vàng thu tóm đồ lề bản thân mình rồi lần lượt từng người trèo xuống cầu tàu bê tông. Đồng hương người Việt đứng lố nhố thành từng đám trong căn nhà và ở cả ngoài sân đã ùa ra đón chúng tôi. Tiếng hỏi thăm về chuyến đi, nơi xuất bến… trong nụ cười tươi của những đồng hương Việt đã tăng thêm những háo hức về trại Galang, chỗ ở mới của đám người hai chiếc ghe chúng tôi. Tuy vậy, chúng tôi vẫn phải đứng tập trung ở cầu tàu bê tông để chờ lệnh.

Vài cảnh sát Indonesia  trong đồng phục áo tím quần đen với dây da bao súng lục cùng gậy dùi cui đeo bên hông đi tới lui hoặc đứng im ở một chỗ quan sát. Đám người Indonesia  đi theo trên ghe ra lệnh cho tất cả mọi người chúng tôi phải cởi áo phao xếp gọn ở một chỗ trên sàn cầu bê tông trước khi vào trại.

– Quý vị không cần đến áo phao nữa, chúng tôi có trách nhiệm thu hồi chúng cùng với hai chiếc ghe này. Ngoài hành lý cá nhân thì không ai được lấy bất cứ thứ gì khác của ghe, một gã trong số họ miệng nói, tay thì gom gọn các áo phao vừa được cởi ra rồi vất chúng trở về sàn của hai chiếc ghe.

Có người trong đám chúng tôi cố tình vác bao thực phẩm tiếp tế theo mình thì đã bị các gã Indonesia  đó buộc phải vất trở lại ghe như các áo phao.

Một banner vải trắng kẻ đậm hàng chữ xanh dương  Chào Mừng Đồng Bào Đã Vượt Thoát Và Đến Bờ Tự Do  được căng ngay trên khoảng trống của khuôn cửa căn nhà ván gỗ ép mái lợp tôn. Những đồng hương Việt trên bờ chỉ chỗ cho đám chúng tôi đi vào bên trong căn nhà đó, nói để họ làm hồ sơ nhập trại. Họ là nhân viên thiện nguyện của ban Đại diện người Việt và đều đã đến trại Galang từ các chuyến ghe trước chúng tôi khá lâu rồi. Chờ mọi người vào hết trong căn nhà mà giờ đây đã trở nên quá chật so với số người của hai chiếc ghe, một ông tuổi ngoài trung niên, mặc áo xanh lơ có các sọc trắng nhỏ cùng khuôn mặt rạng rỡ trong tay cầm cái loa chạy pin, cất tiếng:

– A lô! A lô! Yêu cầu đồng bào im lặng, giữ trật tự để nghe đại diện chính quyền Nam Dương và Cao Ủy LHQ tại trại tị nạn nói chuyện.

Ông này phải lập đi lập lại vài lần cùng những nhắc nhở của các thiện nguyện viên trong trại thì tiếng ồn ào trong đám người chúng tôi mới từ từ chấm dứt. Một người da ngâm đen mặc đồng phục mầu nâu tím, đội mũ kết trên đầu đứng ở cái bục gỗ, đảo mắt nhìn đám người chúng tôi đang đứng ngồi lố nhố cả trong nhà lẫn ngoài sân rồi sau đó, ông ta nói một hơi dài bằng tiếng địa phương. Khi ông ta dứt lời, dù không hiểu nghĩa nhưng mọi người Việt có mặt đều vỗ tay rồn rã. Kế đó, một người Âu châu da trắng-tóc nâu với thân hình vạm vỡ bước đến và đón cái loa chạy pin từ tay một nhân viên thiện nguyện. Người đàn ông Âu châu này nói bằng Anh ngữ:

– Tôi là Peter, đại diện Cao Ủy LHQ tại đảo tị nạn Galang đây. Chúc mừng quý vị người Việt đến nơi bình an… Ông Peter nói liền một hơi dài, có lúc ông gằn mạnh từng tiếng hoặc lập lại một câu ông vừa nói và khi kết thúc, ông ta mỉm cười, giơ tay vẫy đám người chúng tôi rồi bước ra khỏi cái bục gỗ.

Hết ông Peter thì đến phần ông người Việt mặc áo xanh lơ có các sọc trắng nhỏ ban nãy liền tiến lại cái bục gỗ rồi cũng cầm lấy cái loa chạy pin, giới thiệu:

– Tôi, Bùi Thế Dung, là chủ tịch ban Đại diện người Việt ở đây xin chào mừng đồng bào đã đến được đảo tị nạn Galang thành công.

Ông ta vừa dứt lời, tiếng vỗ tay xen lẫn các tiếng hét cùng huýt sáo vang lên ồn ĩ và có người chẩy nước mắt vì quá mừng. Một ông đứng gần bên tôi, nói nhỏ:

– Có mặt Cao Ủy LHQ là mừng rồi, mình không còn lo chuyện phải ngồi ở dưới ghe đi tiếp nữa.

Ông Dung cho đám người chúng tôi biết là ông da đen nói trước có tên Agus Sulistiyono, cấp bậc Thiếu tá, trưởng đảo Galang rồi sau đó, ông tiếp:

– Galang hiện nay rất khó khăn vì phải tiếp nhận thêm nhiều thuyền nhân đến trong một thời gian ngắn nên trại rất thiếu thốn về nhiều mặt và do vậy, mong mọi người thông cảm cùng chấp nhận hoàn cảnh. Và, ông nói thêm: ” Cao Ủy LHQ sẽ sắp xếp theo thứ tự ghe đến trại kể từ tháng Ba năm ngoái để thanh lọc từng người một. Hễ ai được công nhận là người tị nạn thì người đó sẽ đi định cư ở một quốc gia đệ tam, còn người bị coi là di dân kinh tế thì phải hồi hương về lại Việt Nam “.

Như vậy, theo lời ông Dung thì hai ghe chúng tôi đến trại hôm nay đã sau ngày Cao Ủy LHQ ấn định nên cũng sẽ phải bị thanh lọc. Các chữ hồi hương làm chúng tôi hoảng hồn và thanh lọc cũng khiến chúng tôi thắc mắc, chưa hiểu rõ nghĩa. Một ông bên chiếc ghe đến trước liền hỏi và ông Dung giải thích:

– Tất cả chúng ta không còn tự động là người tị nạn khi đặt chân đến được đảo Galang như trước đây nữa và đều phải bị thanh lọc, dù không ai muốn. Người Việt ở các trại tị nạn khác bên Mã Lai Á, Thái Lan, Phi Luật Tân hay Hồng Kông… cũng đều bị thanh lọc như vậy. Thanh lọc là gì? Là một cuộc điều tra giữa Cao Ủy LHQ và nước chủ nhà đối với thuyền nhân, để xem coi cá nhân người đó tại sao lại phải vượt biên và chuyến vượt biên đó có thực sự cần thiết hay không? Tôi chỉ biết khái quát là vậy, còn các chi tiết khác thì cũng phải chờ xem. Bản thân tôi, dù là một cựu đại tá trong quân lực VNCH và nguyên thứ trưởng Quốc phòng của nội các tổng thống Dương Văn Minh nhưng tôi cũng sẽ phải bị Cao Ủy LHQ thanh lọc như tất cả mọi người Việt ở trong trại chứ cũng chẳng được dành cho một ưu tiên gì, ông Peter đã nói rõ như vậy. Tôi nói điều đó ở đây để mong đồng bào hiểu ra vấn đề tị nạn của thuyền nhân chúng ta đối với cách giải quyết của cộng đồng quốc tế hiện thời, để mà bình tĩnh và chọn lựa cho mình cách khai báo sao cho tốt nhất hay nhất khi ngồi vào bàn thanh lọc, đối diện với nhân viên Cao Ủy LHQ cùng nước chủ nhà.

Nhiều người trong chúng tôi nhìn nhau với ánh mắt ngạc nhiên lẫn lo lắng vì như vậy, chuyện vượt biên đến được trại tị nạn bây giờ đã khác với khi trước. Từ nay, thôi không còn cảnh được nấn ná vài tháng hay cùng lắm là một hai năm ở trại rồi sau đó sẽ thơ thới đáp máy bay đến định cư ở nước thứ ba như suy nghĩ khi còn ngồi dưới ghe cũng như lúc sống trong trại nơi rừng Mã Lai Á. Chúng tôi đã bị lâm vào hoàn cảnh Trâu chậm-Uống nước đục  thật rồi. Mọi người chúng tôi đang xì xào, bàn tán râm ran về các lời của ông Dung vừa nói thì có tiếng loa tay gọi ai đi trong ghe 233 người ra xếp hàng làm thủ tục nhập trại trước.

Một nhân viên thiện nguyện đứng giữa căn phòng, nói thật lớn:

– Ai thuộc quân-công-cán-cảnh của chính quyền VNCH thì đứng ở hàng bên phải, còn không… thì sang đứng ở hàng bên trái.

Sau đó, một nhân viên khác nói tiếp:

– Đồng bào nào mang được các giấy tờ cá nhân thì càng tốt, nếu không có thì nhớ được cái gì khai cái nấy nhưng phải khai đúng sự thật nghe.

Ghe 135 người chúng tôi chưa đến lượt nên tản ra, đứng chờ dưới các bóng cây mát hoặc đi lòng vòng phía bên ngoài căn nhà. Có người thì lò dò lại gần chỗ đang khai báo lý lịch cá nhân để xem, để lấy kinh nghiệm cho phiên mình. Khu vực của cầu tàu Galang này khá rộng, có những căn nhà gạch nhỏ, mái lợp tôn nhưng cửa đóng im ỉm không biết của dân địa phương hay của chính quyền coi trại. Vài người đứng gần một hàng cây um tùm, ngoắc tay chỉ về một chỗ khuất khiến tôi để ý liền bước lại xem. Ở một con rạch cạn phía bên tay phải cầu tàu, bốn  xác ghe cũ đã hỏng nằm phơi mình im lìm trong làn nước dưới các bóng cây.

– Ghe của dân vượt biên người Việt mình. Thấy chưa! Họ vào được tới đây nè, một người trong bọn nói.

Thấy đám chúng tôi tản ra khá xa khu vực, một gã cảnh sát Indonesia từ xa tiến lại và lấy tay ra dấu cho chúng tôi phải đi về chỗ cũ. Cả đám lục tục quay trở lại, đứng ngồi chùm nhum thành từng đám nhỏ chung quanh căn nhà. Không thấy mặt ông thiếu tá trưởng đảo cùng ông Peter-Cao Ủy trưởng, tôi nghĩ cả hai người họ chắc đã bỏ về trước. Ở một chỗ không xa, ông Dung đang đứng trò chuyện cùng với các gã cảnh sát Indonesia.

Chợt một nhân viên thiện nguyện nói to từ bàn làm thủ tục tiếp nhận làm tôi chú ý.

– Anh vừa nói anh là cựu quân nhân VNCH và thuộc binh chủng phòng không-không quân. Anh cũng nói sinh năm 1950 và số quân của anh là… Phải không? Anh nhắc lại cho tôi nghe lần nữa xem.

Dãy bên phải nơi kê các bàn gỗ dài có từng cặp hai người ngồi đối diện nhau, một bên là nhân viên thiện nguyện và bên kia là người mới đến. Cứ hỏi, nghe rồi ghi tóm tắt lời khai của người nhập trại vào các tập giấy. Ở bàn vừa có tiếng hỏi của nhân viên thiện nguyện trại, một người đàn ông nói giọng Bắc lí nhí đang nhắc lại lời của mình vừa khai. Nghe dứt câu trả lời từ miệng người đàn ông thì nhân viên thiện nguyện đó đứng lên gọi lớn:

– Ê! Mấy ông lại xem thử bản lý lịch của cha nầy khai nè.

Hai, ba nhân viên thiện nguyện khác liền tiến đến chiếc bàn đó và sau khi nghe kể lại tự sự, một người trong đám họ nói với ông khai báo:

– Nè! Quân lực VNCH không có binh chủng phòng không-không quân đâu nghe cha nội. Tụi Việt Cộng còn chưa có xe tăng thì nói gì đến máy bay và không bao giờ máy bay của bọn Cộng Sản Bắc Việt dám xuất hiện tại miền Nam mà anh dám khai là lính của cái binh chủng nầy. Ngừng vài giây để đọc kỹ tờ khai, thiện nguyện viên này lẩm bẩm: ” Sinh năm 1950 mà anh khai số quân… là xạo chuyện nha “.

Rồi ông ta đưa tờ giấy đó cho các nhân viên khác đứng gần bên xem. Sau khi lướt mắt qua tờ giấy đó, một nhân viên thiện nguyện chỉ tay vào ông khai báo, nói lớn:

– Đ.M! Thằng  này giả dạng quân nhân VNCH nè mấy ông. Mày là Việt Cộng phải không? Đi vượt biên sang đây làm gì hở mày?

Ngồi yên cúi đầu, bờ vai người đàn ông khẽ run rẩy cùng tay chân luống cuống. Một nhân viên thiện nguyện khác hỏi lại ông về lý lịch nhưng người đàn ông vẫn khăng khăng bản thân mình là cựu quân nhân trong binh chủng phòng không-không quân của chính quyền VNCH. Nghe tiếng đôi co, vài thiện nguyện viên khác kéo đến và một người trong số hỏi thêm:

– OK! Anh cho tụi tui biết loại vũ khí phòng không trong đơn vị anh coi? Súng gì? Nòng cỡ bao nhiêu ly?

Người đàn ông đó im lặng, vẻ mặt xuống sắc khi đảo mắt nhìn những thiện nguyện viên đang vây chung quanh. Thấy vẻ lúng túng của ông ta, một thiện nguyện viên cười gằn, nói:

– Mày! Việt Cộng rõ ràng nha. Tụi tao khốn khổ vì bọn mày nên phải bỏ nước vượt biên mà mày chưa vừa lòng hay sao lại chạy theo sang đây. Định trà trộn vượt biên để phá hoại nữa hử? Đ.M! Chắc tao phải đập mày một trận cho bỏ tật dối trá rồi tính sau.

Dứt câu, thiện nguyện viên đó nhào đến người đàn ông rồi dơ cao nắm tay nhưng… các người khác gần đó đã cản liền. Một người nói có mặt đám cảnh sát Indonesia ở đây thấy xô xát thì mất công chúng phải can thiệp sẽ thêm rối. Đám chúng tôi thấy sự vụ xẩy ra liền chen vào để hóng chuyện. Ông Dung đang tản bộ ở ngoài sân thì được nhân viên trật tự báo, nên vội đi đến nơi xem. Thấy ông Dung, một nhân viên thiện nguyện trình bày:

– Thưa Đại tá! Có tên bộ đội dám giả dạng lính VNCH mình vừa bị tụi em phát giác. Thằng Việt Cộng đó đây nè.

Ông Dung đến bên chiếc bàn gỗ, các nhân viên thiện nguyện tản ra đứng sớ rớ chung quanh chờ xem. Một nhân viên thiện nguyện đưa tờ khai cho ông Dung xem. Ông ta cầm lấy, đọc qua và đưa mắt nhìn người khai lý lịch đang ngồi im lìm, bất động. Từ tốn, ông Dung nói cho người khai lý lịch đó và cả những người chúng tôi đang chờ làm thủ tục nhập trại nghe:

– Đã bỏ nước trốn nạn Cộng Sản đến đây thì tất cả chúng ta đều là anh em con một mẹ Việt Nam. Nếu anh đã từng là bộ đội hay công an Cộng Sản thì cứ khai ra, có gì phải sợ mà gian trá. Thiếu gì đảng viên Cộng Sản, du sinh, lao động hợp tác rồi cả công an Việt Cộng nữa… Vượt biên, vượt biển xin tị nạn và ngay trong trại Galang này hiện giờ cũng đang có một số họ. Biết anh có thái độ dối trá thì người ta càng thêm ghét thêm khinh.

Tôi chen vào đám đông để xem mặt người mạo nhận. Thì ra ông ta là người có ánh mắt vui vui khi đã nhìn tôi trong tối hôm qua ở nhóm ngồi uống trà Blao ướp hoa lài đây mà. Một người trong ghe 233 đứng gần đó, tiết lộ thêm:

– Ông này lúc còn trên xe buýt nói sống ở trong nông trường Lâm Hà thì tôi đã nghi nghi là dân Bắc Kỳ 2 nút… Vậy mà đúng chứ. Cứ nghe giọng nói của ông ta kìa.

Nông trường Lâm Hà. Nó nằm ở đâu? Có người hỏi thì ông đó cho biết Lâm Hà là khu định cư mới do chính quyền Cộng Sản lập dành cho cư dân Hà Nội từ ngoài miền Bắc kéo vào Nam sau ngày 30-4-1975 ở trên vùng cao nguyên Lâm Đồng gần Di Linh. Lâm Hà là cái tên ghép chung giữa Lâm Đồng và Hà Nội.

Không biết tại sao khi chỉ nghe khai năm sinh và số quân của ông miền Bắc, người nông trường Lâm Hà mà nhân viên thiện nguyện lại biết ông ta đã khai man lý lịch. Phải có một cái gì đó như một quy tắc liên đới giữa năm sinh và số quân của người lính VNCH để người biết sự việc thì sẽ dễ dàng nhận ra sai phạm, điều mà ông người nông trường Lâm Hà tưởng cứ nói bừa ra các con số là sẽ xong việc.

Phải mất một thời gian khá lâu thì mới xong thủ tục nhập trại cho chiếc ghe 233 người rồi mới đến lượt ghe chúng tôi. Tuy bản khai lý lịch cá nhân mỗi người không dài và dù có khá đông thiện nguyện viên giúp sức nhưng cũng phải mất gần 2 tiếng đồng hồ nữa mới xong hết cả ghe. Tôi quay ra nhập bọn với những người đứng ở ngoài sân khi trời đã về chiều. Nắng tắt khá lâu rồi, mặt nước trước cửa ngõ vào cầu tàu Galang bây giờ đã đổi sang mầu tim tím. Chợt một tiếng ùm thật lớn từ dưới mặt nước vọt lên tạo thành một vòng sóng rộng có hình tròn đồng tâm nối tiếp nhau chạy lăn tăn vào bờ làm cả đám chúng tôi giật mình.

– Cá đớp bóng đó. Con này lớn lắm nha! Mỗi khi có dịp ra ngoài đây thì thỉnh thoảng tôi lại gặp như vậy. Chỗ này có cá lớn thì ở bên dưới phải sâu lắm và thể nào cũng có các hang động ngầm gì đây. Một thiện nguyện viên nói.

Chúng tôi nhìn mặt nước vẫn trong cơn sao động, mong sẽ thấy hình dáng của con cá lớn đó khi làm thêm cái đớp bóng nữa. Nhưng không, con cá đã lặn mất.

Các nhân viên thiện nguyện tay ôm chồng giấy tờ lý lịch đoàn người của hai ghe đứng tập trung với chúng tôi để chờ xe cùng vào trại chung. Tay cầm cái loa chạy pin, ông Dung nói ít lời cuối cùng cho cả đoàn người mới đến.

– Như tôi đã nói ban nãy, chỗ ở trong trại hiện giờ rất chật chội vì quá đông người tị nạn. Cao Ủy LHQ đã phải cất thêm các dẫy nhà lợp lá cho đồng bào mới đến. Người quá đông ngoài dự liệu của họ, do đó sẽ có những khó khăn trong sinh hoạt và cả trong việc chờ đợi để đến phiên thanh lọc, mong đồng bào thông cảm. Bây giờ mời đồng bào chuẩn bị lên xe để vào trại.

Hai chiếc xe tải của phòng an ninh Indonesia từ từ chạy đến đón đám người chúng tôi. Lần lượt người của chiếc ghe 233 leo lên nhưng vẫn không đủ chỗ nên một số phải ở lại chờ đi chuyến sau. Ưu tiên cho phụ nữ và trẻ nít lên xe trước, một nhân viên thiện nguyện thông báo. Hai xe đó chạy vào trại rồi chạy ra chở tiếp rồi chở tiếp nữa nhưng đám chúng tôi phải chờ đến tua thứ tư thì mới đến lượt. Tôi và Đỉnh cùng đi chung trong một chiếc, thấy xe đầy người, gã tài xế sang số chạy tiếp ngay. Sợ ngã, đám chúng tôi kẻ đứng người ngồi mà tay thì bám chắc vào thành xe hoặc bấu vào vai của nhau. Xe chạy vòng vèo trên các con đường trải nhựa nhỏ hẹp rồi qua một khu toàn những căn chòi tranh nhỏ hoặc trông khá giống nhà sàn nằm không xa bên vệ đường.

– Chắc đây là khu nhà của dân Indonesia?  Người đứng trên xe hỏi nhưng một nhân viên thiện nguyện lắc đầu, trả lời:

– Không phải đâu anh, đây là trại tị nạn của người Campuchia đó.

Tôi đưa mắt nhìn các căn nhà lần lượt hiện ra ở hai bên đường. Vài đàn ông, trẻ em cùng phụ nữ quấn xà rông đi lại trên các con đường nhỏ gần các căn nhà thấp dù không phải là nhà sàn như hình ảnh tôi đã từng thấy khi trên đường từ cảng Kompong Som về Nông Pênh trong chuyến vượt biên của lần trước nhưng đúng họ là dân Khmer thật. Dân Khmer mà phải vượt biên tới tận đảo Galang! Sao họ không đi bằng đường bộ hay chạy ghe thẳng sang Thái Lan cho gần hơn thay vì làm một chuyến hải trình xa tít đầy nguy hiểm? Chúng tôi nhìn nhau, phân vân không hiểu.

Hết khu vực trại của dân tị nạn Khmer thì xe tải chở chúng tôi chạy ngang qua một cổng gỗ chùa Phật giáo có sơn hàng chữ Quan Âm Tự nằm sát bên trái vệ đường. Dù xe chạy khá nhanh nhưng cũng kịp để tôi thấy sau cổng là một chiếc cầu gỗ nhỏ cong cong được nối vào con đường dốc lên hình bậc thang dẫn lên cao của ngọn đồi. Xe chạy qua được một quãng đường khá xa, tôi quay đầu nhìn lại thì thấy các mái cong nâu đỏ của chùa nhỏ nầy nằm đơn độc tuốt trên đỉnh đồi khá cao đó. Xe băng qua một nhà thương với dấu hiệu Hồng Thập Tự đỏ ngay trước cổng rồi chạy tiếp trên con đường nhỏ hẹp trong trại và rồi nhà, những căn nhà nhỏ xíu như chòi đã bắt đầu xuất hiện chung với tiếng người reo vui xa xa làm chúng tôi nhao hẳn người lên nhìn. Rất đông người đứng ở hai bên vệ đường nhìn đám chúng tôi với cánh tay vẫy chào thân thiện. Sau cùng thì chiếc xe từ từ dừng lại bên một dẫy các nhà lợp lá dừa nước liền sát cạnh nhau. Đến nơi rồi! Có lệnh cho chúng tôi xuống xe.

Nhà lá ở đây, căn nào căn nấy dài thòong và đầy nhóc người đứng gần tò mò nhìn đoàn người chúng tôi mới đến. Một căn nhà gần chúng tôi đang làm dở dang toang hoác hai bên vách và mới chỉ có mái lá. Đám đàn bà-con gái đi trong chuyến xe đến trước cho biết căn nhà đó là chỗ ở của đoàn ghe chúng tôi. Đến gần xem, căn nhà có hình tam giác, sườn là các thân cây rừng được cột dây chặt vào nhau trông rất thô sơ như để ở tạm. Căn nhà này và những căn khác cũng cùng một kiểu như nhau, rộng hơn 6 m, dài khoảng 50 m và được lợp lá ở hai mái nhưng bên hông lại để trống. Cỏ lau cùng các bụi cây nhỏ mọc dầy đặc chen chúc bên trong nền căn nhà mà trại tị nạn dành cho đám chúng tôi. Trông căn nhà, ai cũng chán nản vì nó giống như một chỗ dùng để nuôi gia súc hơn là để dành cho người ở. Vài người trong số nhân viên thiện nguyện đã đón chúng tôi khi ở ngoài cầu tàu bảo chúng tôi tập họp lại và một người trong số họ, xác nhận:

– Đây là barrack của các anh chị. Ai là leader thì vui lòng sắp xếp chỗ ở ngay cho từng cá nhân. Mỗi barrack là chỗ tạm trú của 100 người. Phải làm nhanh lên, để còn ra xếp hàng nhận đồ cấp phát của Cao ỦyLHQ nữa đó.

Lại có thêm vài người khác đến gặp đám chúng tôi, tự xưng họ là ban Đại diện của zone 4. Khi nghe các nhân viên thiện nguyện cho biết đoàn người trong ghe chúng tôi có tổng cộng 135 người thì một người trong số họ nói:

– Cứ 100 người ở trong cái này và số còn lại thì mấy ông cho san bớt sang bên cái barack kia.

Cái kia! Là barrack nằm sát bên cạnh nhưng mới được lợp hơn phân nửa lá trên mái và hai bên hông thì vẫn để trống toác hoác. Người đàn ông vừa nói đó lại hỏi thêm:

– Ai là leader của chiếc ghe này? Tôi muốn gặp có chuyện để bàn.

Nghe người đàn ông hỏi, ông Thăng và ông Phát vội tiến đến gặp. Thấy hai ông Thăng, Phát thì ông đó tiếp:

– Leader có tới hai người à! Vậy càng tốt. Nghe đây! Bây giờ trong hai ông thì phải chọn một người làm barrack trưởng và người này sẽ thay mặt ban Đại diện zone để giải quyết các việc sinh hoạt chung trong ghe kể từ lúc này. Trước mắt thì barrack trưởng sắp xếp công việc dọn dẹp chỗ ở và cắt vài người theo tôi đi lấy cuốc xẻng dao nha. Trẻ-già, nam-nữ gì cũng phải góp một tay để có chỗ ngủ ngay tối nay. Phải làm nhanh lên, trời sắp tối rồi.

Hai ông Thăng, Phát liền chọn người đi lấy xẻng cuốc dao cùng sắp xếp số còn lại đi hẳn vào trong lòng barrack dọn dẹp những thân cây, rác rưởi vương vãi trên mặt đám cỏ tranh và các bụi cây nhỏ. Tôi ở trong số người dọn dẹp căn nhà. Dao cuốc xẻng chưa có, mỗi người chúng tôi tùy sức mà làm bất cứ việc gì thấy chướng trước mắt. Người nhặt rác, kẻ lấy tay nhổ các bụi cây nhỏ nhưng có một mùi hôi bốc vào mũi chúng tôi làm ai nấy ngán ngẩm, ghê tay. Đó là phân người. Barrack chúng tôi ở là như vầy sao! Nó khác hẳn những gì có trong đầu khi nghĩ về chỗ tị nạn của mình khi còn ở ngoài cầu tàu. Mùi hôi đó làm mọi người phải bỏ dở việc và chờ cho đến khi nhóm đi lấy dao cuốc xẻng về tới thì mới tiếp tục công việc trở lại. Nam giới cuốc đất ban mặt nền cho bằng phẳng hoặc chặt các bụi cây nhỏ còn nữ giới thì gom các thân cành, rác rưởi… rồi vất gọn vào một chỗ sát ở bìa rừng. Đông người làm, chẳng mấy chốc trong lòng barrack đã được dọn dẹp nên quang đãng, gọn ghẽ hơn trước. Dù sao, vẻ thất vọng vẫn hiện rõ trong mắt nhiều người vì ai cũng thấy chỗ ở trong trại tị nạn do Cao Ủy LHQ bảo trợ lại thiếu thốn và còn tệ hơn ở bên quê nhà nữa.

Trời bắt đầu xâm xẩm tối, người nào người nấy cũng cảm thấy đói bụng, mồ hôi nhễ nhại trên lưng trên mặt nhưng bảo nhau cố làm một lần cho xong việc để còn đi kiếm nước tắm và nghỉ ngơi.

Có tiếng xe vận tải nhỏ ngừng ngay phía trước barrack, một người đàn ông đi vào nói với đám chúng tôi:

– Tôi là Viết. Nguyễn Văn Viết… Zone trưởng của zone 4 này. Leader barrack mới đến cho người ra lãnh đồ Cao Ủy LHQ cấp phát nha.

Leader của barrack. Hai ông Thăng, Phát bối rối nhìn nhau và rồi ông tên Viết đó tiếp: ” Barrack trưởng phải là người thuộc Việt Nam Cộng Hoà… Hai ông chắc… “.

Nói đến đây thì ông ngập ngừng, đưa cặp mắt dò hỏi. Cả hai ông Thăng, Phát nhìn ông ta và đều gật đầu như sự xác nhận. Họ quay lại đối diện, hội ý nói nho nhỏ với nhau và rồi ông Thăng gật đầu nhận lời. Ông Thăng, giờ đã lãnh trách nhiệm barrack trưởng liền cùng vài người khác vội chạy ra đón hàng tiếp liệu. Hàng hoá trên xe tải lần lượt được chuyền xuống, xếp gọn thành một đống trên mặt đất. Chúng tôi xếp thành hàng để nhận mỗi người một đôi dép, một bàn chải cùng ống kem đánh răng, một khăn mặt, một cục xà bông, một ca nhựa đựng nước, một cái bát nhựa, một muỗng nhôm, một cái chiếu cói nhỏ và ba túi nylon mầu đen khá lớn nói dùng để đựng rác. Đồ cấp phát cho cá nhân chỉ có vậy còn tập thể thì cứ năm người dùng chung nhau một chậu nhựa lớn, một thau nhựa nhỏ, một cái bếp với 5 lít dầu hôi, một nồi lớn, một nồi nhỏ, một chảo nhỏ, một dao con và một thớt gỗ tròn nhỏ xíu. Vừa nhận đồ tiếp liệu xong, một thanh niên ấp úng hỏi ông Viết:

– Trại có phát quần áo cho người lớn hoặc sữa bột gì cho trẻ em không hở chú?

– Cái gì? Cậu nói cái gì, nhắc lại tôi nghe. Ông zone trưởng hỏi anh thanh niên đó và sau khi nghe rõ chuyện thì ông ta cười lớn, trả lời:

– Làm gì có mấy thứ đấy, cậu tưởng mình đang ở bên Mỹ chắc. Nghe đây! Hàng tiếp liệu nhận hôm nay, Cao Ủy LHQ chỉ phát cho mỗi người duy nhất một lần này thôi. Dùng hết, nếu muốn có nữa thì tự móc tiền túi mua ngoài shop còn không thì ráng chịu nghe.

Nói xong câu, ông ta bỏ ra bên ngoài căn barrack rồi trèo lên chiếc xe đang từ từ quay trở ra mặt đường lộ.

Có đồ tiếp liệu tập thể, đoàn người trong ghe tự động rủ nhau gom thành từng nhóm năm người một. Rồi Đào, Bẩy, Yến nói Đỉnh cùng tôi nhập thành nhóm sống chung vì dù sao thì cả bọn cũng đã biết nhau và khá thân từ khi còn ở bên Mã Lai Á. Cũng giống như hồi mới vào ở căn nhà lều trong rừng, ông Thăng bắt đầu chia lô và bắt thăm chọn chỗ cho từng nhóm trong cái nền barrack vừa được dọn sạch. Cũng theo cách của các barrack đã làm từ trước, ông Thăng cũng để hai bên chái căn nhà là chỗ người ở và chừa một khoảng rộng 1 m làm lối đi ngay chính giữa. Nhận được chỗ của cả nhóm rồi thì tôi và Đỉnh dùng dao con cắt các bao nylon đen thành tấm lớn để lót trên mặt đất rồi sau đó mới trải chiếu lên. Chiếu cói Cao Ủy LHQ phát cho chúng tôi rất mỏng, chỉ rộng 80 cm và dài gần 2 m. Chỗ ở cho mọi người trong ghe vừa tạm ổn thì ông Thăng báo tin là ông Viết cho người khiêng đến hai nồi lớn mì gói nấu chín, nói do ban xã hội của zone gửi tặng cho đồng bào ăn đỡ bữa tối vì sáng hôm sau, phòng tiếp liệu trại mới phát thực phẩm. Có sẵn bát nhựa, chúng tôi liền chia nhau mì gói nóng bốc hơi thơm phức. Chỉ nấu xuông nhưng ăn bát mì, ai cũng thấy nó quá ngon. Nhân viên trong ban xã hội của zone chắc rành chuyện người mới nhập trại nên đã nấu mì gói nóng tiếp tế vì thực sự, từ lúc rời cầu tàu bên Tanjung Pinang tới giờ, có ai trong ghe được ăn uống gì đâu.

Trời đã tối hẳn, thấy người chung quanh làm các cây đèn từ các lon nhôm nước ngọt Cocacola cũ, Đỉnh đi rảo kiếm được hai cái lon không rồi đục lỗ, xỏ dây bấc và đổ dầu hôi làm ngay đèn dã chiến cho cả bọn. Ánh sáng bập bùng soi từng nhóm người đứng ngồi lố nhố trong lòng căn nhà lợp lá dài thòong trông thật lạ mắt. Hành lý cá nhân của năm  người chúng tôi đã xếp gọn gàng hẳn vào một góc và bây giờ thì ai cũng thấy cần phải đi tắm một cái cho sạch cho mát người nhưng chưa biết chỗ tắm ở đâu? Tôi và Đỉnh lại phải đi ra phía bên ngoài, tìm đến barrack gần đó hỏi thăm một người đàn ông đang nằm đung đưa trên chiếc võng căng ngang hai thân cây gần lối đi nhỏ. Biết chúng tôi là đám say sóng mới nhập trại hồi chiều, ông ta vui vẻ cho mượn cái gầu múc nước cùng chỉ hướng để đến con suối và nói:

– Hai cậu tắm giờ nầy thì nước hơi cạn và đục đấy. Hàng tiếp liệu Cao Ủy LHQ cấp phát hoặc quần áo cá nhân giặt mang về phơi, mấy cậu phải coi chừng cái đám đi chợ đêm ở đây nghe.

Gầu múc nước là cái thùng sắt độ chừng được 5 lít nối với sợi dây nhựa khá dài, Đỉnh bảo tôi đi trước với ba cô gái còn nó ở lại trông chừng hành lý của cả bọn. Đi cùng ba cô gái, chúng tôi theo con đường tráng nhựa nhộn nhịp người đi tắm hoặc tản bộ hóng mát dưới ánh sáng của các ngọn đèn bên cột sát lề đường. Tôi nghĩ suối ở đây chắc cũng tương tự con suối có nước trong vắt chảy lững lờ uốn cong qua các phiến đá bằng phẳng rồi luồn khuất sau các hàng cây rừng xa xa… như khi ở trại trong rừng bên Mã Lai Á. Đi gần tới bệnh viện, bốn người chúng tôi rẽ vào một con đường hẹp để đến chỗ tắm là vũng nước khá lớn trông từa tựa một cái hồ nhỏ. Một bóng đèn ống neon treo khá cao soi rõ đám đông người đang lúi húi tắm giặt bên nhau. Hầu hết là nam giới đứng múc nước dội ào ào từ đầu đến chân ngay trên bờ được lót bằng các tấm gạch cement bằng phẳng. Chỉ có vài phụ nữ ngồi riêng biệt giặt quần áo trong các chậu nhựa khá xa. Hai phòng vuông nhỏ làm bằng các tấm ván gỗ ghép lại dùng để thay y phục sau khi tắm ở tuốt ngoài bìa sàn nước. Ánh sáng ngọn đèn ống neon chiếu vào nước suối có mầu cà phê sữa loãng làm Yến vừa thấy đã thất vọng, nói nhỏ: ” Nước nầy mà tắm giặt cái gì mấy chị! Thua xa nước suối ở bên Mã Lai Á  “. Ba cô gái thấy người đang tắm toàn nam giới nên họ cũng ngần ngại, chần chừ đứng yên tại chỗ. Càng chần chừ thì nguồn nước suối sẽ càng cạn càng đục. Tôi liền thả gầu kéo nước tắm trước làm gương và múc đổ nước vào đầy chậu nhựa, hối ba cô gái cứ tắm đại ngay đi rồi mai tính sau.

Con suối, sau này thì tôi được biết khởi đầu là lạch nước nhỏ chảy từ trong rừng ra rồi được người tị nạn đào rộng, khoét sâu thêm và dùng các thân cây lớn cùng đá tảng kè lại để giữ nước như một cái đập nhỏ. Khi bốn đứa chúng tôi ra về mà dòng người trong trại vẫn còn kéo đến để tắm, giặt. Đến chỗ ở của cả nhóm, thấy Đỉnh đang đóng mấy cọc cây sát vách, hỏi làm cái gì thì Đỉnh cho biết đang tạo một con heo để có cái ngày mai đựng nước dùng. Con heo là các bao nylon đen dùng để đựng rác nhưng Đỉnh đã chồng nó vào nhau và cố định đứng một chỗ bằng các cọc gỗ nhỏ chung quanh. Đỉnh cũng cho biết nó vừa nấu xong một nồi nước có bỏ chút trà cho dễ uống và bảo chúng tôi ai có khát thì dùng. Ba cô gái hỏi nước lấy đâu ra thì Đỉnh trả lời:

– Tui xin chỗ ông cho mượn cái gầu đó. Ổng còn cho thêm cả một chậu đầy nước để bọn mình có cái mà xúc miệng, đánh răng nữa nè.

Rồi nó hỏi lại ở dưới suối có đông người tắm không, tôi trả lời ngay:

– Cũng khá đông, toàn là người của hai chiếc ghe mới nhập trại hôm nay không hà. Em đi tắm ngay đi, còn cái gì chưa xong thì để anh làm tiếp cho.

Phần vách barrack của ghe chúng tôi ở vẫn còn trống toác hoác và nhớ lời dặn của người đàn ông cho mượn cái gầu, Đỉnh nói ba cô gái nên cất quần áo ướt vừa giặt để chờ ngày mai sẽ phơi sau. Riêng tôi vì bộ quần áo vừa giặt đã cũ mèm, không sợ mất nên cứ phơi nó ở trên các hàng cọc gỗ sát vách. Ba cô gái ngồi chụm lại với nhau vừa nói chuyện vừa chải tóc cho mau khô. Trong barrack dưới ánh đèn lập lòe khi tỏ khi mờ, chỗ này người đang sắp xếp lại chỗ ở, chỗ kia người soạn đồ đạc cá nhân cho gọn gàng hoặc đã nằm im như đang ngủ. Mùi đất thoang thoảng chung với tiếng vo ve của muỗi rừng bay ra kiếm ăn bên tai.

Barrack chúng tôi bắt đầu có khách ghé thăm, họ là những người đã nhập trại từ trước nay nghe nói có hai ghe mới đến thì vội vào, tìm xem coi có gặp thân nhân hay người quen. Họ đi lẻ từng người hoặc từng cặp với nhau, dõi mắt nhìn lom lom vào mặt chúng tôi trong ánh đèn leo lét, mờ vàng. Đang ngồi bó gối trên tấm chiếu chưa biết tối nay cả đám năm người chúng tôi sẽ ngủ nghê ra sao thì tôi nghe có tiếng hỏi: ” Vũ! Phải là Vũ không hả? “. Ngẩng đầu, tôi nhìn lên hai người một nam một nữ đang đứng trước mặt, thầm nghĩ họ là ai mà biết tên mình. Tôi chưa kịp hỏi thì tiếng đàn ông nói:

– Đúng là Vũ rồi. Anh là Khảm nè Vũ!

Tôi liền kéo cái đèn lại gần chỗ hai người đang đứng, ba cô gái cũng ngừng chải tóc và nhìn họ. Anh Khảm! Tôi nhận ra rồi. Nhà anh ở gần tiệm chạp phô nhỏ trong cùng khu phố bên quê nhà. Nhưng, tôi nhớ anh đã vượt biên từ năm ngoái và sống ở bên Mã Lai Á mà. Sao bây giờ anh lại có mặt ở đây? Không lẽ anh cũng bị y như ghe chúng tôi? Tôi liền mời hai người họ ngồi xuống chiếu, cô Đào lật đật mang nước trà nóng ra mời. Anh Khảm cười với cả bọn chúng tôi và kể:

– Hồi chiều khi biết tin có hai ghe mới đến trại, anh hỏi thằng bạn làm trong phòng hành chính thì nó dò hồ sơ, nói có vài người thuộc quận Tân Bình mà không rõ ở phường nào. Do vậy, khi vừa cơm nước xong thì anh chị vội tìm đến, xem coi có gặp người quen nào trong khu phố không. Ghé qua mấy cái barrack của chiếc ghe trước nhưng không gặp friend nào cả, vào đây thời may anh gặp Vũ. Mừng quá đi!

” Anh-Chị “! Khi vừa từ Campuchia trở về, tôi vẫn còn gặp vợ và hai đứa con anh Khảm, vậy thì người phụ nữ trẻ cạnh bên anh ở đây là ai? Sẽ hỏi anh sau vậy, chắc chắn! Vừa lúc thì Đỉnh đi tắm về tới, anh Khảm mời cả nhóm chúng tôi đi ra quán uống nước tán chuyện cho vui. Lời mời của anh thật đúng lúc vì ba cô gái mới vừa ban nãy đã bàn nhau khi Đỉnh tắm về, cả bọn sẽ đi một vòng xem coi phố xá Galang cho biết. Chúng tôi liền gom các túi xách để gọn chính giữa một tấm chiếu và phủ kín lên bằng các tấm khác rồi kéo nhau đi theo anh Khảm cùng người phụ nữ.

Ba cô gái bám sát người phụ nữ hỏi chuyện huyên thuyên để tôi, Đỉnh và anh Khảm lẽo đẽo theo sau lưng họ. Lấy tay chỉ người phụ nữ đó, tôi hỏi nhỏ anh Khảm:

– Chị này là ai vậy hả anh? Anh Khảm mỉm cười, khẽ khàng:

– Xe của anh đó Vũ.

Tôi thắc mắc:

– Xe là nghĩa gì, em không hiểu?.

Anh Khảm giải thích:

– Ở Galang, người ta gọi bồ bịch với nhau là Xe mấy em à. Đẩy xe nghĩa là có bồ, có girlfriend hoặc boyfriend đó. Xe là từ chữ share Anh ngữ mà ra.

Khi còn ở trong barrack đèn vàng lù mù mờ mịt, giờ theo lời mời của anh Khảm đến quán thì chúng tôi mới thấy phố xá Galang thật nhộn nhịp. Tiệm tạp hóa, quán ăn, quán nước và cả nhà ở nằm sát bên nhau dọc theo cạnh đường có đèn chiếu sáng choang. Thêm vào đó, vài xe bán bánh mì, nước mía hoặc sữa đậu nành nóng lạnh… làm khu phố thêm sinh động. Quán cà phê nào đám chúng tôi đi qua cũng đông nghẹt khách vừa uống nước vừa xem TV khá lớn đặt nằm trong hộc cố định trên tường. Anh Khảm dẫn chúng tôi vào một quán cà phê và chọn một cái bàn rộng nằm cạnh một cây dù nylon lớn phòng mưa. Anh lấy thuốc lá ra mời tôi và Đỉnh rồi nói khi thấy một cô hầu quán đến bên bàn.

– Ba người mình uống cà phê sữa đá nha hai em? Còn Phượng và ba cô gái thích thứ gì thì cứ gọi tự nhiên nghe.

Bẩy, Đào, Yến và người phụ nữ đi cùng anh Khảm đều gọi trái vải đóng hộp. Nhìn bên trong và ngoài sân quán, khách đông nghẹt ngồi ken chật với nhau ở các bàn, tôi nghĩ ít nhất cũng phải trên dưới 200 người. Phía bên ngoài hàng rào của quán cà phê, người đi kẻ lại đông đúc trên đường hoặc dừng chân trò chuyện với nhau. Đèn điện sáng chưng trong các tiệm ăn phía bên kia đường soi rõ khá đông thực khách đang dùng bữa tối với nhau. Một hình ảnh giống như của khu phố buôn bán náo nhiệt cuối năm gần Tết bên quê nhà. Không biết đảo tị nạn Galang rộng cỡ nào mà trước mắt tôi lại có quá đông người Việt. Nghe tôi giới thiệu tên của Đỉnh và của ba cô gái xong, anh Khảm hỏi:

– Nhập trại Galang, rồi thấy barrack Cao Ủy LHQ cho mình ở đâu dè lại tệ như vậy hả mấy em? Hàng tiếp liệu họ phát cho được những thứ gì rồi, kể anh nghe xem?

Tôi kể tên các món hàng mới nhận được lúc xẩm tối, anh Khảm nghe qua từng thứ rồi bảo:

– Thế thì còn thiếu một cái chăn len. Có lúc thì thiếu chiếu hoặc thiếu khăn, thiếu nồi… Vậy là hàng tiếp liệu chưa về kịp rồi, còn phải chờ vài ngày mới có đấy.

Hàng tiếp liệu về không kịp thì số người nhập trại Galang phải rất đông. Anh Khảm lại tiếp:

– Hiện giờ, Galang có khoảng 15.000 người Việt tị nạn và sẽ còn thuyền nhân tiếp tục đổ đến nữa. Chưa bao giờ  đảo tị nạn Galang lại đông người như vậy, cứ nhìn các quán cà phê ở đây thì biết. Không còn chỗ chứa, Cao Ủy LHQ phải cấp tốc làm các loại barrack lợp lá cho người mới đến trại như chỗ mấy em ở đó.

Các thức uống được cô hầu bàn mang ra, anh Khảm và chị Phượng mời đám chúng tôi dùng. Cà phê sữa đá đã làm tôi sảng khoái tỉnh cả người. Nó quá ngon vì đã bao nhiêu ngày rồi nay chúng tôi mới có miếng nước đá để uống. Đào, Bẩy, Yến và Đỉnh cùng mỉm cười nhìn nhau sau ngụm nước mát lạnh.

Anh Khảm hỏi thăm về gia đình tôi cùng các người quen khác trong khu phố bên quê nhà. Anh Khảm lớn hơn tôi 6 tuổi, gốc lính không quân và có vợ tên Hoa cũng người sống chung trong khu phố. Tôi còn nhớ vào cuối năm 1974, cả khu phố đã kéo nhau ra xem đám cưới của anh Khảm khi họ hàng hai bên đi rồng rắn từ nhà trai qua nhà gái rồi đến nhà thờ để làm lễ hôn phối. Ai cũng khen đôi vợ chồng anh thật đẹp. Anh Khảm tính tình hiền lành, rất thương vợ con và lúc nào cũng sống hoà thuận với chòm xóm-láng giềng. Tôi chưa thấy vợ chồng anh gây gỗ, to tiếng với nhau. Có người ở trong khu phố còn lấy gia đình anh Khảm để làm gương mẫu cho con cái trong nhà học theo. Khi đám Việt Cộng chiếm được VNCH thì anh Khảm bị tù cải tạo hơn 4 năm trời vì chuyện đi tu nghiệp một khoá 8 tháng ở Mỹ lúc trước. Khi ra tù, anh Khảm phải làm đủ nghề từ đạp xích lô, bỏ mối nước đá, sửa xe đạp… phụ với chị Hoa buôn bán lặt vặt ở chợ để sống. Vậy mà cũng không yên với Hai Lùn, gã công an trong khu vực. Hai Lùn vẫn nói dân buôn, người bỏ mối hàng như vợ chồng anh Khảm… thuộc thành phần ăn bám xã hội.

Hai Lùn là con trai một gia đình cán bộ mới chuyển đến sống ở khu phố trong thời gian nhiều gia đình phải bỏ nhà để đi vùng kinh tế mới. Không lâu sau đó thì Hai Lùn được chính quyền địa phương chọn để làm công an khu vực. Trình độ văn hóa thấp và bản thân còn đang học bổ túc nên Hai Lùn luôn có thành kiến với những người học hành đàng hoàng và đặc biệt, y rất ghét người từng du học nước ngoài bất kể về một chuyên môn gì. Người chế độ VNCH  sống trong khu phố đã phải khổ và điêu đứng vì y. Lấy cớ là thăm hỏi bà con cùng đi sâu đi sát quần chúng, Hai Lùn thường bất ngờ đi vào nhà những người nằm trong sổ đen. Y làm ra vẻ quan tâm hỏi han nạn nhân nhưng thực ra là để dò xét, theo dõi.

Chị Phượng bảo xong chầu nước thì cả bọn sẽ đi quán hủ tiếu nhưng anh Khảm góp ý nên ăn bánh mì cho gọn. Thấy năm đứa chúng tôi đồng ý, chị Phượng kéo Yến đi ra ngoài rồi sau đó mang về các ổ bánh mì thịt còn ấm. Nghe Đỉnh thắc mắc về chủ quán cà phê, quán ăn ở Galang là người bản xứ hay người Việt thì anh Khảm cho biết:

– Galang nó như một cái phường ở bên Việt Nam. Dân tứ xứ người vượt biên mình được Cao Ủy LHQ tập trung về hết nơi đây. Người có tiền nhiều thì mở quán bán cà phê, tiệm may quần áo hoặc quán ăn. Vốn nhỏ thì bán bánh mì, gánh nước, làm công… để sống lây lất qua ngày chờ đi định cư.

Ăn bánh mì xong, chị Phượng rủ ba cô gái đi lòng vòng cho biết phố xá, để anh Khảm cùng tôi với Đỉnh ngồi lại quán. Anh Khảm lúc này mới hỏi:

– Vũ thấy chị Hoa và hai con anh vẫn khoẻ chứ? Có nghe bà con chòm xóm nói gì về anh không vậy?.

Thực tình, tôi chẳng nghe bà con chòm xóm nào trong khu phố nói gì về anh cả. Hỏi vậy, chắc anh Khảm muốn thăm dò chuyện đang sống chung với chị Phượng ở đây? Thấy tôi lắc đầu, anh Khảm bộc bạch:

– Anh và Phượng quen nhau từ lúc sống bên Mã Lai Á rồi khi chuyển đến đảo tị nạn Galang, cả hai đứa càng thân hơn và… bồ bịch với nhau từ lúc nào, cũng chẳng nhớ.

– Chị ấy có biết anh còn gia đình bên quê nhà không? Tôi hỏi.

– Biết chứ em! Anh đâu dấu diếm gì. Những lần anh viết cho Hoa hoặc nhận được thư gửi sang thì Phượng cũng được đọc. Không biết cứ sống với Phượng mãi như thế nầy rồi anh sẽ phải làm gì? Cũng khổ tâm lắm Vũ ơi!

Hỏi thêm về vợ và hai người con anh nhưng thấy tôi chẳng biết nhiều hơn thì anh Khảm im lặng, ngồi dựa lưng vào thành ghế tư lự. Đỉnh nháy mắt nhìn tôi rồi nó bỏ vào bên trong quán kiếm chỗ để xem TV đang chiếu một đoạn phim cao bồi miền viễn Tây-Hoa Kỳ có tài tử Clint Eastwood đóng. Tôi và anh Khảm ngồi nói chuyện quê nhà được độ gần một tiếng đồng hồ thì chị Phượng cùng ba cô gái quay về mà trên tay mỗi người lỉnh kỉnh vài thứ đồ gồm xô đựng nước, bình, ly và các món lặt vặt cá nhân. Yến cho biết:

– Chị Phượng cho tụi em mượn tiền để mua đó anh Vũ.

Thấy Đỉnh trở lại bàn, anh Khảm gọi quán tính tiền rồi rủ cả bọn ghé vào barrack nơi anh sống cho biết chỗ. Theo chân anh Khảm-chị Phượng, đám chúng tôi băng qua cổng lớn của một bức tường bằng tôn ngăn cách với phía ngoài đường nhựa rồi đi vòng vèo, xuyên thẳng ngang ruột các barrack nằm liền sát bên nhau.

– Đây là zone 3, nơi ở của những người đến từ đầu năm 1989 ngay sau ngày Cao Ủy LHQ tuyên bố đóng cửa trại, anh Khảm kể.

Khác hẳn với các barrack lợp lá thô sơ tạm bợ như ở zone 4 chỗ ban Đại diện vừa sắp xếp cho chúng tôi nhập trại hồi lúc chiều, những barrack ở trong zone 3 đều cất bằng gỗ ván có mái lợp tôn vững chắc nhưng có điều phải nằm trong một hàng rào ngăn cách với bên ngoài. Có lẽ lúc đầu, Cao Ủy LHQ nghĩ chỉ còn ngần đấy người Việt vượt biên đến trại nên mới thiết lập barrack kiểu biệt lập như vậy. Đèn neon treo đều trên các cột điện ở các lối đi nên trông khu vực zone 3 thật sáng sủa, sạch sẽ. Barrack nào cũng vậy, đều một kiểu có sập gỗ ở hai bên để làm giường cho người ở và một lối đi tráng cement ngay chính giữa căn nhà. Chỗ ở của anh Khảm-chị Phượng ở gần cuối barrack nơi đã được họ quây kín bằng các tấm plastic mầu thành một căn phòng nho nhỏ khá kín đáo. Lấy tay vén các tấm plastic về một phía cho gọn, anh Khảm-chị Phượng mời đám chúng tôi ngồi lên phần ván gỗ, giang sơn riêng của hai người họ.

– Đây là nhà của anh chị. Lúc đầu, khi Cao Ủy LHQ cho tụi anh vào sống trong barrack này thì ai cũng thấy nó quá tệ so với các bararck ở trong Galang 2. Bây giờ, so sánh với barrack của người mới đến như các em thì mới thấy trại tị nạn càng ngày càng tệ hơn. Anh Khảm nói.

Chị Phượng cho biết mỗi barrack ở zone 3 đều có 10 phòng vệ sinh cùng một nhà bếp tập thể. Sáng nào cũng vậy, trại sẽ bơm nước phân phối vào từng dẫy barrack và mỗi đầu người thì được cấp cho 30 lít nước dùng để nấu ăn, sinh hoạt. Tuy vậy, chuyện tắm táp hoặc giặt rũ thì cũng phải xuống dưới suối ở zone 4, chỗ mà chập tối chúng tôi vừa tắm. Ai có tiền thì mua thùng phi sắt hoặc thuê người đóng các con heo lớn để chứa nước mưa xài thêm. Anh Khảm-chị Phượng cũng có một con heo lớn và hai cái phi sắt chứa nước mưa nằm phía bên ngoài sát cạnh các cửa sổ. Như vậy, cuộc sống của họ quá ngon so với đám chúng tôi cùng các người trong barrack lợp lá tạm bợ ở zone 4 bây giờ. Vậy mà anh Khảm còn so sánh chỗ đang ở với các barrack bên trong Galang 2, tôi liền hỏi:

– Có Galang 2 nữa hả anh? Trước giờ em chỉ nghe nói đến Galang không mà thôi.

– Phải! Chỗ mình là Galang 1 em à. Galang 2 cách xa đây độ 3 km đường mà còn có Galang 3 và cả Galang 4 nữa… cũng ở trên đảo này. Các barrack trong Galang 2 sạch và tiện nghi hơn ngoài Galang 1 mình nhiều. Mỗi barrack trong đó có 10 phòng và cứ hai hoặc ba người thì ở chung một phòng mà còn có cả bếp riêng nữa đó.

Rồi anh Khảm lấy ra một cái thùng gỗ khá rộng, nói của đám bạn đi định cư để lại cho anh nhưng không dùng đến nên giờ cho tôi để có cái mà chứa đồ đạc riêng. Ngồi chơi thêm một lát thì đám chúng tôi cáo từ anh chị Khảm-Phượng để về chuẩn bị ngủ. Đi ngược theo lối cũ quay trở ra khu phố, tôi thấy trời tuy đã hơn 10 giờ đêm nhưng trong các quán cà phê vẫn còn khách ngồi đồng ở các bàn không khác gì bên quê nhà. Các tiệm tạp hoá của người địa phương thì đang dọn dẹp hàng hóa bày bán ở phía bên ngoài nhà họ. Trên đường, vài người Việt tản bộ hoặc ngồi im lặng hút thuốc ở các băng ghế dựng sát bên các hàng cây.

Về tới barrack thì tôi thấy ông Thăng đang trò chuyện với một thanh niên trong nhóm của Tám Kiệt ngay giữa lối đi sát bên chỗ ở của cả đám. Gặp bọn tôi, ông Thăng liền nói:

– Hai cậu Vũ và Đỉnh ở gần bên, có gì thì giúp cho mấy người hàng xóm mới này  nghe.

Thì ra, ông Thăng vừa đổi chỗ cho một nhóm người khác thế vào chỗ của nhóm cũ. Hàng xóm mới của chúng tôi là hai đứa bé một nằm và một ngồi trên tấm chiếu sát cạnh cây đèn dã chiến cùng ba phụ nữ đang loay hoay bên đống đồ đạc của họ. Một trong số họ là người phụ nữ mà tôi và Đỉnh đã bắt gặp trong rừng bên Malaysia thuộc nhóm Tám Kiệt. Hai phụ nữ kia cùng hai đứa bé là khách đi trong ghe. Anh thanh niên trong nhóm Tám Kiệt đã giúp làm một con heo nước nhỏ cùng sắp xếp gọn gàng chỗ ở mới của năm người, nói với người phụ nữ đó:

– Chị Tư! Tạm thời tối nay mấy chị ở như vậy đi, mai sáng thì em sẽ dọn cho gọn hơn.

Người phụ nữ có tên chị Tư đáp:

– Chú làm gọn lắm, thôi về nghỉ đi, chị cảm ơn nhiều.

Từ lúc được ban Đại diện trại sắp xếp ghe chúng tôi vào zone 4 cho đến giờ vì lu bu việc dọn dẹp sau đó thì ra suối tắm rồi theo anh Khảm-chị Phượng đi quán, tôi cũng chưa biết chỗ ở của từng nhóm người trong hai barrack này. Hai cô Đào, Bẩy trải lại các tấm chiếu còn Yến thì ngồi lúi húi mồi lửa một khoanh nhang trừ muỗi. Đỉnh khen Yến giỏi vì cả bọn đang lo tối nay ngủ không có mùng sao chịu nổi với bầy muỗi đói. Yến trả lời:

– Chị Phượng bảo ba đứa em mua chứ có ai biết gì đâu hả anh Đỉnh. Ban nãy đi mấy tiệm kiếm mua cái mùng lớn mà cũng hết, phải vào trong Galang 2 mới có.

Thấy mọi việc đã tạm ổn, tôi và Đỉnh bỏ ra ngoài barrack thì gặp một nhúm người đang đứng trò chuyện ở bãi đất trống ngăn cách giữa hai barrack. Có cả ông Thăng, Phát trong số họ nên tôi và Đỉnh tò mò dừng lại nghe chuyện.

– Mình phải làm cấp tốc ngay sáng mai anh Thăng à! Không thì kẹt lắm, ông Hưng nói.

Đỉnh chen vào hỏi thì mới biết cả hai  bararck mà zone 4 cấp cho ghe chúng tôi ở lại chưa có cái nhà cầu nào. Ông Thăng tiếp lời:

– Tụi Tây phương đi đến đâu thì họ đều làm cái chỗ đi vệ sinh trước hết sau mới tới nhà ở. Tôi đang lo sáng mai không biết mấy người trong ghe mình lấy chỗ nào mà xả bầu tâm sự đây? Trước mắt thì thân ai nấy lo rồi, đành phải vậy thôi. Chắc tôi phải hỏi xem ông zone trưởng coi có dư nhà vệ sinh nào khác để cho ghe mình dùng tạm nhưng giờ thì tối quá rồi không dám làm phiền ông ấy nữa. Chưa bao giờ tôi mệt như ngày hôm nay, còn chưa đi tắm được nữa nè.

Trăng bây giờ mới mọc, chiếu ánh sáng vàng vọt trên khu barrack lợp lá nằm sát bìa rừng trông tương tự những nhà sàn của người thiểu số ở vùng cao nguyên nước Việt. Tôi và Đỉnh quay về barrack, dưới ánh đèn lù mù, mọi người đã nằm yên lặng trên các tấm chiếu. Đến chỗ của cả bọn, mấy cô gái đã nằm gọn co quắp sát bên nhau và chừa phân nửa phần chiếu còn lại cho Đỉnh với tôi. Đỉnh ngồi vụt xuống nơi mép tấm chiếu sát bên chỗ của nhóm phụ nữ-con nít bên cạnh và nó nói nhỏ:

– Em xí chỗ này, cho anh nằm gần mấy cổ đó.

Coi lại thì chỗ tôi nằm sát bên với Yến. Tôi nằm yên, ngửa mặt lên trần căn barrack lá tối đen và dù mắt đã nhắm thật lâu nhưng vẫn chưa ngủ được trong đêm trường tĩnh mịch. Tôi nhổm đầu lên nhìn chung quanh, các ngọn đèn dã chiến đã tắt nhưng nhờ có trăng sáng bên ngoài hắt vào qua các chỗ trống nên vẫn trông rõ nhiều thân người nằm dài im lặng bên nhau. Tôi buông xuôi hai tay dọc theo thân mình vừa lúc thì Đỉnh xoay tấm thân và hẩy người tôi về sát bên Yến rồi ngay sau đó nó lại lấn sang đẩy tôi thêm lần nữa. Hai tay tôi giờ đã chạm sát bên thân người của Yến và tai tôi thì nghe nàng thở nhè nhẹ cùng tiếng của Đỉnh chép miệng ngủ mê. Nhìn đồng hồ dạ quang đã 2 giờ sáng mà tôi vẫn thức, không biết do lạ chỗ, vì ly cà phê sữa đá uống lúc chập tối hay vì nằm sát bên người Yến? Đỉnh lại xoay người, ép sát vào tôi nên buộc tôi phải xoay thân mình nằm nghiêng như nó. Đỉnh vẫn thở đều đều, có lúc cục cựa thân mình rồi nó choàng một tay lên bờ vai tôi. Gió đêm thổi qua thông vào barrack làm tóc của Yến bay loà xoà vào cổ và vào cả mặt tôi. Tôi khẽ dơ tay vuốt bỏ những sợi tóc của nàng xuống thì trời ơi, tay của Đỉnh đã chộp lấy tay tôi và nó đặt nhẹ  choàng lên người của Yến. Tôi hốt hoảng vì việc làm bất ngờ của Đỉnh nhưng chưa kịp có phản ứng gì thì Yến đã nắm lấy bàn tay tôi và hất ra khỏi thân người nàng ngay.

Phản ứng của Yến thật nhanh, đột ngột làm tôi có chút sững sờ. Thì ra nãy giờ, ba đứa tôi nằm đó nhưng vẫn thức. Tôi nằm yên, chút áy náy lẫn bực bội vì việc xảy ra. Không biết Yến có hiểu cho tôi không?

Vừa lúc, có tiếng thét ở cuối barrack làm nhiều người lồm cồm chồm dậy. Các đèn dã chiến được người trong barrack thắp lên chung với ánh đèn pin từ tay người nào đó loang loáng soi đường. Tôi và Đỉnh cùng các người khác vội chạy đến chỗ có tiếng thét đó.

– Con gì vừa cắn tui xong ở chỗ này nè. Đau quá! Không biết có phải rắn độc không? Cứu tui ngay, bà con ơi!

Một thanh niên khuôn mặt thất thần, hai tay anh đang ôm phần dưới bắp chân trái mà miệng run run, nói lắp bắp đứt quãng. Ánh đèn pin chiếu ngay phần chân gần mắt cá của anh ta, soi rõ một vết đỏ nhỏ còn ri rỉ máu.

– Rắn rồi mà chưa rõ độc hay lành đây… Để phòng cho chắc, mình phải làm ga rốt ngay kẻo không nọc chạy vào tim, người cầm đèn pin đó nói.

Một sợi dây được mang đến và nhanh chóng nó được cột chặt ở phần chân trên chỗ bị thương của nạn nhân. Ông Thăng đã có mặt liền, trong vẻ mệt mỏi vì mất ngủ, bảo với anh thanh niên:

– Tôi đi báo cho ông zone trưởng biết để gọi xe cấp cứu ngay đây, cậu ráng chịu đựng một chút nha.

Tin rắn bò vào chỗ ngủ cắn người loan ra làm ai trong barrack cũng sợ, đảo mắt nhìn những chỗ tối đen của phần vách trống bên phía rừng và nghĩ còn vài con rắn nữa đang chờ sẵn đâu đó. Một ông bày cách lấy ít dầu hôi đem rảy về phía vách trống và cả những chỗ nghi ngờ khác, mong để rắn hay bọ cạp ngửi thấy mùi sẽ sợ, phải bỏ đi. Trời khuya lạnh lại chưa có mền đắp nên hầu như người nào cũng phải khoác thêm quần áo lên người cho ấm. Ông Phát nói: ” Tôi nghĩ, barrack mình ở là đám đất hoang cây cối um tùm, hang con rắn nầy nằm đâu đó đến khi mình vào dọn dẹp, nó bỏ đi rồi khuya quay về và chân cậu này chạm phải nên đã bị cắn chứ thực ra giống rắn thường tránh người “.

Cậu thanh niên được dìu từ barrack ra gần đường nhựa để chờ xe nhà thương đón trong tình trạng người rũ rượi, có lẽ do nọc độc chạy và vì sợ hãi mà thực sự chúng tôi cũng đang sợ đây. Ra tới ngoài sân, chúng tôi cùng đứng chùm nhum từng đám nhỏ ba, bốn người với nhau. Trời về sáng, trăng mọc từ lâu trải ánh vàng trên các hàng cây cùng mái lá của các bararck nằm im trong cái tĩnh mịch chung quanh trông như một làng quê đêm khuya. Vài trật tự viên của zone đi tuần nghe chuyện cũng ghé vào chỗ chúng tôi, một người trong bọn họ nói:

– Mấy ông cột ga rốt ngay coi như an toàn. Galang nhiều rắn lắm nhưng được cái tụi Indo trị rắn cắn và sốt rét rất tài. Cậu này đến nhà thương, bác sĩ nó chích cho một mũi là khoẻ ngay. Sống ở đây, mình chỉ ớn bị đau ruột dư thôi.

Người khác thì khe khẽ:

– Không phải rắn độc cắn đâu. Nếu đúng rắn độc cắn thì khác. Cái này tại quá sợ nên thằng chả mới vậy, tui nhìn biết mà.

Tiếng động cơ vọng đến và rồi ánh đèn pha xe hơi xuất hiện ở đầu bờ dốc, ông Thăng cùng các trật tự viên vội chạy ra đón. Chiếc xe trắng cùng huy hiệu Hồng Thập Tự liền ngừng, hai nhân viên y tế người Việt nhẩy xuống phụ sức với các thanh niên trong barrack dìu nạn nhân lên xe. Ông Thăng cắt một thanh niên khác đi theo xe trông chừng, thấy việc đã xong, các trật tự viên bảo chúng tôi tan hàng về lại barrark ngủ. Vừa tới cửa barrack, tôi gặp một bóng người đang đứng và khi lại gần thật không ngờ đó là Yến. Lúc nãy, tôi vẫn thấy nàng nằm tại chỗ bên cạnh Đào và Bẩy sao giờ lại có mặt ở đây. Thấy tôi, Yến ra dấu đứng lại rồi nàng nói chầm chậm thật rõ:

– Anh Vũ không được làm như vậy nữa với em.

Nàng lập lại thêm lần nữa trước khi bỏ vào barrack, để tôi đứng đó một mình trong sượng sùng lẫn mắc cỡ.

-Trời ơi! Đỉnh! Mày đâu rồi. Tôi than thầm.

Tôi đứng yên tại chỗ rồi từ từ ngồi bệt xuống đất, nghĩ  là phải chi có Đỉnh ở đây để nghe được lời Yến vừa nói thì hay biết bao! Và, chắc tôi sẽ mắng cho nó một trận cho hả. Ngồi đó nhưng lại sợ gió khuya lạnh sẽ làm tôi cảm nên phải quay về chỗ của mình. Yến đã nằm yên co quắp thân như con tôm, nhắm mắt như đã ngủ từ lâu. Nhẹ nhàng tôi nằm xuống, cố tránh đụng vào nàng. Tiếng Đỉnh thở nhè nhẹ đều đều, tôi đá nhẹ vào chân nó nhưng nó vẫn bất động. ” Không biết thằng này mày đã ngủ thật hay còn giả vờ “, tôi lầm thầm.

Một buổi sáng sớm cách hai ngày sau,  năm đứa chúng tôi theo anh chị Khảm-Phượng vào Galang 2 để mua đồ dùng cá nhân. Galang 1 cách Galang 2 độ 3 km và chỉ có một đường đi độc nhất. Nhiều khúc đường, cây rừng lẫn lau sậy hoặc cỏ chùm mọc lấn ra tận hai bên mép lộ. Chúng tôi đi ngang qua các barrack lợp lá của zone 2 rồi tiếp đến zone 1 nằm dọc theo bên đường. Barrack nào trông cũng cũ, bầy hầy vì chắp vá của người tị nạn ngay chỗ họ tá túc. Vài nơi bên cạnh đường là nguyên cả vườn rau cải chung với các giàn bầu, bí nằm xen lẫn với các nếp nhà nho nhỏ như chòi lá. Chị Phượng nói các căn nhà đó đều của người Việt vì khi ghe chị đến trại thì chỗ này vẫn còn là bãi rừng thưa. Biết phải tạm dung ở đây lâu và vì không thích sống chung đụng trong barrack chật hẹp nên một số người xin phép tụi phòng An ninh P3V ra đây trồng trọt rau trái bán kiếm thêm. Dọc đường, theo anh Khảm cho biết thì trong trại tị nạn Galang có 2 nhà thờ Công Giáo, 2 nhà thờ Tin Lành, 2 chùa Phật Giáo, 1 Thánh Thất Cao Đài, 1 tổ đình Hòa Hảo và 1 Trung Tâm Chơn Lý của một tín đồ Thông Thiên Học.

Vừa đổ xuống một con dốc thì chúng tôi băng ngang qua nghĩa địa của thuyền nhân nằm sát bên đường. Nghĩa địa cũng nằm trên một triền đồi thấp. Bậc thang xi măng dẫn lên lối vào có nguyên một tấm bia mầu trắng khắc chìm những hàng chữ sơn đỏ: … Dedicated to the people who died in the sea on the way to the freedom… Tưởng niệm đồng bào đã tử nạn trên đường vượt biển tìm tự do… đã làm tôi nhớ đến khu mộ địa người Việt khi ở trại trong rừng Mã Lai Á. Gần như chắc chắn là ở trại tị nạn người Việt nào cũng có người phải bỏ xác nằm lại, anh Khảm nói nghĩa địa Galang có tới mấy trăm ngôi mộ làm cả bọn nghe mà giật mình. Bị cái gì mà chết nhiều dữ vậy! Hết nghĩa địa thì gặp nhà thờ Tin Lành rồi quẹo vào một con đường phía tay phải, chúng tôi đi ngang qua văn phòng An ninh P3V. Phòng An ninh P3V là tên gọi của police địa phương lo chuyện trị an tại trại, anh Khảm giải thích. Tầng dưới của một barrack dành cho đám police ở gần đó để nguyên một căn dùng làm nơi nhốt người gọi là chuồng cọp. Có vài người ngồi sau song sắt chuồng cọp đưa cắp mắt buồn bã nhìn đám chúng tôi đi ngang.

– Họ là người Việt mình phải không chị và tại sao lại bị bắt nhốt vậy? Bẩy hỏi nhưng anh chị Khảm-Phượng chỉ gật đầu và hối cả bọn chúng tôi rảo bước chân nhanh hơn.

Đi hối hả cho đến khi gặp được nhà ở cùng hàng quán thì chị Phượng mới trả lời:

– Ban nãy anh chị hối mấy em đi cho lẹ vì sợ mấy người bị nhốt ở trỏng gọi mình giúp họ một việc gì đó. Nếu không giúp thì mình áy náy trong lòng mà giúp lại sợ bọn police cà khịa kiếm chuyện. Đám police ở đây có vài thằng nói tiếng Việt sõi lắm. Nghe nói tụi nó từng sống bên nước mình rồi khi đám Việt Cộng vào Sài Gòn thì hồi hương về lại Indonesia rồi được tuyển đến đây làm việc đó.

Chúng tôi đến một ngã ba đường, văn phòng ban Đại diện Galang 2 là một barrack hai tầng nằm ở bên phải. Barrack này có một phòng nhỏ ở tầng trệt mang tên PKL của một nhà thầu địa phương. Nhà thầu này nhận thư bảo đảm từ bưu điện bên đảo Tanjung Pinang rồi mang sang Galang phát lại cho người tị nạn Việt Nam và cả người Khmer nữa. Thường thì thư bảo đảm nào cũng đều có check hoặc money order kèm ở trong và vì vậy, PKL nhận đổi check hoặc money order sang Rupiat (tiền Indonesia) để kiếm lời. Hối suất cứ 100 Đô la Mỹ bằng 160.000 Rupiat. Còn thư thường thì lại do phòng TMS thuộc ban Đại diện người Việt nhận từ phòng An ninh P3V về và lập danh sách người nhận thư rồi thông báo cho đồng bào biết qua hệ thống loa truyền thanh giăng khắp nơi trong trại.

Trời tuy còn sớm mà quán nước nào trông cũng đầy nghẹt người ngồi bên nhau nói truyện bù khú, nhâm nhi ly cà phê nóng. Anh Khảm kéo chúng tôi vào một tiệm bên đường nói bọn mình ăn sáng rồi nghỉ một lát trong lúc chờ mấy chỗ bán vàng mở cửa. Được một chốc thì phòng Thông tin trại bắt đầu đọc các bản tin sinh hoạt buổi sáng và khi kết thúc, loa phóng thanh phát ra một điệu nhạc Mỹ. Vừa nghe đoạn nhạc đó thì anh Khảm liền nói: ” Ô! Hôm nay có chuyến định cư nè mấy em “. Thì ra, như một thông lệ, hễ trong trại có chuyến định cư thì phòng Thông tin đều phát thanh bài hát này. Không biết hôm nay sẽ có bao nhiêu người rời khỏi Galang đây? Họ quá may mắn. Lời hát nửa buồn nửa vui trôi lãng đãng trong điệu nhạc: … When will I see you again… When will we share precious moments… Will I have to wait forever… Or will I have to suffer and cry the whole night through… When will I see you again… When will our hearts beat together… Are we in love or just friends… Is this my beginning or is this the end… When will I see you again… Những người rời trại hôm nay đều đã đến Galang trước ngày Cao Ủy LHQ tuyên bố đóng cửa, không bị thanh lọc như đám chúng tôi bây giờ và sở dĩ họ còn kẹt lại là vì bị trục trặc giấy tờ hoặc phải uống cho xong thuốc trị bệnh lao.

Gần 10 giờ thì đám chúng tôi ghé vào một tiệm vàng nằm trong con phố chính của Galang 2. Mấy tiệm vàng ở đây ngoài chuyện mua đi bán lại thì họ còn làm kiểu như nhà thầu PKL là đổi ngoại tệ để kiếm lời. Tiền của quốc gia nào thì cũng được chủ tiệm nhận đổi sang Rupiat ngoại trừ tiền in hình lão già bên quê nhà. Trong các tủ kiếng của tiệm, ngoài dây chuyền, nhẫn, bông tai vàng còn thấy bầy cả tiền Canada, tiền Úc và tiền Franc nữa nhưng nhiều nhất vẫn là đô la Mỹ. Gần bên cửa sổ mở, một thợ bạc lớn tuổi đang dùng cây đèn khò thổi chảy lỏng các mẩu vàng vụn trong cái khuôn nhỏ.

– Ông này khéo tay lắm nha. Dây chuyền, cà rá bày bán ở đây là do một tay ổng làm ra. Chị Phượng thì thào.

Thấy đám chúng tôi, hai vợ chồng chủ tiệm cười thật tươi. Trước mắt thì 5 đứa chúng tôi đổi mỗi người 50 đô la Mỹ để có tiền trả lại cho chị Phượng cùng để mua sắm những thứ mà cả bọn cần dùng.

Có các dụng cụ mới mua, tôi và Đỉnh đã bỏ nguyên tuần lễ liền để sửa sang lại chỗ ở chung của cả bọn. Giống như những nhóm người khác trong barrack, chúng tôi đã làm chỗ ở như một cái phòng nhỏ và có cửa gắn bản lề cùng ổ khóa cẩn thận. Rồi đóng cái giường bằng ván gỗ to đùng cho cả bọn năm người ngủ chung trong một cái mùng thật rộng. Ở trại tị nạn thì việc nam nữ thuyền nhân trong các buổi đầu mới đến phải sống chung đụng trong một chỗ với nhau là chuyện bình thường. Tách ra sống riêng là chuyện về sau. Bây giờ, cả đám phân công là nấu ăn thì do ba cô gái lo, còn việc gánh nước từ suối về xài chung là nhiệm vụ của tôi và Đỉnh.

Chúng tôi đã trở thành ma cũ khi có thêm nhiều chiếc ghe khác đến được Galang. Trong trại tị nạn, ngày tháng rất dài vì dư thừa thời gian ở không mà không biết làm gì. Thời khóa biểu sinh hoạt hàng ngày giông giống nhau cứ buổi sáng sau khi thức dậy thì ra ngồi quán cà phê cho đến gần trưa mới về barrack kiếm cái ăn qua loa rồi ngủ. Chiều thức dậy, đi tắm rồi ăn tối sau đó lại mò ra quán cà phê ngồi tiếp cho đến khi gần giới nghiêm mới về lại barrack để ngủ. Biết anh Khảm dạy Anh ngữ, tôi khuyến khích Đỉnh và ba cô gái nên theo học nhưng lớp của anh lại mở ở tận ngoài Galang 2. Nghe ba cô gái than phải ra tận Galang 2 học quá xa, anh Khảm bảo anh sẽ hỏi một người bạn là chủ quán cà phê ở Galang 1 để anh mượn chỗ dạy Anh ngữ khi quán này vẫn chưa mở hàng vào lúc sáng sớm.

Một buổi tối có hẹn trước với anh chị Khảm-Phượng, đám chúng tôi đến quán cà phê có tên là Dạ Lý nằm ở trên một ngọn đồi thấp dọc theo con đường dẫn ra bãi biển. Bước vào quán, thấy anh chị Khảm-Phượng đã ngồi sẵn với một người lạ ở một bàn ngoài sân. Chúng tôi rụt rè ghé vào bàn thì anh Khảm liền giới thiệu với người lạ đó:

– Anh Luân! Đây là các em tôi vừa mới đến trại.

Ông tên Luân gật đầu chào đám chúng tôi và hỏi cả bọn uống thứ gì rồi ông bỏ đi vào bên trong. Thì ra ông ta là chủ quán cà phê này. Anh Khảm kể:

– Ông ấy gốc bác sĩ quân y VNCH và đã bị Việt Cộng bắt tù cải tạo gần 3 năm nhưng buộc phải làm việc cho chúng ở nhà thương Chợ Rẫy sau khi trả tự do. Ông vượt biên đến Galang trước ngày đóng cửa và lẽ ra phải đi định cư lâu rồi nhưng  bọn phòng An ninh P3V cố tình dìm hồ sơ vì chúng cần bác sĩ phục vụ ở trại.

Tôi nhìn chung quanh, quán Dạ Lý này bài trí khung cảnh khá đẹp, đèn mầu ở các chỗ khuất soi mờ mờ ảo ảo các bàn ghế lộ thiên chung với các chậu kiểng cùng các chùm lan rừng ở cạnh các lối đi. Đó là ở ngoài sân, còn bên trong là gian phòng nhỏ kê gọn 4 bộ bàn ghế hình vòng cung trước một TV khá lớn. Khách ngồi ở các bàn đó đang dõi mắt xem các đoạn tin thời sự địa phương. Vài tấm hình phong cảnh treo trên vách cùng các sợi kiểng trầu bà buông lõng thõng gần các cột nhà. Quán cà phê này là nơi mà anh Khảm sẽ mở lớp Anh ngữ vì bác sĩ Luân phải đi làm thiện nguyện ở nhà thương Galang 1 vào buổi sáng và ông ta chỉ mở bán vào giấc chiều cho tới khuya.

Trong tuần lễ này, tối nào thì năm đứa chúng tôi vẫn cùng anh chị Khảm-Phượng đến quán Dạ Lý ngồi uống nước, trò chuyện. Một buổi tối khi đang ngồi đồng ở cái bàn lộ thiên ngoài sân, trong lúc ba cô gái đang hỏi chuyện học Anh ngữ với anh Khảm thì có một cặp nam nữ vào quán và họ ngồi gần một bàn không xa chỗ chúng tôi. Chị Phượng kín đáo hất mắt về hai người họ để chúng tôi nhìn theo. Người đàn ông thì lớn tuổi, da hơi đen, thân hình chắc nịch, mặc áo ngắn tay in mầu loè loẹt. Cô gái đi cùng có vóc dáng nhỏ nhắn và mặc áo thun ngắn quần jean xanh. Mặt cô gái đẹp, tuổi cỡ thiếu niên và có mái tóc đen dài. ” Papa Phước và xe của lão đó mấy em “, chị Phượng nói nho nhỏ. Papa! Cái tiếng mà người tị nạn gọi các sĩ quan Indo ở trong trại. Sao ông papa này lại có tên Phước của Việt Nam? Biết chúng tôi thắc mắc, chị Phượng tiếp:

– Lão ta là sĩ quan thuộc bộ Nội vụ Indonesia  chuyên thanh lọc thuyền nhân mình, còn con nhỏ tên Hướng mới đến đảo trước ghe mấy em không lâu. Nó đi cùng với bà già ruột và đang chờ đến lượt làm hồ sơ sơ vấn đó.

Từ ngày vào trại, chúng tôi coi anh chị Khảm-Phượng là thổ công ở Galang, giờ nghe chị Phượng nói chuyện về lão papa nên 3 cô gái liền hỏi tới. Anh Khảm kể:

– Lão này rành tiếng mình lắm. Mấy em còn nhớ có lần đi ngang qua chuồng cọp của tụi phòng An ninh P3V, anh-chị đã nói trong đám police có đứa biết tiếng Việt không? Cái đám biết tiếng Việt đó nguyên đã từng sống bên nước mình từ nhỏ nên chuyện bọn họ rành tiếng nước mình cũng không lạ. Chỉ riêng lão papa này mới độc. Lão học tiếng Việt trong thời gian bị bọn Việt Cộng bắt bỏ tù, mà tù cải tạo nha mấy em.

Bị Việt Cộng bắt tù cải tạo! Chắc lão ta là sĩ quan hay viên chức của chính quyền  VNCH trước đây? Có lẽ! Vì đã có nhiều người gốc Tàu làm việc trong chính quyền nhưng nếu có thêm lão người gốc Indonesia này nữa thì thật lạ vì tôi biết người gốc Indonesia, Mã Lai Á, Phi Luật Tân hay Ấn Độ sống ở Việt Nam lâu đời nhưng chưa thấy có người nào cộng tác với chế độ cũ của miền Nam VN. Hầu hết họ được người Việt mình gọi bằng cái tên là dân Chà Và-Ma Ní, Ma Rốc-cốc ken… và họ sống bằng nghề buôn bán, cho vay tiền hoặc nuôi dê lấy sữa đem bán. Tôi và Đỉnh nhìn nhau, nói ra với anh Khảm điều suy đoán của mình nhưng anh lắc đầu, kể tiếp:

– Lão bị bắt khi đang công tác trong cái gọi là Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát trước ngày 30-4-1975 và khi đó lão ta đang là một sĩ quan của Indonesia.

 

Nói xong câu đó, anh Khảm ngồi thừ người im lặng rồi dường như thấy lời mình nói ra có thể gió sẽ mang đến… tai papa Phước cùng cô gái nên anh vội lấy ngón tay trỏ đưa lên miệng và kín đáo chỉ về chỗ hai người họ đang ngồi. Tôi và Đỉnh hiểu ý nên không dám hỏi nữa. Bác sĩ Luân sau khi mang thức uống cho papa Phước và cô gái xong đã ghé lại ngồi bên anh Khảm và cho anh biết lớp dạy Anh ngữ có thể khởi sự vào đầu tháng tới. Bác sĩ cũng tỏ ý sẵn sàng giúp 5 đứa chúng tôi nếu ai có chuyện gì cần khi phải đi khám bệnh hoặc muốn xin thuốc ở nhà thương. Nghe ông ta nói vậy, chúng tôi rất mừng vì biết mỗi ngày thì nhà thương chỉ phát ra 100 phiếu khám bệnh cho cả số người Việt ở Galang 1.

– Anh cứ tới dạy học từ 9 giờ đến 11 giờ trưa vì buổi sáng tôi đóng cửa quán đi làm cho đến lúc xế xế mới về và nếu cần bàn ghế thì anh cứ dùng thoải mái. Ông Luân bảo thêm lần chót với anh Khảm trước khi bỏ đi.

Như đã kể ở các phần trước, tại Galang ngoài chuyện lấy cắp vặt quần áo phơi ngoài dây, cắt trộm bầu bí trên giàn thì hầu như không có vụ nhập nha nên nhiều căn nhà và thậm chí ngay cả ở các tiệm, quán bán hàng dù cửa nẻo gia chủ chỉ khóa sơ sài nhưng vẫn yên ổn. Một đời sống tương đối an bình trong khung cảnh thiếu thốn làm tôi ngạc nhiên. Chưa biết sau này khung cảnh sống trong trại Galang sẽ ra sao nhưng hiện tại được như vậy cũng là điều đáng mừng trong một khối tập thể người Việt tứ xứ sống tập trung xô bồ ở đây. Ai cũng nghĩ nếu người nào mà làm bậy để police Indonesia bắt được thì sẽ ảnh hưởng đến hồ sơ định cư và chính nhờ vậy nên đã chùn tay đám người xấu. Quán cà phê của bác sĩ Luân cũng thế, ông bận làm việc tại nhà thương nên đành khóa trái bỏ mặc khi vắng nhà trong suốt buổi sáng. Không lo chuyện trộm cắp nhưng dẫu sao có anh Khảm đến mượn quán làm chỗ dạy học vẫn hơn là để không người trông coi nên ông Luân gật đầu liền. Có điều tuy ông Luân không nói nhưng anh Khảm cũng biết là phải có trách nhiệm đến sớm để dọn dẹp căn phòng chính của tiệm để có chỗ dạy học. Ly, tách, ấm trà… khách bỏ lại cùng vụn tàn thuốc vương vãi trên mặt bàn và sàn phòng đều phải được dọn dẹp thật nhanh rồi anh còn phải sắp xếp kê lại bàn ghế, đặt tấm bảng đen sao trông cho ra một cái lớp trước khi các học trò đến. Dạy xong buổi học rồi thì anh Khảm còn phải dọn dẹp, kê trả các bàn ghế vào chỗ cũ nữa. May cái ba cô gái cùng Đỉnh đã phụ giúp anh Khảm làm các việc này và đổi lại, anh sẽ dạy học miễn phí cho cả đám bốn người họ.

Lớp Anh ngữ của anh Khảm đã bắt đầu mở ở quán cà phê Dạ Lý trong các ngày thứ Hai, Tư và Sáu từ đầu tháng và anh chỉ dạy mỗi buổi từ 9:00 cho đến 10:30 là tan. Hồi còn bên quê nhà, tôi biết anh Khảm chưa lần nào dạy học vậy mà ở đây, vì việc mưu sinh khi tạm dung và chiều theo nhu cầu cần biết Anh ngữ của người tị nạn nên anh đã trở thành một teacher dễ dàng từ khả năng English của bản thân.

– Em biết đó, anh có làm thầy giáo bao giờ đâu vậy mà thử dạy Anh ngữ một thời gian ngắn thì lớp anh đã có khá đông người theo học. Chính cái thời gian tu nghiệp tại Mỹ đã khiến anh dạy đàm thoại dễ dàng và thực sự anh chỉ có khả năng đến thế thôi. Anh chỉ nói khái quát chút văn phạm nhưng chú ý nhiều về đàm thoại vậy mà người ta lại thích. Có lẽ, người theo học nơi lớp của anh chỉ mong sao trong thời gian ngắn thì họ có thể đàm thoại những câu ngăn ngắn là đủ. Anh Khảm thố lộ với riêng tôi.

Một buổi sáng ngày thứ Sáu, tôi theo chân ba cô gái cùng Đỉnh đến lớp Anh ngữ của anh Khảm xem cho biết. Cái phòng mà khách mỗi tối đến ngồi quán uống cà phê, xem TV giờ được anh Khảm dùng làm lớp dạy Anh ngữ trông cũng ổn. Bàn ghế được vần thêm từ ngoài sân vào mới đủ chỗ và anh chia lớp học thành từng nhóm ngồi riêng các bàn tùy theo trình độ từng người để họ vừa học vừa kèm cặp lẫn nhau. Người theo học trong lớp anh Khảm nếu gọi chung bằng hai chữ học trò thì thật ngại miệng vì ngoài những số tre trẻ như Đào, Bẩy hay Yến… thì có những người chỉ nhìn mặt không, cũng biết tuổi họ còn phải lớn hơn cả anh Khảm nữa. Coi như xí xóa chuyện xưng hô trong lớp học vì ai cũng hiểu đến được trại tị nạn thì chuyện phải lo trước mắt là chuyện thanh lọc rồi trang bị kiến thức để chuẩn bị bước vào sống trong một xã hội khác ở nước thứ ba nào đó và biết tiếng Anh là một trong những điều họ cần phải có. Mối quan hệ với nhau, nếu có thì khi chia tay đi định cư rồi cũng sẽ phôi pha theo thời gian. Anh Khảm cũng hiểu chuyện anh dạy họ học Anh ngữ như là việc người đã biết chỉ dẫn cho người chưa biết biết nên ai gọi anh bằng chữ thầy hay chỉ là anh, anh chẳng quan tâm.

Ở đảo tị nạn Galang qua tới tháng thứ hai thì phòng An ninh P3V gọi barrack chúng tôi đi chụp hình để làm thẻ ID tạm dung. Trừ con nít đi với cha mẹ thì tất cả người trong ghe đều có thẻ mang số thứ tự theo vần ABC. Ghe chúng tôi mang số CL 135 và là ghe thứ XX đến  đảo tị nạn Galang. Thời gian sống ở bên Mã Lai Á thì phòng An ninh P3V ở đây không tính đến. Họ chỉ tính khi ghe cập vào một chỗ nào đó như đảo hay cảng và tiếp xúc được với chính quyền địa phương Indonesia nước họ. Vì vậy, dù ghe 233 người đến Mã Lai Á sau nhưng vì họ cập vào cầu tàu Tanjung Pinang trước chúng tôi nên họ đã mang số thứ tự X. Cứ ghe nào đến trước thì Cao Ủy LHQ sẽ thanh lọc trước và như vậy, ghe 233 người sẽ nằm trong danh sách thanh lọc trước ghe CL 135 chúng tôi. Hàng số CL 135 in trên thẻ ID mang nghĩa là ghe khởi hành từ Cửu Long và chở tổng cộng 135 người. Ghe 233 người mang số VT 233 vì họ ra đi từ bãi biển Vũng Tàu. Cái thẻ ID của những người đến sau ngày Cao Ủy LHQ tuyên bố đóng cửa chỉ khác với thẻ của thuyền nhân đến trước ngày đó ở hàng chữ Asylum Seeker (người tìm nơi tạm trú) thay cho Refugee (người tị nạn). Có thẻ tạm dung rồi thì người trong ghe chúng tôi mới có thể viết thư gửi đi cho thân nhân và nhận thư đến trại. Dù là chiếc thẻ mỏng manh nhưng cầm nó trên tay, ai nấy trong barrack đều mừng vì đã qua được một khúc ngắn của đoạn đường tị nạn còn dài thăm thẳm trước mặt. Nhưng cũng có người khi thấy con số thứ tự trên thẻ đã than:

– Ghe mình mang số XX thì không biết đến khi nào mới gặp được Cao Ủy LHQ phỏng vấn đây. Trời hỡi!.

Ông Thăng và Tám Kiệt thì an ủi nói là đừng để ý đến thời gian thì sẽ thấy nó qua rất mau.

CSDPix2

Thẻ ID Tạm Dung của tác giả khi sống tại đảo tị nạn Galang.

Đỉnh và ba cô gái học Anh ngữ rất chăm, khi rảnh rỗi thì họ đều lấy bài ra học và có nhiều bữa vì lo làm bài tập để nộp nên đã bỏ hẳn chuyện đi ra quán ngồi bù khú như trước. Theo lời giới thiệu từ ba cô gái, trong barrack đã có thêm ít người đến học Anh ngữ của lớp anh Khảm. Khung cảnh trong barrack thật vui khi tai nghe tiếng hỏi thăm bài vở mới học được của nhau và chỉ duy nhất một người muốn cắp sách đi học Anh ngữ nhưng lại không thể. Đó là Thuận, tài công của ghe. Chàng ngư phủ trẻ tuổi này chỉ nói nhưng lại không thể đọc cũng như viết tiếng mẹ đẻ vì thời gian ở bên quê nhà, Thuận chỉ biết đến biển. Thật tội! Đành phải chờ Cao Ủy LHQ xây xong khu giáo dục cho người tạm dung thì khi đó Thuận mới có thể bắt đầu khởi sự việc học tiếng… Việt chung với các trẻ em trước rồi sau đó, anh chàng mới nghĩ đến chuyện học Anh ngữ tiếp theo.

Một buổi tối khi cùng anh Khảm vào quán cà phê Sài Gòn thì có một người đàn ông ngồi sẵn ở cái bàn lộ thiên gần bờ rào vẫy tay và cất tiếng gọi hai chúng tôi. Anh Khảm kéo tôi đến bàn của người đàn ông đó. Ông ta, nhìn mặt tôi đoán tuổi đã ngoài sáu mươi nhưng trông còn nhanh nhẹn như một thanh niên, có vẻ chịu chơi qua bộ dạng và y phục quần soọc ngắn với áo thun bó, đi giầy cùng vớ dài gần tới đầu gối chân. Da ông ta xạm đen, khuôn mặt khắc khổ, đầu hơi hói nhưng tóc lại để dài nên trông có vẻ kỳ quái. Ông ta mỉm cười, thân mật nói giọng miền Bắc với anh Khảm:

– Lúc này thế nào? Nghe nói anh mới mở thêm lớp ở chỗ anh Luân phải không? Dạy nhiều như vậy tiền sao tiêu hết? Tiếp máu cho anh em với chứ!

– Cũng vẫn như thường thôi, mở lớp mới chỗ anh Luân thì tôi lại bỏ mấy chỗ cũ trong  Galang 2. Dạy nhiều sao mà lết mà soạn bài được hả anh, còn phải giữ sức gìn sức khỏe nữa chứ. Anh Khảm trả lời.

Anh Khảm giới thiệu với tôi người đàn ông đó tên là Bửu, cùng binh chủng không quân với anh và sau đó cả hai người họ xoắn lấy nhau trò chuyện về các mẩu tin thời sự đang nghe trong trại. Tôi ngồi yên nhìn ra phía bên ngoài quán nơi người Việt kéo nhau đi lên đi xuống thành từng nhóm dạo mát. Chợt tôi thấy một người đàn ông khá lớn tuổi cùng đi với một cô gái trẻ tóc dài ngang lưng lướt qua trước mắt. Trông hai người họ có vẻ quen quen, dường như tôi đã gặp mặt ở lần nào đó. Người đàn ông miệng hút thuốc lá còn cô gái cầm một gói đồ trong tay như vừa từ một tiệm tạp hoá đi ra. Anh Khảm và ông Bửu cũng thấy hai người này khi cả hai bỏ dở câu chuyện đang nói. Đang cố lục lọi ký ức thì tôi nghe tiếng ông Bửu:

– Lúc vào thanh lọc anh gặp lão ta phải không?.

Anh Khảm gật đầu xác nhận rồi hỏi lại:

– Sao lão nói sõi tiếng Việt quá vậy hả anh Bửu?.

Ồ! Tôi đã nhận ra hai người họ rồi.  Papa Phước và cô gái tên Hướng đây mà.

– Anh biết tại sao lão lại nói tiếng Việt sõi như vậy không?  Ông Bửu trả lời rồi ngừng lại chốc lát để hớp một ngụm cà phê sữa nóng và kéo thêm một hơi thuốc lá trước khi kể tiếp sau làn khói trắng.

– Lão nói sõi tiếng Việt là vì đã từng ở Việt Nam khá lâu anh à. Đúng ra, lão bị Việt Cộng giam tới 7 năm trời đó anh. Chính vì đã bị tù lâu như vậy nên lão rất rành về dân mình, nước mình.

Bị Việt Cộng bỏ tù 7 năm trời! Tai tôi có nghe lầm không? Papa Phước là sĩ quan Indonesia  nhưng sao lại bị Việt Cộng bỏ tù? Nguyên do và sự việc đó xẩy ra khi nào? Giọng ông Bửu khàn khàn nói quá nhỏ so với tiếng ồn của dàn máy nhạc rền rĩ trong quán nước làm tôi phải kéo ghế ngồi sát lại để nghe cho rõ. Anh Khảm cũng ngồi im chờ nghe chuyện ông Bửu sắp kể.

– Tôi bắt đầu bằng cái gì về lão papa Phước này đây? Ông Bửu khẽ nhắm mắt như đang hồi tưởng lại câu chuyện và ngay sau đó ông mở mắt ra nhìn hai chúng tôi rồi kể bằng cái giọng đều đều:

– A! Chúng ta phải trở lại thời điểm của tháng Giêng năm 1973 khi mà hiệp định Ba Lê về ngưng chiến tại VNCH ra đời trước đã. Có một điều khoản hay chương gì đó trong bản hiệp định quy định phải thành lập ngay một ủy ban quốc tế nhằm kiểm soát và giám sát việc thi hành của các phía chính quyền liên quan. Hình như là Chương 6, nếu tôi nhớ không lầm. Có bốn  nước là đại diện cho cái ủy ban quốc tế nầy gồm hai nước thuộc phe Cộng Sản là Ba Lan, Hung Ga Ri và hai nước bên phe tự do là Canada, Indonesia. Lão papa Phước  này đã đến VNCH trong thời gian đó và tên thật của lão ta là Suriahdy chứ không phải cái tên Phước như người trong trại thường nghe gọi ở đây. Các anh còn nhớ các xe quân sự và máy bay trực thăng UH với những  vạch sơn mầu cam hoặc hàng chữ ICCS bên thân trong thời kỳ đó không?

Ông Bửu ngừng nói trong giây lát rồi không đợi chúng tôi trả lời câu hỏi mà lại kể ngay:

– Đó… đó! Ký hiệu dành riêng cho các xe quân sự, máy bay UH mà cái ủy ban quốc tế này sử dụng trong các chuyến đi kiểm tra cùng giám sát việc thi hành các điều của bản hiệp định. Họ sơn các vạch mầu cốt để phân biệt với xe hơi thường cùng máy bay dân sự của chính quyền VNCH. Ông hắng giọng, nói liền một hơi: ” Theo lời kể của lão papa Phước thì một trực thăng UH chở toán nhân viên ICCS trong chuyến bay con thoi từ thủ đô Sài Gòn đến thành phố Lộc Ninh công tác đã bị trục trặc máy móc và phải đáp khẩn cấp xuống một cánh rừng. Lộc Ninh, chỗ này trước đây thuộc tỉnh Bình Long và rất gần biên giới Việt Nam-Campuchia, thì đã thành thủ đô của đám Việt Cộng sau khi chúng chiếm được vào năm 1972. Máy bay vừa đáp xuống đất thì đám Việt Cộng trong rừng xồ ra bắt hết cả từ phi công cho đến các nhân viên trong đoàn công tác. Lão Phước là nhân viên của phái đoàn Indonesia trong chiếc trực thăng đó. Khi còn ở bên Indonesia thì lão đã biết bập bẹ chút tiếng Việt nên mới được chính quyền Jakarta tuyển làm nhân viên cho phái đoàn nhưng có ngờ đâu đó cũng là nguyên do khiến lão bị Việt Cộng bắt tù oan uổng. Khi đám Việt Cộng xuất hiện, ỷ mình là nhân viên của Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát nên lão đã xổ tiếng Việt phản kháng với bọn khỉ. Đoàn nhân viên ICCS bị áp giải vô rừng được vài ngày thì Việt Cộng phải trả tự do cho toàn bộ người đi trong chiếc trực thăng nhưng chỉ giữ lại riêng mình lão. Bọn Việt Cộng khăng khăng quả quyết lão ta là sĩ quan VNCH giả dạng nhân viên Indonesia để hoạt động gián điệp. Dù hết hơi thanh minh bằng tiếng Việt rồi cả với tiếng Bahasa *  nhưng bọn Việt Cộng vẫn không tin lời lão nói. Chúng đã tống lão vô tuốt hậu cứ nằm sâu trong rừng rồi sau đó, chuyển lão ra ngoài miền Bắc luôn “.

– Chuyện kỳ vậy! Bộ phái đoàn Indonesia không biết Việt Cộng bắt lầm người của họ sao? Họ có phản kháng không? Anh Khảm nóng nẩy hỏi:

* Bahasa (ngôn ngữ Indonesia).
– Chắc chắn phải có chứ anh!
Ông Bửu chậm rãi tiếp:

– Tôi cũng hỏi lão Phước câu nầy. Ừ… ừm, ông Bửu hắng giọng lấy hơi: ” Lão kể sau khi được bọn Việt Cộng trao trả tự do, về tới thủ đô Jakarta rồi thì mới biết rõ mọi chuyện. Đó là khi đám nhân viên quốc tế trong chiếc trực thăng UH được bọn Việt Cộng thả về Sài Gòn, phái đoàn Indonesia không thấy mặt lão, đã phản kháng ngay với đám Việt Cộng ở trại Davis trú đóng trong phi trường Tân Sơn Nhứt về vụ bắt giữ phi pháp nhân viên họ. Lúc đầu, bọn Việt Cộng đại diện trong trại Davis chối biến, nói là không có lão trong chuyến bay đó rồi thấy phái đoàn Indonesia làm dữ thì liền đánh bài vờ, hứa sẽ cho điều tra các đơn vị  bộ đội-du kích đóng quân trong vùng và trả lời sau. Thế rồi các chuyển biến của thời cuộc VNCH đến quá nhanh trước các vi phạm của bọn Việt Cộng cũng như sự làm ngơ đồng loã của 2 thành viên phái đoàn Ba Lan, Hung Ga Ri nên đã vô hiệu hóa công việc của Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát và họ phải giải tán vào ngày 30-4-1975. Thế giới lưu tâm đến các việc mới và rồi ngay cả chính phủ Indonesia cũng… quên luôn chuyện mất tích của lão Phước. Thế mới đau! Lão ta thực sự thành một tù nhân gián điệp của VNCH với cái tên Phước là do chúng gán cho “.

– Trời! Thật không ngờ. Tiếng anh Khảm đột ngột thốt ra cắt lời kể của ông Bửu.

– Bị tù y như các sĩ quan VNCH khác sau ngày phe Việt Cộng chiếm được thủ đô Sài Gòn, lão Phước bị chuyển qua nhiều trại giam cho đến khi tình cờ kết bạn được với một thẩm sát viên cảnh sát chế độ cũ trong nhà tù. Rồi viên cảnh sát được thả tù và sau đó, ông ta liền vội gửi ngay một lá thư cho tòa đại sứ Indonesia ở Hà Nội biết về câu chuyện của lão Phước. Toà đại sứ Indonesia nhận được thư, liền báo tin cho bộ Ngoại giao nước họ biết và rồi sau các trao đổi giữa hai quốc gia, chuyện ngồi tù của lão papa coi như kết thúc. Xe của bộ Nội vụ Việt Cộng đến tận trại giam đó, gọi lão ra, rồi chở lão về lại Hà Nội để gặp mặt các nhân viên tòa đại sứ Indo trước khi đáp máy bay hồi cố quốc.

Kể đến đây, ông Bửu im bặt rồi đảo mắt nhìn chăm chú khá lâu ở phía bên ngoài quán, thấy vậy, tôi cùng anh Khảm liền nhìn theo và kìa, papa Phước cùng cô gái trẻ tóc dài ngang lưng đang rảo qua trước mắt. Họ đi ngược với chiều đường ban nãy, chắc cả hai vừa ghé vào đâu đó rồi bây giờ quay về. Papa Phước và cô gái tay trong tay bên nhau, vừa đi vừa trò chuyện trông rất tình dù tuổi tác cả hai thật chênh lệch. Ông Bửu quay lại nhìn hai chúng tôi, khẽ cười mỉm rồi hỏi:

– Không biết lúc nằm trong trại giam Việt Cộng, có khi nào lão ta nghĩ ngày nào đó sẽ vớ được một em bé xinh như mộng, thơm như mít này không? Đã thế, nay lão lại vừa có quyền vừa có chức nữa chứ! Thật tình! Cuộc đời không ai có thể ngờ trước được.

Dứt câu, ông Bửu châm thuốc lá hút, ngả dựa lưng vào thành ghế và ngước mặt nhìn lên bầu trời. Tôi và anh Khảm nhìn nhau, mỗi người theo đuổi các ý nghĩ riêng trong đầu về câu chuyện của lão papa Phước vừa mới nghe được. Đột nhiên anh Khảm lên tiếng:

– Anh nói sao chứ tôi thấy không lẽ cả một thời gian dài như vậy mà Jakarta lại để yên. Anh kể hồi Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát còn hoạt động thì phái đoàn Indonesia  họ cũng đã phản kháng mà…

Nhưng anh chưa nói dứt câu thì ông Bửu đã khoát tay ra cử chỉ chận lại không cho tiếp nữa rồi ông ta ngồi thẳng dậy, nhìn hai chúng tôi và nói:

– Thật ra chuyện papa Phước kể nó không ngắn ngủi như vậy. Khi vừa gặp mặt các viên chức trong tòa Đại sứ Indonesia ở Hà Nội thì lão ta đã nộ khí xung thiên làm dữ vì nghĩ họ đã không chịu dùng quyền ngoại giao để can thiệp và kéo lão ra khỏi trại giam. Phải ở trong tình cảnh bị giam giữ vô cớ lâu năm, ta mới thấu nỗi niềm khi lão nổi cơn giận dỗi đó. Nhưng thật không ngờ, các viên chức trong tòa đại sứ không ai biết chút mảy may gì về chuyện lão bị Việt Cộng bắt giữ trong ngần ấy năm trời nếu như không có lá thư do viên sĩ quan cảnh sát thông báo. Khi lê tấm thân về được thủ đô Jakarta, papa Phước quyết tìm cho ra lẽ tại sao chính phủ Indonesisa  lại bỏ mặc lão trong trại giam Việt Cộng. Lão đã tìm đến bộ Quốc phòng rồi cả bộ Ngoại giao để gặp mặt những người liên can và lục xem các phúc trình cùng tài liệu thì lão mới biết được sự thật trong câu chuyện bản thân đã bị Việt Cộng bắt giam năm xưa. Thì ra phái đoàn Indonesia trong Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát  cũng như chính quyền Jakarta đã gặp một bối rối trong việc phản kháng với phe Việt Cộng về chuyện bắt giữ phi pháp lão papa.

– Sao kỳ vậy! Nhân viên của mình trong nhiệm vụ được cộng đồng quốc tế ủy thác kiểm sát và giám sát việc thi hành hiệp định lại bị Việt Cộng bắt giam phi pháp, rõ ràng chính phe Việt Cộng đã vi phạm hiệp định ngay cả với nhân viên của phái đoàn quốc tế. Phản kháng là chuyện đương nhiên mà sao họ lại bối rối? Anh Khảm hỏi lại.

– Ậy! Vậy mới có chuyện. Ông Bửu ngừng kể để vất bỏ mẩu tàn thuốc lá và mồi ngay một điếu mới thay thế.

Nhìn ông Bửu rít thuốc rồi thả khói thành một vòng tròn thật đẹp, tôi thầm nghĩ ông ta đã khá lớn tuổi nhưng nếu cứ cái kiểu hút thuốc liên tục như vầy thì sẽ làm hại đến sức khỏe không ít. Ông có lo lắng đến điều đó không hay biết mà không thể bỏ thuốc lá được?

Ông Bửu quay lại nhìn anh Khảm và tiếp:

– Bọn Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam tức cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng gì gì đó… tuy hai nhưng thực sự chúng là một. Cái này, người Việt mình đến đứa con nít cũng biết nhưng với cộng đồng thế giới thì lại khác. Một thời gian dài trước đây, cộng đồng thế giới cứ nghĩ Cộng Sản Bắc Việt và bọn Mặt Trận Giải Phóng là hai thực thể chính trị không hề có can hệ gì với nhau. Họ bị lừa… bị lừa dài dài như vậy chỉ cho đến vài năm sau ngày phe Việt Cộng bức tử VNCH thì mới tỉnh ngộ nhưng lúc đó thì cục diện đã rồi. Phái đoàn Indonesia năm đó cũng thế, dù đã phản kháng với các gã đại diện phe Việt Cộng là Hoàng Anh Tuấn và Võ Đông Giang tại các buổi họp ở trại Davis nhưng họ lại không rõ thực sự phe nào của Việt Cộng đã bắt giữ lão papa Phước. Cộng Sản Bắc Việt hay Việt Cộng miền Nam? Khi nghe phái đoàn Indonesia phản kháng chuyện bắt giữ phi pháp nhân viên mình trong các buổi họp thì phe Việt Cộng nào cũng lẩn tránh trách nhiệm, đánh bài vờ làm như không phải do binh lính thuộc quyền đã hành động. Papa Phước bị mất tích trong vùng lãnh thổ thuộc VNCH nên phái đoàn Indo không thể ra kháng thư với Cộng Sản Bắc Việt được dù chính phủ nước họ đã có quan hệ ngoại giao cấp đại sứ từ năm 1964. Sự việc cứ dậm chân tại chỗ cho đến khi chính quyền VNCH bị bức tử trong ngày 30-4-1975. Thời điểm tiếp theo thì Jakarta vẫn chưa thể phản kháng theo thông lệ quốc tế vì họ vẫn chưa có mối quan hệ ngoại giao với cái gọi là chính phủ Cộng Hòa miền Nam Việt Nam khi đó. Anh biết cái bọn gọi là chính phủ Cộng Hòa miền Nam Việt Nam chỉ được có số ít các nước trong khối Cộng Sản quốc tế thừa nhận thôi và thực sự thì Jakarta không thèm biết đến bọn này. Rồi, cái chính phủ Việt Cộng miền Nam đó lại biến mất ngay sau thời gian cầm quyền ngắn ngủi vì bọn đầu lãnh Hà Nội thấy không còn cần đến bọn tay sai này để làm bình phong che mắt thiên hạ như trước nữa. Chúng dẹp bỏ, cho về vườn cả đám này luôn. Trong nước Việt, không ai lạ chuyện hạ màn đột ngột này nhưng thế giới vẫn còn trong màn hỏa mù. Họ không hiểu và chính quyền Jakarta cũng vậy khi tự đặt câu hỏi chủ nhân thật sự của nước Việt Nam là ai? Chính phủ Indonesia bối rối và có lúc họ cũng đã tin về một phúc trình cho rằng papa Phước không có mặt trong chuyến trực thăng UH năm đó nên đành xếp hồ sơ của lão papa lại cho đến khi có tin báo về từ tòa đại sứ nước họ ở Hà Nội.

– Kể ra cha papa Phước tốt số đã gặp được người bạn tù có tình chứ nếu không có lá thư báo tin thì tòa đại sứ Indonesia làm sao biết mà can thiệp. Anh Khảm chen vào.

– Đúng! Papa Phước nói với tôi rằng suốt đời lão không bao giờ quên người bạn tù đó và rất mong có ngày sẽ gặp lại. Ông Bửu trả lời.

– Ồ! Không biết lão ta có bị bọn Việt Cộng bắt làm… tự khai hay bản kiểm điểm nhận tội như cánh sĩ quan VNCH mình không anh? Anh Khảm thắc mắc.

– Không hề! Khác hẳn với các tù binh VNCH mình.

Ông Bửu lắc đầu, trả lời cộc lốc rồi sau đó tiếp:

– Như vậy, rõ ràng bọn Việt Cộng biết lão Phước là nhân viên Indonesia tuy lão kể ở những buổi đầu tiên, bọn Việt Cộng khăng khăng cho lão thuộc sắc dân Chàm hay người Việt gốc Khmer mà thực sự mình nhìn vẻ bề ngoài thì lão trông cũng giông giống thật. Mà này! Không thể ngờ chuyện của lão papa đã xảy ra phải không các anh? Ngay tôi, nếu không được nghe chính miệng lão Phước kể ra thì cũng chẳng tin. Lão hỏi tôi tại sao phái đoàn Indonesia đã phản kháng rồi phe Việt Cộng cũng biết nhân thân thực của lão mà sao họ vẫn không thả tự do? Thời điểm đó, phái đoàn Indonesia trong cung cách ngoại giao thì vẫn cho việc cầm giữ papa Phước là một sự hiểu lầm và nghĩ cách giải quyết sự vụ rất đơn giản nhưng phe Việt Cộng vẫn không làm. Theo anh, anh trả lời thế nào?

– Tụi nó nghi là bắt, lỡ bắt rồi biết lầm nhưng không thả… Có bao giờ bọn Việt Cộng nhận trách nhiệm chúng làm đâu. Với lại, tôi lấy kinh nghiệm lúc ở tù cải tạo, cứ tay sĩ quan nào càng phản kháng thì bọn quản giáo càng đì anh đó dữ tợn luôn. Bị chúng đục sặc máu, biệt giam vào connect, giảm bớt phần ăn hàng ngày… là chuyện thường. Cứ bướng, cứ phản kháng đi! Có là sắt thì bọn tao cũng làm cho tiêu tan để biết thế nào là lễ độ. Anh Khảm lập cập đáp.

 

– Đúng! Nhưng không đơn giản như anh nghĩ vậy đâu. Ông Bửu cười khùng khục, rũ cả người ra và còn lấy tay lay vào đùi anh Khảm nữa rồi tiếp: ” Cộng Sản Bắc Việt hay Việt Cộng miền Nam thì tên nào khi làm cái gì cũng sa sả cái mồm là vì nước vì nhân dân mà thực ra chỉ vì đảng vì bác hoặc vì các toan tính điên cuồng của chúng thôi. Trong chuyện của lão papa Phước, nếu đúng thật lão là gián điệp VNCH giả dạng nhân viên phái đoàn Indonesia để hoạt động thì khi bắt được, thằng Việt Cộng nào cũng to họng để tranh công nhưng khi biết đã bắt lầm nhân viên phái đoàn quốc tế rồi thì thằng  nào thằng nấy đều lẩn tránh trách nhiệm và đó cũng là cái may cho lão Phước. Không nhận trách nhiệm đã gây ra, cả hai phe Cộng Sản Bắc Việt lẫn Việt Cộng miền Nam đã cố tình để mặc lão sống trong tù, coi như không có lão trên đời. Chúng nghĩ rồi thời gian sẽ giết lão nhanh chóng và như thế là xong của nợ. Tôi thấy bản thân mình và ngay cả như hai anh mà bị Việt Cộng bắt giam trong tình cảnh của lão papa Phước thì sẽ phát điên là cái chắc ” .

– Đúng! Mà do ở tù lâu như vậy, nên chi lão papa nói tiếng Việt sõi quá. Anh Khảm gục gặc cái đầu, thừa nhận.

– Thì vậy! Anh biết là người mình mỗi khi vào thanh lọc gặp được papa Phước thì đâu có cần phải có mặt cha Ô Ma hay thằng Sari Mun,  cô Lan thông dịch cho đâu. Lão phỏng vấn thẳng bằng tiếng Việt. Mà  này, tôi có nhận xét là papa Phước hình như có vẻ thiện cảm với người vượt biên mình nhất là với những ai từng bị Việt Cộng bỏ tù cải tạo. Tôi nhớ anh nói đã gặp lão ta hôm thanh lọc phải không? Vậy hồ sơ anh ngon rồi, hy vọng tràn trề. Ông Bửu mỉm cười sau câu nói.

– Anh biết lúc tôi vào gặp lão papa như thế nào không?

Anh Khảm nói với ông Bửu nhưng đảo mắt nhìn sang cả phía tôi rồi tiếp lời:

– Cứ nghĩ lão sẽ hỏi mình các chuyện hồi còn ở trong tù cải tạo như bị quản giáo bắt lao động ra sao? Phải nộp bao nhiêu cây tre mỗi ngày? Hoặc lão sẽ hỏi về chuyện ăn uống, thuốc men… như mình đã nghĩ đã chuẩn bị trước câu trả lời trong đầu. Ngờ đâu, chẳng hề có như vậy. Khi đám thiện nguyện viên trật tự gọi tên rồi dắt vào phòng thì đã thấy lão papa ngồi sẵn tại bàn đang đọc bản khai của tôi. Lão xem tới xem lui các trang giấy khá lâu rồi đưa mắt nhìn tôi và bảo cứ tự thân kể chuyện bị tù cải tạo ra cho lão nghe. Lúc đó, tôi rất ngạc nhiên vì không ngờ lão ta nói rất sõi tiếng Việt, y như người mình. Tôi từ từ kể lại những giai đoạn bị tù cải tạo và lão ngồi yên lặng, đôi lúc gật gù đầu. Cuối buổi thanh lọc thì lão papa chỉ nói tôi phải giữ gìn sức khoẻ khi sống ở đây đã làm tôi mỗi lần nhớ lại mà vẫn có lúc lo lắng vì thái độ của lão. Nay được nghe anh kể chuyện về lão papa, tự dưng đã làm làm tôi bớt lo.

Ông Bửu đột nhiên nhìn chằm chằm vào tôi và anh Khảm rồi nói:

– Thực ra bọn Việt Cộng ngoài việc tránh né trách nhiệm khi lỡ tay bắt lầm lão Phước thì còn một lý do khiến chúng đã không thủ tiêu lão cho xong chuyện, các anh biết tại sao không?.

Anh Khảm, tuy là một quân nhân VNCH nhưng khi nghe câu ông Bửu hỏi mà vẫn bí nên đành ngồi thừ tại chỗ. Còn tôi, tất cả lời ông Bửu đã kể liên quan đến chuyện về papa Phước như bản Hiệp Định Ba Lê, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát rồi trại Davis… đều lạ lẫm vì trong thời điểm quá khứ đó, tôi chỉ là một thiếu niên nào biết gì khác ngoài việc học hành. Tôi luống cuống và đành giương mắt ếch ngồi yên chờ nghe. Thấy hai chúng tôi im lặng, ông Bửu cười thỏa mãn rồi tiếp:

– Bọn Việt Cộng, nhất là cái đám đầu lãnh ở Hà Nội thì đều một lũ kiêu căng, ngạo mạn dù thực lực của chúng cũng chỉ dựa vào bọn Cộng Sản đàn anh là Nga Xô và Trung  Cộng. Tuy thế, trí não chúng vẫn coi các nước lân bang như Mã Lai Á, Thái Lan, Nam Dương… chẳng ra cái thớ gì. Chúng có cái tham vọng là sẽ thôn tính toàn thể khu vực Đông Nam Á trong chiến lược nhuộm đỏ toàn cầu của khối Cộng Sản quốc tế. Giấc mơ Liên Bang Đông Dương dưới quyền cai quản của Cộng Sản Hà Nội là một ví dụ. Rêu rao nói các nước phương Tây và Mỹ là bọn đế quốc nhưng bọn Cộng Sản lại có tham vọng trở thành đế quốc. Bọn Việt Cộng nước mình cũng thế. Sau ngày chiếm được VNCH thì đám đầu lãnh ở Hà Nội cho là đã đánh bại được Hoa Kỳ và tự chúng xếp hạng đứng hàng thứ 3 trên thế giới chỉ có sau Nga Xô và Trung Cộng. Vì coi thường các nước lân bang nên chúng đã bỏ mặc các phản kháng của phái đoàn Indo trong Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát cũng như không thèm ngó tới số phận của papa Phước và đó là điều may cho lão. Nhờ vậy mà papa Phước đã không bị chúng thủ tiêu ngay và rồi như một cái cây mọc ở chỗ còi cọc, lão ta trụ được trong nhà giam, lại may mắn gặp được người bạn tù có lòng.

Thật vậy, nếu không nhờ lá thư của viên sĩ quan cảnh sát báo tin thì rồi về lâu về dài, papa Phước cũng sẽ chết rũ tù và chắc đó là lý do khiến lão có mối thiện cảm với người Việt vượt biên. Chợt anh Khảm bực tức, nói:

– Thiện cảm với người Việt mà lão lại đi cặp bồ với đứa con gái đáng tuổi cháu như anh vừa thấy đó. Phải chi lão cặp với dân Indo thì không nói làm gì, đằng này lại với dân tị nạn người Việt mình. Khác gì hành động… trả thù dân tộc.

– Gái Indo bản xứ thì có đứa nào thèm lão, chỉ dân Việt mình thôi. Nhưng ở đâu cũng vậy, thiên hạ hễ gặp ông già đi với gái trẻ lại nhiếc móc nói lớn tuổi còn bày trò… chơi trống bỏi mà đâu biết ông già đó phải có cái gì khiến cho gái trẻ lao đầu vào. Đây cũng thế, con bé vừa rồi phải biết papa Phước có quyền đảo ngược quyết định bên phía sơ vấn Cao Ủy LHQ nên tự nó chủ động bắt bồ trước với lão ta đấy. Ông Bửu trả lời chung với vẻ mặt nhấm nhẳn.

Đảo ngược quyết định bên phía Cao Ủy LHQ, điều ông Bửu nói ra nó có nghĩa một hồ sơ thuyền nhân nào đó mà bị Cao Ủy LHQ bác bỏ tư cách tị nạn thì bên phía nước chủ nhà lại có thể đảo ngược quyết định đó. Đó là quyền của nước chủ nhà dành cho thuyền nhân tạm dung. Khi đảo ngược quyết định, thuyền nhân đó sẽ thành người tị nạn, thơ thới chờ ngày đi định cư nước thứ 3 và không còn mối lo bị cưỡng bức hồi hương về lại quê nhà nữa. Kể ra, cô gái tóc dài tên Hướng đó cũng lém lỉnh chẳng vừa, tôi nói ra điều mình vừa nghĩ thì ông Bửu cười nhạt, trả lời:

– Con bé làm gì mà biết nhìn người, tất cả dàn dựng đều một tay của bà mẹ thôi.

Nói đến đây chợt ông Bửu đột ngột đứng dậy, thái độ hoảng hốt:

– Chết! Tôi phải gặp ông Thụy bên workshop để nhờ ngày mai chở hộ cái xe máy ra ngoài Galang 2 xem coi nó bị hỏng hóc cái gì mà chiều nay, đạp xe hoài vẫn không nổ. Không biết giờ này thì ông ấy còn thức hay đã ngủ rồi? Thôi! Hai anh ngồi lại, về sau nha.

Chờ ông Bửu đi khuất tôi thắc mắc hỏi anh Khảm:

– Ông này làm cái gì ở trong trại mà có xe máy ngon vậy và sao ông ta lại có dịp được papa Phước kể chuyện đời cho nghe hả anh?

Anh Khảm liền đáp:

– Ồ! Quên chưa cho em biết về ông Bửu… ông ta là thông dịch viên cả bên sơ vấn Cao Ủy LHQ lẫn bên thanh lọc Indonesia đó em. Ông là người Việt duy nhất trong trại được phòng An ninh P3V cấp riêng cho một xe gắn máy đó.

Rồi anh Khảm cho biết thêm là ông Bửu gốc người Bắc di cư năm 1954 và đã vài lần đi tu nghiệp tại Mỹ từ những năm đầu trong thập niên 1960. Tuy đến đảo tị nạn Galang cuối năm ngoái nhưng nhờ thông thạo Anh ngữ nên ông đã được Cao Ủy LHQ  tuyển dụng vào làm việc. Dù phòng thanh lọc Indonesia  cùng Cao Ủy LHQ chưa thông báo kết quả thanh lọc thuyền nhân nhưng ai trong trại cũng kháo nhau là ông Bửu chắc chắn sẽ đoạt giấy tị nạn vì thực sự, Cao Ủy LHQ hay chính quyền Indo chẳng thiệt gì khi làm như vậy. Nếu ông không giúp việc thông dịch thì Cao Ủy LHQ sẽ phải tuyển người Việt từ hải ngoại về và phải tốn thêm tiền trả lương. Gần kề với các luật sư Cao Ủy LHQ cùng sĩ quan thanh lọc Indonesia  nên, ông Bửu biết rất nhiều chuyện đã xẩy ra trên đảo và thường kể lại cho anh Khảm nghe.

Chợt anh Khảm nhìn tôi, khẽ hỏi:

– Ban nãy em để ý thấy ông ta có vẻ bực bội khi nói về chuyện bồ nhí của papa Phước không? Thấy tôi lắc đầu, anh Khảm cười cười, tiếp:

– Ông Bửu nói vậy vì hiện thời ông đang cặp bồ với một cô gái trẻ mà tuổi thì cũng trạc cỡ con ông ta đó em.

– Trời! Có chuyện đó sao.

Tôi nói khẽ rồi hỏi lại anh Khảm:

– Tuổi trạc cỡ con ông ta… mà… cô ấy có đẹp gái không anh, tên gì vậy?.

Anh Khảm nhìn tôi mỉm cười, khẽ gật đầu rồi nói:

– Cô ta tên là Hòa, thỉnh thoảng thì vẫn ngồi chung trên xế nổ lượn phố ngoài Galang 2 hoặc sát nút đi với lão Bửu trong mấy hàng quán ở đây nè. Ai cũng thấy rõ hai người họ cặp kè với nhau nhưng lão ta thì cứ chối đây đẩy.

Anh Khảm đã dùng chữ lão để gọi ông Bửu và rồi anh cho biết thêm ngoài papa Phước thì hầu như bất kỳ một nhân viên Indonesia  nào làm việc trong trại cũng đều bắt bồ với người Việt. Mức độ thân mật thì có người ra mặt công khai kè kè đi bên nhau, người thì vẫn cái màn lén lén lút lút, không muốn ai biết rõ. Rồi anh tiếp:

– Cái phong hóa của nước mình cứ cho đàn bà-con gái mà lấy người ngoại quốc thì đều xuất thân từ một gia đình không ra gì. Khách quan mà nói ngoài tình cảm ra thì chuyện nam nữ đến với nhau sau tận cùng cũng vì tình dục và đây là bản năng của giống loài. Thượng Đế khiến vậy để giống người mới tiếp nối sinh tồn được. Nam nữ như thỏi nam châm khác chiều mà đặc biệt, việc dị chủng lại cuốn hút nhau dữ lắm Vũ. Đừng nhìn papa Phước là một người Indonesia  mà giả dụ lão ta là một người Việt đi… thì chuyện một người đàn ông khỏe mạnh và có chức có quyền sẽ cuốn hút đám đàn bà-con gái như thể nào. Khi bỏ nước vượt biên, đâu phải ai cũng có người thân thuộc bên cạnh rồi sống một mình trong hoàn cảnh thiếu thốn vật chất cùng không gian hạn hẹp của trại tị nạn nên họ mới dễ dàng… tìm đến với nhau để mà sống, để mà tồn tại trong quãng thời gian dài tạm dung xứ người. Người mình đã vậy, đám nhân viên Indonesia làm việc ở đây có mấy ai mang theo gia đình. Nếu gần gần, nhà họ cũng nằm đâu đó bên đảo Tanjung Pinang, còn ở xa như papa Phước thì tuốt Jakarta lận.

Dứt câu, anh Khảm ngồi yên hút thuốc rồi thừ người trên ghế như suy nghĩ về một mối gút mắc trong lòng. Thái độ của anh Khảm giống hệt như ở lần đã phân trần về việc sống chung với chị Phượng khi hỏi thăm tôi về chuyện vợ con anh còn bên quê nhà. Lần đó, tôi đã hỏi sao anh không cu ky một mình cho khỏe mà còn đèo bòng thêm chị Phượng làm gì để giờ phải than van, kêu khổ. Anh nói cố tránh nhưng thoát không được rồi đổ thừa vì hoàn cảnh đã khiến anh và chị Phượng cứ gặp mặt thường xuyên mãi nhất là trong những lần hai người họ bên nhau. Tránh không được thì đành phải đến với nhau cho xong chuyện. Bộc bạch tâm sự riêng của mình, anh Khảm không dùng chữ cặp bồ khi nói về quan hệ giữa anh và chị Phượng mà lại nói tránh đi bằng ba tiếng ” đến với nhau “. Tôi buột cười vì nói theo kiểu anh Khảm thì tôi và Yến hiện cũng đang… đến với nhau nếu kể từ sự tình cờ khởi đầu trong cái khoang hầm chật hẹp của ghe vượt biên rồi ra vào đụng mặt nhau hàng ngày khi sống tận bên Mã Lai Á cho đến bây giờ. Mới tháng trước, cả đoàn người trong barrack đi Galang 2 làm thẻ ID tạm dung và khi xong việc thì trời đã quá trưa, năm đứa chúng tôi kéo nhau đi ăn ở một quán sau đó lại ghé vào một tiệm cà phê để tránh cơn nắng gắt. Rồi hai cô Đào, Bẩy và thằng Đỉnh phải quay trở về Galang 1 ngay vì buổi tối cùng ngày thì ba người họ có cái hẹn đi chùa Quan Âm với những đồng đạo mới quen trong zone. Ngồi tiếp lại trong quán cho đến lúc thấy trời đã dịu nắng, tôi đã nói với Yến:

– Em chịu khó về một mình nha, anh đi đằng này chút xíu để mượn ít tờ báo về xem chứ ngồi không cả ngày ở barrack buồn lắm.

– Không! Em muốn đi với anh rồi cùng về luôn. Yến trả lời.

Tôi định bụng khi gần tối thì sẽ về lại Galang 1 nhưng một hai Yến nói muốn đi cùng cho vui vì trời vẫn còn sớm lắm. Thực ra, chủ tâm đi một mình để ngoài chuyện tìm thư viện cộng đồng mượn báo xem thì tôi còn muốn la cà trọn buổi chiều trong Galang 2 để biết thêm các chỗ. Nghe Yến nói, tôi rất vui dù chưa biết cả hai sẽ đi đâu vì không lẽ cứ cặp kè lòng vòng trên đường nhưng nếu chỉ có một mình tôi thì khác. Khi ra khỏi tiệm cà phê, đột nhiên trời nắng trở lại chiếu những tia nóng chói chang lên người làm Yến phải bật cây dù ra che. Suốt buổi sang, trời ui ui không một chút nắng rồi lúc gần trưa thì mây kéo xám xịt tưởng sẽ mưa nhưng lại không vì mây từ từ loãng dần và tan mất. Bật dù che nắng cho cả hai, việc Yến làm khiến cõi lòng tôi nở hoa và cơn nóng nực ngoài trời tự nhiên đã biến mất. Đi song song bên nhau qua nhiều khu phố nhỏ rồi chợt nhìn xuống bóng nắng trên mặt đường, tôi thấy Yến che dù chỉ cho một mình tôi, riêng nàng vẫn đi ngoài nắng. Tôi liền bảo:

– Yến đưa anh cầm dù chứ để người ta thấy con gái che dù cho con trai, trông kỳ lắm.

Nàng liền đưa cây dù và tôi có lý do để đi sát bên cạnh nàng hơn. Ngang qua vài hàng quán, tiếng ai đó rất quen từ bên trong gọi vọng ra tên hai đứa nhưng dù cố nhìn vào, mắt tôi chỉ thấy bàn ghế lờ mờ chung một khối đen hù. Tôi và Yến vẫn bước đều bên nhau. Tôi muốn nói một chuyện gì đó với nàng nhưng lại thôi vì sợ vì ngại hay vì điều gì tôi cũng không biết. Chợt nhìn xuống mặt đường lộ, thấy chỉ mình tôi trong bóng tròn của cây dù còn Yến vẫn đi ngoài nắng như ban nãy. Tôi liền đứng lại, đưa cây dù cho nàng và nói:

– Thôi em che dù lấy đi. Anh đi đầu trần được rồi.

– Tại sao? Yến tròn xoe mắt nhìn tôi, hỏi.

– Mình đi chung một cây dù mà em thì cứ ở ngoài nắng, anh che cho có mình anh không hà. Người ta trông vào thì họ sẽ nghĩ anh như thế nào đây? Kỳ lắm. Em nói anh đừng mua dù, mình xài chung với nhau cho đỡ tốn tiền mà em cứ như vậy thì thà để anh vào tiệm mua cho anh một cây khác. Của ai nấy xài, khỏi mất công che chung.

Tôi nói một hơi và đưa cây dù cho nàng nhưng Yến không cầm. Thay vào đó, nàng ép sát lại bên tôi, nhìn tôi trong một khoảng khắc im lặng rồi cả hai đứa đi tiếp. Hành động của Yến làm tôi buột miệng cười, thấy thế, nàng lên tiếng:

– Anh cười cái gì? Nhạo em phải không?

– Không. Em có gì đâu mà anh phải cười nhạo. Tôi trả lời.

– Nhưng sao anh lại cười. Phải có lý do chứ? Yến hỏi dồn.

– Trời ơi! Có lúc cảm thấy vui vui thì mình cười. Ai mà chả vậy… mà… mà…

Tôi luống cuống rồi ngập ngừng khi Yến đưa mắt nhìn sang. Tôi định nói không vui sao được khi có em đi bên cạnh nhưng lại ấp úng. Hình như gã con trai nào cũng đều nhút nhát vụng về như tôi khi muốn tỏ bày mối tình cảm thực đang dào dạt trong lòng với đứa con gái ở lần đầu gặp gỡ. Câu tán tỉnh ngắn gọn như vậy nhưng sao tôi cứ ú ớ nói không nên lời. May mắn là Yến chỉ im lặng, khẽ bước đều từng bước. Có lẽ nàng không biết sự rụt rè vừa rồi trong tôi, tự nhiên tôi lại mong nó như vậy. Khẽ liếc mắt nhìn lén Yến, gò má nàng hây hẩy hồng làm tôi nhớ lại câu nói của Đỉnh và tấm hình trái đào khi nó đưa cho xem hồi còn ở bên Malaysia. Vài đôi tình nhân đi ngược chiều với hai đứa tôi, họ cũng tay trong tay bên nhau với một cây dù che chung trên đầu. Có thể nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên là tại sao chúng tôi còn trẻ, đi với nhau ngoài đường mà lại cầm dù? Thực tế ở trại tị nạn Galang khi đó là như vậy, ai đi đâu thì cũng phải kè kè cây dù bên tay để phòng mưa nắng. Indonesia nằm ngay đường xích đạo nên ở Galang mỗi khi trời nắng rất nóng. Đôi tình nhân nào trông cũng rất đẹp và tự nhiên làm như họ đã bồ bịch với nhau từ lâu lắm. Khi đụng mặt nhau, chắc họ đã nghĩ về Yến và tôi cũng tương tự. Nghĩ vậy nên tôi buột miệng cười lần nữa vì vui, vì hoa đời đang nở trong lòng. Tôi cười lớn cố ý cho Yến biết và nghĩ nàng sẽ lại hỏi lý do tại sao cười như lần vừa rồi. Nhưng không, Yến lại nói:

– Mình chỉ là bạn của nhau… mà cũng không phải là bạn. Không phải là bạn. Em coi anh như anh trai của em.

Chỉ là bạn của nhau! Nàng coi tôi như người anh trai! Có thật như vậy không hay Yến đã đọc được tình cảm riêng trong hồn tôi nên mới nói vậy. Nếu điều đó đúng thì thật đáng sợ cái trực giác của phái nữ.

– Lão chối đây đẩy, nói chỉ coi con bé như con cháu trong nhà. Có lúc lại úp úp mở mở làm như đã xong hàng rồi nên cũng khó đoán nhưng qua cách ăn mặc của lão thì rõ ràng ai trong trại cũng biết lão Bửu có tình ý với cô gái.

Lời anh Khảm đã kéo tôi về với câu chuyện đang nói dở tại bàn. Tôi ngồi ngay ngắn lại khi nghe anh Khảm tiếp:

– Từ hồi có cô gái đó cặp kè bên cạnh, lão Bửu đã thay đổi cách phục sức của mình. Can nãy em có để ý thấy lão ta mặc quần sọoc áo thun bó cùng giầy vớ láng cóong không? Già cúp bình thiếc rồi không lẽ diện bộ cánh đó vào thì trông sẽ trẻ hơn nhưng cũng có thể lão lại nghĩ như vậy. Ai mà lỡ miệng nói đùa về chuyện se sua quần áo vì có bồ nhí, lão chửi đổng cho nghe đấy.

– Cái cô Hòa mà anh kể đó, thực ra cô ta có tình ý gì với ông Bửu không? Tôi thắc mắc.

– Làm sao mà biết em.

Anh Khảm lắc đầu khi nói rồi tiếp:

– Anh nghĩ, có khi cô ta tính toán thấy phải cần đến lão Bửu trong thời buổi thanh lọc này nên mới xáp vào. Chứ cứ lấy lý mà suy thì gái trẻ đời nào nó chịu dính không với ông già. Tre trẻ thì tìm đến tre trẻ, sồn sồn thì tìm đến sồn sồn. Có cô đơn có lạnh lẽo trong đêm trường, cần một vòng tay ấm thì người ta cũng phải tìm đúng đối tượng để ôm chứ. Luật tự nhiên là vậy như em và cái Yến đấy.

Người trong cùng barrack đều nghĩ tôi và Yến đã có gì với nhau và giờ đây qua câu nói của anh Khảm thì thấy anh cũng nghĩ y chang khiến tôi lại cười thầm. Tôi cười là vì đã có một lần Yến dám… ôm chặt lấy tôi nhưng tiếc là khi tôi biết đến niềm hạnh phúc đột nhiên có bất ngờ đó thì nó chỉ kéo dài trong khoảnh khắc ngắn ngủi.

Hôm đó, một buổi tối Yến rủ tôi đến chỗ anh chị Khảm-Phượng để hỏi về một bài học của buổi học trong một ngày ở tuần lễ trước khi nàng vắng mặt vì bị cảm sốt không đến lớp được. Hai đứa tôi tìm đến barrack nhưng không gặp, nghĩ anh chị Khảm-Phượng lại đến quán cà phê nào đó và định sẽ tìm. Vừa lúc, một người đàn ông trong barrack thấy chúng tôi liền bảo anh chị Khảm-Phượng dặn nếu có ai tìm thì nói cứ đến quán Cam Ly là sẽ gặp. Tôi và Yến liền đi trở lại con đường chính của Galang 1 rồi đi thẳng đến ngã ba đường về hướng quán cà phê Cam Ly. Quán này nằm ở hướng đi về Galang 2 gần một khúc quanh đường. Đoạn đường này có vài căn nhà nhỏ của người Indonesia cư ngụ vì họ buôn bán trong trại. Ngang qua một hàng cây khá lớn dọc theo đường thì đột nhiên tôi và Yến nghe các tiếng sủa lớn rồi một con chó từ đâu chạy xồ lại gần bên. Yến hoảng hốt, thét lên và ôm lấy tôi thật chặt. Nàng rúc đầu vào ngực tôi, thân hình run lẩy bẩy trong lúc tôi cũng đang cơn sợ vì chưa biết phải làm gì thì con chó đã lủi nhanh vào một bụi cây gần đó. Hai thiếu niên dân địa phương đuổi theo con chó, miệng hai đứa xì xồ vài câu lạ. Trong tay cậu bé đứng gần tôi thủ gậy gỗ dài còn cậu kia thì đang săm soi các bụi rậm bên đường bằng một đèn pin nhỏ. Hai đứa bé đi rảo dọc theo con đường, thỉnh thoảng nhặt các viên đá rồi ném vào các bụi cây, gò đất để cố tìm lại con chó nhưng nó đã chạy mất dạng. Mãi đến lúc đó, Yến mới buông tôi ra, nói lí nhí:

– Em sợ quá. Nó mà cắn trúng mình thì chết.

Tôi cũng sợ như nàng vì rủi bị nó cắn và là chó dại thì thật khốn. Có lẽ đây là chó nuôi của gia đình người Indonesia nào đó và vì đã bị hai đứa bé đuổi đánh nên mới sủa rồi chạy hoảng như vậy. Khoảnh khắc vừa qua tan đi chóng vánh. Cơn sợ lan tỏa chung với niềm thích chí vì được Yến ôm chặt. Tóc nàng ngay sát mặt và mặt nàng đã gục vào ngực tôi. Tôi thở nhẹ, người ta khi yêu nhau, có đắm đuối có ôm ấp cũng chỉ đến vậy. Niềm vui đến bất ngờ và đi thật nhanh làm tôi… tiếc và khiến tôi bật cười vì thích. Yến vuốt lại mái tóc, sửa qua quần áo, thấy tôi cười nên hỏi:

– Anh Vũ cười cái gì vậy?

Tôi đã trả lời là cười cái con chó vừa rồi làm nàng ngạc nhiên, nói tiếp:

– Nó làm em sợ muốn chết mà anh lại cười được. Anh Vũ hay nhỉ!

– Anh cười vì nghĩ phải chi lâu lâu đi với em rồi gặp một con chó nào đó lại chạy xồ đến và sủa y như vậy, để em…

Tôi bỏ lửng câu khi nghe Yến lập lại câu đã nói:

– Em sợ muốn chết mà anh chỉ nghĩ bậy không hà.

Và sau đó, nàng cũng tủm tỉm cười với tôi.

Nghĩ tới đây, tôi lại cười một mình và anh Khảm thấy vậy cũng cười theo rồi nói:

– Em và Yến đến với nhau trông được lắm chứ. Còn Đỉnh thì với ai trong hai cô Đào và Bẩy vậy?

Tôi kể vắn tắt cho anh Khảm nghe về gia cảnh của Đỉnh và quả quyết nó chẳng chút tình ý nào với hai cô gái sống chung trong nhóm. Nói vậy nhưng thực lòng, tôi cũng khó đoán được tâm tư của Đỉnh dù chuyện gái gú thì nó đã từng. Anh Khảm lại tiếp:

– Cái Yến trông kháu lắm, anh biết nó là đứa có tâm hồn và anh mừng cho em đã gặp được. Đàn bà-con gái dù người xinh đẹp đến đâu mà không có tâm hồn thì cũng là hạng bỏ đi. Mà thôi mình về chứ, cũng sắp tới giờ giới nghiêm rồi.

– Tâm hồn! Anh nói nhưng em thật không hiểu rõ nghĩa. Tôi hỏi lại vì câu anh Khảm nói ra đã khiến tôi thắc mắc.

Anh Khảm không trả lời ngay mà lại đứng lên và kéo tôi ra khỏi quán khi người hầu bàn lăng xăng đến dọn ly-tách cùng xếp các chiếc ghế cho gọn. Ra tới bên ngoài, nhìn đường phố vắng ngắt thì mới biết vì mải chuyện nên hai chúng tôi đã ngồi quán lâu hơn mọi bận. Sắp tới giờ giới nghiêm thật rồi, vài người hớt hải bước nhanh trên đường như cố chạy đua với chút thời gian còn sót lại. Chúng tôi rảo vội chân qua các khúc đường có nhà dân tối thui dọc theo hai bên con lộ dẫn về hướng các barack của zone 3. Chân bước nhưng lòng tôi vẫn thắc mắc vì câu nói vừa rồi của anh Khảm nên liền hỏi anh thêm lần nữa nhưng anh chưa kịp trả lời thì một bóng người quen quen từ xa chạy sầm đến trước mặt, kèm theo tiếng nói:

– Anh Vũ! Khuya quá rồi mà em không thấy về nên…

Thì ra người đó là Yến. Nàng bỏ lửng câu nói khi thấy có mặt anh Khảm gần bên, tôi hiểu ý nên lí nhí chống chế:

– Ồ! Mải nói chuyện với anh Khảm mà anh quên cả giờ giấc… nhưng về barrack vẫn còn kịp mà.

– Quên cả giờ giấc để đến nỗi em gái phải lo lắng cho như vậy… Ha ha! Sống với nhau chứ chưa bao giờ chị Phượng đi kiếm anh đâu nhé. Thấy anh nói đúng không hở Vũ?

Anh Khảm nói lớn tiếng rồi khẽ dùng khuỷu tay huých nhẹ vào be sườn tôi, ngầm cho biết điều anh đã nói về Yến khi còn ở quán. Tôi khẽ gật đầu còn Yến thì giương mắt nhìn vì không hiểu chuyện. Trời khuya thật rồi, cứ còn ở trong quán dưới các ngọn đèn thì nào để ý đến giờ giấc. Cả ba chúng tôi im lặng, vội chân bước cho đến chỗ đường vào zone 3 thì anh Khảm chia tay.

Anh Khảm vừa khuất dạng sau con ngõ vào zone, Yến hỏi liền:

– Anh Khảm nói cái gì về em vậy?

Tôi im lặng, thả trí về câu nói của anh Khảm. Khoảnh khắc vụt qua đi, Yến hỏi thêm lần nữa. Tôi biết trả lời nàng sao bây giờ nên đành nói thật:

– Anh ấy nói mừng cho anh là đã gặp được một người như em, vừa có tâm hồn lại… đẹp… dễ gì gặp.

Tôi đã nói thêm chút xíu và không ngờ, Yến im lặng không nói một lời và chỉ cười cười khi liếc mắt nhìn tôi. Nàng đang vui vì các lời nói đó nhưng với tôi, Yến là người có tâm hồn… nghĩa là sao, hở anh Khảm? Là Yến biết nghĩ, biết lo lắng cho an nguy của người khác hơn cho bản thân nàng? Không lẽ chỉ đơn giản như vậy. Im lặng đi bên Yến mà trí tôi vẫn thắc mắc về câu nói đó của anh Khảm. Đường phố vắng ngắt trong cảnh im lìm chỗ sáng chỗ tối cùng vài cơn gió nhẹ thổi tốc những mẫu giấy nằm vương vãi trên mặt lộ. Chợt Yến thông báo:

– Chú Thăng hồi tối kiếm anh không gặp, dặn em nói lại ngày mai anh có tên trong danh sách mà zone cần người đi sửa lại ao nước tắm. Nghe chú ấy nói có thể anh sẽ phải đi vào rừng nữa đó, em chờ anh về để nói lại mãi mà không thấy.

Ở đảo tị nạn Galang thì cứ mỗi sáng thứ Bẩy hàng tuần đều có vụ làm tổng vệ sinh toàn trại. Người ở trong bất cứ barrack nào trong ngày này cũng phải lo dọn dẹp rác rưởi cùng thông sạch sẽ cống rãnh chung quanh. Trước mặt nhà, hàng quán cũng phải dọn cho sạch vì trọn buổi sáng, đám police của phòng An ninh P3V đi kiểm tra mà thấy dơ bẩn thì chủ gia sẽ mệt với bọn chúng. Có gã police cắc cớ đi luồn lách qua từng barrack kiểm tra nên người tị nạn khó mà thấy được y ta ngay. Có người vừa làm vệ sinh xong, mới rửa tay ngồi hút thuốc lá thì bất ngờ gã police đó ở đâu đi đến. Ngôn ngữ bất đồng, tưởng người đó làm biếng ngồi không và thế là đã bị gã police bợp tai, đá đít thẳng tay. Thường thì vào buổi sáng thứ Bẩy, văn phòng của zone cần một số người đi làm các công việc chung và họ lên danh sách để gọi người làm việc thiện nguyện theo thứ tự thay phiên. Có những việc khá nặng như đi vào rừng, chặt các thân cây to về làm các cổng chào dựng trên đường mừng ngày lễ quốc gia Indonesia hoặc ban một khu đất cho phẳng để làm cái sân đá banh. Lần này, việc văn phòng zone cần người làm thiện nguyện là để sửa lại cái ao tắm tập thể cho rộng thêm. Việc này cần làm vì đảo tị nạn Galang đã nhận thêm nhiều người nên cái ao cũ đã không đủ lượng nước cho việc tắm và giặt giũ quần áo. Ngoài chuyện có cái ao nước thì hàng ngày trong trại cũng có nguồn nước sạch khác được bơm đến từng zone chia cho mỗi đầu người nhưng chỉ độ 20 lít. Vì quá ít nên hầu như ai cũng cần thêm nguồn nước khác như từ ao của suối hoặc từ giếng đào lấy gần nhà.

Từ trước khi có làn sóng người tị nạn Việt đổ vào trại thì dân địa phương đã ngăn phần trũng giữa hai con đồi để tạo thành một vũm nước khá rộng gọi là sông Gông. Vũm nước này nằm gần đường đi giữa Galang 1 và Galang 2 và phòng An ninh P3V đặt biển cấm thuyền nhân lai vãng gần. Họ muốn giữ nguồn nước trong vũm luôn sạch rồi sau đó, chờ khi nước trong thì bơm thẳng lên chứa vào các bồn sắt lớn được đặt cố định trên các đỉnh đồi cao. Từ các bồn sắt lớn đó, nước sạch được truyền xuống từng zone và các khu vực của Cao Ủy LHQ cùng các phòng ban trong trại theo nguyên lý bình thông nhau. Tuy có sông Gông nhưng vào mùa nắng thì trại giới hạn phân phối nước cho thuyền nhân và chỉ dành ưu tiên cho Cao Ủy LHQ  cùng các phòng ban khác của toàn trại. Nói chung thì nguồn nước sạch cũng tạm đủ cho nhu cầu nếu thuyền nhân khéo tiện tặn.

Đã vài lần cùng Đỉnh đi vào rừng để chặt cây khi sửa chữa căn phòng chung cho cả bọn nên tôi không ngại khi nghe Yến nói có tên trong danh sách thiện nguyện đi sửa cái ao tắm tập thể. Vả lại, núi rừng từ trước tới giờ vẫn là nơi bí hiểm, kích thích sự khám phá trong con người tôi. Khi còn bên quê nhà thì tôi đã từng phải sống  trên vùng kinh tế mới ở vùng Rừng Lá và Vĩnh Cửu-Trị An vài năm; nên, tôi nghĩ mình sẽ xung phong vào toán người đi vào rừng để chặt cây hoặc khơi nguồn của con suối. Nói ra điều đó với Yến thì nàng dặn dò phải cẩn thận phòng rắn rít, cây đổ khi tôi vào làm việc trong rừng.

Hồi còn ở trên vùng kinh tế mới, tôi vẫn thường vẩn vơ cạnh một con suối, ngồi trên bờ đá hay đứng yên trước những hàng cây bên lối mòn trong rừng. Có lẽ, rừng rậm là một trong số ít cảnh vật hiếm hoi còn giữ được vẻ nguyên sơ ban đầu. Rừng ở Galang cũng vậy. Vẫn còn vẻ nguyên sơ chưa dấu vết người khai phá mà lại còn rất nhiều muông thú như heo rừng, kỳ đà, chồn, thỏ, sóc, khỉ, rắn… Khỉ nhiều và dạn dĩ đến mức chúng dám mò ra sát bên cạnh các barrack cùng nhà dân tị nạn để kiếm món ăn lạ. Thỉnh thoảng có người còn bắt gặp kỳ đà, cheo chạy vút băng ngang qua đường. Đó là thú, trong rừng còn có các loại cây cho trái ăn được như thanh trà, bứa và xà lắc… Thanh trà là một loại xoài rừng, trái nhỏ chỉ bằng ngón chân cái nhưng có vị rất ngọt. Bứa thì giống như quả măng cụt nhưng vỏ có khía màu vàng cam và ruột rất chua. Hai loại trái cây này, rừng bên quê nhà cũng có riêng loại trái xà lắc thì không. Cây xà lắc trông tương tự một thân cau ăn trầu cùng quày trái chi chít. Trái xà lắc thì lớn bằng hột gà cùng vỏ gai cứng tương tự da rắn bọc bên ngoài nhưng bên trong, có ruột như trái nhãn với cơm trắng bao hạt nhân cứng ăn rất ngọt. Rừng ở Galang còn có loại chuối hoang cho quày như chuối nhà thông thường tuy mùi rất thơm, nhưng trái nào ruột cũng đầy hột bên trong. Có người hiếu kỳ đã chặt mang về barrack cả quầy chuối hoang này nhưng sau phải vất bỏ vì không ăn được.

Sau lần sửa lại cái ao tắm đó thì tôi nghĩ mình cần phải kiếm một việc làm thiện nguyện nào đó như ở trong văn phòng zone hoặc ban Đại diện trại cho vui cho dãn gân cốt, thay vì ngồi không một chỗ hoài rất chán. Nói ra điều đó với anh Khảm, anh đồng ý ngay nhưng bảo tôi nên kiếm một chân thiện nguyện của phòng An ninh P3V hoặc làm cho văn phòng Cao Ủy LHQ sẽ tốt hơn khi nói:

– Em không hề lính tráng mà cũng không thuộc thành phần phản cách mạng bên quê nhà thì nên cần phải làm thiện nguyện để có điểm khi vào thanh lọc. Càng ở đây lâu, anh nghĩ việc thanh lọc không dễ dàng như những gì mình đã tưởng ở các ngày đầu khi mới nhập trại. Làm một nhân viên cho phòng An ninh P3V hay cho Cao Ủy LHQ, chắc chắn họ sẽ nương tay khi phỏng vấn em. Túng thì phải tính, Vũ ạ!

Nghe anh Khảm nói nhưng thực sự khó mà kiếm được một chân thiện nguyện trong ban Đại diện trại vì người thì đông trong khi việc làm chỉ có giới hạn. Dò hỏi thêm nơi ông Thăng thì tôi được biết ở zone cũng như tại ban Đại diện trại, nhân số đều dư và họ không nhận thêm người mới nữa. Vậy mà anh còn bảo tôi cố sức kiếm việc trong phòng An ninh P3V hoặc với Cao Ủy LHQ, những nơi mà ai cũng muốn đầu quân vào làm và tất nhiên, chẳng còn chỗ trống.

Tìm không ra chỗ làm thiện nguyện cho đến một buổi tối khi ngồi ở quán cà phê Sài Gòn thì bất ngờ tôi và anh Khảm gặp lại ông Bửu. Lần này thì ông đi cùng với một cô gái trẻ, da trắng và khá đẹp. Cô gái, vì cột tóc thành chùm đuôi gà nên làm khuôn mặt trông có vẻ khỏe khoắn nhưng bướng bỉnh. Anh Khảm nhìn thấy cả hai từ ngoài hướng cổng quán, liền quay sang nói nhỏ với tôi:

– Cô đó tên Hòa đấy! Nay gặp ông Bửu thì mới nhớ đến chuyện của em, anh thật dở.  Rồi anh Khảm đứng lên, mời cô gái và ông Bửu ngồi vào chung bàn.

Như lần trước, hôm nay ông Bửu diện bộ quần short áo thun cùng giày-vớ cẩn thận trông như người vừa đi chơi tennis về. Ngồi chung bàn chưa được lâu thì cô gái tên Hòa đó xin đi vào bên trong quán để xem tiếp phim bộ chiếu trên TV, nhân đó anh Khảm mới nói với ông Bửu về chuyện làm thiện nguyện của tôi.

– Vũ, em tôi đây… anh đã gặp rồi. Ở Galang anh quen biết nhiều, xem coi có phòng ban nào cần người làm thiện nguyện thì giúp cho Vũ nó một chỗ. May ra, có thể nhờ đó mà em tôi lọt lưới thanh lọc chứ tôi thấy tình hình càng lúc càng khó anh.

Ông Bửu nhìn anh Khảm rồi gục gặc cái đầu làm tôi mừng thầm nhưng không, ông ta rút thuốc lá ra hút rồi nói:

– Phòng ban nào bây giờ cũng nghẹt người làm. Anh biết, thằng Niên lái xe cho phòng An ninh P3V chưa rời trại đi định cư thì đã có tới 8 cái đơn từ ban Đại diện trại, hội cựu quân nhân, bên nhà thờ Tin Lành… nộp để xin thế chỗ làm của nó đấy. Ông Nasir xếp ban tiếp liệu của bên phòng An ninh P3V cũng chẳng biết sẽ nhận ai, phải bỏ ai vì tờ đơn nào cũng kèm theo một bản sao bằng lái quân xa cùng giấy giới thiệu gửi gấm. Mật ít-ruồi nhiều, thật khổ cho người tị nạn mình bây giờ, việc đã không lương lại còn phải giành giật nhau từng chỗ một.

Ông Bửu rít thêm hơi thuốc lá rồi ngần ngừ đôi chút, nói tiếp:

– Cũng vì có vụ thanh lọc chứ theo lời kể của đám tị nạn đến trại trước ngày Cao Ủy LHQ tuyên bố đóng cửa thì thời của họ, có bói cũng không ra một mống chịu đi làm thiện nguyện.

Lời ông Bửu nói đã gây một thất vọng và làm cho tôi buồn. Cả ông Bửu lẫn anh Khảm tỏ vẻ ái ngại và thông cảm khi nhìn vẻ mặt tôi nên hai người họ không ai nói với ai một lời. Được một lúc, như vừa nghĩ ra một điều gì thì ông Bửu hỏi tôi:

– Anh Vũ trước giờ học hành ra sao? Có biết English không?

Thấy tôi gật đầu, ông Bửu liền lôi từ trong cái túi xách tay ra một quyển sách, dùng ngón trỏ lật vài trang xem qua rồi đưa nó cho tôi và nói:

– Đâu! Anh dịch thử đoạn in này cho tôi nghe xem nào.

Đón quyển sách từ tay ông, tôi liếc qua trang báo viết về bất đồng chủng tộc giữa các sắc dân Serb, Croat và Bosnia của liên bang Nam Tư cũ bên trời Đông Âu. Đây là quyển Reader’s Digest, một tạp chí nhỏ giống quyển Phổ Thông, Tân Học hay Kiến Thức Ngày Nay… như bên quê nhà. Tôi đọc đoạn tin và từ từ dịch lại được hơn nửa trang thì ông Bửu giơ tay ra dấu ngưng lại, rồi nói:

– Đủ rồi! Cậu vào làm trong phòng Dịch thuật của tôi nha.

Nghe những lời ông Bửu vừa nói, anh Khảm nhìn tôi với ánh mắt thật phấn khởi. Ông Bửu đã thân mật hơn khi gọi tôi bằng cậu thay vì bằng anh như vừa trước đó. Nghe ông nói, tôi rất mừng vì kiếm được việc làm thiện nguyện thật bất ngờ nhưng liền đó, một mối lo trong tôi khiến muốn nói ra lại sợ có thể vì đó mà ông Bửu sẽ… rút lời, không nhận nữa. Tôi phân vân, ngồi im nhưng nhìn vẻ mặt tôi, ông Bửu đoán biết khi ướm lời:

– Cậu Vũ hình như đang lo lắng cái gì đó phải không, chuyện gì vậy?

Tôi cho ông Bửu cùng anh Khảm biết là bản thân mình thì có thể đọc sách báo tiếng Anh để hiểu, để dịch như vừa rồi nhưng khả năng chỉ đến thế. Còn dịch thuật từ tiếng Việt sang Anh ngữ, đâu phải là việc từng làm nhưng ông Bửu khi nghe tôi nói xong, mỉm cười và trấn an:

– Cậu đừng lo. Vào làm việc chung sẽ gặp các anh em khác trong phòng, có gì khó thì cứ hỏi, họ sẽ giúp. Với lại, nghề sẽ dạy nghề.

Anh Khảm cũng nói vài câu khuyến khích mong tôi yên tâm đi làm. Vừa lúc, cô gái tên Hòa ở bên trong đi ra đến ngồi chung gần bên, ông Bửu lấy tay chỉ vào tôi và nói với cô ta:

– Cậu Vũ này sẽ làm việc trong phòng Dịch thuật, thấy cậu ta biết lo cho bản thân không. Còn Hòa, tôi nói hoài mà Hòa không chịu làm thiện nguyện thì trước sau gì cũng bị rớt thanh lọc rồi có ngày sẽ phải về lại Việt Nam đó.

Dứt câu, ông Bửu nheo nheo cặp mắt và cười vui với cả bọn.

– Thầy cứ nói vậy mà em thì biết làm thiện nguyện việc gì. Ở đâu? Cô Hòa nhỏ nhẹ trả lời.

– Ở phòng Dịch thuật… Tôi nói nhiều lần rồi mà Hòa còn cứ hỏi.

– Em có biết tiếng Anh nhiều nhặn gì mà dám vào làm trong đó. Người ta cười chết… Thầy cứ chọc.

– Ôi dào! Vào làm mỗi cái việc nhận-trả hồ sơ thôi. Dịch! Thì để các anh em khác người ta lo. Hòa vào làm nhá… nhá. Ông Bửu nài nỉ cô gái trẻ.

Lời ông Bửu nói với cô Hòa khiến tôi nghĩ tới Yến rồi Đỉnh cùng hai cô Đào, Bẩy đang sống chung trong nhóm. Đỉnh đã nói không lo cái chuyện thanh lọc vì nó ỷ có giấy bảo lãnh của gia đình bên Mỹ và quả quyết sẽ vượt qua cái ải thanh lọc này dễ dàng. Đào và Bẩy nói nếu người ta ra sao thì hai cô cũng sẽ như vậy, kể cả chuyện phải hồi hương về lại bên quê nhà. Còn Yến nói có anh ruột sống bên Úc và đã lập hồ sơ bảo lãnh xong cả rồi nên nếu bị rớt thanh lọt, nàng sẽ hồi hương ngay. Về Việt Nam rồi thì Yến sẽ chờ đi định cư tại Úc. Kể ra, như vậy thì  4 người sống chung với tôi cũng ổn. Trước khi cùng cô gái tên Hòa đó bỏ ra về, ông Bửu dặn tôi đến nhận việc vào buổi sáng ngày thứ Hai tuần tới. Kiếm được việc làm thiện nguyện, tôi vui nhưng thêm nỗi lo sẽ phải sắm thêm quần áo cùng giầy-vớ mới. Tiền Rupiat mà tôi mới đổi vừa rồi, sau lần mua sắm nầy thì sẽ chẳng còn được bao nhiêu trong tay.

Khi thấy tôi được nhận vào làm thiện nguyện ở phòng Dịch thuật cách dễ dàng thì anh Khảm rất vui vì khởi đầu khi hỏi chuyện, anh chỉ mong ông Bửu biết có phòng ban nào đó trong trại trống chỗ thì xin hộ cho. Nào ngờ, diễn biến lại quá tốt. Anh nói:

– Thiện nguyện viên ở các nơi đặc biệt như phòng định cư, IOM, JVA, phòng An ninh P3V hay phòng Dịch thuật… đụng mặt với các luật sư bên Cao Ủy LHQ và bên chính quyền Indonesia hàng ngày thì thể nào họ cũng giúp khi vào thanh lọc. Mình giúp công việc cho họ thì họ phải giúp lại mình chứ.

Anh Khảm cho biết phòng Dịch thuật là căn nhà nhỏ nằm ở đầu trong dãy nhà của khu thanh lọc thuộc bộ Nội vụ Indonesia. Thông thường, phòng An ninh P3V sẽ sắp xếp danh sách thuyền nhân theo thứ tự từng chuyến ghe đến trại cho Cao Ủy LHQ sơ vấn trước rồi sau đó thì họ sẽ chuyển hồ sơ sang cho sĩ quan bộ Nội vụ Indonesia thanh lọc. Khu vực thanh lọc nằm biệt lập trên một triền đồi, có cắm bảng giới hạn người vào ngoại trừ vì công việc hoặc có giấy mời và nó cách xa với zone 3 của Galang 1.

 

Tôi đến khu vực này theo lời dặn của ông Bửu vào buổi sáng ngày thứ Hai đầu tuần. Vào đến nơi mới thấy những dãy nhà sơn trắng, cửa sổ gắn kiếng nằm im lìm dưới bóng mát của các cây tràm bông vàng, phi lao cao to. Trong những băng ghế gỗ dài, một số người Việt quần áo chỉnh tề đang ngồi chờ được nhân viên trật tự gọi tên vào thanh lọc. Thấy tôi, một nhân viên trật tự trẻ tuổi tiến đến hỏi và sau khi nghe nói về chuyện làm việc với ông Bửu thì anh ta lấy tay chỉ về căn phòng ở đầu của dãy nhà. Nơi đó, một xe mô tô hai bánh dựng cạnh bên tấm bảng kẻ hàng chữ Eligibility Unit không xa thân cây kiểng lạ như dừa nhưng có các tàu lá lớn tương tợ lá chuối xòe đều ra hai bên, trông giống hệt cái quạt khổng lồ. Xe mô tô của ông Bửu, tôi nghĩ vậy. Đến trước cửa phòng Dịch thuật thì may mắn ông Bửu đứng bên trong nhìn ra thấy liền ngoắc tay gọi tôi vào và giới thiệu với các thiện nguyện viên khác gồm các anh Đinh Vinh, Đặng Phúc Nhân, Nguyễn Thanh Danh, Tám Miễu cùng các cô Triệu Lệ Lan, Lê Anh Hà, Phó Thu Hằng… Thật không ngờ cái phòng Dịch thuật nhỏ xíu mà lại có khá đông người làm thiện nguyện như vậy.

– Mỗi ngày cả mấy chục thuyền nhân vừa sơ vấn bên Cao Ủy LHQ lẫn thanh lọc bên Indonesia  mà ai nấy đều mang theo cả xấp giấy tờ để chứng minh cho lời khai của họ. Giấy tờ nào thì phòng mình cũng phải phiên dịch ra Anh ngữ hết… Nay có thêm anh đến góp sức nữa thì càng tốt. Anh Đinh Vinh nói.

Ông Bửu chỉ cho tôi thấy các tệp hồ sơ nằm trong kệ và ở cả trên mặt các bàn giấy gần các quyển tự điển dầy cộm rồi nói cho chúng tôi nghe: ” Cậu Vũ hỏi mấy cô thư ký này đưa cho vài hồ sơ ngăn ngắn gì đó để dịch thử. Những buổi đầu cứ làm vậy đi, nếu cần giúp đỡ gì khi dịch các văn bản thì cậu cứ hỏi tôi hoặc các anh em trong phòng. Đừng ngại! “. Căn phòng quá nhỏ so với số nhân viên ngồi làm việc trong các bàn kê cạnh nhau cộng thêm người ra vào để nhận hồ sơ cũ hoặc gửi giấy tờ mới nhờ dịch. Có lẽ đây là một trong các phòng làm việc bận rộn nhất trong đảo tị nạn Galang. Tiếng máy chữ gõ lách cách tạm ngưng khi chúng tôi thấy ông Bửu khoát tay ra dấu muốn nói thêm điều gì đó.

– Nghe đây, dịch giấy tờ thì mình cốt làm sao để luật sư Cao Ủy LHQ hay bên phía Indonesia người ta hiểu được đúng nội dung và không sai văn phạm là được. Câu dịch có dài hay ngắn không thành vấn đề.

Ông Bửu dứt lời, đưa trả lại một bản dịch vừa duyệt xong cho cô thư ký ngồi gần đó rồi dặn dò thêm:

– Các cô cậu làm việc chung vui vẻ nha, bây giờ thì tôi phải chạy vào Galang 2 vì có hẹn với ông Peter.

Xong, ông ta rời khỏi căn phòng, đến bên xe mô tô, đạp nổ máy rồi rú ga vọt nhanh về hướng dẫn ra bên ngoài đường.

Làm việc được hơn một tuần lễ thì tôi đã quen với các sinh hoạt chung trong phòng Dịch thuật. Hai cô thư ký tên Hằng và Hà lo việc quản lý giấy tờ của thuyền nhân gửi tại phòng và đả tự các bản viết tay của nhóm nam giới chúng tôi mỗi khi vừa được dịch xong. Có lúc cần gấp giấy tờ cho thuyền nhân nào đó đang chờ bên ngoài phòng thì đám nam giới chúng tôi cũng phải tự tay đánh máy bản viết mình vừa dịch xong. Riêng cô Lan là người Việt gốc Hoa lại có kỹ năng nói và nghe thành thạo nhiều phương ngữ Trung Hoa như Triều Châu, Quảng  Đông,  Phổ Thông, Phước Kiến… Thật là một cô gái hiếm có, có được tài năng như vậy mà lại trông rất dễ thương. Thỉnh thoảng, các sĩ quan bộ Nội vụ Indo gọi cô vào để phiên dịch cho thuyền nhân Việt gốc Hoa vì người đó, chỉ bập bẹ chút ít tiếng Việt khi vào thanh lọc. Trong tuần từ thứ Hai đến thứ Sáu thì phòng Dịch thuật làm việc từ sáng cho đến chiều và chỉ ngưng khoảng hai tiếng đồng hồ giấc trưa để đám nhân viên chúng tôi về lại barrack cơm nước.

 

Cứ như vậy, chúng tôi làm việc không lương và chỉ thỉnh thoảng được một thuyền nhân nào đó hào phóng mời đi uống cà phê, hút điếu thuốc lá cho vui như một sự trả công và chỉ có vậy. Riêng chỉ có mình ông Bửu là đã qua các thủ tục sơ vấn cùng thanh lọc còn tất cả nhân viên cũ-mới trong phòng đều chưa ai đến lượt dự buổi sơ vấn của Cao Ủy LHQ.

Cùng thời gian này thì Tám Kiệt và ông Phát đã được nhà thầu Titan nhận vào làm việc có trả lương theo kiểu công nhật. Công việc của Tám Kiệt là dựa vào khối vật liệu cơ bản do nhà thầu cung cấp như cây, ván gỗ, lưới sắt… mà vẽ thành các họa đồ blue print cho những dãy nhà khá lớn sẽ được dựng ở một bãi đất trống dưới chân đồi của nhà thờ Công giáo Thánh Giuse, Galang 1. Những dãy nhà gỗ nầy sẽ là khu Consortitum mà Cao Ủy LHQ sử dụng để huấn nghệ cho thuyền nhân trước khi rời khỏi đảo tị nạn Galang. Là một chuyên viên về đồ hoạ nên việc làm này đối với Tám Kiệt không khó. Còn ông Phát thì thành thông dịch viên vì có khá đông thuyền nhân được tuyển vào làm thợ cho việc xây dựng các dãy nhà.

Không hiểu trước ngày Cao Ủy LHQ đóng cửa trại tị nạn thì thuyền nhân thời đó cần các giấy tờ gì để chứng minh cho lời khai của bản thân? Còn bây giờ, tôi thấy có nhiều loại giấy do thuyền nhân ký gửi nơi phòng để nhờ dịch. Ngoài các giấy của thời VNCH như khai sinh, văn bằng, thẻ lãnh lương, chứng chỉ tại ngũ… thì còn có các loại giấy tờ khác như giấy ra trại do chính quyền Việt Cộng cấp cho một sĩ quan quân đội VNCH sau khi người này được thả từ một trại tù học tập cải tạo cho đến lệnh tha của các chiến sĩ phục quốc hoặc thành phần phản cách mạng, chống lại Việt Cộng. Có những giấy mang cái tên lạ hoắc như  quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chận của nạn nhân sau khi bị công an Việt Cộng bắt nhốt một thời gian khá dài. Giấy tịch thu nhà-xưởng, xe hoặc tàu-thuyền… của dân lành trong các đợt chính quyền chiếm đoạt của cải. Giấy mời người nào đó đến văn phòng công an địa phương để rồi họ lọt bẫy, bị bắt giữ và phải chịu cảnh tù đày. Lệnh tạm tha của một thuyền nhân kèm theo quyển sổ nhỏ buộc người này phải đến trụ sở công an để trình diện hàng ngày với những con dấu mực dầu đỏ chói đóng chi chít trong các trang giấy. Con dấu đỏ nào của chế độ Việt Cộng cũng đều một kiểu ngôi sao năm cánh nằm chính giữa mà có trang giấy vì dấu đóng quá đậm mực nên nhoè làm cho ngôi sao trông giống như hình cái đầu lâu người với hai khúc xương bắt chéo. Có tờ thì các con dấu vì đóng liền sát nhau bên cạnh chữ ký cá nhân cán bộ cấp giấy dài loằng ngoằng nên trông như một còng số 8 cùng đoạn dây xích nhỏ. Qua những tờ giấy của thuyền nhân gửi dịch, tôi biết chúng gắn liền với chủ nhân một quãng đời tươi vui xưa cũ đã bị cướp mất hoặc ghi lại đoạn ngắn buồn thảm vừa qua ở bên quê nhà. Đủ loại giấy tờ mà nhiều nhất vẫn là các giấy do chế độ Việt Cộng cấp phát và có lẽ chúng xuất hiện nhiều như vậy tại miền Nam Việt Nam chỉ không lâu sau khi thủ đô Sài Gòn bị bọn người này chiếm đoạt.

Đặc biệt, trong số giấy tờ ký gửi chờ dịch thì tôi đã tận mắt thấy các bản sao giấy ra trại của vài viên tướng VNCH như Trần Bá Di, Nguyễn Thanh Sằn và Hồ Trung Hậu… do các thuyền nhân mang đến mà nơi mục can tội, quản giáo trại giam Việt Cộng chỉ ghi vỏn vẹn hàng chữ đánh máy là chuẩn tướng hay trung tướng Ngụy quyền.

– Trên thế giới, xã hội Cộng Sản của nước nào thì cũng đều giống nhau ở chỗ người dân là một tù nhân dự bị và chỉ chờ có dịp là họ bị bọn công an bắt giam. Anh không nhớ tên của người đã phát ngôn ra câu này nhưng nghĩ nó thật đúng. Lời anh Khảm nói sau khi nghe tôi kể về chuyện giấy tờ của thuyền nhân mang theo gửi trong phòng Dịch thuật và anh tiếp: ” Anh đọc sách thấy nói ở bên Liên Xô hay Đông Đức gì đó thì nhiều người dân mỗi tối trước khi đi ngủ đều phòng sẵn một túi nhỏ có đựng bàn chải, kem đánh răng, thuốc trị bệnh, xà phòng… để nếu giữa khuya họ bị công an ập vào bắt bất ngờ thì sẽ có cái dùng trong nhà tù. Anh em mình sống nơi đây tuy chưa biết số phận sẽ như thể nào trong thời buổi thanh lọc nhưng dẫu sao, vẫn may mắn hơn những người còn kẹt ở bên quê nhà “.

CSDPix7

Tác giả cùng các bạn thiện nguyện viên của phòng Dịch Thuật trong một chầu cà phê-bánh ngọt tại quán nước ở Galang 1.

Một hôm, cô Hà thư ký của phòng đã mời cả nhóm anh em chúng tôi đến nhà riêng để ăn giỗ người cha chồng nên anh Đinh Vinh quyết định cho đóng cửa nghỉ làm sớm lúc gần trưa. Chúng tôi cùng kéo nhau đi ra đường lộ chính rồi băng ngang qua khu công trường Consortitum đang được xây dựng dở dang. Cây ván, cỏ tranh đánh thành từng tấm lá để lợp mái, gạch, cát và các cuộn lưới sắt… bỏ nằm ngổn ngang trên mặt đất. Nhân công chia thành từng tốp nhỏ đang hì hục dọn bỏ cây cối, khuân gạch-đá hoặc ban cho bằng phẳng các chỗ gồ lồi và hố đất trũng. Căn nhà nhỏ của vợ chồng cô Hà nằm ở cuối vùng đất công trường dọc theo một lối đi khác ở cạnh chân đồi. Đám nhân viên chúng tôi hùn tiền với nhau mua một thùng bia lon Foster của Úc và hai chai rượu trắng Indo hiệu Arak có hình ông già chống gậy để làm quà ăn giỗ. Đến nơi thì ai cũng cảm thấy đói bụng khi mùi thơm món ăn bay ngào ngạt và rồi vì chờ mãi mà không gặp ông Bửu cùng cô Hòa nên cả bọn chúng tôi đành quây quần thành một vòng tròn trên nền nhà. Cả đám ngồi vây chặt các tô cà ri gà, dĩa cá chiên xù vẩy, bát khổ qua nhồi thịt, thố kiểm chay, thố chè đậu trắng cùng các khay bún sợi và bánh mì xắt thành lát mỏng… Bữa giỗ thật quá ngon và thịnh soạn trong khung cảnh thiếu thốn của trại tị nạn. Ngồi ăn một lúc, vì không uống được rượu-bia nên tôi xin kiếu vợ chồng cô Hà cùng các nhân viên khác để ra về trước. Khi quay ngược lối cũ thì tôi gặp Tám Kiệt và ông Phát đang ngồi nghỉ dưới bóng một cây thấp trong khu vực công trường. Thấy tôi, Tám Kiệt giơ tay vẫy và nói:

– Cậu Vũ đi đâu vào tuốt trong này vậy? Công việc làm trên phòng Dịch thuật đó chắc bận dữ ha. Có gấp gáp gì không, ngồi chơi uống trà với tụi tui cho vui.

Nghe vậy, tôi liền ghé lại ngồi với hai ông. Không như lúc còn ở trại trong rừng bên Mã Lai Á, từ hồi nhập vào đảo tị nạn Galang tới giờ thì tôi cũng ít có dịp ngồi trò chuyện với Tám Kiệt. Ông Phát rót một ly nước trà còn nóng mời tôi uống và nở miệng cười, xuề xòa:

– Cậu làm ở phòng Dịch thuật tuy không lương nhưng thấy vậy mà có tương lai hơn tụi  này nhiều. Biết chuyện gì là lạ… liên quan tới thanh lọc, xin cậu làm ơn nói cho biết với nha. Mai mốt khi gần ngày sơ vấn, chắc phải nhờ đến cậu dịch hộ cho các giấy tờ tui mang theo đó.

Trong barrack thì ai cũng biết tôi làm thiện nguyện ở phòng Dịch thuật và họ nói coi như tôi không phải lo lắng gì về chuyện thanh lọc nữa. Cao Ủy LHQ cũng như bên thanh lọc Indo sẽ giúp nhân viên của phòng Dịch thuật vì thực tế, chúng tôi đã phụ giúp công việc của họ. Ngay ông Bửu thì cũng nhiều bận quả quyết với đám nhân viên chúng tôi y vậy. Còn chúng tôi, ai nghe các điều này cũng thấy ngon ơ.

Công trường bề bộn vật liệu nằm vương vãi đây đó trong một khu vực khá rộng và theo như Tám Kiệt nói thì nhà thầu Titan sẽ cất 9 dãy nhà ván gỗ lợp tranh thật lớn mà họ dành để huấn nghệ cho thuyền nhân trong trại. Cao Ủy LHQ bỏ tiền dựng khu Consortitum và họ để cho hai người Mỹ da trắng quản lý.

– Chừng xây xong, Cao Ủy LHQ họ sẽ dạy người mình những nghề gì vậy hả anh Tám? Tôi hỏi thăm.

– Ô! Sửa xe gắn máy, thợ điện, thợ nề, thợ mộc, may cắt quần áo, hớt tóc, đánh máy chữ và buôn bán nhỏ… nè. Tui nghe nói vậy đó. Tám Kiệt trả lời.

Nghề mà Cao Ủy LHQ huấn nghiệp cho thuyền nhân như vậy không phải dành cho người sắp đi định cư ở nước thứ ba. Nói với Tám Kiệt và ông Phát về suy nghĩ của riêng tôi thì cả hai người họ gật đầu.

– Cậu nói đúng! Ông Bob quản lý có nói với tụi tui là dạy các nghề này cho thuyền nhân trước khi họ hồi hương về lại Việt Nam. Chính vì nghe vậy nên bọn này mới lo mới rầu nè. Ông Phát chậm rãi trả lời trong làn khói thuốc.

Một ngôi trường với 9 dãy nhà quá rộng như diện tích hiện có thì Cao Ủy LHQ sẽ huấn nghệ được rất đông người cùng một lúc và chỉ trong thời gian ngắn là hoàn tất khoá học. Điều ông Phát lo lắng rất đúng vì rõ ràng Cao Ủy LHQ đã chuẩn bị các phần việc họ sắp làm trong ý định hồi hương thuyền nhân về lại quê nhà. Ở đây có trường dạy nghề thì các trại tị nạn khác bên Thái Lan, Mã Lai Á, Phi Luật Tân, Hồng Kông… chắc cũng tương tự.

Tám Kiệt ngồi yên lặng hút thuốc lá và dù vẫn luôn cười niềm nở thân mật nhưng khuôn mặt y đã lộ vẻ lo âu. Không như ông Phát là một cựu thông dịch viên cho quân đội Mỹ trước đây thì tôi nghe kể thời VNCH, Tám Kiệt chưa hề đi lính hoặc là nhân viên trong guồng máy hành chánh công quyền. Tám Kiệt chỉ là dân buôn bán bình thường như nhiều người khác. Những điều vừa trò chuyện với nhau, tự dưng làm cả ba người chúng tôi đâm lo về một tương lai dữ nhiều-lành ít đang chờ trước mắt. Khi còn ở dưới ghe, người nào cũng nghĩ một khi đến được trại tị nạn thì chỉ còn chờ ngày thơ thới định cư ở nước thứ ba nào đó như Úc, Mỹ hoặc CANADA… Nghĩ vậy nhưng chỉ cần một thời gian ngắn sống trong trại thì nhiều người đã tan biến mọi hy vọng sau khi dò hỏi tin tức từ những thuyền nhân đến trước đó. Người phải lo lắng cùng ít có hy vọng về cuộc thanh lọc là những thuyền nhân mà bản thân không hề dính líu chút nào với chính quyền VNCH trước đây. Có làm việc thiện nguyện thông thường như ở zone hoặc ở ban Đại diện người Việt thì cũng chưa chắc. Ai cũng nói phải làm việc cho phòng An ninh P3V hay phòng thanh lọc Indo hoặc bên phía Cao Ủy LHQ… như phòng Dịch thuật tôi đang làm thì mới có hy vọng. Ngồi trò chuyện với Tám Kiệt và ông Phát, tự nhiên tôi thắc mắc không biết cái phòng Dịch thuật nơi mình đang làm thiện nguyện, thực sự nó có trực thuộc bên Cao Ủy LHQ hay bên phía thanh lọc Indonesia như lời đã nghe? Và, ông Peter Cao Ủy trưởng cũng như các sĩ quan bộ Nội vụ Indonesia thực có biết chúng tôi giúp sức hàng ngày cho công việc của họ hay không? Chắc tôi phải dò hỏi điều này với các bạn đồng sự trong phòng xem sao.

Nhìn lại vẻ mặt gầy gò, hốc hác, mệt mỏi pha lẫn lo lắng của Tám Kiệt trước mắt, tôi phân vân không biết chuyện tình ái giữa y cùng Ánh Diễm nay ra sao rồi? Hai người họ vẫn lén lút với nhau như hồi còn ở trại trong rừng bên Mã Lai Á hay giờ đây, vì lo lắng chuyện thanh lọc nên cũng chẳng thiết đến nhau nữa.

Những lần trò chuyện qua lại với nhau trong barrack cũng như khi cả đoàn ghe đi khai báo lý lịch cá nhân, tôi biết thời còn VNCH, Tám Kiệt từng dạy hoạ kỹ thuật tại trường cơ khí Cao Thắng và có lúc từng làm chủ một garage sửa xe hơi cho đến khi Việt Cộng tràn vào Sài Gòn thì y xoay qua buôn bán. Những năm gần đây thì y tổ chức vượt biên và đã đánh nhiều chuyến thành công. Tám Kiệt sống rất thoải mái trong trại và thực sự gia đình y chẳng phải thiếu thốn gì đến nỗi phải đi làm cho nhà thầu Titan để nhận lương công nhật hàng ngày. Đệ tử rồi người ơn trong các chuyến vượt biên năm xưa, đã gửi tiền đến trại tiếp tế cho gia đình y đều đều. Điều mà Tám Kiệt lo âu giống như mọi thuyền nhân khác trong đảo tị nạn Galang là chuyện thanh lọc. Tám Kiệt bây giờ trông khác hẳn một Tám Kiệt khi ở trại trong rừng bên Mã Lai Á dù lúc nào y cũng vẻ mặt niềm nở khi tiếp chuyện với bất kỳ ai. Tôi không ngạc nhiên khi nhìn Tám Kiệt gầy gò, hốc hác trước mặt rồi nhớ lại có lần nghe y than với người trong barrack rằng có lúc ăn uống không vô.

Còn Ánh Diễm? Như đã kể ở trên, Ánh Diễm đi vượt biên một mình và khi nhập trại Galang đã sống chung với hai phụ nữ cùng con nhỏ của họ sát bên cạnh chỗ ở của nhóm chúng tôi. Sáng nào cũng vậy, nhiệm vụ của tôi và Đỉnh là dậy thật sớm để quẩy đôi thùng xuống suối gánh nước về barrack cho cả nhóm năm người dùng trong ngày và ba cô gái không còn phải xuống tắm dưới suối nữa. Khi trời mới tang tảng sáng thì nước suối rất trong và không thua gì nước máy được cấp phát ở trại. Không lâu sau, Đỉnh nhận gánh nước thuê cho riêng mình Ánh Diễm rồi sau đó cũng chính nó đã dẫn Ánh Diễm ra mắt anh Khảm để xin học Anh ngữ. Có những buổi trưa, Đỉnh và Ánh Diễm ngồi với nhau tại cái bàn cây cạnh barrack để ôn bài cũ vừa học. Một lần tình cờ khi vừa từ phòng Dịch thuật về barrack ăn cơm trưa thì tôi đã thấy Tám Kiệt đứng nấp sau thân cây tràm bông vàng gần đó và đang dõi mắt quan sát hai người họ. Kể lại cho Đỉnh nghe và mong biết để phòng nhưng nó chỉ cười cười mà không nói gì với tôi.

Một sáng Chủ Nhật, nhóm chúng tôi làm một chuyến pinic đi tắm biển Galang theo lời hẹn với anh chị Khảm-Phượng. Đây là lần đi tắm biển đầu tiên của nhóm chúng tôi. Thấy Đỉnh loay hoay bên các món ăn-thức uống mang theo, tôi hỏi thì nó cho biết vì có thêm cả Ánh Diễm đi cùng. Gặp nhau ngay trước quán cà phê Dạ Lý của bác sĩ Luân, nhóm chúng tôi cùng anh chị Khảm-Phượng đi qua kho trữ dầu hôi của Cao Ủy LHQ rồi men theo con đường đất đỏ quanh co bên các hàng cây rừng xanh rậm cùng bờ đất đồi thoai thoải chạy dài gần cả cây số thì mới ra được bãi biển. Đây rồi, làn nước xanh dương bên bờ cát trắng quen thuộc như mọi bãi biển đang trải dài trước mắt chúng tôi. Một làn gió mát từ hướng biển thổi vào làm cả đám chúng tôi khoan khoái vì thấy nỗi mệt phải cuốc bộ đoạn đường khá dài đã tan mất hẳn. Dọc theo bờ cát trắng, dưới các tán lá rộng của các bụi cây ven đường đã có từng nhóm người khác trong trại xí chỗ từ lúc nào rồi nên nhóm chúng tôi đành phải đi tiếp vào sâu hơn để mong tìm được nơi nghỉ chân.

Ở đảo tị nạn Galang vì phòng An ninh P3V cho phép thuyền nhân đi tắm biển chỉ nội trong ngày Chủ Nhật nên vào ngày này, lúc nào bãi biển cũng đông người. Tiếng í ới gọi giúp nhau căng các tấm bạt che nắng gần các bụi cây cùng tiếng đệm đàn guitar vang vang từ một nhóm trẻ nam nữ đang đùa cười nắc nẻ với nhau trong một lùm mát. Vài trẻ nít chạy tới chạy lui chơi trò cút bắt hoặc khoe cho nhau xem những con còng nhỏ xíu mà chúng vừa bắt được. Gió biển thổi mát lạnh nhưng ánh nắng đã bắt đầu chói chang làm cả nhóm chúng tôi rảo nhanh chân kiếm chỗ nhưng vì đi trễ nên khó tìm được một nơi ngon lành.

– Mình đành phải đi sâu vào phía trong thôi.  Anh Khảm bảo.

Như hình ảnh thường thấy ở các đảo hoang, bãi biển Galang thật đẹp vì nó vẫn còn nguyên những cảnh của thiên nhiên. Nước biển xanh lơ cùng bãi cát trắng phẳng chạy thật xa mới đến mép nước y như bãi biển ở Long Hải gần Vũng Tàu. Sát bờ là các bụi cây nhỏ như ô rô, cóc kèn hoặc các cây nhơ nhỡ như mù u, đước, trâm biển… Trên bờ, cạnh bên đường đi là các bụi cây thấp mọc nối nhau từng vạt tiếp giáp liền với rừng rậm. Đi mãi đến khúc bờ thưa người thì cả nhóm mới chọn được một chỗ vừa ý ở dưới bóng hai bụi cây mù u thấp để làm nơi nghỉ chân.

Trải tấm nylon khá rộng trên nền cát, đám chúng tôi ngồi nghỉ ngơi, dõi mắt nhìn chung quanh. Người người kéo nhau xuống tắm xa xa nơi mép nước của biển đang cơn triều cường. Tôi, Đỉnh và anh Khảm lấy các tấm võng nhựa căng dưới những cành thấp của bụi cây trong lúc chị Phượng kéo cả bọn Yến, Đào, Bẩy cùng Ánh Diễm vào trong rừng để thay quần áo tắm. Ba người nam giới chúng tôi chỉ trần xì với một quần short và tuy chưa xuống nước mà đã cảm thấy lạnh. Có lẽ vì chúng tôi ngồi trong bóng cây mát lại có gió biển. Anh Khảm cũng rùng mình nhưng khích lệ nói là cứ xuống nước tắm một lát thì sẽ thấy ấm, thấy quen ngay.

Khi các cô gái trong nhóm từ rừng ra tới nơi thì anh Khảm bảo cả bọn ai muốn tắm thì tắm nhưng nên để một người ở lại trông chừng đồ đạc và sẽ ăn uống chung một lượt cho tiện vào lúc trời trưa. Nhìn chung quanh, không hiểu sao nữ giới ở đảo tị nạn Galang lại không mặc bikini như ở các bãi biển bên quê nhà mà thay vào đó là bộ quần short-áo thun y như với nam giới chúng tôi. Đỉnh hỏi thì anh Khảm trả lời:

– Cũng chẳng hiểu tại sao nữa em. Thực ra Cao Ủy LHQ và phòng An ninh P3V đâu có cấm nhưng người mình ở đây khi tắm biển thì anh chưa thấy ai mặc bikini. Có lẽ vì đang ở nước Hồi giáo nên người tị nạn mình e dè.

Vừa lúc, có hai cặp nam nữ ghé vào một bụi cây bên cạnh chỗ chúng tôi. Anh Khảm thấy họ thì hỏi nhỏ với tôi và Đỉnh.

– Các em biết hai cha nội đó không vậy?

Nhìn hai người đàn ông một cao một thấp đang lúi húi sắp xếp các túi đồ đạc, tôi và Đỉnh lắc đầu. Anh Khảm tiếp.

– Thạc và Văn đó. Lát nữa có dịp thì anh sẽ kể cho tụi em nghe chuyện về họ. Giờ mình đi tắm trước đã.

Thạc, Văn! Ra là hai người này. Đến trại mới có vài tuần lễ thì chúng tôi đã nghe các chuyện kể về họ. Hai người tị nạn mà không một phái đoàn của nước thứ ba nào dám nhận cho định cư vì câu chuyện vượt biên của họ. Nhưng chỉ là các câu chuyện vụn vặt được nghe mà không rõ ràng làm tôi háo hức muốn anh Khảm kể liền nhưng anh đã xua tay, ngầm bảo đi tắm ngay. Tôi và Đỉnh kéo nhau xuống bãi cát mà giờ đây ngấn nước triều lên đã gần với bờ hơn trước. Chân tôi dẵm lên những viên tròn nhỏ nằm dầy chi chít trên mặt bãi cát mịn do bầy dã tràng vừa se để lại mà chỉ chốc lát nữa thôi thì nước biển sẽ làm mất đi công trình của chúng. Gần đó, vài người đi lòng vòng lật các hòn đá khá lớn để mong bắt được các con ốc biển hoặc ghẹ bị mắc kẹt khi nước rút. Bãi biển ở đây khá đẹp vì có bãi cát trắng mịn trải dài song song với rừng cây trên bờ và khi lội ra thật xa nhưng vẫn chỉ ngập tới phần bụng. Tôi gặp lại Ánh Diễm, chị Phượng rồi thấy cả Bẩy, Đào và Yến nữa đang vùng vẫy trong nước giữa đám đông người tắm biển.

Tiếng ai đó trong bọn họ gọi lớn hai đứa tôi:

– Anh Đỉnh, anh Vũ ơi! Lại đây với tụi em cho vui.

Tôi và Đỉnh từ từ tiến lại chỗ họ. Trong làn nước trong vắt ngập gần tới ngực, các cô gái nầy thật đẹp. Làn da trắng hồng, các lọn tóc đen trên cổ trên bờ vai của họ. Nước biển đã dán y phục sát vào người họ cho thấy lờ mờ nhưng rõ ràng là các bờ ngực căng tròn với các núm nho nhỏ. Nước trong vắt có thể thấy cả phần bụng của họ với lỗ rốn sâu cùng cặp đùi đứng trên mặt cát. Tôi và Đỉnh nhìn họ mà ngơ ngẩn. Đó là họ mặc quần short-áo thun chứ nếu mà là bikini thì còn đẹp còn quyến rũ tới đâu nữa. Thấy tôi và Đỉnh cứ nhìn xăm soi lại cười tủm tỉm nên các cô gái đã lộ vẻ mắc cỡ trên khuôn mặt đỏ hồng. Kể cũng lạ, không muốn hai đứa tôi ngắm thì mấy cô gọi đến để làm gì. Đã thế lại mặc quần áo mỏng nữa.  Ai bảo!

– Phải chi mình giữ lại các áo phao thì có nó mặc vào mới dám lội ra ngoài xa. Ánh Diễm lên tiếng.

– Tụi em lội dở ẹt à. Anh Vũ, anh Đỉnh chắc lội giỏi lắm ha? Đào góp lời.

Đỉnh mỉm cười, nói:

– Không biết anh Vũ sao chứ tui lội thì dở nhưng lặn lại rất giỏi… tới 3 ngày mới nổi đó.

– Đang tắm biển mà Đỉnh nói nghe thấy ghê vậy. Chị Phượng hấp tấp cắt lời.

Ngoại trừ Đào và Bẩy là dân vùng sông nước nên bơi lội dễ dàng chỉ có chị Phượng, Ánh Diễm và Yến là không biết bơi thật. Rồi đám chúng tôi lần lượt tản ra nhập chung với những người khác đang ngụp lặn đây đó. Tắm, đùa nghịch cho đến khi chị Phượng và Đào đến gần bảo cả đám lên bờ nghỉ. Đỉnh và Ánh Diễm đang gần bên nhau trong một chỗ khá xa, tôi vòng tay làm loa gọi to nhưng cả hai vẫn không nghe.

Lên bờ đến chỗ dừng chân thì thấy anh Khảm đã làm xong các ổ bánh mì kẹp thịt hộp pate cùng dưa leo, muối tiêu sẵn sàng cho cả bọn rồi lại có cả xôi vò, chuối và cả nước ngọt Pepsi nữa. Thấy người anh Khảm vẫn khô rang, tôi hối anh đi tắm ngay đi thì chị Phượng cười, nói:

– Trời ơi! Ổng làm như dân nghiện thuốc phiện đó em, lần nào ra biển toàn ngồi hóng gió hoặc đi lòng vòng trên bờ không hà.

Tôi cũng ít tắm biển vì cái cảm giác khó chịu khi nước mặn nó dính vào người sau mỗi lần tắm. Biển ở Galang không có vụ tắm lại bằng nước ngọt để xả chất mặn như bên quê nhà nên tôi đành phải lấy khăn lông ra cố lau cho khô người rồi ngồi xuống lấy lon nước Pepsi và cùng ăn uống chung với cả bọn.

Bữa ăn dã chiến qua thật nhanh mà chưa thấy Đỉnh và Ánh Diễm lên bờ nghỉ. Tôi đảo mắt nhìn tìm mà không thấy hai người họ ở đâu trong số đông đang tắm lố nhố tuốt đằng xa. Chị Phượng cùng ba cô Đào, Bẩy và Yến kéo nhau đi dạo trên bờ cho biết đây đó. Thấy đám bốn  người của nhóm Thạc, Văn đi tắm biển chưa về, tôi liền hỏi anh Khảm về câu chuyện của họ. Ngồi lại gần bên tôi, anh Khảm kể:

– Vũ biết là hai người họ đến trại trước ngày Cao Ủy LHQ tuyên bố Cut Off Day đóng cửa chỉ bằng một chiếc ca nô nhỏ. Galang cách nước mình bao xa thì Vũ cũng biết rồi mà họ dám khai là vượt biên thẳng từ Việt Nam sang đây bằng chiếc ca nô đấy! Khai vậy nhưng khi các nhân viên phòng An ninh P3V xuống kiểm tra dưới ca nô thì lại thấy có y phục của nữ giới gồm cả áo ngực, quần lót mà kích cỡ to nhỏ khác nhau. Thêm vào đó họ cũng thấy có cả vàng lá và cả cọc tiền đô nữa mới chết.

– Đi vượt biên từ Việt Nam sang Galang bằng ca nô! Làm sao có đủ xăng dầu mà chạy máy? Tôi hỏi anh Khảm dù đã nghe kể về chuyện vượt biên bằng ca nô của họ từ trước đó rồi.

– Thì vậy! Thêm cái vụ y phục phụ nữ còn sót lại trong ca nô nữa lại càng làm cho Cao Ủy LHQ và phòng An ninh P3V nghi ngờ về câu chuyện của họ đã khai.

– Rồi sao nữa hả anh?

– Ca nô nhỏ như vậy thì ai cũng biết không thể nào làm một chuyến hải hành tuốt từ bên quê nhà để đến đây được. Không có mặt nữ giới trên ca nô vậy thì quần lót, xú chiêng đó là của ai? Hai người này khai là anh em ruột mà Vũ thấy họ thì một cao một lùn, một trắng một đen. Anh em ruột, thực ra cũng có thể có như vậy nhưng so khuôn mặt cả hai lại khác hẳn nhau và đặc biệt là một người nói giọng Bắc, một người nói giọng miền Nam. Chính vì vậy mà Cao Ủy LHQ và phòng An ninh P3V đã nghi ngờ về nhân thân của hai người nên chẳng có phái đoàn nước thứ ba nào chịu nhận cho họ đi định cư hết. Đến Galang lâu lắm rồi mà cả hai anh em họ vẫn cứ phải ở lỳ trong trại. Có lẽ, luật sư phỏng vấn của phái đoàn các đệ tam quốc gia cũng sợ đưa lầm tội phạm vào nước họ nên mới từ chối chứ em. Anh Khảm lắc đầu sau khi ngừng kể.

Ngồi yên lặng suy nghĩ về câu chuyện của Thạc, Văn trong chốc lát. Tôi quay lại hỏi anh Khảm:

– Phòng An ninh P3V rồi cả trật tự của ban Đại diện người Việt mình có điều tra gì thêm về họ không hả anh?

– Ôi! Anh cũng chẳng biết rõ nhưng nghĩ hơi sức nào mà họ làm chuyện ruồi bu. Người tị nạn nào mà có vấn đề khúc mắc về lý lịch thì họ sẽ bị kẹt ở trại rất lâu thôi. Như hai người này vậy đó. Kể ra thì cũng nhờ vậy mà trong trại ít nhiều mới có an ninh, chứ không thì dễ gì dân mình mà sống yên ổn với đám côn đồ- du đãng  trà trộn trong số thuyền nhân được hả em. Thực ra chuyện của hai người họ thì anh đã nghe bác sĩ Luân kể rằng tụi Indo làm ở bệnh viện cho ông ta biết là phòng An ninh P3V nghi ngờ cái ca nô đã được thả xuống từ một tàu hàng viễn duyên nào đó ở gần đảo quốc Singapore. Tất nhiên là có cả vài phụ nữ đi chung với hai tay Thạc, Văn này và hai gã đã vất mấy người đó xuống biển trước khi chạy ca nô vào Galang. Đại loại câu chuyện là vậy.

– Họ đã vất phụ nữ cùng đi chung trên ca nô xuống biển? Tôi trợn mắt, hỏi.

– Phải! Nếu căn cứ vào số y phục đó và thực sự là hai gã đã không trả lời được về những câu hỏi nghi ngờ của phòng An ninh P3V.

Trời bây giờ đã quá trưa, mặt trời vén mây giáng xuống những tia nắng nóng cháy da. Ngồi trong bóng mát của bụi cây rậm mà hai mắt tôi muốn loá vì ánh nắng sáng chói. Trời càng nắng thì càng thêm người kéo nhau nhào xuống đẫm mình trong làn nước biển mát lạnh. Được một lát thì anh Khảm lên nằm đung đưa người trên chiếc võng và rồi sau đó anh nhắm mắt như ngủ. Ngồi một mình cũng chán nên trùm chiếc khăn trên đầu che nắng, tôi rời khỏi lùm cây và đi tản bộ không chủ định trên con đường cát trắng sát bờ. Có quá đông người đi tắm biển trong ngày Chủ Nhật hôm nay. Mùi thịt nướng thơm lừng bốc ra từ một cái bếp dã chiến của một nhóm người đóng trại dưới các tàng cây lớn. Tiếng mời nhau cụng ly uống bia của bọn bảy  người mặt đỏ lừng ngay tại bụi cây rậm gần bờ cạnh bên con đường. Tiếng lốp cốp đập đá cục của chị phụ nữ ở cái bàn nhỏ bán hàng giải khát hòa với tiếng đàn guitar từ tay một thanh niên đang ngồi trên một cành cây cong khá lớn sát bờ chung với tiếng hát nho nhỏ của hai cô gái ngồi gần bên. Một nhân viên của phòng An ninh P3V trong bộ đồng phục đi tuần ngang qua, khoát tay chào và nở miệng cười với bọn người Việt chúng tôi. Tiếng động, hình ảnh của cảnh vật thật quá êm ả và an bình trong trại tị nạn.

Cảnh vật êm ả và an bình trước mắt nhưng chính vì vậy lại gây cho tôi một xáo trộn trong lòng khi tôi thấy lại bản thân mình đang đi dọc theo bờ biển của đảo hoang trong chuyến vượt biên không thành vừa rồi. Cũng những bụi cây sát biển mang bóng mát cho đám người vượt biên chúng tôi khi phải đổ bộ lên hòn đảo vì chiếc ghe bị hỏng máy đây mà. Tôi đi… đi yên lặng mà dòng ký ức đang tuôn chảy trong trí. Ánh Phương, Mỹ An bây giờ đang ở đâu và ra sao rồi? Nắng lọt qua các cành cây soi ánh sáng lỗ chỗ xuống nền cát làm tôi đứng lại và khẽ lấy tay mình chao qua đảo lại như giỡn với tia nắng quái. Tia nắng in trên bàn tay làm tôi nhớ cũng tia nắng như thế này đã đọng lại trên cánh tay trần trắng đẹp của Ánh Phương trong buổi trưa ngày hôm đó. Tôi từ từ ngồi xuống, quay mặt ra hướng biển mà mường tượng như đang ngồi với Ánh Phương trong chung một tâm trạng lo âu với nàng về chuyến đi đột nhiên bị trục trặc bất ngờ. Anh, anh đây… còn em… Ánh Phương ơi! Em đâu rồi? Tôi gọi thầm trong gió.

CSDPix4

Bãi biễn Galang nơi tôi đi… đi tiếp trong nỗi buồn vì các hoài niệm cũ dạt dào tuôn chảy trong lòng.

Tôi đứng lên rồi lại bước đi tiếp trong nỗi buồn vì các hoài niệm cũ dạt dào tuôn chảy trong lòng. Kia rồi! Các gò đá dưới những bóng cây sát biển y như nơi mà anh Tấn, thằng Minh cùng với Dũng và tôi từng ngồi lúp xúp bên nhau để tránh cơn mưa đến bất ngờ. Tôi lại nhìn ra hướng biển lần nữa như muốn tìm lại hình bóng của con tàu hải tặc đã mang Ánh Phương đi mất. Nhưng biển vắng lặng tuy vẫn màu xanh lơ cùng các dợn nước cuồn cuộn từ xa nối nhau tiến vào bờ làm thành các lượn sóng trắng xóa. Tôi bước từng bước đến gần mép nước hơn. Biển chỗ này không còn là bãi cát trắng dài phẳng lì nữa, thay vào đó là một hõm nước đọng cùng các bờ đá nhấp nhô. Các tảng đá lớn nhỏ nằm chìm hoặc nổi đây đó trong làn nước ngầu bọt chung với rác lá cùng từng chùm rong biển nổi vật vờ. Không một người nào ở bên cạnh, tôi biết mình đã đi xa khỏi chỗ người tắm biển. Đến một bóng cây gần nhất, tôi ngồi xuống trên một cành la đà sát với mặt cát trắng. Sóng biển vỗ vào bờ từng đợt kêu ùm à và nghe như lời rì rào từ các chỗ xa xa vọng lại. Tiếng sóng như tiếng thì thào của những người thân quen với tôi trong chuyến ghe gặp nạn. Cũng một thời điểm êm ả và an bình như ở đây bây giờ nhưng có ai biết ghe chúng tôi khi đó đang trong tay hải tặc tại một vùng biển giữa trời trưa nắng. Tôi nhắm mắt và thoáng thấy bóng dáng của Ánh Phương dọc con đường mình vừa đi qua. Ánh mắt Ánh Phương cùng nụ cười tươi chỉ hiển hiện trong có một giây như tôi vừa thấy nàng đâu đó ở bãi biển này. Phải rồi! Dáng ngồi cùng mái tóc dài, Ánh Phương là một trong hai cô gái ngồi hát chung với tiếng đệm đàn guitar của anh thanh niên trong bóng cây mát. Tôi nhủ lòng khi quay trở lại thì sẽ phải xem mặt cô gái đó cho thật rõ.

Tiếng chân người bước khẽ đến gần sau lưng và một bàn tay đặt nhẹ lên vai cùng với giọng nói đã chận ngang luồng suy tưởng của tôi.

– Anh Vũ làm gì mà đi ra tuốt tận ngoài đây vậy?

Yến! Phải. Chính là Yến! Tôi đứng lên nhìn thẳng vào khuôn mặt nàng mà không nói một lời. Dòng ký ức cũ vẫn còn vướng vất trong tâm trí khiến tôi chân bước song song bên Yến nhưng vẫn giữ yên lặng.

– Em có làm gì khiến anh giận thì cho em xin. Anh… anh.

Yến ấp úng khi dứt câu. Tôi đứng lại, nắm lấy bàn tay của nàng và khẽ lắc đầu. Yến để yên tay nàng trong tay tôi và cũng nhìn tôi, miệng nàng thì thào:

– Nhìn mặt anh kìa! Tự dưng sao anh lại buồn quá vậy. Em có lỡ lời gì với anh không?

Tôi lắc đầu lần nữa và từ từ kể vắn tắt cho Yến nghe chuyến ghe mình gặp hải tặc nhưng không đả động một chút gì về chuyện Ánh Phương. ” Khung cảnh ở bãi biển Galang này tự nhiên đã làm anh nhớ đến tấn thảm kịch của ngày hôm đó. Nếu không gặp em thì chắc giờ này anh vẫn còn ngồi nguyên một chỗ đấy “, rồi chấm dứt câu chuyện.

– Anh vẫn dặn em đừng đi vào rừng hoặc ngồi ở chỗ vắng có một mình rủi gặp rắn độc cắn hay trúng gió không ai biết thì chết mà anh lại dám làm như vậy. Nói người ta được còn mình thì không. Yến trách nhẹ tôi.

Hai đứa quay trở về lối cũ, Yến cho biết vì không gặp tôi nên nàng đi tìm và thấy tôi thơ thẩn xa xa, rồi có lúc lại vào rừng và sau cùng, ngồi một chỗ như một gã… khùng.

– Lúc thấy anh thì em gọi mà chắc anh không nghe hoặc nghe mà cố ý không trả lời nên em đi theo xem coi ra sao.

Tôi mỉm cười với Yến, tội nghiệp nàng vì đã hiểu lầm khi thấy bộ dạng của tôi. Yến nào biết những bồi hồi, xúc cảm trong lòng tôi khi đó. Đi ngang qua một bụi cây rậm rạp, chợt Yến dừng lại và chỉ cho tôi thấy những chùm trái nho nhỏ bằng đầu ngón tay có mầu tím sẫm rồi hỏi:

– Anh! Cái trái này tên gì vậy? Mình ăn nó có được không? Xem hoa của nó nè. Đẹp quá ha!.

– Ô! Hoa sim đây mà. Trái nó ăn được nhưng sẽ làm răng mình đen đó em.

Tôi trả lời Yến và hái vài trái bỏ vào miệng nhai cho nàng thấy. Một vị ngòn ngọt cùng cái hậu chan chát khi cắn bể những hạt nho nhỏ trong ruột trái sim đó. Yến cũng làm theo tôi và sau đó nàng còn hái thêm cả vốc tay nữa. Nàng ăn hết trái này tới trái khác rồi reo lên:

– Ăn cũng ngon chứ anh.

Rồi Yến bẻ vài nhánh hoa sim cầm trên tay, liến thoắng:

– Để em mang về cho mấy chị xem. Hoa nó đẹp quá! Tự dưng em thấy thích nó lắm.

Tôi yên lặng, hái thêm các chùm trái khác và đưa hết cho nàng. Yến, một tay vung vẩy các nhánh hoa sim còn tay kia bụm ngửa chứa đầy nhóc những trái chín tím sẫm của tôi với nàng vừa hái được.

Quay về đến chỗ nghỉ chân của cả bọn thì hai đứa tôi gặp một người khách đang ngồi trên chiếc võng đó là ông Bửu. Ông ta đang dở chuyện với anh chị Khảm-Phượng cùng các cô Đào, Bẩy, Ánh Diễm và Đỉnh. Mỗi người họ trên tay cầm một mẩu kẹo kéo đang ăn dở. Xe mô tô của ông Bửu dựng cạnh bên chiếc xe đạp bán kẹo kéo của một thanh niên trẻ. Tay cậu ta thoăn thoắt kéo khối kẹo trắng thành khúc dài rồi sau đó búng gẫy từng đoạn ngắn độ gang tay và đưa nó cho người đến mua ăn. Thấy tôi và Yến thì anh Khảm bảo:

– Cô cậu trốn đâu bây giờ mới thấy. Lại đây ăn kẹo kéo cho vui.

– Em với anh Vũ đi tuốt vào trong kia hái trái sim chín nè thầy. Lần đầu em mới biết đến nó đó. Ăn nó… thấy cũng là lạ. Mấy chị ăn thử đi. Em cũng hái cả hoa của nó nữa nè. Trông đẹp chưa… thích chưa! Yến nói một hơi khi nàng bỏ bụm trái chín cùng các nhánh hoa sim xuống bên cạnh một cái dĩa nhỏ đựng vài đoạn kẹo kéo trên một tờ giấy báo nằm giữa chỗ ngồi của chị Phượng, Ánh Diễm cùng hai cô Đào, Bẩy.

Ngồi gần đấy, miệng đang nhai nhóp nhép nhưng Đỉnh đưa mắt ngầm mời tôi và Yến lấy kẹo kéo trong dĩa ăn rồi nhìn lên ông Bửu, nó hỏi:

– Bác ơi! Kể tiếp nữa đi bác.

Ông Bửu đong đưa người trên chiếc võng, nhìn tôi và Yến rồi mỉm cười, trả lời:

– Cậu Vũ và cô này… đột ngột làm tôi ngưng ngang câu chuyện… Mà tôi kể đến đâu rồi?.

– Anh đang đến đoạn nuôi ong có nhiều mật mà bán không được vì bị tụi thương lái ép giá đó. Chị Phượng xen vào.

Ồ! Phải rồi. Ông Bửu thốt lên và nhìn đám chúng tôi rồi khẽ đằng hắng như lấy trớn nói tiếp:

– Như tôi đã kể can nãy. Dạo đó ong tôi nuôi được mùa hoa trái xum xuê nên cho mật nhiều mà đám thương lái nó chơi ép, nại lý do mật của tôi vì ong lấy từ hoa ở rừng cao su không ngon nên bảo tôi phải hạ giá thì chúng mới chịu mua. Mật ong, bất cứ hút từ loài hoa nào thì vị cũng đều thơm ngọt như nhau. Có khác là khác cái màu mật thôi và không bao giờ ong nó lại lấy mật từ các loài hoa độc. Tôi đâu chịu cái lối chơi ép đó của bọn thương lái nên đành phải đi tìm các mối hàng khác. Nhưng nói vậy mà không phải dễ vì tụi thương lái chúng biết mặt nhau hết cả nên về hùa với nhau chơi ép tôi. Ong tôi nuôi làm ra mật nhiều lại không bán được ngay nên có lúc, đã tràn ra từ các thùng tổ rồi chảy nhễu nhão rớt xuống đất. Chính vì vậy mà tôi mới thấy một việc lạ đó là dù mật chảy vương vãi trên đất thành từng bệt nhưng lại không hề có một con ruồi hay con kiến nào tìm đến ăn như mình thường thấy ở các thứ có chất ngọt. Tôi có hỏi những người nuôi ong khác về chuyện này thì họ còn cho biết những tổ ong ở ngoài thiên nhiên cũng y vậy. Mật ong vàng óng lộ ra ngoài thành tổ, vừa ngọt vừa thơm mà không hề có bóng loài ruồi loài kiến nào héo lánh đến. Làm như trong mật ong nó có một chất gì đặc biệt lắm mới khiến loài ruồi loài kiến phải tránh xa.

– Anh kể thì tôi mới để ý thấy có như vậy. Lạ quá ha! Anh Khảm xen vào.

Chuyện ông Bửu vừa kể làm tôi nhớ có lần tại phòng Dịch thuật thì ông đã cho biết là bản thân từng có lúc mưu sinh bằng nghề nuôi ong lấy mật tại quê nhà. Ông Bửu sau khi thở ra một hơi thuốc lá, nhìn anh Khảm rồi tiếp:

– Anh nói lạ nhưng chưa bằng cái chuyện mà tôi nghe được từ những người nuôi ong khác kể là mật ong còn có thể chữa được cả bệnh hủi nữa đó.

Bệnh hủi, có nơi người ta gọi là phong cùi, một bệnh nan y mà ai cũng sợ vì hình ảnh ghê rợn của nó. Người bị phong cùi thì mặt mũi và tay chân họ bị lở lói hoặc cụt lủn vì vi trùng đục khoét cơ thể từ từ làm rụng từng lóng chân lóng tay một. Có người kể là người giàu bị phong cùi còn phải mài vàng y 24 cara ra uống để mong nhờ vàng mà căn bệnh quái ác này sẽ chậm phát tác. Nhưng có uống vàng y thì cũng không trị dứt hẳn được phong cùi. Người bị phong cùi sống ở đâu thì cũng bị cộng đồng bỏ lơ, bà con và họ hàng trông thấy cũng tránh xa. Ai rủi mắc phải bệnh này thì ít nhiều cũng bị xã hội gán cho lãnh hậu quả từ một việc làm ác đức nào đó mà họ đã tạo ra trong quá khứ.

Mỗi lần sắp sửa kể về một chuyện gì thì ông Bửu có thói quen hay nhắm mắt như để hồi tưởng về quá khứ và cái đầu của ông có lúc lại gật gù nhè nhẹ. Hôm nay cũng vậy làm đám chúng tôi phải chú ý đến bộ dạng của ông. Một khoảnh khắc chờ đợi qua đi, ông Bửu mở mắt ra và kể:

– Ở rừng U Minh nơi tận cùng của nước Việt mình là một vùng rừng chạy từ trong đất liền ra tuốt ngoài biển lớn. Rừng ở đây bạt ngàn và rất nhiều nguồn lợi như cá, tôm, củi, than… tôi không nói làm gì. Trong số nguồn lợi thiên nhiên đó thì đáng kể là mật ong rừng. Ong tự chúng làm tổ dày đặc mà do người gác kèo giúp chúng dễ làm tổ cũng có, nhưng dù bằng cách nào thì tổ ong  rất nhiều. Chính vì vậy mà hàng năm đã thu hút dân tứ xứ chèo ghe đến ăn dầm nằm dề để chờ lấy mật ong trong tổ bám dưới những kèo gác trên thân cây tràm. Kèo ong là do họ làm và cứ kèo làm năm nay thì họ sẽ đến lấy mật vào năm tới. Cứ làm kiểu gối đầu như vậy và có một quy luật bất thành văn của dân trong nghề ăn ong là không ai lấy trộm kèo mật của ai. Mỗi cây kèo sẽ là một hũ mật ong. Một nguồn lợi thiên nhiên; ai siêng năng làm thì nấy hưởng chứ không có vụ ăn sẵn, đi hớt tay ngang mật ong của người khác. Trong nhiều giống ong lấy mật ở đó thì có một loài ong lạ vì trên lưng có mầu ngũ sắc. Chúng khác các giống ong thông thường ở chỗ là không sợ khói. Mật do chúng gom được thì rất ít nhưng lại vón thành cục như đường phèn. Đã thế, tổ của loài ong này lại nằm cheo leo trên các ngọn cây cao và rất khó tìm thấy. Khi lấy được mật của loài ong đó rồi thì người ta mang về để luyện thành thuốc dùng trị bệnh hủi. Luyện nó như thế nào mới thành thuốc? Là để hàng chục ngọn nến trắng chong chung quanh chén mật trong vòng một ngàn ngày thì sẽ thành. Khi đó mật… bây giờ là thuốc, có thể trị dứt bệnh hủi. Chữa dứt không phải là làm cho người bệnh đã lỡ rụng mất ngón chân ngón tay thì sẽ mọc lại các ngón mới mà chính là làm căn bệnh ngưng phát tác hoàn toàn. Các vết hủi trên cơ thể từ từ nó sẽ khô đi và người bệnh lành da trở lại.

– Nghe thấy hoang đường và vô lý quá hả anh. Có thật được như vậy không? Chị Phượng cắt ngang khi hỏi ông Bửu.

– Hừm!… hừm… Ông Bửu gắt giọng, tiếp:

– Cái chị này lạ! Tôi chỉ kể lại những gì được nghe người khác nói thôi. Chị làm tôi hết muốn kể chuyện nữa.

– Anh! Có ai khỏi bệnh cùi sau khi uống mật ong ngũ sắc hay thuốc luyện được đó không? Ý của em là thắc mắc vậy thôi chứ đâu có ám chỉ gì anh đâu… Kể tiếp đi mà, tụi em muốn nghe. Chị Phượng cười thật tươi sau câu nói nhằm xoa dịu cái bực bội nơi ông Bửu.

– Được! Nghe tiếp đây. Ông Bửu đảo mắt nhìn chị Phượng như một trách móc rồi chậm rãi tiếp:

– Có một cô gái con ông điền chủ ở vùng Bạc Liêu bị vướng bệnh hủi. Thuốc thang rồi uống vàng y mãi mà không thấy bệnh thuyên giảm. Nghe người ta kể về môn thuốc luyện từ mật ong này thì ông điền chủ và cô con gái liền thu xếp đi tuốt xuống vùng U Minh. Ông cất chòi ở giữa rừng và mướn người đi lấy mật loài ong lưng ngũ sắc về để ông ta luyện thuốc cho con gái. Sống biệt lập như vậy cả hàng mấy năm trời thì sau cùng ông điền chủ mới luyện được chút xíu thuốc để con gái mình uống. Tốn tiền của, công sức nhưng luyện được thuốc thì cũng bõ công. Có điều trong thời gian sống trong rừng thì cô gái hủi cũng đã bị ong đánh cho vài lần tưởng chết. Sau khi uống thuốc được thời gian ngắn thì bệnh hủi trên người cô đổi khác. Những vết lở lói chảy nước vàng khi trước, nay lành miệng dần dần và rồi cô ta khỏi hẳn căn bệnh.

– Thuốc trị bệnh cùi luyện từ mật ong thần kỳ như vậy mà tới hôm nay tôi mới biết đấy. Anh Khảm ngồi hẳn lên trong chiếc võng như một cử chỉ hoài nghi về câu chuyện của ông Bửu kể.

Anh Khảm vừa dứt lời thì mấy cô gái cũng xì xào với nhau… Chuyện lạ quá… em mới nghe được bác này kể lần đầu… Ông Bửu ngồi ở võng nghe và thấy thái độ của họ nên cất tiếng:

– Chuyện luyện mật ong thành thuốc trị bệnh hủi mà tôi kể đúng là đầy vẻ huyền bí và hoang đường thật nhưng thử nghĩ xem; ở thời buổi mà chưa có ánh sáng của cái gọi là khoa học như bây giờ thì người ta phải bám víu về một niềm tin siêu hình nào đó khi gặp chuyện không may trong đời để mà sống mà tồn tại chứ. Phải không nào? Thực tế là có nhiều chuyện huyền bí mà không thể nào dùng con mắt khoa học để giải thích được.  Chỉ biết là có chuyện đó… đã xẩy ra. Cá nhân tôi thì cho là có thể do bị ong đánh vài lần mà cô gái con ông điền chủ đó đã khỏi bệnh hủi. Anh chị cùng mấy cô cậu này chưa biết khi ong mà đã cố đánh ai thì nó khủng khiếp như thể nào. Nguyên đàn bay đến cả trăm con chứ ít gì, có nhẩy xuống nước thì bọn ong cũng chờ nổi lên để đánh tiếp cho kỳ được chúng mới thôi. Trong nọc ong và mật ong chắc phải có chất gì rất đặc biệt nên mới chống được với bệnh hủi.  Tôi nghĩ vậy.

Vừa dứt lời thì ông Bửu đã vội rời khỏi chiếc võng khi một nhân viên phòng An ninh P3V từ đâu đi đến và y ta ra dấu tay như muốn nói chuyện với riêng ông. Sau đó, ông Bửu quay qua nói với đám chúng tôi là ông có chuyện phải đi gấp rồi đạp máy chiếc xe mô tô và chở gã nhân viên chạy thẳng ra hướng con đường chính.

Bây giờ đã quá trưa và là lúc trời nóng nhất lại thêm đột nhiên gió biển ngừng không thổi như trước đó nữa nên càng nóng. Tuy ngồi trong bóng mát nhưng cái hừng hực bốc lên từ mặt cát nóng cùng không khí oi nồng khiến đám chúng tôi ai nấy đều cảm thấy phải lao ngay xuống làn nước biển nếu muốn tránh cơn nắng nóng. Đào, Bẩy, Yến kéo nhau chạy xuống mép nước đầu tiên rồi sau đó là Ánh Diễm và Đỉnh. Thấy người đi gần hết, chị Phượng lấy tay nhặt các nhánh hoa sim vất bỏ ra ngoài khi khom người để rũ cho sạch tấm nylon trải trên mặt cát. Vừa làm chị vừa nói nho nhỏ và dường như biết mình lỡ miệng nên vội im bặt tiếng nhưng tôi đã nghe thấy  ” Con gái mà đụng vào hoa này xui xẻo lắm, không hiểu con Yến nó hái làm chi? “. Tôi giả lả, làm như không nghe được những gì chị nói khi nhoài người lên chiếc võng căng cạnh bên võng anh Khảm đang nằm mà nhớ lại điều người ta kháo nhau rằng mầu tím là mầu buồn, mầu của tan tác và biệt ly như trong một bài thơ nổi tiếng về loài hoa sim này. Tôi, nam giới không để ý gì về điều người ta nói như vậy thì đã đành nhưng còn Yến? Có lẽ thực sự nàng cũng chẳng biết vì bản thân còn quá trẻ. Mà, điều người ta nói như vậy có đúng không? Tôi chẳng biết nữa!

Chị Phượng sau khi dọn dẹp chỗ nghỉ chân của cả đám nhóm xong xuôi thì thấy tôi và anh Khảm nằm im trên võng nên đã đi thẳng ra biển tắm. Tôi muốn tán chuyện với anh Khảm nhưng thấy anh đã nhắm nghiền mắt nên thôi. Nằm đó, đung đưa người trên võng trong trạng thái nửa ngủ nửa thức chưa được bao lâu thì có người kéo chân tôi bắt tôi phải mở mắt ra nhìn. Yến đến trước mặt và thì thào bên tai:

– Xuống tắm với em đi anh Vũ. Ra biển mà không tắm thì ra làm gì không biết… Với lại em muốn anh tập cho em bơi.

Tôi đi với Yến từng bước trong làn nước nóng ở trên bề mặt nhưng mát lạnh ở phía dưới sâu. Biển bây giờ mới thực đông người thật không khác gì ở một chỗ tắm nào đó của Vũng Tàu hay Long Hải bên quê nhà. Tôi chẳng thấy Đỉnh, Ánh Diễm hay hai cô Đào, Bẩy cùng chị Phượng ở đâu trong số người đông lố nhố giỡn nước trước mặt. Cứ bước như vậy tới chỗ nước ngang thắt lưng rồi đến phần bụng thì Yến ngừng lại và khe khẽ bên tai tôi: ” Anh… anh… tập cho em nha. Em muốn biết bơi “.

Tôi cũng đứng lại, lấy tay che nắng trên trán để nhìn mặt nàng cho rõ hơn rồi hỏi:

– Em muốn biết bơi phải không? Tôi lập lại câu hỏi đó thêm lần nữa thì Yến nghe thấy đã vội gật đầu. Vài anh chàng gần bên cũng đưa mắt nhìn Yến chằm chằm, tôi mỉm cười vì thấy cạnh mình là một cô gái quá đẹp. Tôi lại gần bên Yến, nói nho nhỏ chỉ đủ để một mình nàng nghe.

– OK! Nghe đây. Muốn biết bơi thì trước tiên em phải tìm bắt cho bằng được một con chuồn chuồn đã. Không phải chuồn chuồn kim đâu nha. Chuồn chuồn ngô hay lửa gì cũng được nhưng nếu có con chuồn chuồn trâu thì càng tốt.

 

Tôi im lặng trong chốc lát rồi nhìn Yến và định nói thêm: ” Rồi sau đó em phải để cho con chuồn chuồn nó cắn vào rốn… “ thì nàng đã phản ứng:

– Thôi đi! Em biết chuyện con chuồn chuồn đó rồi… Người ta muốn biết bơi thật chứ bộ!

Khuôn mặt nàng phụng phịu, thấy vậy tôi liền bảo:

– Đây! Nằm lên hai bàn tay này rồi thử bơi xem sao. Chịu vậy không?

Không nói một lời, Yến ngả người xuống nước nằm lên trên phần tay tôi. Tôi dùng hai tay đỡ lấy phần bụng của Yến, nâng người nàng ngang với mặt nước biển. Yến đập hai chân rồi khoát cả hai tay làm như nàng đang bơi trong lúc tôi đứng yên hoặc bước từng bước một chầm chậm. Có lúc tôi thử buông hai tay ra thì ngay sau đó đã phải vội đặt trở lại phần bụng của nàng liền vì rõ ràng Yến sẽ bị chìm. Cái áo thun ngắn Yến mặc, khi chìm dưới nước nó không còn ôm sát thân người mà có lúc lại tốc lên hoặc phủ xuống theo chuyển động tập bơi và tay tôi đã hai lần chạm vào phần ngực trần của nàng. Rồi, tôi giật thót người khi luống cuống đã để tay sờ ngay vào… cái núm nhỏ nữa vì sợ Yến hiểu lầm nhưng nàng vẫn để yên. Nàng để yên vì mải tập bơi nên không biết cái đụng chạm đó hay nàng biết nhưng không chút phản ứng như tôi đã nghĩ sẽ bị? Còn tôi? Trước giờ có những lần ngồi bên Yến, tôi đã từng mong ước có lúc sẽ đặt bàn tay mình vào phần ngực của nàng. Vậy mà giờ đây trong tôi lại không chút cảm giác ham muốn hay rạo rực. Những hoài niệm về Ánh Phương vẫn còn trong ký ức đã làm tôi không một hứng thú nhục thể gì với Yến. Làn da trắng hồng và thân người nàng lồ lộ qua bộ quần áo đẫm nước ngay trước mắt tôi khi nâng hai tay, đỡ cho nàng tập bơi như vậy cả một lúc lâu. Yến bảo tôi thử bỏ hai tay ra để tự bơi một mình nhưng rồi ngay sau đó vì thấy mình chìm xuống nên nàng hoảng hốt, vùng vẫy tay chân loạn xạ rồi còn ôm chầm lấy tôi nữa. Có lúc thì nàng bám hai tay vào bờ vai hoặc đu người hẳn lên lưng tôi trong tiếng cười vui nắc nẻ cùng không một chút e dè. Đến một chỗ cạn vắng người, Yến dừng lại đứng phơi nguyên thân mình lồ lộ của nàng trước mắt tôi, không một chút ngại ngùng và còn cười với tôi nữa. Nhìn ánh mắt tôi, Yến rất tự nhiên như đã biết trong tôi không một chút tà tâm nào với nàng và quả thực như vậy. Tôi vẫn đang nhớ về Ánh Phương và giờ đây trong lòng tôi, Yến thực sự như một cô em gái nhỏ.

Trời gần về chiều nên nắng gắt dữ và chính vì vậy mà có thêm nhiều người xuống tắm. Như chạy đua với chút thời gian còn lại trong ngày nên chỗ nào cũng đông nghẹt người chen chúc bên nhau đùa giỡn với nước. Tắm táp đã đời cho đến khi thấy mầu trời bắt đầu bảng lảng thì anh Khảm hối cả bọn thu xếp đồ đạc để chuẩn bị ra về. Như vậy, một ngày cuối tuần picnic thoải mái đã kết thúc, đám chúng tôi kéo nhau quay lại con đường đất đỏ dẫn về trại trong cái mệt mỏi bởi nguyên một ngày đùa giỡn với nước và nắng nóng. Đây đó, đi đằng trước hoặc đằng sau đám chúng tôi là từng nhóm người cùng rảo bước chung trong một ý nghĩ mau nhanh chân về nhà càng sớm càng tốt. Anh Khảm do cả ngày nằm trong bóng mát nên da dẻ trông vẫn bình thường còn tất cả chúng tôi thì từ mặt đến chân tay người nào cũng đỏ lừ vì bị bỏng nắng. Thêm vào đó thì ai cũng cảm thấy trong người hâm hấp nóng như đang bị một cơn sốt nhẹ. Dọc đường thì cô Đào cho biết trong buổi đi tắm biển hôm nay, đã gặp người quen cũ từ hồi còn bên quê nhà giới thiệu cho một chỗ làm trong một tiệm ăn ở tuốt Galang 2 và có thể, sẽ bắt đầu trong các ngày sắp tới. Ai nghe chuyện của Đào cũng mừng vì thực sự chúng tôi đã biết sẽ phải ở trong trại rất lâu mới đến lượt Cao Ủy LHQ thanh lọc nên người nào kiếm được việc làm mà có tiền thì còn mong gì hơn.

Về tới gần trại, đến ngã ba của con dốc phân chia khu vực zone 3 và zone 4 thì có tiếng còi xe hơi vẳng đến thật gần. Cả bọn chúng tôi vội nép vào vệ đường để tránh xe và khi nó chạy đến thì ra là xe của nhà thầu TiTan. Tôi thấy Tám Kiệt ngồi ngay trong buồng lái bên cạnh gã tài xế người Indonesia, mắt y nhìn chằm chằm vào Ánh Diễm và Đỉnh mà hai người nầy lại cúi đầu trò chuyện riêng với nhau nên không biết. Mặt Tám Kiệt rất giống như lần trước khi tôi tình cờ trông thấy y núp sau một thân cây cạnh barrack để rình trộm Ánh Diễm và Đỉnh.

Làm ở tiệm ăn nên Đào sẽ phải ở lại Galang 2 luôn và chỉ quay về Galang 1 vào sáng thứ Tư để học English và nhận phần thực phẩm Cao Ủy LHQ cấp phát hàng tuần do Yến giữ hộ. Đào rời khỏi nhóm nên căn phòng của chúng tôi đã rộng hơn và thực tế là trong barrack giờ cũng đã có người bỏ ra bên ngoài, xin cất chòi sống riêng. Một chuyện làm cho bararck cảm thấy xuống tinh thần là có vài người đã ghi danh hồi hương về lại Việt Nam. Người hồi hương đầu tiên trong tàu CL 135 của ghe chúng tôi chính là Năm, cậu thanh niên bị rắn cắn phải đưa đi nhà thương cấp cứu ngay trong đêm đầu tiên nhập trại. Một bữa tiệc nhỏ chia tay với Năm trong đêm cuối cùng trước chuyến hồi hương được cả barrack tổ chức trong cái buồn dù không ai nói ra vì rõ rang, ghe chúng tôi đến đảo tị nạn Galang chưa được bao lâu mà giờ đây đã có người phải bỏ cuộc sớm. Hỏi lý do sao lại hồi hương thì Năm nói vì nhận được thư bên quê nhà cho biết mẫu thân bệnh nặng, sợ không qua khỏi nên phải về. Có người thì bảo thực sự không phải vậy, chẳng qua vì Năm không đủ kiên nhẫn để chờ đến lúc thanh lọc và thâm tâm cậu ta nghĩ nếu Cao Ủy LHQ có phỏng vấn thì cũng chưa chắc bản thân sẽ lọt qua được.

Tuy có 2 chuyến hồi hương về lại quê nhà rồi mà vẫn có thêm những chuyến ghe vượt biên nữa đến trại. Lý giải cho việc này thì nhiều người cho biết, chính cái tin Cao Ủy LHQ thanh lọc lần cuối trước khi dẹp trại nên làm cho những ai còn chần chừ trước khi quyết định bỏ nước ra đi, đã vội nhẩy xuống ghe vượt biên cấp tốc. Họ sợ sẽ không còn trại tị nạn nữa khi Cao Ủy LHQ dốc hết toàn lực để thanh lọc thuyền nhân Việt trong đợt này và cũng sẽ là lần cuối cùng. Những chuyến ghe mới đến trại hầu như đều do hải quân Mã Lai Á chuyển qua. Cao Ủy LHQ đã phải lệnh cho nhà thầu Titan  cất cấp tốc thêm những dãy barrack lợp lá mới, nằm khá sâu trong rừng nên nhiều căn, dù chỉ có khung sườn và mái lá sơ sài mà đã lấp nhanh chóng người vào ở. Mỗi một chuyến ghe mới đến thì lại thêm cái vụ người trong trại đi tìm xem coi có ai là thân nhân của mình không? Tôi cũng đã cùng Yến đi vào các barrack của đoàn người say sóng mới đến này để mong gặp lại anh Tấn hay các người khác trong chuyến vượt biên chung vừa rồi nhưng không thấy ai cả. Họ bị công an bên quê nhà bắt giam như thằng Dũng hay sau một chuyến thoát chết từ tay hải tặc nên biết sợ và đã bỏ cuộc? Trong số ghe mới đến trại thì nổi cộm có một ông trung tá lữ đoàn phó Thủy quân Lục chiến VNCH. Khi nghe phòng thông tin trại loan báo thì đám thuyền nhân gốc Thủy quân Lục chiến của cả Galang 1 lẫn Galang 2 vui mừng xiết bao vì binh chủng họ, giờ đã có thầy hay ông niên trưởng đại diện. Vài cựu sĩ quan Thủy quân Lục chiến cấp úy  đã vội tom góp bàn ghế, giường tủ cá nhân và dàn xếp riêng với ông Bùi Thế Dung, để dành cho ông trung tá chỗ ở khác trong barrack vách cây-mái tôn trong zone 3 thay cho chỗ tạm trú tồi tàn của barrack lợp lá. Sau đó, họ còn kéo ông ta ra quán cà phê Cam Ly làm một chầu chiêu đãi bia Heineken để mừng niên trưởng đến được bến bờ tự do. Ở  đảo tị nạn Galang thì có chuyện: bất cứ thuyền nhân của binh chủng nào trong quân đội VNCH đều họp mặt sinh hoạt với nhau như một hội ái hữu và đó là lý do mà những cựu binh Thủy quân Lục chiến mừng vì nay họ đã có thêm ông thuyền nhân trung tá trong dàn sĩ quan đàn anh đại diện. Chính ông Bùi Thế Dung trong lần ghé vào phòng Dịch thuật đã cho ông Bửu cùng nhóm thiện nguyện chúng tôi biết là sẽ mời ông cựu trung tá Thủy quân Lục chiến nhận một chức vụ gì đó như phó ban Đại diện và thực sự mọi việc sẽ êm xuôi, nếu như không có một vụ tố giác từ một thuyền nhân về lý lịch thật của ông trung tá mới nhập trại.

– Ông ta có đi lính Cộng Hòa thiệt nhưng không phải trung tá trung tiếc gì đâu.

Thuyền nhân này quả quyết như vậy và sau đó bà ta còn chỉ thêm vài nhân chứng khác nữa.

Người nhận diện ông trung tá giả chính là một phụ nữ sống ngay trong cái barrack lợp tôn của zone 3 nơi mà các cựu binh Thủy quân Lục chiến vì sự kính trọng với một sĩ quan niên trưởng đã thu xếp với ông Bùi Thế Dung cùng barrack trưởng để cho gia đình ông này được vào ở. Bà tố giác này đã từng sống chung trong một con xóm với ông trung tá giả bên quê nhà . Bà ta đã vượt biên đến đảo tị nạn Galang từ khá lâu rồi. Barrack trưởng sắp xếp lại chỗ ở của thuyền nhân  để nhường một chỗ cho gia đình ông trung tá. Khi gia đình ông này dọn vào chỗ ở mới thì thì bị đồng hương nhận ra hàng xóm cũ ngay. Đám cựu quân nhân Thủy quân Lục chiến khi biết chuyện thật thì họ đã nổi nóng và lôi ông trung tá dỏm ra một chỗ vắng, doạ sẽ đánh ông ta một trận nếu như  không khai thật về nhân thân mình. Người trong trại kể: ông ta khai cá nhân thực sự chỉ là một hạ sĩ cùng binh chủng thôi còn trung tá là cấp bậc khi gia nhập vào một nhóm Phục Quốc.

– Trung tá Phục Quốc. Mẹ kiếp! Vậy mà ông ta cũng khai ra ở đây, nó đâu có hợp lý. Lại còn cả gan lấy tên Nguyễn Văn T cùng chức vụ lữ đoàn phó của ông trung tá thật nữa. Đ.M! Cái ông già đó! Có biết tụi tui tốn công sức, tiền bạc vì muốn làm đẹp mặt ổng? Một thuyền nhân cựu quân nhân Thủy quân Lục chiến kể lại.

Thực ra những cựu quân nhân Thủy quân Lục chiến đó nổi cơn giận ông già mạo danh cũng phải; vì tiền bạc do thân nhân họ gửi tiếp tế khi ở trại đâu ai có nhiều. Họ đã phải góp tiền chung với nhau để tiếp đãi ông già mạo danh, làm mất không cả trăm ngàn Rupias cho bữa nhậu bia Heneiken hôm đó chứ ít sao.

Ông trung tá dỏm Nguyễn Văn T đó, đã phải năn nỉ rồi quỳ xuống van lạy đám cựu quân nhân Thủy quân Lục chiến xin họ tha tội, vì đã tiếm danh và mạo nhận chức vụ cũng như cấp bậc, làm họ tốn tiền và mắc cỡ với người trong trại do mừng hụt. Ông ta năn nỉ hồi lâu thì các cựu quân nhân Thủy quân Lục chiến cũng nguôi ngoai bỏ qua vì họ nghĩ đến cái tình đồng hương cũng như đồng đội, khi đang tạm dung ở xứ người. Thêm vào đó, ông ta cũng đã lớn tuổi, tóc tai muối tiêu cùng thân hình gầy gò nên, không ai nỡ đánh dù chỉ một thoi. Ông trung tá Thủy quân Lục chiến dỏm đã thành một câu chuyện cười cho tất cả thuyền nhân sống trong trại.

– Phục Quốc còn phong tới cấp tướng và tư lệnh sư đoàn hay quân khu nữa nhưng hầu như họ chỉ có cái khung thôi. Một thuyền nhân từng có chân trong tổ chức phản cách mạng tiết lộ.

Thực ra nếu không có người hàng xóm cũ tố giác thì với thời gian sống trong trại, trước sau gì chuyện giả mạo của ông trung tá dỏm cũng sẽ bị lộ tẩy. Vì, tuy nói là cựu khóa sinh khóa 10 Võ bị Đà Lạt nhưng vẻ bề ngoài của ông ta trông còn trẻ hơn so với ông Bùi Thế Dung, cựu đại tá binh chủng Thiết Giáp thuộc khóa 13. Thêm vào đó, cung cách sống và hiểu biết cá nhân ông có vẻ như một nông dân hơn là một cựu sĩ quan cao cấp của VNCH. Có người nói lúc đầu thì họ ngờ ngợ, không tin… khi gặp mặt trò chuyện nhưng cứ nghĩ, vì thời gian dài bị tù cải tạo Cộng Sản nên đã làm biến dạng phong thái thật của ông ta. Đâu dè!

Giáng Sinh đến gần rồi qua đi chóng vánh trong khung cảnh thiếu thốn của đa số thuyền nhân sống trong trại. Với lại, đêm Giáng sinh là một buổi tối trời mưa dầm kéo dài suốt từ lúc chiều nên hầu như ít người biết đến một ngày lễ lớn. Chỉ những ai có dịp đi ra ngoài thì mới nghe được những điệu nhạc Giáng sinh vọng ra từ các quán hàng bên đường. Một buổi tối khi gặp nhau ở quán cà phê thì anh Khảm rủ cả bọn đi dự buổi dạ vũ của binh chủng Không quân sẽ tổ chức trong trại Galang 2, có tên là Đêm Không gian Hội ngộ. Bữa dạ tiệc sẽ diễn tại quán cà phê Đại Dương trong đêm thứ Bẩy tới và theo lời anh Khảm cho biết vì các cựu quân nhân Không quân thấy gần sắp đến Tết ta nên họ chung tiền với nhau mà thành. Coi như dịp mừng các thuyền nhân phe ta (gốc không quân VNCH) mới đến trại cũng như những người sắp sửa đi định cư ở nước thứ ba. Anh Khảm còn hứa với riêng tôi:

– Anh sẽ giới thiệu em với những người bạn không quân đã thanh lọc rồi. Mấy người họ quen biết khá rộng ở Galang 2 nên may ra, có thể giúp cho em chút hiểu biết khi gặp Cao Ủy LHQ thanh lọc.

Buổi tối ngày thứ Bẩy đến sau cơn mưa chiều nhè nhẹ làm cho không khí thoáng mát, dễ chịu hơn. Chỉ có anh chị Khảm-Phượng, Đỉnh, tôi và Yến đi thôi, còn Bẩy vì cảm sốt nên buộc phải nằm nhà. Dưới ánh đèn pin soi đường, đám chúng tôi đi trên con đường nhựa tối đen giữa hai hàng cây rừng. Mưa chiều làm mát trời nhưng dường như cũng làm bầy muỗi đói kéo thêm nhau bay từ rừng ra kiếm ăn. Chúng bạo dạn bay vo ve bên tai và đáp cả lên cổ lên mặt chúng tôi để hút máu. Thỉnh thoảng xuất hiện bóng đèn pin của người bộ hành hay từ một chiếc xe đạp đi hướng ngược chiều về lại Galang 1. Mới 7 giờ hơn mà trời đã tối mịt làm rõ những đốm sáng xanh nhỏ chớp tắt của loài đom đóm trong các bụi cây rừng sát bên lề. Hai bên đường, văng vẳng các điệp khúc ngăn ngắn của côn trùng kêu rỉ rả đây đó.

Chúng tôi băng qua khu vực phòng An ninh P3V, đi qua văn phòng ban Đại diện người Việt rồi vượt ngang nhà thương Galang 2 và tiến thẳng đến quán Đại Dương nằm gần khu Youth Center của nhóm thiện nguyện xã hội người Indo địa phương. Từ xa xa, cả bọn đã thấy quán cà phê Đại Dương lộ ra trong vầng sáng trên một sân trống khá rộng như một bãi đậu xe hơi bỏ hoang. Tiếng nhạc vang vang cùng bóng khá đông người bên trong quán đã làm phấn khích cả đám chúng tôi; nên ai cũng quên ngay cái mệt mỏi của chuyến cuốc bộ vừa qua.

– May là anh Khảm nghe chị đi sớm chứ đến trễ thì chắc chắn là không còn chỗ cho bọn mình ngồi. Chị Phượng nói.

Bước vào quán, vài nhân viên tiếp tân ra đón rồi hướng dẫn cả đám vào một chiếc bàn tròn ngồi chung với các người khách khác. Ở sân khấu, ban nhạc đang chơi bài Dừng Bước Giang Hồ thật sôi động. Một banner khá lớn cắt bằng giấy hàng chữ Đêm Không Gian Hội Ngộ treo ngay sau lưng mấy tay đàn guitar, đánh trống của ban nhạc. Một ông trạc tuổi anh Khảm từ đâu bước lại bàn chúng tôi, rồi nói:

– Các anh các chị từ Galang 1 ra đây phải không? Lội bộ chắc mệt dữ ha! Có khát thì cứ lấy nước uống tự nhiên nghe. Chúng tôi có cả bánh ngọt và bánh mặn nữa đó. Nằm trên bàn dài gần quầy tính tiền kia kìa.

Anh Khảm thay mặt cả bọn chúng tôi cảm ơn nhân viên tiếp tân rồi hỏi thăm ông ta về các bạn của anh trong Galang 2. Ngồi một lát thì chị Phượng và Yến đi lấy các ly giấy nước ngọt, bánh tráng miệng cùng thức ăn cho cả bọn. Trong quán có hơn 20 cái bàn và hầu như đều chật người ngồi. Chợt tôi thấy ông Bửu cùng cô Hòa ở một cái bàn gần phía cuối trong chỗ khuất của quán. Lấy tay chỉ cho anh Khảm thấy hai người họ rồi tôi thắc mắc.

– Anh! Đêm Không Gian Hội Ngộ là một ngày vui truyền thống của riêng binh chủng Không quân VNCH hả? Nó có nhất định phải là một ngày trong năm như các ngày lễ Quốc Khánh 19 tháng 6 hay ngày Quân Lực 1 tháng 11 không?

– Đúng là một dạ tiệc có tính truyền thống của không quân tụi anh nhưng không ấn định ngày nhất định, vì có thể tổ chức dạ vũ Đêm Không Gian Hội Ngộ ở bất cứ ngày nào trong năm. Đầu năm hay giữa hoặc cuối năm gì cũng được, tùy theo sắp xếp thuận tiện của từng đơn vị thôi Vũ. Bữa dạ vũ họp mặt tối nay là lần đầu tiên có tại Galang vì từ hồi lên đảo tới giờ, đã mấy năm rồi mà đâu tổ chức được. Anh Khảm trả lời.

Ban nhạc vẫn chơi tiếp các bản nhạc lính rồi xen cả nhạc vàng cùng nhạc hòa tấu ngoại quốc nữa. Khách đến càng lúc càng đông làm nhân viên tiếp tân phải lúng túng kê thêm các bàn cùng ghế ngồi mới. Tiếng người nói, cười chung với tiếng nhạc trong một khung cảnh ánh sáng mầu lúc chớp lúc tắt đầy huyên náo, nhộn nhịp. Chợt tiếng nhạc im bặt đột ngột để nhường chỗ cho một người đàn ông khá lớn tuổi bước lên đứng trên sân khấu. Tay ông ta cầm cái micro nói những lời chào mừng khách tham dự.

– Ông này là chủ tịch của binh chủng Không quân VNCH ở đây đó các em. Anh Khảm nói với đám chúng tôi.

Kế đó, ông Bùi Thế Dung lên sân khấu thông báo các chuyện của cộng đồng người Việt xẩy ra trong trại và chia xẻ các âu lo của bản thân ông trong vụ phải chờ đợi các diễn biến thanh lọc. Trước khi đưa cái micro cho hai người khác và rời khỏi sân khấu thì ông Dung nói:

– Hiện thời đã hơn mười bẩy ngàn thuyền nhân sống trong trại mà Cao Ủy LHQ  tiên đoán dòng người Việt tại quê nhà sẽ còn kéo đến đây thêm nữa.

Cầm cái micro trên tay, một trong hai  người họ nói lớn như thét:

– Hãy cứ vui như mọi ngày… Cái gì đến thì sẽ đến… Come what may. OK!

Nhiều tiếng OK trả lời cùng tiếng vỗ tay trong quán phụ họa thật lớn sau lời nói đó của người đàn ông. Mở đầu, ban nhạc cùng ca sĩ giúp vui chơi các bài hát của riêng binh chủng Không quân như Tuyết Trắng, Hát Cho Người Nằm Xuống, Không Quân Hành Khúc rồi sau đó là các bài ca về đời lính chiến như Kỷ Vật Cho Em, Rừng Lá Thấp… Hai người đàn ông vừa nói trên sân khấu, anh Khảm cho biết họ là anh em ruột tên Lưu Sơn và Lưu Thủy. Anh nói thêm:

– Vừa là chủ quán Đại Dương mà cũng gốc lính không quân, dạ vũ Đêm Không Gian Hội Ngộ tối nay có được phần lớn do hai người nầy sắp xếp.

Ở các bàn chung quanh, những teacher dạy English trong trại như thầy Hạnh, thầy Khiêm, thầy Kim Hằng, thầy Tâm… đều có mặt. Vậy ra mấy ông thầy này cũng đều gốc binh chủng Không quân cả. Cũng như anh Khảm, là quân nhân trong một binh chủng thường gửi người đi Hoa Kỳ tu nghiệp, nên họ mới có thể dạy Anh ngữ cách dễ dàng cho người trong trại. Từ khả năng cá nhân nói và nghe tiếng Anh trôi chảy, nên hầu như họ chỉ dạy riêng biệt đàm thoại. Loáng thoáng tiếng trò chuyện với nhau bằng Anh ngữ vọng ra từ các bàn chung quanh chung với tiếng ai đó hắt hơi chắc ngộp vì khói thuốc lá, như một làn sương mỏng bao phủ trong quán. Đỉnh khẽ hất tay báo cho tôi thấy vài cặp nam nữ bắt đầu kéo nhau ra sàn piste dã chiến khi ban nhạc đổi sang một điệu Tango lả lướt. Dạ vũ bắt đầu rồi.

 

Tay trong tay, từng đôi nam nữ-già trẻ dìu nhau bước tới bước lui theo điệu nhạc dặt dìu. Sàn pist trong phút chốc đã chật vì thêm người ra khiêu vũ. Cứ vừa dứt một bài hát thì ban nhạc chuyển nhanh chóng sang bài mới khác và họ chỉ tạm ngưng khi giới thiệu người nào đó lên sân khấu ca hát giúp vui. Cứ vậy, ban nhạc lần lượt đổi tông bài hát từ buồn qua vui lẫn lộn và có lúc chơi cả nhạc ngoại quốc sôi động nữa. Tiếng cười tiếng nói vui đùa bên nhau ở trong các bàn chung với tiếng lách cách của ly muỗng cùng cả tiếng trò chuyện với nhau bằng Anh ngữ. Căn phòng của quán bình thường khá rộng giờ đã chật vì quá đông người thêm bầu không khí ngột ngạt từ khói thuốc lá đã làm ai đó không chịu nổi phải húng hắng ho. Tôi nhìn Đỉnh đang dìu chị Phượng trong một điệu Rumba thì nghe một giọng nói:

– Khoẻ không anh Khảm? Lâu quá không gặp anh. Lúc nầy công việc ra sao rồi? Còn dạy học không vậy? Một người đàn ông dừng lại bàn bắt tay anh Khảm rồi tiện tay, kéo một cái ghế trống gần bên và ngồi chung luôn.

Tiếng nhạc đột nhiên trổi lớn hơn khiến người đàn ông và anh Khảm phải cúi đầu thật gần để nói chuyện riêng mà tôi loáng thoáng nghe được những câu: ” Nghe anh Luân nói vậy… Thiệt vậy sao anh… Cũng chưa rõ… phải chờ xem nữa… Chắc chắn phải có người đậu người rớt chứ  “, rồi cả hai im lặng nhìn nhau. Chợt anh Khảm hỏi:

– Này! Nghe đám thằng Sơn thằng Tuân kể là hôm sơ vấn, lão Peter Cao Ủy trưởng nghi ngờ giấy ra trại của anh là giấy giả hả? Kể đầu đuôi cho tôi nghe với anh Thành.

– Anh coi! Chả thấy khi đứt phim mình mới có 27 tuổi mà đã lon thiếu tá thêm cái giấy ra trại còn mới toanh nên nghi ngờ, cứ hỏi dồn hoài. Người đàn ông tên Thành trả lời.

– Rồi sao nữa anh? Anh Khảm hỏi tiếp.

Người đàn ông tên Thành có nước da trắng, mái tóc bồng bềnh trông thật nghệ sĩ trong vóc dáng cao gầy. Ông vừa nói tuổi nhưng trông vẻ mặt thì trẻ hơn, tôi lắng nghe tiếp lời ông kể với cái giọng đều đều của người vùng miền tây Nam bộ.  ” Chuyện là vầy! Anh biết mình là phi công phản lực F5, bị Việt Cộng bỏ tù cải tạo gần 10 năm trời. Khi được thả thì nó cấp cho mình cái giấy ra trại nên mình phải giữ thật kỹ, rủi bị mất là chết là tiêu tùng cuộc đời luôn vì nó là cái bùa hộ mạng của mình mà. Mình giữ kỹ nên nó trông mới toanh, đâu có gì lạ. Vậy mà lão Peter cũng nghi ngờ là giấy giả đấy. Lão cứ lấy tay chỉ vào cái giấy ra trại của mình rồi nói là giấy nầy giả “ . Ông Thành ngừng nói, tay bật quẹt gas châm một điếu thuốc hút.

– Rồi anh nói sao với lão Peter? Giọng anh Khảm.

– Tui quật lại lão ta ngay. Ông nói giấy nầy giả hả? Hỏi sao ông biết nó là giấy giả thì lão Peter im lặng. Lão ta nhìn mặt tui chằm chằm nhưng tui cũng đâu sợ. Thấy lão cứ im lặng mãi tui hỏi tiếp. Bộ ông nghĩ tui làm được tờ giấy ra trại nầy thì lão ta lắc đầu, trả lời: ”  Không! Ông không làm được, nhưng ông mua giấy nầy từ tay công an Cộng Sản Việt Nam “. Ông Thành vừa nói vừa chỉ ngón tay trỏ mà mắt lúc nhìn tôi, lúc nhìn anh Khảm.

– Trời! Căng thẳng quá ha! Nghe họ nói anh cãi lộn với lão Peter ngay tại bàn sơ vấn. Đó là lúc đang kể này, phải không? Anh Khảm cười cười sau câu nói.

– Họ kể trật rồi anh ơi. Đời nào mình dám làm vậy dù lúc đó tui rất bực. Máu nóng trong người tui nó chạy rần rần. Khi nghe lão ta nói mình mua giấy ra trại thì mình ngồi thẳng người lên rồi hỏi lại liền. Vậy là ông đã biết tui mua giấy ra trại. Phải không? Lão Peter nghe mình nói vậy thì gật đầu cái rụp còn cười nữa chứ. Tui chỉ chờ có thế mới hỏi tiếp lão ta. Ông biết chỗ họ bán giấy ra trại không thì lão lắc đầu hỏi lại tui:  ” Anh nói như vậy với ý nghĩa gì? “. Tui cười trả lời là nếu ông biết chỗ bán thì để tui giới thiệu khách hàng cho. Ông biết là ở trong đảo tị nạn Galang này có nhiều người hiện cần giấy ra trại lắm mà họ không biết kiếm đâu ra đó. Thật may hôm nay tui gặp ông rồi, thưa ông luật sư Peter.

– Nghe anh nói vậy thì cha nội Peter phản ứng làm sao?

– Vừa nghe xong câu tui nói đó thì lão ta đứng bật lên nói buổi sơ vấn hôm nay của tui tới đây là xong, là chấm dứt và bắt tay tui rồi còn nói sorry nữa chứ. Mẹ bà! Không hiểu sao lão ta tưởng cái thằng tui từng lái F5 oanh kích Việt Cộng mà nó để ngồi yên không bắt tù cải tạo! Việt Cộng từng xếp hạng nhất phi nhì pháo… Hay lão ta biết mà vẫn cứ làm bộ hỏi như vậy? Ông Thành vừa nói vừa cười nhè nhẹ với tôi cùng anh Khảm.

– Khi anh nói vậy thì lão Peter có bực tức không?

– Lúc đó tui chẳng biết mà cũng chẳng quan tâm. Có điều, sau khi về tới barrack ngẫm nghĩ lại, thấy mình hơi nóng nhưng mà cái tính tui nó như vậy, đâu có kềm được. Anh biết tụi Việt Cộng nó bỏ tù tui lâu một phần cũng do cái tính này mà ra. Người đàn ông tên Thành trả lời.

Ông Thành là mẫu người miền Nam bộc trực, dễ nổi nóng nhưng cũng mau nguội. Những người như vầy thường rất thành thật. Tôi ngồi yên, ngầm quan sát ông ta cùng số cựu phi công trong quán cà phê tối nay rồi tự dưng tôi thắc mắc không hiểu sao mấy người này có sẵn máy bay lại không di tản trong những giờ phút cuối của chế độ VNCH mà chịu kẹt lại, rồi bị Việt Cộng bắt bỏ tù để đến bây giờ phải làm một chuyến vượt biên? Tôi, anh Khảm hay những người lính, dân lành khác không có phương tiện để di tản thì đã đành, nhưng còn họ? Hỏi ông Thành thì ông ta cho biết: ” Trời! Máy bay là của phi đoàn chứ đâu riêng cho cá nhân mình được hả em. Hôm nào đến phiên mình trực chiến mà có lệnh yểm trợ hành quân thì mới bay được. Mà cũng còn tùy vào tình trạng máy bay nữa. Hôm 29, 30 năm đó mình đang ở trong Tân Sơn Nhứt chứ bộ  “.

– Ở trong phi trường Tân Sơn Nhứt, vậy mà anh lại không di tản được? Tôi buột miệng.

– Lúc đó mình cũng hoang mang lắm, nhưng nghĩ tụi Việt Cộng nó cũng người Việt mình chắc không đến nỗi xử tệ nhau nên mới ở lại. Tuy phi trường lúc đó trong tình trạng rối ren vì bị Việt Cộng pháo kích liên tục nhưng nếu cố gắng thì mình cũng có thể đi thoát ngay trong lúc đó. Trực thăng nhiều chiếc cất cánh gần trước mặt mình, muốn bay ra chiến hạm Mỹ quá dễ. Có ai ngờ được!

Tôi mỉm cười chia xẻ cái bất ngờ với ông Thành. Phải! Không ai ngờ bọn Việt Cộng lại tàn độc như vậy sau khi chúng chiếm được VNCH. Người gốc Nam bộ không biết rõ tâm địa bọn Việt Cộng đã đành mà ngay cả những người thuộc dân di cư miền Bắc như tôi và anh Khảm mà còn lầm. Chẳng qua cứ nghĩ nhiều năm rồi thì Việt Cộng ít nhiều đã đổi khác. Ký ức tôi nhớ lại những giờ phút hối hả lẫn hốt hoảng chạy đôn đáo trên đường phố Sài Gòn để mong tìm cách vào được phi trường hoặc các cao ốc nơi những máy bay trực thăng thỉnh thoảng đáp xuống bốc người rồi bay ra hướng biển. Những ai trong các chuyến trực thăng hôm đó quả thật may mắn khi kịp thoát khỏi tay Việt Cộng.  Ông Thành có các cơ hội di tản mà không biết chộp ngay lấy nên đã chọn ở lại để nhận những năm tù học tập cải tạo. Ông không phải là người gốc miền Bắc di cư và vì quá tin vào tình người Việt nên phải trả giá bằng những năm tù. Phải vậy không hay vì sự kém hiểu biết về đối phương tù nên đã làm ông có cái nhận xét không đúng, dẫn ông đến quyết định sai lầm chết người. Tự nhiên tôi nghĩ ông Thành sẽ qua được thanh lọc dù ngày Cao Ủy LHQ công bố kết quả chưa đến. Chỉ là một phi công bình thường và đã chọn ở lại Việt Nam thay vì di tản ra chiến hạm để sau đó, bị Việt Cộng bỏ tù gần 10 năm thì nếu không phải bị chế độ ngược đãi, ông Thành sẽ là hạng người gì khi phải vượt biên?

– Anh! Em nghĩ anh sẽ qua được thanh lọc đó. Anh bị Việt Cộng bỏ tù lâu quá mà. Tôi nói với ông Thành.

– Ồ! Cám ơn em. Bạn anh ai cũng nói vậy. Anh nghĩ ông Cao Ủy trưởng Peter có bực tức thái độ anh khi đó nhưng vẫn phải làm đúng luật tị nạn em à. Không phải cứ thương hoặc ghét một người nào đó mà có thể thay đổi luật được, tụi Tây phương là vậy nên anh cũng chẳng lo lắng lắm. Cái gì tới thì rồi nó sẽ tới. Bây giờ mình cứ lạc quan mà sống thôi. Còn em? Em sơ vấn hay thanh lọc gì chưa? Ở đây bao lâu rồi? Trước đây có lính tráng gì không? Ông Thành hỏi lại.

Kể sơ cho ông Thành biết về quãng thời gian vừa qua và công việc đang làm hiện nay của tôi ở phòng Dịch thuật cùng niềm hy vọng bản thân trong việc làm thiện nguyện của mình sẽ được Cao Ủy LHQ giúp đỡ thì ông lắc đầu.

– Em lầm rồi! Tụi Tây phương họ cho chuyện thuyền nhân mình làm trong các phòng ban ở trại là một sự tình nguyện chứ không bắt buộc. Mình cũng gọi là việc thiện nguyện mà. Cao Ủy LHQ ở đây là ai? Ông Peter, một người Hòa Lan. Các luật sư sơ vấn đều là người Mỹ, người Anh… Họ chắc chắn biết tự người mình xin làm thiện nguyện chứ đâu có một ràng buộc kiểu khế ước hay giao kèo nào và như vậy thì sẽ không chút ảnh hưởng gì đến thanh lọc đâu. Nếu em làm việc cho tụi Indo thì may ra có thể họ sẽ giúp cho nhưng anh cũng không chắc lắm. May ra thôi, vì cũng chưa chắc tụi Indo chịu giúp không cho người mình. Đó là suy nghĩ của anh; không phải nói ra như vậy là để bảo em thôi đừng làm thiện nguyện nữa. Tùy em, nếu mình nghĩ làm thiện nguyện như một việc góp sức với cộng đồng thuyền nhân ở trại thì cứ vui mà làm, còn hơn ở không. Và, nếu em không có lính tráng gì thì lý lịch cũng đáng lo lắm đó. Ông Thành nói đến đây thì im lặng, ngồi trầm ngâm rồi đột ngột quay qua hỏi anh Khảm:  ”  Ê! bồ Khảm. Chú em này bà con sao với you vậy? “.

Anh Khảm cho ông Thành biết sơ qua về tôi, thì ông nói:

– Hôm nào rảnh rỗi vào chỗ tôi, tôi sẽ giới thiệu chú em này với một anh bạn có thể giúp đỡ trong việc thanh lọc.

Giúp đỡ trong việc thanh lọc. Tôi, anh Khảm nhìn ông Thành mà chưa hiểu câu ông vừa nói, thì ông tiếp:

– Giúp là giúp chú em trong việc phải khai báo sao cho có lợi khi vào sơ vấn Cao Ủy LHQ và thanh lọc của tụi Indonesia thôi. Tay này rất rành về luật tị nạn, công ước Geneva hay nghị định thư gì gì đó.

Trước khi từ giã anh Khảm để trở về chỗ cũ, ông Thành còn dặn tôi thu xếp một ngày nào đó để vào Galang 2 gặp ông:  ” Càng sớm thì càng tốt, nhớ nghe “, ông ta nói.

Giống như mọi buổi dạ tiệc, khách cứ khiêu vũ cho đến khi chán hay mệt thì trở về chỗ ngồi nghỉ chân rồi sau đó, lại tiếp tục. Thấy trống bớt người và ban nhạc đang dạo đầu một điệu Tango thì Yến kéo tay tôi ra sàn piste. Tôi choàng tay qua hông Yến dìu nàng từng bước, từng bước. Đêm nao cùng ai dưới trăng thanh… Yêu đương lòng chan chứa bao tình. Yến ngước mặt nhìn tôi, làn mi nàng chớp nhẹ. Xa xăm nhìn ai nay khuất bóng. Tự dưng lời hát của ca sĩ làm tôi chợt nhớ về Ánh Phương. Cũng lời hát nàng đã hát trên đảo hoang bên tôi đây trong ánh trăng sáng. Thấu chăng người ngàn phương trời xa… Gieo tình thương lòng ta… Tôi và Ánh Phương đã có lúc kề cận nhau như tôi và Yến bây giờ. Yến đang gần bên nhưng sao tôi lại nhớ đến Ánh Phương? Tôi bối rối ngắm khuôn mặt tuyệt đẹp của Yến. Nàng mỉm cười trong ánh mắt long lanh vì biết mình đẹp. Tôi thương Yến như đã thương Ánh Phương hay thực sự tôi chỉ thương nàng như tình thương đã dành cho Kim Thu, em gái ruột tôi. Khó hiểu quá! Mải suy nghĩ làm bài hát chấm dứt mau lẹ, tôi muốn tiếp tục khiêu vũ thêm nữa với Yến khi ban nhạc dạo tiếp qua điệu slow, nhưng nàng đã kéo tay tôi trở về bàn, nói cảm thấy chân hơi đau.

Trong số người kéo nhau ra sàn piste giờ có cả ông Bửu và cô Hoà, nhưng vừa mới quay được vài vòng thì không hiểu sao, cô Hoà lại bỏ ngang điệu nhẩy và quay về chỗ ngồi,  để mặc ông Bửu đứng luống cuống một mình. Trông điệu bộ của ông thật tội nghiệp trong cái vẻ cố làm như tự nhiên khi nhún vai rồi tắp vào một bàn ngồi chung với những người khác gần đó. Yến lấy tay ngầm cho tôi thấy vài nhân viên của phòng An ninh P3V ngồi trong các bàn gần cái quầy sát vách tường chung với các cô gái Việt trong trại. Đây cũng là các cặp bồ bịch nhau như papa Phước với cô gái tên Hướng ở ngoài Galang 1. Tôi nghĩ vậy.

Nhìn đồng hồ thấy gần 10 giờ và đã có người lục tục rời quán, chị Phượng hối cả bọn phải về sớm trước giờ giới nghiêm. Trong đêm tối, chúng tôi về lại Galang 1 chung với những người khác trong buổi dạ tiệc tối nay. Cũng như lần đi, lượt về anh Khảm soi đèn pin loang loáng dẫn đường cho cả bọn. Đỉnh thủ trên tay một đoạn cây tươi nó kiếm được đã vuốt sạch lá, nói làm roi để phòng gặp rắn sẽ có cái mà quật. Ở đảo tị nạn Galang chỉ có hai thứ mà thuyền nhân sợ là bị rắn độc cắn hoặc bị đau ruột thừa đột ngột. Bị rắn độc cắn mà không đưa đi cấp cứu liền, thì có thể chết như chơi; còn đau ruột thừa cũng rất dễ vong mạng. Có khi nhà thương cần phải chuyển bệnh nhân sang tận đảo Tanjung Pinang ngay nếu tiên lượng trầm trọng. Ai cũng sợ bị đau ruột thừa trúng vào hai ngày thứ Bẩy, Chủ Nhật vì ở các ngày này, không có tàu cao tốc từ trại Galang để chuyển bệnh nhân sang đảo đó.

Không có tàu cao tốc để chuyển bệnh nhân sang đảo Tanjung Pinang chính là một rầy rà cho thuyền nhân khi gặp chuyện cần phải cấp cứu gấp rút. Trong trại đã từng có chuyện thương tâm như vụ một bà người Việt vì bị hóc xương gà nơi cuống họng khi ăn cơm, bà ta đến nhà thương Galang 2, nhưng bác sĩ không chữa được lại trúng ngay vào ngày cuối tuần, nên đành phải chờ. Chờ đến khi có tàu cao tốc trong ngày thứ Hai đầu tuần thì mới chuyển tiếp sang được đảo Tanjung Pinang nhưng khi đó, vết thương đã nặng, làm độc và kết quả bà ta đã chết oan uổng.

Ngoài chuyện sợ rắn độc cắn, đau ruột thừa hoặc bệnh cấp tính nguy hiểm thì thêm một nỗi lo khác cho những người phải tạm trú trong các barrack lợp lá nằm gần các hàng cây lớn sát với rừng. Đó là nạn cây cạnh barrack gẫy đổ khi trời mưa to nổi giông gió lớn. Từ khởi đầu, bộ khung của barrack lợp lá chỉ được nhà thầu Titan dựng rất sơ sài và dù thuyền nhân sau khi vào ở một thời gian ngắn, đã phải gia cố thêm cây rừng kiếm được cùng các tấm bạt plastic mua ở tiệm, nhưng nó vẫn mong manh mỗi khi có cơn gió mạnh. Nhóm năm người chúng tôi đã có lần ngồi co cụm với nhau trong một đêm mưa trời nổi giông gió thật lớn. Tiếng cành cây vặn vào nhau kêu răng rắc trong cơn gió bão làm cả nhóm khiếp đảm vì sợ cây chịu không nổi sẽ gẫy, đổ thẳng xuống barrack và đè lên chúng tôi. Lần nào cũng vậy, khi trời nổi giông gió lớn thì thể nào cũng có barrack lợp lá nào đó trong trại bị hư hỏng nặng và chắc chắn thuyền nhân phải bỏ tiền túi mua dụng cụ để sửa lại hoặc đành bỏ mặc, kiếm chỗ ở khác.

Chúng tôi đi về dưới bầu trời khuya đầy mây không trăng không sao nhưng vẫn có ánh sáng lờ mờ đủ để nhìn trong một khoảng cách gần. Vì Yến đau chân nên cả nhóm đành phải đi thật chậm dù ai cũng muốn về nhà càng nhanh càng tốt. Cơn mưa nhẹ hồi chập chiều tuy làm bầu không khí thoáng mát hơn nhưng vì không nhiều nước nên hơi nóng bốc lên từ hai bên vệ đường nồng nặc một mùi đất ẩm. Chúng tôi đi ngang qua những barrack lợp lá, nhà cửa nằm bên vệ đường nơi mới có mấy tháng trước, vẫn còn là các bãi đất trống đầy cây mọc hoang giờ đã thành các xóm nhà nhỏ. Tuần nào cũng có ghe mới đưa người nhập trại và hầu hết là từ bên Mã Lai Á chuyển qua. Qua khỏi nhà thờ Tin Lành, đồi có khu mộ địa thì cả bọn chúng tôi lại phải đi tiếp lên một đoạn dốc cong chữ C, nơi mà các thuyền nhân từ các năm về trước đã xây bức tượng cement nhỏ hình người phụ nữ trong tay ôm một người lính nằm dài trên đất. Người trong trại gọi tượng này là Mẹ Bồng Con. Cây cối ở khu vực cua chữ C khá rậm rạp. Thêm vào đó, cách một đoạn ngắn cạnh bên đường lại có một cây cổ thụ to lớn xum xuê, cành lá um tùm cùng các rễ phụ của nó lòng thòng bám thẳng xuống đất. Không biết cây này là loại cây gì nhưng người trong trại cứ gọi nó là cây đa. Vào ban ngày, khi đi ngang qua đây thì ai cũng thấy cây đa cổ thụ này đứng lù lù gần vệ đường và dù gặp trời có nắng nóng, muốn nghỉ chân thì cũng chẳng ai dám mò vào các bóng mát của nó để trú. Cũng có thể vì họ sợ rắn rết hay vì hình ảnh tàng lá xum xuê với các đoạn rễ lòng thòng nên cây đa cổ thụ trông có vẻ linh thiêng, huyền bí như trong chuyện kể về ma quỉ, khiến người trong trại phải ngần ngại mà không vào.

Vừa lên tới ngay đoạn dốc cong chữ C thì cả bọn chúng tôi phải dừng lại vì một chuyện lạ đang xẩy ra trước mắt. Những đốm sáng vàng hoặc đỏ xuất hiện rồi tắt chóng vánh nơi vùng đen của cây đa cổ thụ. Các đốm sáng đó không phải là những con đom đóm vì đom đóm có mầu xanh vẫn còn chớp tắt bên vệ đường khi chúng tôi đi qua. Cả bọn đứng yên nhìn các đốm sáng cứ xuất hiện rồi tắt như vậy trong thắc mắc vì không hiểu nguồn gốc của chúng từ đâu mà có. Được một lát thì chị Phượng bảo đi về nhưng bất ngờ Đỉnh làm gan, bước tới lấy tay dành cái đèn pin của anh Khảm và khẽ  nói:

– Mọi người cứ đứng yên đây, để tui xem coi nó là cái gì cho biết.

Tay cầm đoạn cây, tay kia đèn pin chiếu thẳng vào cây đa cổ thụ rồi lại soi xuống đất để dò đường, Đỉnh bước tới trước trong sự hồi hộp của cả bọn. Nắm chặt lấy tay tôi, Yến lập cập nói từng câu đứt quãng:

– Em… em… sợ… sợ… quá… anh!

Tôi cố nhìn khuôn mặt Yến trong đêm tối lù mù, định trấn an nàng ít câu thì có tiếng thét hoảng hốt của Đỉnh và của cả anh chị Khảm-Phượng nên vội quay mặt lại thì kịp thấy vài đốm mầu xanh lơ to bằng bụm tay lóe sáng ngay sát bên thân người của Đỉnh. Đỉnh luống cuống vất bỏ đoạn cây rồi quay đầu chạy về chỗ 4 người chúng tôi đang đứng. Đến bên chúng tôi, Đỉnh thở hổn hển không nói nên lời. Như vừa thức dậy sau một giấc ngủ ngắn, cả bọn chúng tôi im lặng, không ai bảo ai mà vội rảo bước thật nhanh. Bước nhanh từng bước gần như chạy, chúng tôi đi thẳng một lèo cho tới khi về tới khu vực có ánh đèn đường của zone 2 Galang 1 thì mới hoàn hồn và bớt sợ. Chị Phượng lên tiếng trước, hỏi anh Khảm:

– Cái đó là gì vậy? Ma phải không anh?

Anh Khảm im lặng một chốc khá lâu rồi mới trả lời:

– Anh cũng không biết… nhưng nghe người ta nói là ma trơi đó.

Chị Phượng chẳng hỏi thêm và 3 đứa tôi thì im lặng vì sợ vì theo đuổi riêng ý nghĩ của mình. Đốm sáng mầu xanh lơ vừa thấy làm tôi nhớ lại chuyện đã xẩy ra trong chuyến vượt biên lần trước khi ghe bị hỏng máy, phải đổ bộ lên tạm trú trên đảo hoang. Đốm sáng mầu xanh lơ mà cô gái trông thấy giữa khuya trên đảo chắc cũng giống như các đốm sáng ở đây trong tối hôm nay vì đã làm cô sợ, phải thét lên. Chợt anh Khảm nói:

– Theo anh nghe người ta kể là chất lân tinh trong xương cốt người hoặc động vật bị vùi dưới đất, sau cơn mưa chất lân tinh thoát ra, bốc lên rồi gặp khí trời thì tự nó phát sáng như vậy… Nhưng mà…

Anh Khảm ngập ngừng trong chốc lát rồi tiếp:

– Cũng có người nói đó là vong linh người khuất mặt muốn cho mình biết có sự hiện hữu của họ… Có thể đó là vong linh của họ hàng hay thân quyến hoặc người quen biết với mình… Mà thôi… Đừng hỏi nữa. Khó giải thích lắm… Tùy theo có tin hay không tin nơi mỗi người.

Lời anh Khảm giải thích y chang những gì mà anh Tấn đã nói với đám người vượt biên chúng tôi ở đêm khuya đó tại hoang đảo. Nhớ lại thái độ hốt hoảng của anh Khảm vừa qua, so sánh lại thì rõ ràng anh đã thua anh Tấn cái gan dạ của người lớn tuổi từng trải. Phải chi tôi sẽ gặp lại được anh Tấn trong một chuyến vượt biên nào đó sắp đến trại trong các ngày tới. Nếu có cuộc tái ngộ như vậy, tôi sẽ kể cho anh nghe về chuyện đã thấy trong tối hôm nay, để mong anh giải thích thêm.

Về tới cổng dẫn vào zone 3 của Galang 1 thì mới thấy trời đã khuya thật, hàng quán trống trơn ngoài các nhân viên đang lúi húi dọn dẹp trước khi ngủ. Dãy nhà dân đóng cửa im lìm cùng các barrack nằm yên lặng dưới ánh đèn đường. Mình về trễ quá, chúng tôi bảo nhau. Anh chị Khảm-Phượng chia tay 3 đứa tôi khi thấy một tốp năm, sáu người trong ban trật tự đi ngược chiều ở phía bên kia đường gần lối dẫn vào khu vực thanh lọc. Tốp nhân viên trật tự đó đến gần và một người trong bọn họ bảo:

– Mấy người ở barrack nào mà còn loe ngoe ở đây vậy? Nhanh chân lên đi, cúp điện rồi mà còn lảng vảng ngoài đường rủi đám police bắt gặp thì mệt với tụi nó đa.

Tối hôm sau khi gặp lại ở quán cà phê của bác sĩ Luân thì anh Khảm đã không dấu khỏi vẻ mắc cỡ vì đã để cho ba đứa tôi biết cái nhát gan của anh khi nhắc lại chuyện đã gặp. Tôi cũng nhát mà Đỉnh cũng vậy, dù nó là đứa có bản lĩnh khi cố vào tận nơi để xem các đốm sáng. Đỉnh bào chữa:

– Tự nhiên ở đâu ra mấy đốm lửa xanh lè ngay sát cạnh mình thì hỏi sao mà em không sợ. Ai trong hoàn cảnh đó mà hồn vía không lên mây.

Chị Phượng cho là ngay chỗ cây cổ thụ đó, chắc cũng có người đã gặp y như đám chúng tôi và nói thêm:

– Người vượt biên đến đảo tị nạn Galang từ bao lâu nay rồi mà người chết bỏ xác nằm lại đâu ít. Biết đâu, trong số họ có người còn chưa làm tròn một kỳ vọng gửi gấm của gia đình hoặc nguyện vọng của cá nhân họ nên vong linh vẫn nặng mối u uẩn chưa siêu thoát được. Có ma thì đâu gì lạ.

Anh Khảm nghe vậy, đồng tình:

– Anh thì chưa thấy ma bao giờ ngoại trừ chuyện tối hôm qua. Hồi còn trong quân đội thì anh đã từng nghe đám bạn kể họ đã gặp ma nhát ghê lắm. Cũng không hiểu tại sao có người lại gặp ma mà có người thì không? Có người nói do cái vía của mình, người nặng hay nhẹ thôi. Nhưng kể cũng lạ vì trời cũng thường mưa như vậy mà sao lại nhè ngay lúc bọn mình đi đến thì mới có các đốm sáng.

– Không biết mấy người đi trước mình thì họ có thấy hiện tượng đó không nữa, em cũng thắc mắc. Chị Phượng nói.

Đúng vậy! Khi rời khỏi buổi dạ vũ thì trên đường về lại Galang 1, nhóm chúng tôi đi cùng đường chung với một số người. Những người này lần lượt vượt qua mặt và sau đó chúng tôi đã mất dấu họ. Đỉnh nói không chừng đám người đó cũng thấy các đốm sáng nhưng họ bỏ đi thẳng chứ không như bọn mình, làm gan đứng lại xem. Anh Khảm thì bảo cũng có khi chỉ có bọn mình thấy hiện tượng đó thôi rồi anh lập lại: ” Không biết đó có phải là ma không nữa? “.

Như lời anh Khảm nói, tôi chẳng biết ma trông ra sao nhưng cũng mong đừng bao giờ trông thấy. Chúng tôi trò chuyện tới lui rồi cũng quay trở về chuyện thanh lọc của Cao Ủy LHQ và nước chủ nhà Indonesia với thuyền nhân sau ngày đóng cửa trại. Tôi thầm nghĩ bản thân mình phải cố làm sao để được Cao Ủy LHQ công nhận là người tị nạn khi nghe anh chị Khảm-Phượng kể về 2 chuyện đã xẩy ra từ cuối năm ngoái. Chuyện đầu là một thuyền nhân trẻ vào tiệm tạp hoá của người Nam Dương mua một đôi dép nhựa. Mua rồi, về barrack thì mới biết đôi dép đó cùng một phía chân phải nên anh ta mang lại tiệm để đổi lấy đôi khác. Nhưng gã chủ tiệm không chịu, nói anh ta đã đổi chiếc dép cho một người cụt chân phải nào đó. Đôi co qua lại thì gã chủ tiệm nổi nóng và đả thương thuyền nhân này. Anh ta liền đến kể chuyện với ban Đại diện người Việt để nhờ can thiệp. Ban Đại diện người Việt liền báo cho phòng An ninh P3V để nhờ họ phân xử vì chủ tiệm là người địa phương. Phòng An ninh P3V không xử và ban Đại diện người Việt cũng đành chịu lép, không giúp được. Tức mình vì nghĩ đã bị xử ức, thuyền nhân nầy liền đến gặp phòng Nhân quyền của Cao Ủy LHQ và trình bầy vụ việc của mình. Các nhân viên phòng này  đã liên lạc với phòng An ninh P3V và chỉ ít ngày sau thì họ thông báo cho ban Đại diện người Việt là gã chủ tiệm đã chịu đổi lại đôi dép khác. Người trong trại nói phòng Nhân quyền Cao Ủy LHQ can thiệp vì anh ta là người tị nạn, đến Galang trước ngày đóng cửa và còn kẹt ở lại trại để trị bệnh lao.

Chuyện thứ hai là có hai anh em ruột người Việt khác cũng đến trại trước ngày đóng cửa. Người anh đã trên hai mươi còn người em thì khoảng 9 tuổi. Một hôm, người em mất tích khi đi vào rừng, nằm mé sau căn chòi họ sống. Tên của anh em họ lại có trong danh sách những người sẽ đi định cư ở Pháp trong chuyến bay vào 3 tuần lễ sắp tới. Không thấy em mình đâu và sau ít ngày tìm kiếm ở các nơi quen biết mà không ra thì người anh liền báo cho phòng Định cư Cao Ủy LHQ biết về vụ mất tích. Biết tin đó, Cao Ủy LHQ báo ngay cho phòng An ninh P3V để làm một cuộc tìm kiếm trong tất cả các khu rừng trên đảo Galang. Cao Ủy LHQ cũng thông báo sẽ thưởng 500 đô la Mỹ cho bất cứ nhân viên phòng An ninh P3V nào tìm được… xác người em vì họ nghĩ là đã chết. Đám nhân viên phòng An ninh P3V khoanh từng vùng rừng một và dàn hàng ngang lục lọi các bụi rậm để mong tìm thấy xác mà lãnh tiền thưởng.

Galang chỉ là một hòn đảo nhỏ vì chiều dài và chiều rộng chỉ khoảng 3 hay 4 km nên sau hơn một tuần lễ thì đám nhân viên phòng An ninh P3V đã quần nát mọi chỗ. Họ chỉ tìm được đôi dép của người em bỏ lại trên bờ cát của một chỗ khuất vắng sát với biển.

Không thấy thi thể, vậy người em biến đi đâu? Phòng An ninh P3V cho là có lẽ, người em đến chỗ bỏ lại đôi dép thì đã bị rắn độc cắn chết và sau đó thì thi thể bị thú rừng ăn mất sạch. Nhưng thú rừng ở Galang như heo rừng, kỳ đà… nếu có ăn thi thể người em thì cũng phải còn lại các mảnh xương hoặc quần áo. Phòng  An ninh P3V dùng các xuồng máy chạy lùng sục dọc theo cạnh đảo khi nghi ngờ là người em đã chết đuối lúc tắm biển một mình nhưng cũng không thấy vết tích gì. Sau cùng khi đến kỳ hạn thì người anh đành phải rời trại, đi định cư một mình mà không biết đích xác về tung tích của em trai. Không ai biết số phận của người em đó cho đến mãi mấy năm sau khi trong trại xẩy ra một vụ bắt cóc hai đứa trẻ Việt khác ở Galang 1 thì mọi người mới giải thích được lý do mất tích này.

Rõ ràng, Cao Ủy LHQ chỉ bảo vệ quyền lợi của những thuyền nhân đã được họ công nhận là tị nạn. Đó là trách nhiệm của họ. Thuyền nhân tạm dung, nó nằm lưng chừng giữa khái niệm phân biệt người tị nạn hay là di dân vì kinh tế. Thông thường khi đàn ông, thanh niên sống xa quê hương mà có chút tiền thì chuyện tụ họp nhau gầy sòng nhậu nhẹt là việc bình thường. Ở đảo tị nạn Galang cũng vậy nhưng rủi nhậu say mà đánh lộn với nhau và để police bắt gặp có thể còn bị đánh, bị bắt nhốt ở chuồng cọp monkey house nữa. Nếu cá nhân người đó là thuyền nhân tạm dung thì có khi còn bị nhân viên phòng An ninh P3V ép phải ghi danh, hồi hương về lại Việt Nam.

Đã sắp sửa đến Tết ta, ban Đại diện các zone bắt đầu cho dựng cột nêu cùng làm các bàn thờ tổ quốc ở các lối đi chính trong trại. Một số thuyền nhân làng pháo Gò Vấp bên quê nhà đã làm các dây pháo chùm thật to cho ban Đại diện để treo trên cột nêu. Chỉ là pháo giả thôi vì đâu có thuốc cháy ở trong ruột. Có người bàn nhau vào rừng kiếm lá chuối hoang để gói bánh hoặc thử tìm mai rừng mang về chưng Tết. Một buổi tối, Đỉnh không đi ra quán cà phê của bác sĩ Luân chung với tôi, Yến, Bẩy cùng anh chị Khảm-Phượng mà lại đi đâu đó cùng với Ánh Diễm. Ngồi ở quán nói chuyện về Ánh Diễm và Đỉnh mà thực sự đám chúng tôi không hiểu mối quan hệ giữa hai người họ bây giờ đã đến đâu. Cho đến khi về lại barrack để ngủ thì nó cho biết là sang năm mới Ánh Diễm cùng với một người quen sẽ sang lại một tiệm bán tạp hóa tại Galang 1.

– Bả (Đỉnh có lúc gọi Ánh Diễm là bả) nói vì sẽ phải ở đây lâu nên mới sang tiệm để buôn bán kiếm thêm chờ tới lúc thanh lọc tính sau. Em sẽ lo việc chạy hàng hóa cho tiệm, họ bàn vậy.

Ánh Diễm tính như vậy kể cũng được. Cũng ở quán cà phê bác sĩ Luân thì ông cho chúng tôi biết tin là xưởng workshop nhận lệnh của nhà thầu Titan đóng gấp cả chục băng ghế gỗ để dùng cho người nhận kết quả thanh lọc. Như vậy, tin đồn Cao Ủy sẽ công bố kết quả thanh lọc vào đầu năm mới cũng khả tín. Thuyền nhân thanh lọc từ tuốt năm ngoái và chờ mãi để mong Cao Ủy LHQ công bố kết quả, nay nghe tin này thì họ lại lo lắng vì không biết con số người đậu người rớt sẽ được tỉ lệ bao nhiêu phần trăm. Chúng tôi cũng lo âu như họ. Những thuyền nhân liên can đến chế độ VNCH như quân nhân, công chức… hoặc thành phần phục quốc, chống phá Việt Cộng đều tin tưởng Cao Ủy LHQ sẽ công nhận họ là người tị nạn. Việt Cộng chiếm được  lãnh thổ VNCH đã đày ải họ quá mà, trốn khỏi nước để tị nạn thì đúng rồi. Họ vui khi nghĩ đến lúc trong tay cầm được tờ giấy công nhận tị nạn từ nhân viên Cao Ủy LHQ. Trái lại, thuyền nhân nào không thuộc các diện này thì tự dưng cảm thấy lo vì thân phận của mình có lý lịch quá yếu.

Lo âu nhất là những người có liên hệ với chế độ Việt Cộng đang cai trị bên quê nhà như đảng viên, công an, công nhân hoặc bộ đội. Người trong trại cũng biết đến họ nhưng hầu như ai cũng nói:

– Đám đó mà tị nạn cái gì… cũng chẳng nên lo vì có bị Cao Ủy LHQ đánh rớt thì họ hồi hương về Việt Nam, sẽ gặp lại đồng chí cũ thôi. Đời có vay thì có trả chứ. Vậy mới công bằng.

Riêng cá nhân tôi vì chuyện thanh lọc còn xa nên vẫn tà tà mỗi ngày hai buổi sáng chiều đi làm ở phòng Dịch thuật. Một buổi trưa khi ở lại về sau cùng thì tôi gặp một người đàn ông dừng xe đạp ngay phía bên ngoài phòng, dưới hàng cây tràm bông vàng. Ông ta bước vào phòng và chào tôi rồi nói:

– Tui muốn dịch các tờ giấy này, xin anh giúp giùm.

Đón xấp giấy tờ từ tay người đàn ông, tôi mở ra xem và ghi vào quyển sổ nhận hồ sơ chờ dịch. Khi kiểm lại số giấy tờ trước khi cất vào tủ, liếc nhìn chỗ ghi can tội trong giấy ra trại thấy hàng chữ đánh máy: Di tản ra nước ngoài và xâm nhập Việt Nam bất hợp pháp bằng tàu Việt Nam Thương Tín. Tôi liền hỏi ông:

– Ô! Ông là người trở về trong chuyến tàu Việt Nam Thương Tín đó hả?

Người đàn ông gật đầu. Tôi đi về cùng với ông và hỏi chuyện con tàu hồi hương nổi tiếng năm đó thì ông kể:

– Anh biết là khi sang được tới bển mới chỉ vài tháng trời mà tụi tui đã có người đòi về. Biết tụi tui nhớ nhà, tụi Mỹ trong trại mang phim chiếu cảnh người chen chúc nhau ở bến xe chở đi vùng kinh tế mới và các chỗ tập trung người đào kênh thủy lợi dẫn nước làm ruộng cạnh lá cờ Đỏ sao Vàng hoặc cờ Việt Cộng nửa Xanh nửa Đỏ cắm trên bờ đất với mục đích để tụi tui coi các phim đó xong sẽ sợ, sẽ từ bỏ ý định quay trở về Việt Nam. Nào ngờ, xem các phim đó rồi thì tụi tui càng nhớ nhà thêm. Nhiều người muốn trở về quê nhà quá nên họ họp nhau lại và làm dữ với bọn Mỹ  bằng cách biểu tình. Ngồi biểu tình rồi làm reo kéo nhau tuyệt thực nữa. Tui còn nhớ cái ông gì người Bắc, có tướng thấp lùn từng làm dân biểu Hạ Nghị Viện là kêu gọi nhiều người hồi hương nhất. Làm reo dữ nên bọn Mỹ đành phải chiều ý tụi tui, cấp cho cái tàu khá lớn để về. Tàu Việt Nam Thương Tín đó.

– Có ai đổi ý không ông và được bao nhiêu người về cả thẩy? Tôi hỏi.

– Có chứ anh!  Người đàn ông gật đầu, rồi tiếp: ” Có người vào phút cuối đã đổi ý không về nữa và số người trở về thì tui không nhớ rõ con số vì lâu quá rồi anh, thời gian mà… Nó làm mình cũng không còn minh mẫn như hồi trẻ… Hình như trên dưới 1500 người gì đó. Những người đổi ý và ở lại sau này mới thấy họ thật may “.

Tôi và ông ta đi song song bên nhau trên con đường trưa dịu nắng. Một lát thì ông nhìn tôi và tiếp:

– Tụi Mỹ cho làm một ngã ba ngay tại con đường dẫn xuống gần chiếc tàu. Nếu trong tụi tui ai đi đến ngã ba này mà đổi ý, không muốn trở về thì cứ rẽ sang đường khác và quân cảnh Mỹ đậu xe chờ sẵn sẽ đón đưa trở lại về trại, nhưng là một trại khác. Có lẽ họ muốn tránh chuyện lôi thôi hay giữ sĩ diện cho người đó. Còn ai vẫn muốn về thì cứ đi thẳng con đường để xuống chiếc tàu. Tui thì vì mẹ già mới về còn những người khác thì lo cho gia đình vợ con kẹt ở bển hoặc đổi ý vì muốn sống ở quê nhà hơn ở xứ người. Kết quả là về tới Việt Nam rồi thì bị bọn Việt Cộng bắt bỏ tù hết ráo.

– Khi đó là ngày nào, tháng nào vậy? Tôi hỏi tiếp.

– Tháng 10 trong năm 75… Hình như đâu ngày 16 hay 17 gì đó. Lâu quá rồi mà tui cũng chẳng rõ lắm.

– Ban nãy khi coi giấy ra trại, tôi thấy ghi chữ Tập Trung Cải Tạo vậy ông bị Việt Cộng bỏ tù bao nhiêu năm thì mới được thả?

– 8 năm 2 tháng đó anh. Ông ta chua chát tiếp: ” Mà cũng lỗi tại mình, tự dưng lại đưa đầu về cho bọn Việt Cộng bắt bỏ tù. Có cái an ủi, tui còn may mắn hơn những người khác về chung trong con tàu đó là, khi được thả tự do thì còn lành lặn chứ có người, đã phát điên sau khi vào trại tù mới có vài năm. Anh biết tui là người miền Nam, nghĩ dù sao thì bọn Việt Cộng với phe Quốc Gia bên mình cũng người Việt, chung da vàng máu đỏ với nhau và nhất là hết chiến tranh rồi, còn thù hận gì nữa. Với lại tự ý tụi tui xin về công khai chứ có phải lén lút xâm nhập để phá phách gì đâu. Vậy mà kéo nhau về để rồi cả đám vào tù. Thiệt hết nói với bọn Việt Cộng nhưng cũng nhờ vậy mà tui đã sáng mắt “.

Đến ngã 3 đường, một hướng rẽ xuống zone 4 về barrack tôi đang ở. Hướng còn lại thì quay về khu buôn bán Galang 1 và cũng để về Galang 2 thì tôi dừng bước. Nhìn người đàn ông và chưa kịp nói lời chia tay thì ông ta đã hỏi:

– Anh có bận gì không, nếu không thì mời anh vào quán mình dùng ly nước cho vui. Tui đạp xe tuốt trong Galang 2 ra đây, giờ cũng muốn kiếm cái gì uống cho đỡ khát.

Ông ta đã mời, tôi nhận lời cho vui, cho có thêm bạn. Cả hai chúng tôi vào quán kiếm chỗ và gọi thức uống xong xuôi, tôi nói:

– Tôi tên Vũ, còn ông?

Người đàn ông trả lời:

– Tui tên Minh nhưng anh cứ gọi là Sáu được rồi.

Ngồi yên chỗ mới có thì giờ để tôi quan sát ông Sáu. Thân hình ông gầy gò, khuôn mặt đen xạm đầy vẻ khắc khổ. Hơn 8 năm tù cải tạo thì chắc ông phải là một sĩ quan quân đội. Tôi hỏi nhưng ông lắc đầu, nói:

– Tui chỉ là một cảnh sát viên bình thường thôi nhưng bọn Việt Cộng lại không tin anh Vũ à.

Rồi ông tâm sự:

– Tui là cảnh sát ở trạm kiểm tra hỗn hợp ngay lề quốc lộ 1 phía trước nhà máy dệt Vinatexco gần cửa ngõ vào Sài Gòn ở vùng Bà Quẹo-Tân Bình và hướng Hốc Môn-Củ Chi đi lên. Sáng ngày 30-4 khi phòng tuyến tại đây bị vỡ trước hỏa lực quá mạnh của Việt Cộng  ở hướng cầu Tham Lương cách đó không xa,  tui và ông xếp trạm đã nhanh chân vọt ngay lên một xe Honda Dame và chạy thẳng vào Sài Gòn. Bộ đồng phục cảnh sát áo trắng đã giúp tui và ông xếp trạm vượt qua được các chốt chặn của binh sĩ VNCH trên các đường phố để đến được vùng thương cảng Bạch Đằng. Loay hoay trong dòng người chen chúc đen kịt trên các bờ cảng thì sau cùng, tụi tui đã kịp trèo lên được một chiếc tàu nhổ neo chạy ra biển trong những phút cuối.

– Ô vậy sao! Rồi ông xếp đó có về chung với ông không?

– Không! Biết tui định về thì ông xếp đã cản nói: ” Chú mày dân Nam Kỳ thì biết mẹ gì về Việt Cộng. Về tới quê nhà, nó bắt bỏ tù rồi thì khốn cái thân. Lúc đó có hối thì đã muộn. Ở lại đây đi, đừng về  “, nhưng tui không nghe.

– Rồi nó bắt thật… Vậy là ông xếp ông nói đâu sai nhưng khi tàu về tới chỗ nào thì mới sa vào tay bọn chúng và sự việc ra sao? Tôi cười.

– Nếu biết về để bị tụi nó bỏ tù như vậy thì đâu có ai dám về. Tàu vừa mới vào vùng biển Vũng Tàu thì đã bị 2 tàu hải quân tụi nó chờ sẵn, đón bắt ngay. Bọn nó lên tàu, bắt mấy ông hải quân mình chỉ dẫn cách sử dụng máy móc rồi chúng tự lái vào cảng Nha Trang.

Ông Sáu yên lặng, sửa thế ngồi rồi tiếp:

– Đến Nha Trang thì chúng lùa cả bọn tụi tui vào trại. Bắt mọi người trút bỏ quần áo và phát cho 2 bộ đồ lính trận cũ của mình trước đây rồi nhốt tất cả. Trừ có một đứa trai nhỏ 7 tuổi thì chúng tha, còn thì tất cả người lớn bất kể nam nữ chúng đều bắt khai lý lịch để phân loại. Người nào mà là sĩ quan thì chúng đưa thẳng ra ngoài Bắc luôn.

– Trời ơi! Có bao nhiêu sĩ quan trên tàu và ai cấp bậc cao nhất, ông còn nhớ không?

– Năm sáu trăm sĩ quan chứ ít gì anh. Cấp bậc cao nhất là trung tá như ông tên Trụ, thuyền trưởng của con tàu.

– Rồi khi vào tù thì tụi nó đối xử ra sao. Có phải bị buộc lao động như những người khác không? Còn cái vụ ăn uống chắc có khác biệt chứ ? Dầu gì các ông cũng từ nước ngoài trở về mà? Tôi hỏi dồn.

– Đó!… đó!… Cái cưỡng bức lao động khổ sai và cho ăn uống đói khát đó mới làm nhiều người tỉnh giấc vì đã lỡ tin vào lời bọn Việt Cộng chứ không phải riêng gì người quay về như đám tụi tui. Bọn Việt Cộng đối xử tụi tui y như các người bị kẹt lại chứ đâu có khác biệt gì. Ai cũng một củ khoai mì hay cục bột luộc hoặc chén bo bo như nhau thôi. Anh hỏi làm tui nhớ lại, khi đó đã bị nhiều anh em trong tù chửi là đang ở bển ăn ration Mỹ, thịt thà cam nho bôm táo ê hề không muốn, lại mò về để ăn khoai mì… mà còn phải lao động chết bỏ. Có người vì tức cái ngu dốt hoặc vì thương hại cái ngờ nghệch của tụi tui nên đã sỉ vả, nói là tao muốn thoát tay lũ Việt Cộng mà thoát không được. Chúng mày đang bên ngoài yên ổn mà lại ở bên Mỹ, tự dưng về đưa đầu vào rọ. Rồi xem, còn khổ nữa chứ chưa hết đâu. Chúng mày sẽ là gián điệp CIA hết cho mà coi. Khi đó, tui không tin lắm lời họ nói dù có chút lo lắng trong lòng nhưng sau này, mới thấy thật đúng. Ông Sáu cười hiền hậu.

Bị bỏ tù 8 năm 2 tháng với một cảnh sát viên khi thực lòng quay trở về quê nhà vì lo lắng cho thân nhân và vì, nghĩ Việt Cộng dù sao cũng là người Việt cùng chung máu đỏ da vàng. Sao mà độc ác quá vậy hay là thực sự bọn Việt Cộng bỏ tù người đàn ông nầy lâu như vậy vì các lý do nào khác nữa? Tôi nói những thắc mắc của mình thì anh Sáu gật đầu, tán đồng:

– Biết tui là cảnh sát viên nên bọn chúng nghĩ mình được chính quyền Mỹ đào tạo cấp tốc rồi gửi trà trộn trong số những người làm bộ xin về để hoạt động gián điệp. Anh biết là tui đã phải khai đi khai lại cho bọn chúng nghe về cái lý lịch của mình đó.

Ký ức tôi nhớ lại những tờ báo trong nước ở thời kỳ đó loan các tin về con tàu Việt Nam Thương Tín như  ” Người bị ép di tản đòi chính phủ Mỹ phải cho họ được trở về đất mẹ “. Khi con tàu về đến Việt Nam rồi thì báo chí không còn đăng thêm các tin tức gì nữa. Thời gian trôi qua, không ai khi đó biết số phận của những người trở về ngoại trừ những thân nhân ruột thịt hoặc các bạn đồng tù. Tôi cũng vậy, cũng sẽ không biết số phận những người di tản trở về năm đó nếu như hôm nay không gặp được ông Sáu.

Tôi ngồi khá lâu trong quán nước để nghe ông Sáu kể thêm về quãng thời gian sau khi được thả tù rồi những khó khăn trong đời sống hàng ngày đã khiến ông phải tìm cách vượt biên. Phải mất bao nhiêu công sức cùng thời gian và tiền của thì mới đến được trại tị nạn mà giờ đây lại có cái vụ Cao Ủy LHQ thanh lọc. ” Không biết có qua được thanh lọc không nữa “. Ông Sáu ưu tư và tiếp:

– Tui… bây giờ có nỗi lo khác nữa là nếu mình may mắn mà qua được thanh lọc thì rồi không biết có vào Mỹ được không. Hồi đó, trước khi xuống tàu Việt Nam Thương Tín quay về Việt Nam thì người Mỹ coi trại đã nói:  ” Tụi tui quyết định trở về thì sau này sẽ không được họ cho phép vào Mỹ nữa đó anh, tên tuổi họ nắm hết rồi. Về tới nơi chắc chắn sẽ bị Việt Cộng bắt bỏ tù rồi khi được chúng thả thì cũng phải vượt biên thôi “.  Họ nói vậy thấy thực đúng. Không đi được Mỹ thì cũng tiếc mà nếu có đi CANADA hay Úc cũng chẳng bằng đi Mỹ.

Lời bộc bạch của ông Sáu làm tôi nghĩ về anh Khảm cũng như người phi công lái phản lực cơ F5. Họ đều bị chế độ Việt Cộng bên quê nhà ngược đãi bỏ tù nhiều năm trời thì chắc chắn nay mai, họ sẽ qua được thanh lọc dễ dàng. Ở đời, hễ có vay thì có trả, một quy luật tự nhiên. Giờ đây, mối lo lắng của họ chính là sau khi cầm tờ giấy Cao Ủy LHQ xác nhận là người tị nạn thì đừng bị phòng JVA Hoa Kỳ tại trại từ chối. Lý lịch của họ chắc ăn quá. Còn tôi, bản thân thì chưa là lính VNCH một ngày nào. Có bị Việt Cộng bắt tù thì toàn là bị tù do chuyện vượt biên. Tôi ngồi im lặng, nghĩ về cá nhân mình cũng như về Yến, Đào, Bẩy và Đỉnh. Đám chúng tôi còn quá trẻ khi bọn Việt Cộng chiếm được VNCH. Làm sao để chứng minh cho luật sư Cao Ủy LHQ cũng như với sĩ quan bộ Nội vụ Indonesia  biết mình là người bị chế độ ngược đãi đây? Đi Mỹ hay đi CANADA, Úc hay bất kỳ nước Âu Châu nào cũng được miễn là đừng bị gửi trả về Việt Nam. Tôi thở dài, bắt tay từ giã khi ông Sáu dắt chiếc xe đạp ra khỏi quán nước.

Tôi đi bộ xuống con dốc hướng về barrack. Ngó đồng hồ tay đã hơn 2 giờ rồi. Hôm nay tôi về barrack trễ quá. Cảm giác đói bụng khiến tôi bước vội chân. Thế nào Yến cũng trách tôi đi làm thiện nguyện gì mà tới giờ mới về như nàng đã từng cằn nhằn:  ” Anh phải lo cho thân anh nữa chứ. Không ăn uống điều độ rồi đổ bệnh thì Cao Ủy LHQ nào lo cho anh. Làm thiện nguyện không lương nên làm vừa vừa thôi. Sức khỏe là chính “.

Barrack buổi trưa thật im ắng không một tiếng người trò chuyện, tôi khẽ rảo chân bước nhẹ về phòng mình. Gió thổi mạnh làm lay động những tấm lá dừa nước trên mái tạo ra những tiếng lách cách nhè nhẹ. Gió mát làm nhiều người ngủ ngon hơn trên các tấm võng căng đây đó trong barrack.

Lẩm nhẩm vậy mà đến gần Tết ta Tân Mùi 1991 lúc nào không hay. Yến, Bẩy bàn nhau sẽ gói ít bánh tét, bánh chưng để ăn trong mấy ngày Tết cho vui nhưng kẹt một cái là kiếm không ra lá chuối hay lá dong để gói bánh. Muốn có lá chuối thì chỉ có cách chịu khó lội vào rừng kiếm lá chuối hoang hoặc mạo hiểm vào tận Galang 4 để hỏi mua từ người bản xứ nhưng cũng ít người dám đi, vì phòng An ninh P3V cấm thuyền nhân tiếp xúc với đám người Indonesia  này. Họ là tàn dư của đám Cộng Sản Nam Dương trong cuộc thanh trừng của nhà cầm quyền mới sau cuộc đảo chính năm 1965. Thấy gói bánh khó quá, tôi bảo với hai cô gái không có lá chuối thì thôi, bọn mình đừng để ý đến bánh chưng bánh tét làm gì cho mệt thân… Có thì ăn, không có thì thôi. Yến nói:

– Em tính mua thịt heolàm giò thủ và muối dưa-củ hành đỏ để mình có cái ăn trong mấy ngày Tết cho vui. Cũng chẳng tốn kém gì nhiều.

Như đã kể, Yến là người Bắc nên vẫn giữ cách làm món dưa-củ hành đỏ cùng giò thủ để ăn trong các ngày Tết. Còn Bẩy thì nói sẽ nấu món thịt heo kho Tàu và làm chút dưa giá để ăn cho ngon miệng. Đây là các món của người miền Nam. Đỉnh thì bảo hôm đó mình phải nhậu lai rai chút chút cho vui nha anh Vũ. Tự nhiên tôi nhớ đến mẹ tôi bên quê nhà năm nào cũng làm các món ăn này. Gia đình tôi, ngày Tết năm nào cũng có một mâm trái cây chưng trên bàn thờ để tưởng nhớ tổ tiên nhất là trong đêm giao thừa. Mẹ tôi vẫn thường đích thân nấu hẳn một mâm cỗ gồm các món mặn như giò chả, thịt gà, canh miến, bánh chưng… , cầu xin tổ tiên độ trì cho gia đình. Gần Tết, bên quê nhà hẳn rất vui vì cứ lấy khung cảnh trại tị nạn để so sánh thì cũng biết. Tuy không rõ người Indonesia Hồi giáo có ăn Tết ta như người Việt hay chỉ thuần Tết tây dương lịch nhưng rõ ràng, các chủ tiệm người bản xứ cũng biết chiều theo thị hiếu sắm tết của thuyền nhân mà cho chở thêm hàng hóa đến bán trong trại. Không có vụ họp chợ bán hàng Tết, bánh mứt, dưa hấu hoặc cây kiểng, mai vàng như bên quê nhà nhưng một không khí chờ ngày Tết sắp đến thoang thoảng trong gió, qua hình ảnh người người dọn dẹp chỗ ở của mình cho gọn sạch cùng điệu nhạc Xuân từ các hàng quán bán ở hai bên đường.

Đêm giao thừa đến, những thuyền nhân có máy thu thanh đã mở thật lớn để cùng nghe các bài chúc tết phát ra từ đài truyền thông Việt như BBC, VOA… Một tay phóng viên nào đó đã đọc một bài viết về ngày tết trong các trại tị nạn: ” … Giờ phút này, xin quý khán thính giả hãy bỏ chút tâm tư để nghĩ đến các thuyền nhân đang sống vất vưởng trong các trại tị nạn. Hãy nhớ và cầu nguyện một sự an lành, may mắn sẽ đến với họ trong năm mới, những con dân Việt tha hương như người lính chiến trấn thủ lưu đồn ở vùng biên địa “ . Bài đọc đó kết thúc bằng ca khúc Xuân bất hủ Ly Rượu Mừng đã làm tôi chảy nước mắt khi nhớ về gia đình bên quê nhà. Tết đến thật rồi.

Ngày mùng Một đến, từ sáng sớm tôi theo chân Yến đi lễ nhà thờ cho vui. Đây là lần đầu tôi đi với nàng đến nhà thờ nằm tuốt luốt trên ngọn đồi khá cao có tên là nhà thờ Công giáo Thánh Giuse.  Đỉnh, Bẩy và Ánh Diễm thì kéo nhau đi chùa Quan Âm nằm trên đường ra hướng cầu tàu và cũng ở trên đỉnh một ngọn đồi  nhỏ.  Sau đó, nghe nói cả ba người họ còn vào chùa Kim Quang trong Galang 2 nữa. Tan lễ đạo, tôi và Yến đi ăn sáng xong rồi gặp anh chị Khảm-Phượng để chúc tết.

– Hai em thì mới có một cái Tết đầu tiên ở trại còn anh chị thì lần thứ hai rồi. Chẳng biết Tết năm tới sẽ mừng xuân ở nước nào đây? Cầu mong là ở Hoa Kỳ, xin được như nguyện. Anh Khảm cười vui sau câu nói.

Chị Phượng sau khi chúc cho tôi và Yến được… đậu thanh lọc, thì bảo:

– Hôm nay đầu xuân, mời hai em đến ăn cơm với anh chị cho vui. Cũng chẳng có gì ngoài ít thịt thà, xôi chè… cho có trong ngày Tết.

Trên đường về barrack, tôi lấy tay chỉ cho Yến thấy một người đàn ông đứng dưới giàn bầu đang giơ cái chân gà đã luộc chín để xem mà đoán vận hạn trong năm mới. Nhìn ông ta làm tôi nhớ đến buổi tối mấy hôm trước khi ngồi ở quán đã nghe anh Khảm nói là ở đảo tị nạn Galang coi vậy mà có nhiều người tài. Như ông cụ Hoàng sống ở zone 1 biết coi vận hạn người chỉ qua một nhành lá nhỏ bẻ ngoài vườn mang vào nhà, cho ông xem và lời ông đoán rất chính xác. Chính ông cụ Hoàng dặn dò đêm giao thừa nếu ai nghe tiếng loài vật nào kêu đầu tiên thì nói cho ông biết, để đoán vận mạng thuyền nhân trong năm mới này. Nội quy trại vẫn 11 giờ là giới nghiêm thì có thể sẽ nghe được tiếng loài vật nào kêu trong giờ khắc tĩnh mịch của đêm giao thừa nhưng trại lại nằm trên đảo có cây rừng đầy thú hoang nên không biết rồi làm sao mà ông cụ Hoàng có thể đoán vận hạn, nếu không biết chính xác con vật. Ngang qua cái sân trống cạnh đường gần lối vào khu vực thanh lọc, tôi và Yến thấy một cây cột tròn khá cao đã được dựng ở chính giữa cái sân. Chỗ này thường ngày là nơi đám thanh niên trong trại vẫn dùng để đá banh trong các buổi chiều. Cây cột to cỡ thân cây dừa và được bào tròn trơn láng. Vài người đang đứng sát bên, tay họ vỗ nhè nhẹ vào thân cột, miệng cười lẩm bẩm nói chuyện với nhau. Yến hỏi:

– Họ dựng cây cột cao thế nầy để làm gì vậy hả anh Vũ?.

Tôi lắc đầu với Yến rồi nhìn lại cây cột, nghĩ chắc đây là một cột cái của căn nhà nào đó mà ban Đại diện trại đang khởi sự làm. Nhưng cũng không chắc lắm vì cái cột gỗ này nó quá cao nếu như  để làm nhà. Gần cây cột là một cây nêu cao vút với các dây pháo đỏ to đùng bay phất phơ trong gió. Cạnh cây nêu là một bàn thờ tổ quốc giống như một mái chùa nhỏ với một lư hương cùng 2 chân nến đồng khá to được bày ở bên trong. Làm sao thuyền nhân trong trại có được cái lư hương cùng 2 chân nến đồng này? Không lẽ ai đó đã mang theo chúng  xuống ghe khi vượt biên? Khói bay nhè nhẹ từ các thân nhang toả mùi thơm trong gió sớm và, ngay sau lư đồng là một tấm hình vẽ bản đồ nước Việt trên nền cờ Vàng ba sọc Đỏ với hàng chữ: Danh Dự-Tổ Quốc-Trách Nhiệm. Những câu đối mực đen trên nền giấy điều: Thiên Tăng Tuế Nguyệt Nhân Tăng Thọ-Xuân Mãn Càn Khôn Phúc Mãn Đường… Xuân Đáo Xuân Lai Xuân Bất Tận-Nhật Tân Nhật Tỉnh Nhật Vô Tư, Tân Niên Hạnh Phúc Bình An Tiến-Xuân Nhật Vinh Hoa Phú Quý Lai.. được dán trên tấm bảng gần đó. Tôi kéo tay Yến dừng lại để cốt ý xem các câu đối này. Người nào đó đã viết những câu đối thật khéo vì thoạt trông thì tưởng chữ Tàu nhưng nhìn kỹ, lại là chữ Việt. Chung quanh bàn thờ đầy những chậu hoa cúc, hoa vạn thọ vàng tươi. Có thêm các câu khác không ăn nhập gì đến ngày xuân như: Quốc Thù Vị Báo Đầu Tiên Bạch-Kỷ Độ Long Tuyền Đới Nguyệt Ma. Hai câu kết trong bài thơ Cảm Hoài của Đặng Dung thời mạt Trần đây mà. Chắc ai viết để nói lên chí bình sinh của họ. Vài người chen vào đốt hương làm che mất các câu: Nguyên Đán Tha Hương Đón Tân Mùi-Giao Thừa Đất Khách… Tôi cũng chen vào, đốt vội cây nhang và lầm thầm cầu xin bình an cho gia đình bên quê nhà cũng như cho bản thân mình ở đây.

Xong xuôi, vừa quay ra thì Yến vội kéo tay tôi, nói:

– Giờ vẫn còn sớm, mình đi lòng vòng đây đó một chút cho vui. Coi như đón xuân đầu tiên tha hương há anh.

Tôi gật đầu và cùng nàng đi tản bộ dọc theo con đường chính của zone 4 về phía dẫn ra cầu tàu. Ngày mùng Một trong ánh nắng mai thật đẹp. Nhà dân và các barrack nằm dọc theo bên đường đã được quét dọn sạch sẽ từ mấy hôm trước giờ trông thật khang trang trong buổi sớm đầu năm. Yến bảo là nghe nói ở trong Galang 2 tối nay sẽ có văn nghệ tại nhà thờ, chùa và các quán cà phê. Dọc đường ở trước mặt và sau lưng chúng tôi, có người đi một mình hoặc trong nhóm 2, 3 tung tăng với nhau trong bộ áo quần mới, sạch đẹp. Có người cầm trong tay bó nhang nhỏ và khi đến cổng chùa Quan Âm thì tất cả họ đều rẽ vào. Họ đi lễ chùa đầu năm.

Hai đứa tôi vẫn đi… đi tiếp cho đến khi gặp khu vực trại tị nạn của người Campuchia  thì Yến bảo quay về lối cũ. Về lại khu buôn bán ở Galang 1, cả hai vào một quán nước và chọn một cái bàn ngồi quay mặt ra bên ngoài đường. Ngắm người đi qua lại trong ngày Tết cũng là cái thú đột ngột vì hàng ngày ở trại tuy đủ thứ lo trong trí nhưng hôm nay, ai cũng tạm thời quên đi mọi chuyện để cùng vui với mình, với người, trong ngày đầu xuân. Hầu như ai đi ra đường hôm nay cũng đều mặc quần áo mới trông thật đẹp khác hẳn ngày thường. Hai đứa tôi cũng vậy, Yến mặc chiếc áo dài nàng mới may ở trại, còn tôi thì quần đen sơ mi trắng đóng thùng gọn gàng. Bộ áo dài của Yến cùng mầu hồng nhẹ, bằng vải lụa với những cánh hoa nho nhỏ như hoa cúc thêu nổi gồ lên trên mặt vải ở phần ngực, ở cổ và hai tay càng làm tăng thêm nhan sắc của nàng. Một bức chân dung người tuyệt đẹp! Tôi nhủ thầm. Áo dài của phụ nữ Việt trước giờ chỉ đi chung với quần mầu đen hoặc trắng. Nhưng ở trại tị nạn, phái nữ đã mặc nó chung với quần đồng mầu nên trông lạ và đẹp hơn. Với ai không biết nhưng cá nhân tôi thì phái nữ khi mặc áo dài họ còn trông rất hấp dẫn. Áo dài phụ nữ Việt nó bỏ xa bộ sari của nước Ấn hoặc xường xám của người Trung Hoa. Tôi ngồi thẳng người lên, chồm đến sát bên Yến và nhìn chăm chú vào khuôn mặt nàng. Khuôn mặt trái soan có gò má hây hẩy hồng, môi đỏ và đôi lông mi đen cong vút. Thấy tôi chăm chú nhìn, nàng thoáng chút bối rối, e ấp nở nụ cười tươi. Trời ơi! Yến đẹp quá, hấp dẫn quá… Tôi luống cuống, khẽ nắm lấy bàn tay nàng và thì thào:

– Yến… Yến ơi!. Em sao đẹp quá vậy! Ở đây, anh thật mừng khi quen thân được em. Ngày đầu năm anh chẳng biết nói gì ngoài lời chúc cho em luôn may mắn và bình an trong cuộc sống.

Tôi ngập ngừng trong chốc lát, nói tiếp:

– Xin chúc cho em qua được… cái ải thanh lọc và mau chóng đi định cư nơi xứ người.

Rồi tôi khẽ bóp nhẹ tay nàng mà Yến vẫn để yên và còn thì thầm:

– Em cảm ơn lời chúc đầu năm của anh. Phần em, trong năm mới này, em chúc anh luôn khỏe mạnh, ước gì thì sẽ được nấy và cũng được định cư nước thứ ba như anh đã chúc cho em.

Tôi nhìn xuống bàn tay nàng, bàn tay có những ngón thon mềm với móng dài tròn sơn tím lấp lánh vụn kim tuyến và nâng bàn tay nàng lên, định đưa lên miệng để hôn một cái thì Yến khẽ rụt lại rồi đảo mắt nhìn chung quanh như một cảnh báo. Tôi gật đầu hiểu ý, thủ thỉ:

– Anh cảm ơn em vì nếu không có em bên cạnh thì cuộc sống anh ở trại nó sẽ tẻ nhạt lắm. Em đã giúp anh rất nhiều thứ dù chúng ta bên nhau mới chỉ trong vài tháng.

Hai đứa tôi ngồi ở quán cà phê đó uống nước và nghe những bản nhạc xuân, đây là một chuyện bất thường vì hầu như hàng ngày nếu đến quán thì chỉ có vào buổi chiều tối. Hôm nay, hai đứa tôi đã phá lệ vì là ngày đầu năm mới. Ngồi ở đây bên Yến, lòng tôi thoáng chút nhớ đến gia đình bên quê nhà. Giờ này ở bên đó cũng ngày mùng Một năm mới. Khu phố sẽ vẫn cảnh nhà nhà sạch đẹp trong lớp vôi mới, người người áo quần lượt là dạo phố và dù ai có nghèo khổ chạy ăn từng bữa thì cũng phải cố sắm sửa chút ít sản vật cho có với người ta trong ngày đầu năm.

Nhớ lại những ngày Tết năm xưa khi gia đình còn đầy đủ thân nhân ruột thịt trong nhà. Nhưng rồi anh trai tôi đã nằm xuống trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến mà phần thua thiệt về phía người miền Nam. Cha tôi cũng đã mất sau đó. Kể từ đó, gia đình tôi không bao giờ tìm lại được những giây phút cũ của các ngày lễ, tết năm xưa. Nếu có thì sẽ không biết đến khi nào… Mà cũng chưa chắc? Cha mất chỉ còn mẹ, may mắn là bà giỏi buôn bán và nhờ vậy, đời sống trong nhà không phải chật vật lắm so với các láng giềng trong khu phố. Thời nào, ở đâu thì ai ai cũng phải làm việc để tồn tại nhưng có một cái gì thiếu thốn trong cuộc sống và làm cho tâm hồn tôi cảm thấy bất an. Đó chính là bầu không khí tự do mà người dân VNCH đã mất ngay sau khi chiến tranh vừa kết thúc. Giờ đây, được ở trong trại tị nạn tuy thiếu thốn và lo lắng về chuyện thanh lọc nhưng dẫu sao, vẫn còn hơn sống bên quê nhà. Bên ngoài quán, nhiều người quần áo sạch sẽ đi lễ chùa, đi chúc tết… nhưng vẫn có người tiếp tục công việc thường nhật như người đàn bà bày các chiếc bánh bao trắng như những nụ hoa chưa nở trên một cái mâm nhỏ bên cạnh anh thanh niên bán bánh mì ở phía đối diện bên kia đường. Họ, dường như không màng đến ngày Tết hay đơn giản, chính ngày này là ngày để họ bán đắt hàng nhất khi mỉm cười chào mời khách qua lại. Trong năm mới này, tôi nghĩ nỗi lo chính của tất cả thuyền nhân trong trại là đừng bị Cao Ủy LHQ đánh rớt thanh lọc. Tôi và Yến cũng vậy. Phải cố làm sao để qua được cái ải thanh lọc, để khỏi bị Cao Ủy LHQ gửi trả về lại quê nhà. Sống ở đây ngày nào thì còn được hít thở cái không khí tự do ngày ấy dù là trong một phạm vi chật hẹp của một đảo nhỏ. Tôi bảo với Yến:

– Chưa biết sau này chúng mình sẽ ra sao nhưng thời gian sống ở đây có lẽ là những ngày hạnh phúc nhất trong đời anh.

– Em cũng thấy vậy.

Yến gật đầu với tôi rồi hoan hỉ:

– Em cũng mừng vì gặp được người như anh. Đi bên anh hoặc ngay cả ở gần bên anh trong đêm tối mà em rất an tâm, không chút lo lắng. Mong rằng chúng mình vẫn giữ được mối tình cảm mãi như thể này.

Rồi Yến bộc bạch rằng chỉ sợ trong trại có người nào đó ở gần gia đình bên quê nhà, biết nàng sống chung với tôi thì sẽ báo tin cho thân nhân để rõ chuyện. Nàng thổ lộ:

– Ba-mẹ cùng các anh-chị trong nhà mà biết em sống chung với anh ở đây thì chết. Em sợ điều đó lắm… Đó là lý do khiến em có lúc ngại đi đây đó bên anh. Mong là đừng gặp ai và nếu rủi có người quen với gia đình em ở đây, thì em sẽ phải tách ra khỏi nhóm ngay.

Điều nàng lo sợ là chính đáng mà thực sự tôi cũng không muốn nó xẩy đến vì như thế sẽ buồn lắm. Tôi đã quen có Yến sống bên cạnh. Giờ đây nghe nàng nói vậy trong ngày đầu năm, tự dưng nó làm tôi lo nghĩ vẩn vơ. ” Nếu em phải bỏ đi, anh chắc sẽ rất buồn… Không có em bầu trời như không có nắng, người ta đã ví von như vậy “, tôi lẩm bẩm trong suy nghĩ khi xoay người đưa mắt nhìn ra bên ngoài quán. Nhìn cử chỉ của tôi, Yến xích lại gần hơn và nói:

– Anh! Hôm nay là ngày thứ Sáu, không biết phòng An ninh P3V có cho phép thuyền nhân đi tắm biển không? Dầu gì cũng là ngày Tết ta của mình chứ bộ. Tự dưng… em muốn hai đứa mình đi ra ngoài đó… Dạo chơi lòng vòng trên bờ và nếu muốn thì mình xuống tắm chung nữa.

Nhóm chúng tôi đã không picnic ngoài biến từ sau chuyến đi trong kỳ trước nên khi nghe Yến nói vậy, tôi trả lời:

– Anh cũng không biết, để về barrack hỏi thử ông Thăng xem đã. Nếu được thì chiều nay chỉ hai đứa mình nha, đừng rủ thêm ai.

Yến gật đầu nhưng tôi biết là không thể vì nếu phòng An ninh P3V cho phép thuyền nhân đi tắm biển hôm nay thì ban Đại diện trại đã dán thông báo từ mấy ngày trước rồi.

Sau bữa cơm trưa đầu năm chung với anh chị Khảm-Phượng, hai đứa tôi về lại barrack thì gặp Đỉnh cùng Bẩy và Ánh Diễm từ trong Galang 2 về. Cả ba người họ đang ăn cơm, thấy hai đứa tôi thì Đỉnh đã ép phải uống bia và chút rượu trắng hiệu Arak có cái hình vẽ Ông Già Chống Gậy tương tự rượu đế bên quê nhà để mừng xuân. Yến lắc đầu nói bụng đã no và chỉ ngồi chơi thôi còn tôi thì không thể từ chối, đành phải ngồi xuống rồi cầm ly. Đỉnh nói:

– Trong Galang 2 tối nay ở mấy quán cà phê có vụ hát nhạc sống vui lắm. Nhóm mình có đi vào đó không anh Vũ? Tối nay thì vui chơi thoải mái vì không có giới nghiêm, tui biết rõ vậy, mình xả láng một đêm nha.

Chút xíu bia và rượu vì chiều ý Đỉnh uống trong ngày Tết nhưng đã làm tôi mệt và không thể tính chuyện gì khác ngoài việc lăn ra ngủ. Ngủ như vậy cho đến khi bên tai tôi nghe những tiếng reo hò vang vang từ xa. Tiếng hò reo vang lên từng chập vọng lại ở nơi nào đó gần hướng cái sân trống trên đường dẫn vào khu vực Thanh lọc Indonesia và zone 3. Trong căn phòng chỉ còn một mình, tôi cố ngồi dậy và muốn đi đến nơi đó để xem chuyện xảy ra cho biết nhưng không thể. Rượu đã làm tôi mệt và nhức đầu nên đành phải nằm xuống và lại ngủ tiếp cho đến khi tỉnh giấc thì đã xẩm tối. Thấy Yến có ở trong phòng, tôi hỏi thì nàng cho biết tiếng reo hò từ trò chơi trèo cột bôi mỡ để lấy phần thưởng  treo trên đỉnh. Cột bôi mỡ chính là cái cột gỗ bào tròn chôn gần bên bàn thờ tổ quốc và cây nêu mà lúc sáng Yến đã hỏi tôi. Nàng kể:

– Anh! Mấy người thi trèo cột thì chỉ được mặc quần đùi thôi và dù cố hết sức leo để lên để mong lấy các gói quà treo ở trên đỉnh mà không thể. Cột đó, ban tổ chức đã bôi mỡ, đổ dầu nhớt be bét nên mấy người tham dự trèo rồi lại bị tuột xuống hoài. Phải chi anh có mặt ở đó mà xem, vui và tức cười lắm.

Mấy ngày Tết qua đi chóng vánh trả lại khung cảnh bình thường của trại tị nạn. Có sống ở đây thì mới biết người Indonesia  đạo Hồi không ăn Tết ta giống như bên quê nhà Việt Nam hay Nhật, Tàu hoặc Đại Hàn… Có người thì đoán là có thể họ chỉ ăn mừng ngày lễ đạo Hồi mà coi tương tự như ngày Tết ta của mình hay ngày đầu năm mới Dương lịch của người da trắng.

Năm mới 1991 đến không lâu sau cái tin 7 thuyền nhân tự thiêu ở trại Whitehead bên Hồng Kông thì qua tin tức từ báo chí Việt ngữ hải ngoại gửi vào trại, chúng tôi nghe thêm tin buồn về một thuyền nhân tên Lâm Văn Hoàng trong cuối năm ngoái 1990 đã tự sát chết ở đảo Bidong bên Mã Lai Á. Lý do cũng để phản đối Cao Ủy LHQ thanh lọc bất công khi đánh rớt, coi anh là thành phần di dân kinh tế khi mà lý lịch của anh có chị ruột vượt biên đi cùng chung chuyến ghe và đã bị hải tặc hãm hiếp rồi hạ sát tại chỗ. Anh Hoàng đã uất ức, buồn khổ và tuyệt vọng nên đã chọn cái chết sau khi để lại một lá thư tuyệt mạng. Sinh mạng con người là đáng giá nhất vậy mà anh ta sẵn sàng chọn cái chết để tránh phải bị Cao Ủy LHQ gửi trả về quê nhà, nơi chính quyền Việt Cộng cai trị.

Tin loan từ các đài BBC, VOA nói về sự đào thoát ly khai của một đảng viên Việt Cộng là cựu đại tá Bùi Tín trong thời gian công tác tại Pháp quốc khi ông ta công bố bản kiến nghị 12 điểm đề nghị chấn chỉnh những sai lầm của chế độ bên quê nhà. Đã có nhiều loạt bài phỏng vấn ông liên tiếp sau đó và thuyền nhân chúng tôi có người bảo các đài Việt ngữ khi phỏng vấn ông cựu đại tá này, họ đã thổi phồng cho đây là một vụ đối lập với nhà nước Việt Cộng. Chúng tôi cũng nghe thêm tin công an bên quê nhà đã xây xong một trung tâm tiếp cư tại Đồng Ngát thuộc vùng ngoại ô Hà Nội để tạm giam những thuyền nhân hồi hương về từ Hồng Kông. Người trong trại kháo nhau rồi ra sẽ có một trung tâm như thế được xây ở đâu đó gần Sài Gòn dành cho thuyền nhân trở về từ các trại trong vùng Đông Nam Á.

Anh Khảm và tôi đi vào Galang 2 để gặp ông Thành như câu chuyện mà ông đã hứa trong lần gặp gỡ của đêm dạ tiệc Không Gian Hội Ngộ. Đến barrack may gặp được ông ta ngay và sau đó thì ông Thành đã giới thiệu cho tôi làm quen với một người tên Đoàn Thạnh Nam.

– Tay Nam này biết rất nhiều chuyện về thanh lọc, về các luật tị nạn và có thể giúp cho chú em khai báo sao đó với Cao Ủy LHQ, cho có lợi.

Ông Thành lập lại câu đã nói trong lần trước với tôi và sau đó tiếp:

– Tui có nói trước với thằng chả về chú em rồi, đừng có ngại nha, cứ thật tình mới quý.

Chúng tôi đi lòng vòng các quán cà phê để kiếm anh Đoàn Thạnh Nam và khi đến một quán gần khu vực bưu điện phát thư thường TMS thì mới gặp. Đoàn Thạnh Nam có tướng gầy, thấp đang ngồi chung với hai người đàn ông khác tại một cái bàn ở ngoài sân nhỏ, ngó xeo xéo gần chỗ ra vào của cái miễu tên là miễu Ba Cô nằm dưới tán lá rộng của vòm cây đa cổ thụ. Cái miểu này là chỗ thờ ba cô gái đã lần lượt từng người treo cổ tự tử chết chỉ sau khi nhập trại trong thời gian ngắn nên mới có tên gọi như vậy. Ông Thành trông thấy họ liền chào và kéo tôi cùng anh Khảm vào ngồi chung trong bàn.  Đoàn Thạnh Nam sau vài câu xã giao với ba người mới đến chúng tôi thì anh ta quay trở lại câu chuyện đang dở chừng:

– Người tị nạn là những ai? Trước giờ mình đã nghe nói đến chữ tị nạn rất nhiều lần rồi… Phải không nào? Nhưng thế nào mới là người tị nạn. Cao Ủy LHQ định nghĩa người tị nạn là người có nỗi lo sợ thấy rõ bị ngược đãi vì các lý do như chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, thành viên nhóm xã hội đặc biệt hoặc vì quan điểm chính trị. Cao Ủy LHQ cùng chính quyền các nước tạm dung thuyền nhân như Mã Lai Á, Phi Luật Tân, Thái Lan, Hồng Kông và ở đây… đã dựa vào bản Công ước Geneva năm 1954 để thanh lọc thuyền nhân Việt mình dù là ở lúc khởi đầu, bản công ước này chỉ để dành cho những người tị nạn Cộng Sản bên Đông Âu thôi. Các anh phải biết cái lời định nghĩa: ” Lo sợ thấy rõ bị ngược đãi ” là câu then chốt để các luật sư Cao Ủy LHQ và sĩ quan bộ Nội vụ Indonesia  xác định mình là người tị nạn hay không? Tôi thí dụ nếu một gã công an khu vực luôn luôn tìm cách hành hạ anh vì nó ghét anh, khiến anh lo sợ đến nỗi phải vượt biên thì điều đó chưa đủ yếu tố để Cao Ủy LHQ kết luận anh là người bị ngược đãi đâu. Chỉ khi nào anh chứng minh được việc làm của gã công an đó, đã có sự đồng loã và hổ trợ sau lưng của nhà nước Cộng Sản thì nỗi lo sợ của anh mới là nỗi lo sợ có căn cứ…Là thấy rõ… well founded fear… bị ngược đãi. Anh Nam cười sau tia mắt sáng tinh anh, dưới cặp kiếng cận khi nhìn chúng tôi.

Tôi đã nghe anh Khảm nói sơ về Đoàn Thạnh Nam. Tuy đến trại tị nạn Galang chỉ trước tôi có vài tháng nhưng may mắn là anh ta vừa được Cao Ủy LHQ tuyển vào làm nhân viên trong một nhóm thiện nguyện chuyên thảo đơn kháng cáo cho những người sẽ bị từ chối quy chế tị nạn. Nhóm này, người trong trại gọi là viết đơn khiếu nại và hiện đang ở không vì Cao Ủy LHQ chưa công bố kết quả thanh lọc. Như vậy, anh Khảm và người phi công tên Thành cùng anh chàng Đoàn Thạnh Nam này đều đã qua các thủ tục thanh lọc và chỉ còn chờ ngày nhận kết quả. Anh ta đang nói dở chuyện về Công ước Geneva 1954, thì như vậy, chỉ có mình tôi và hai người đàn ông ngồi từ trước trong bàn là chưa qua thanh lọc và cần phải nghe chuyện tị nạn. Nhưng lạ thay, cả anh Khảm lẫn ông Thành cũng chăm chú nghe những lời nói của anh ta.

– Thực ra, bất cứ người dân nào sống trong chế độ Cộng Sản cũng đều là một tù nhân dự khuyết của chúng. Nội cái điều đó cũng đủ để cho mình một nỗi lo sợ có căn cứ về sự ngược đãi rồi. Các anh thấy là trước khi có vụ Cao Ủy LHQ bầy ra chuyện thanh lọc thì bất cứ người dân Việt nào mà vượt biên đến trại tị nạn thành công, thì đều được họ công nhận là người tị nạn liền. Thời gian sống trong trại có kéo dài là để Cao Ủy LHQ tìm nơi định cư cho thuyền nhân đó nhưng…

Anh Nam ngừng ở đây nhìn chúng tôi rồi lắc đầu, nói tiếp:

– Cái gì trên đời hễ có thỉ thì phải có chung. Những ngày vượt biên thành công khi đến trại rồi tự động là người tị nạn đã qua rồi… Đã qua rồi, mà cũng một phần do người Việt mình tạo ra cả.

– Tại sao lại do người Việt mình làm ra hả Nam? Tui không hiểu. Ông Thành hỏi.

– Đến được trại tị nạn thì khăng khăng là không thể nào sống được trong chế độ Cộng Sản nên phải vượt biên. Vậy mà khi rời trại đi định cư ở đệ tam quốc gia mới chỉ có vài năm thì đã có người quay về lại Việt Nam để du hí, để làm ăn rồi. Thậm chí có người đi đi về về quê nhà như đi chợ thì chẳng trách Cao Ủy LHQ phải nghi ngờ về nhân thân thực sự của những người vượt biên chứ anh. Có cần sự bảo vệ từ cộng đồng quốc tế cho những cá nhân có thể sống an lành, làm giàu được trong chế độ Cộng Sản đó không? Anh Nam lắc đầu, hỏi lại.

Không ai trong đám chúng tôi trả lời anh ta. Đoàn Thạnh Nam có vầng trán rộng, tròng mắt đen sắc tinh anh sau cặp mắt kiếng dầy và anh ta nói giọng chậm rãi của người miền Nam. Rồi anh kể thêm nhiều bản lý lịch khác của người dân Việt sống trong chế độ Việt Cộng  bên quê nhà như:  sĩ quan chế độ VNCH, thành phần phản cách mạng, tu sĩ, người dân lành và thậm chí ngay cả các đảng viên Cộng Sản phải vượt biên nữa. Mỗi cuộc đời người mà anh ta kể ra, đều đặt các câu hỏi cho bọn tôi rồi anh trả lời ngay liền sau đó. Giọng anh ta thật khúc chiết, lý luận vững, rất thuyết phục người nghe. Tại sao một người như anh lại có thể biết nhiều bản lý lịch người như vậy? Thật là lạ! Tự dưng, một sự khâm phục Đoàn Thạnh Nam đã nẩy nở trong nhóm năm người ngồi nghe chúng tôi.

Anh Nam nói them:

– Có những người khi đám Việt Cộng  chiếm được VNCH thì họ là đối tượng bị bọn chúng ngược đãi và sự thực là vậy, như trường hợp của hai anh Thành anh Khảm đây. Họ là người tị nạn nếu vượt biên thoát được ngay khi đó nhưng đến thời điểm mà vượt biên như hiện nay thì họ, có người sẽ không còn yếu tố đó nữa. Vì có thể, người đó đã có cuộc sống bình an trong chế độ Cộng Sản như dân buôn bán, chuyên viên kỹ thuật hay bác sĩ mà mình thấy nhan nhản trong xã hội sau này. Ngược lại, có những người ở thời điểm của ngày 30-4-75 là phe Cộng Sản như đảng viên, bộ đội hay công an… nhưng nay phải kiếm đường vượt biên vì nếu họ chậm chân thì cũng sẽ bị bọn Việt Cộng bắt bỏ tù hoặc giết chết ngay. Dù những cá nhân này trong quá khứ  từng là đồng đội, đồng chí cũ của bọn chúng.  Các anh chắc đã nghe tin trên đài VOA, BBC… về trường hợp của cựu đại tá đảng viên Bùi Tín tại Pháp?

– Trời! Tụi công an, bộ đội mà tị nạn Cộng Sản gì hả anh Nam? Còn Bùi Tín, tay này đối lập cuội anh ơi! Một người đàn ông ngồi trong bàn ngắt lời, hỏi lại.

– Cao Ủy LHQ họ không thiên vị người miền Bắc Cộng Sản hay người VNCH đâu anh. Đơn giản, họ chỉ làm theo đúng luật tị nạn của Liên Hiệp Quốc thôi. Giọng anh Nam.

– Làm đúng luật! Bọn Việt Cộng có bao giờ tôn trọng luật lệ đâu. ÔngThành càu nhàu.

– Đúng vậy! Nhưng với quốc tế thì không được. Mình đôi lúc cảm thấy bực bội khi biết có nhiều đảng viên, công an hay bộ đội Việt Cộng đào thoát ra nước ngoài thì được Cao Ủy LHQ sắp xếp cho đi định cư tại Mỹ, CANADA hay Úc liền như đám miền Bắc ở trại tị nạn Hồng Kông đó. Trong khi người dân Việt như đám anh em chế độ VNCH chúng ta còn phải sống khổ chết dở trong tay bọn Việt Cộng bên quê nhà. Cao Ủy LHQ cần quái gì đối xử tử tế với bọn này. Cứ tống chúng trở về lại Việt Nam đi vì chính cái đảng thổ tả của chúng, mới là nguyên nhân tại sao làm cho dân mình phải vượt biên… Phải không nào?

Anh Nam ngưng nói, mắt nhìn chúng tôi rồi tiếp:

– Nhưng làm vậy không được… Ta hãy nhớ là trước đây khi Việt Nam còn phân chia hai miền Nam-Bắc thì hễ có một người dân miền Bắc nào, bất kể người đó là công an, bộ đội hay đảng viên Việt Cộng mà vượt tuyến, qua được bờ sông Hiền Lương để tị nạn thì chính quyền quốc gia mình đều hoan hỉ đón nhận họ liền. Đón nhận trong vòng tay thân ái, trợ giúp tài chánh, phương tiện để người đó lập lại cuộc đời mới… Bây giờ vì không còn VNCH nữa thì các trại tị nạn của thuyền nhân Việt ở Hồng Kông, Phi Luật Tân, Thái Lan, Mã Lai Á hay Nam Dương, đang làm nhiệm vụ của VNCH trước đây đó. Trường hợp của cựu đảng viên Việt Cộng Bùi Tín ở bên Pháp cũng vậy thôi.

Lời anh Nam làm tôi nhớ những ngày theo sắp xếp của đám tổ chức vượt biên, tôi đã  ra tận ngoài miền Bắc, sống tá túc trong các căn nhà tại vùng Tiên Yên-Đầm Hà và Hà Cối-Móng Cái giữa năm 1988 trước khi vượt sang biên giới Tàu để nhắm hướng đến Hồng Kông. Tạm trú trong những căn nhà ở vùng địa phương này, chủ nhà đã cho tôi xem các tấm hình của thân nhân họ đang sống tại CANADA, Anh, Pháp, Úc và cả Mỹ nữa. Điều bất ngờ với tôi khi đó, những người trong các tấm hình chụp đều từng có lúc là công an hoặc bộ đội Việt Cộng khi họ còn ở trong nước.

– Người thuộc chế độ VNCH hay người thuộc phe Việt Cộng thì bên nào dễ thành người tị nạn hơn trong thời buổi thanh lọc này hả anh? Anh Khảm hỏi.

– Thuyền nhân nào như cựu quân nhân-viên chức của chế độ VNCH, tu sĩ hay bộ đội-công an Việt Cộng hoặc thành phần phục quốc… thì cũng tùy vào cái hoàn cảnh khiến họ phải gấp rút bước chân xuống ghe để vượt biên, và sự đào thoát đó có cần thiết cho họ hay không thôi. Anh Nam trả lời.

Thấy đám người chúng tôi yên lặng chờ nghe, anh Đoàn Thạnh Nam nói tiếp:

– Phải vượt biên vì bị chính quyền Việt Cộng ngược đãi liên tục hoặc tạm thời sự ngược đãi đó đã chấm dứt nhưng có những kết luận hay dự đoán  sự ngược đãi sẽ quay trở lại với bản thân họ trong một tương lai gần. Công ước Geneva 1951 cũng đã nhận xét rằng, trong thực tế, ít có người nào dám rời bỏ quê hương họ vì lý do người đó muốn làm một chuyến phiêu lưu để biết một thế giới khác so với nơi bản quán mình đang sinh sống. Các anh thấy là đi vượt biên đâu có phải dễ dàng như một chuyến du lịch dù là trong thực tế, có nhiều chuyến ghe đã đi thoát được một cách thật dễ dàng khi vừa mới ra tới biển lớn, chỉ vài giờ đồng hồ.

Trưa đến, cả đám chúng tôi kéo nhau đi ăn hủ tiếu sau đó quay trở về quán uống nước và tiếp tục câu chuyện cho đến chiều mà thực sự chỉ là để nghe một mình anh Nam nói. Tôi thì thích thú do biết được thêm các điều mới nhưng cũng thêm lo lắng vì thấy việc qua được cái ải thanh lọc thực không phải là một điều dễ dàng. Anh Khảm và người phi công tên Thành cũng lộ vẻ ưu tư trên khuôn mặt dù là họ đã được thanh lọc xong và đang chờ ngày Cao Ủy LHQ thông báo kết quả.

Đoàn Thạnh Nam cho biết là sau khi anh được tuyển vào làm nhân viên phòng kháng cáo cho những thuyền nhân bị từ chối quy chế tị nạn thì ông Peter Cao Ủy trưởng đã họp mặt tất cả các nhân viên trong phòng lại để dặn dò công việc họ sẽ phải làm. Anh kể:

– Ông Peter cho biết công việc của chúng tôi làm chỉ là dịch sang Anh ngữ các lá đơn của những người muốn khiếu nại mà không hề huấn luyện thêm các kỹ năng khác cho cả bọn.

Nghe nói vậy, ông Thành hỏi:

– Kỹ năng gì hả Nam?

Thì anh đáp:

– Có nghĩa là nhóm nhân viên chúng tôi chỉ biết dịch thôi và không hề được Cao Ủy LHQ huấn luyện cách thức để viết một bản kháng cáo. Viết làm sao để có lợi cho người bị rớt thanh lọc. Thực sự, không cần nhóm chúng tôi thì ai trong trại này biết Anh ngữ kha khá cũng có thể viết được, đơn giản quá, cần gì phải tìm đến tụi tui cho mất công. Không ai trong cái phòng kháng cáo từng là luật sư mà giờ đây lại nhận làm cái việc của một người bào chữa. Biết viết bào chữa như thế nào cho người đã bị Cao Ủy LHQ từ chối ngoài việc họ viết sao thì chúng tôi dịch y chang như vậy.

Lúc cuối ngày, anh Nam nói với tôi là có một số đàn em của anh cần phải dịch các giấy tờ họ mang theo để chuẩn bị cho ngày thanh lọc sắp tới. Tôi nhận lời ngay nói là anh cứ bảo họ mang các giấy đó đến phòng Dịch thuật thì sẽ xong.

Trên đường về lại Galang 1, anh Khảm hỏi tôi:

– Vũ thấy anh chàng Đoàn Thạnh Nam nầy thể nào?.

– Hiểu biết rất rộng! Anh ta có vẻ phóng khoáng và chỉ vậy thôi vì em mới gặp lần đầu. Dầu gì cũng rất đáng phục.

Tôi trả lời rồi mỉm cười, hỏi lại:

– Còn anh nhận xét anh ấy ra sao?.

– Thì cũng như em vậy. Nhưng nghe anh Thành nói là anh chàng Nam này sòng phẳng lắm. Có nghĩa là có đi thì phải có lại đó.

Tôi kể chuyện anh Đoàn Thạnh Nam cho các anh Đinh Vinh, Tám Miễu,  Nguyễn Thanh Danh, Đặng Phúc Nhân, Triệu Lệ Lan… biết rồi sau cùng là cả đám trong phòng Dịch thuật đã làm quen Đoàn Thạnh Nam và sẽ nhờ anh ta cố vấn về cách khai trong cái bản lý lịch của từng người. Riêng Nguyễn Thanh Danh thì cậu ta bỏ ngang việc thiện nguyện chung trong nhóm chúng tôi để xin làm nhân viên viết giấy lý lịch thuyền nhân cho phòng Sơ vấn Cao Ủy LHQ nhưng nhờ vụ bỏ việc thiện nguyện tại phòng Dịch thuật, số phần cậu Nguyễn Thanh Danh đã đổi khác trong thanh lọc sau này.

Sau vụ cái chết của thuyền nhân Lâm Văn Hoàng tại đảo tị nạn Bidong dẫn đến vụ biểu tình nơi đó, giờ đây qua tin từ đài Reuter, chính phủ Mã Lai Á tuyên bố sẽ dẹp đảo tị nạn này trong các tháng kế tiếp. Thuyền nhân dù đậu hay rớt hoặc chưa thanh lọc, sẽ được chuyển về trại Sungei Besi nằm ở vùng ngoại ô thủ đô Kuala Lumpur. Nghe bảo tổng số thuyền nhân trên đảo tị nạn Bidong là 13.000 người. Từ năm ngoái, hải quân Mã Lai Á đã cấp nhiều ghe mới cho thuyền nhân Việt rồi kéo các ghe này trực chỉ hướng đi sang Indonesia và chính vì vậy, số người nhập trại vào đảo tị nạn Galang ngày càng đông hơn trước.

Chúng tôi rất buồn khi nghe các tin thuyền nhân tự thiêu rồi biểu tình-tuyệt thực tại Mã Lai Á, Hồng Kông… vì rõ ràng làm thân phận của một người bỏ nước ra đi tìm tự do và ở phần đất tạm dung, không ai muốn những hình ảnh này xẩy ra vì dù do hoàn cảnh bị buộc phải làm như vậy. Trong mắt nhà cầm quyền địa phương vẫn là hình ảnh xấu của thuyền nhân gây ra mà đáng lẽ không nên có. Chúng tôi càng buồn thêm khi nghe tin trên báo chí Việt ngữ hải ngoại loan tin về nạn thuyền nhân đầu gấu trấn lột, hãm hiếp phụ nữ và cả sử dụng ma túy đã xẩy ra tại một số trại tị nạn ở Hồng Kông. Anh Khảm bảo với tôi:

– Nước chủ nhà tạm dung đã không ưa khi mình kéo đến ở dầm dề trong xứ họ mà nay lại còn thêm các tệ nạn này thì càng có cớ để chính quyền nơi đó mạnh tay tống xuất thuyền nhân mình hồi hương thôi. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân Vũ à! Đặt mình trong trường hợp là họ thì mình sẽ có thể phải hành động tương tự.

Thêm vào các vụ tự thuyền nhân làm hoen ố hình ảnh người tị nạn cần sự che chở của Cao Ủy LHQ cũng như của cộng đồng quốc tế kể trên, một lý do khiến thế giới tự do đã gần như muốn ngoảnh mặt với thuyền nhân tị nạn khi mà hình ảnh người tị nạn năm xưa nay đã kéo nhau về du lịch quê nhà. Phong trào áo gấm về làng này của Việt kiều từ các nước định cư thứ 3 chính là sợi dây thòng lọng tròng lên cổ của hàng trăm ngàn thuyền nhân chúng tôi đang sống lo lắng về số phận tương lai của mình. Vụ ly khai của ông cựu đảng viên Bùi Tín tại nước Pháp cộng với chính sách cởi mở trong cái gọi là đổi mới hay là chết của chính quyền Việt Cộng bên quê cũng góp phần làm cho sợi dây thòng lọng chặt hơn, khó mà thoát dù thuyền nhân có vùng vẫy cách chi cũng vô ích.

Cho tới thời gian này vẫn có ghe nhập vào đảo tị nạn Galang và hầu hết đều do hải quân Mã Lai Á dẫn đường. Chúng tôi nghe tin có một ghe dài 20 m chở 33 thuyền nhân đi thằng từ Việt Nam sang được tới Darwin, một thành phố cảng nằm ở phía Bắc nước Úc, giáp với lãnh thổ quốc gia Indonesia. Tất cả 33 thuyền nhân già trẻ-nam nữ trên ghe được hải quân Úc hướng dẫn vào bờ an toàn. Đây là chiếc ghe đầu tiên của thuyền nhân Việt chạy đến nước Úc. Người trong trại bảo nhau: ” Mình mà cố một chút xíu khi vượt biên như ghe họ, cứ chạy thẳng tới luôn Úc thì khỏi phải tạm dung ở đây thêm nỗi lo thanh lọc và trở thành người tị nạn liền một khi. Tiếc quá! Sao mình không nghĩ xa được như họ ta “.

Cứ sống tạm dung trong không khí tự do ở đảo tị nạn Galang như vậy, cuộc sống của thuyền nhân chúng tôi cứ trôi đi êm ả theo ngày tháng cho đến giữa tháng 8, một nguồn tin xì ra rằng Cao Ủy LHQ sẽ công bố kết quả thanh lọc nay mai và rồi đúng y như lời người trong trại đồn đãi, lúc 3 giờ chiều ngày thứ Sáu cuối tuần thì loa phóng thanh của phòng Thông tin đã phát một tin mới: Thứ Tư tuần tới, Ngày 28 tháng 11, Cao Ủy LHQ và chính quyền Indonesia tại trại sẽ công bố kết quả thanh lọc của đợt đầu tiên rồi sau đó danh sách thuyền nhân nhận kết quả được họ đọc lần lượt trong cái hồi hộp lẫn lo lắng của nhiều người.

Đang dở công việc thiện nguyện nhưng khi vừa nghe tin đó thì đám chúng tôi ngưng tay liền và anh Đinh Vinh quyết định đóng cửa phòng Dịch thuật sớm hơn thường lệ. Cả bọn chúng tôi gồm các anh Đinh Vinh, Tám Miễu, Đặng Phúc Nhân cùng các cô Lê Anh Hà, Triệu Lệ Lan và tôi kéo nhau ra về trong tâm trạng bất an vì không ai còn tâm trí đâu nữa để làm việc.

Dọc đường tiếng loa oang oang vẫn đọc tiếp tên từng người sẽ nhận bản kết quả của Cao Ủy LHQ về số phận mình. Đến ngã ba đường rẻ về zone 4 và hướng Galang 2, anh Đinh Vinh nhìn cả bọn rồi nói:

– Cuộc đua nào rồi cũng phải có kẻ thắng người thua, người đậu kẻ rớt. Người thắng thì mình không nói làm gì vì tương lai đã nở hoa  trước mặt họ. Nhưng còn người thua, không biết tâm trạng họ ra sao đây khi cầm tờ giấy từ chối của Cao Ủy LHQ? Chắc chắn họ sẽ buồn lắm.

Lời anh Đinh Vinh lảng vảng trong tâm trí tôi, người rớt thanh lọc thì sao mà vui được. Ai cũng biết vậy nhưng sẽ là bao nhiêu người trong số 300 hồ sơ Cao Ủy LHQ công bố trong ngày thứ Tư sắp tới đây? Dù có ít hay có nhiều người bị rớt thanh lọc, chuyện đó cũng sẽ gây xáo trộn cái không khí của trại tị nạn. Những ngày tháng êm ả sẽ không còn trong lòng người tạm dung nữa. Trên đường về barrack, tôi thấy từng nhóm người tụm lại yên lặng ngồi nghe tin hoặc bàn bạc với nhau điều gì đó. Khuôn mặt ai cũng lộ vẻ lo âu dù ở zone 4 là zone của thuyền nhân mới nhập trại và chưa hề qua các thủ tục sơ vấn của Cao Ủy LHQ.

Như thường lệ của những ngày cuối tuần, sau bữa cơm tối ngày thứ Bẩy thì Yến và tôi cùng anh chị Khảm-Phượng kéo nhau ra quán cà phê. Tối hôm nay quán cà phê nào cũng đông nghẹt khách nên phải chờ một lát mới có một bàn trống cho cả bọn bốn người chúng tôi. Anh Khảm cho biết cả hai người họ chưa có tên nhận kết quả trong đợt 300 người lần này và nói thêm:

– Mấy bạn của anh làm ở phòng thông tin cho biết 300 người đợt này từ những chiếc ghe đến trại sau ngày 17 tháng 3 tới giữa tháng 6 năm 1989.

– Anh nghĩ sẽ có bao nhiêu phần trăm người đậu và người rớt? Nhất là những người liên can đến chế độ VNCH. Tôi hỏi.

– Khó đoán lắm Vũ! Tụi bạn làm thiện nguyện ở phòng thông tin dò danh sách thì đã biết có bao nhiêu cựu quân nhân viên chức VNCH trong đợt này rồi và đều cho là tất cả thuyền nhân đó sẽ thắng nhưng anh thì không nghĩ như vậy. Phải chờ ngày hôm đó mình mới biết hết. Anh Khảm vừa cười vừa trả lời tôi.

Tôi khẽ gật đầu tán đồng. Y như tôi, anh Khảm đã không nghĩ giống như những người ở phòng Thông tin là vì anh đã nghe những câu chuyện kể của Đoàn Thạnh Nam. Tiếng trò chuyện từ những người ngồi ở các bàn gần bên cho cả nhóm tôi biết là họ cũng đang bàn luận về chuyện sẽ đến trong ngày thứ Tư. Chị Phượng kể chuyện mà chị nghe từ những người trong barrack kể lại là có vài người sau khi biết mình có tên đi nhận kết quả thanh lọc, đã hẹn nhau sẽ đến quán ăn để làm một chầu bia Heineken ngay khi họ vừa cầm tờ giấy kết quả của Cao Ủy LHQ từ phòng thanh lọc ra. Mấy người nầy quả quyết 100% là họ sẽ thắng, chắc chắn thắng,  không thể nào thua được. Anh Khảm và tôi nhìn nhau không nói nhưng cầu mong những người mà chị Phượng vừa kể đó sẽ được những gì như họ đã nghĩ, đã tin. Bởi vì rủi bị Cao Ủy LHQ  đánh rớt thanh lọc, họ sẽ thất vọng vô cùng vì đã đã quá tin tưởng về hồ sơ của cuộc đời mình.

Ngày thứ Hai đầu tuần rồi ngày thứ Ba kế tiếp, phòng Thông tin ban Đại diện đọc lại danh sách các thuyền nhân sẽ nhận kết quả thanh lọc trong ngày thứ Tư làm ai nấy đều hồi hộp, lo lắng nhất là những người có tên trong danh sách. Họ hồi hộp là phải vì không biết sẽ đậu hay bị đánh rớt. Còn lo lắng vì nếu bị đánh rớt, sẽ phải viết bản kháng cáo như thế nào? Nộp ở đâu? Bao nhiêu lâu sau thì sẽ biết kết quả kháng cáo?Ghe chúng tôi mới nhập trại được hơn 3 tháng trời mà những người đi nhận kết quả lần đầu tiên này đã đến từ đầu tháng 3 năm ngoái, một thời gian quá lâu. Chúng tôi chưa hề được gọi làm hồ sơ gì hết thì như vậy, sẽ phải còn chờ bao lâu nữa mới đến lượt như họ.

Sáng sớm ngày thứ Tư đến rồi, những quán cà phê ở Galang 1 chật cứng khách trong các dãy bàn. Đa số họ đều từ trong Galang 2 ra chung với các thân nhân. Sau chầu cà phê ở các quán thì lần lượt từng người tạm chia tay để đi vào khu vực thanh lọc nơi mà các trật tự viên thiện nguyện đã kê sẵn các băng ghế dài dành cho người ngồi chờ kết quả. Chỉ những người có tên trong danh sách thì mới được vào khu vực nầy. Đứng trong phòng Dịch thuật, tôi dõi mắt nhìn ra bên ngoài xem các trật tự viên thiện nguyện ngồi tại một cái bàn cạnh ven đường đang dò tên, đối chiếu thẻ ID của những người mới đến. Đó đây, khá đông police Indonesia  trong bộ đồng phục áo tím quần đen cùng giầy saut đứng trò chuyện chung với các nhân viên phòng An ninh P3V gần bên chiếc xe van trắng có sơn huy hiệu Hồng Thập Tự của bệnh viện Galang 2 đậu chờ sẵn. Đúng như lời bác sĩ Luân đã nói cho chúng tôi biết trước đó, xe của nhà thương chực sẵn để phòng những người sẽ ngất xỉu hoặc tự sát khi biết số phận xấu của mình.

Dù còn xa mới đến lượt bản thân mình lập hồ sơ Sơ vấn Cao Ủy LHQ nhưng một mối lo lắng, hồi hộp tự nhiên đến với tôi. Tôi hít một hơi dài rồi thở thật mạnh. Tôi lo chung với những thuyền nhân đang ngồi chờ trong các dãy ghế không xa trước các cánh cửa của dãy phòng thanh lọc.

Ba trăm người trong danh sách nhận kết quả đã vào ngồi kín trong khu vực chờ gọi tên rồi mà đại diện Cao Ủy LHQ vẫn chưa thông báo. Đông người ngồi sát bên nhau nhưng ai cũng im lặng và đều chung vẻ mặt lo âu thấy rõ. Đồng hồ chỉ 10:30 rồi, ngoài sân những tia nắng đã nóng hơn trước. Nhiều người đã lấy khăn ra thấm các vệt mồ hôi trên trán. Chợt tiếng một thiện nguyện viên trật tự gọi tên người đầu tiên rồi người thứ hai, người thứ ba và người kế tiếp. Bốn thuyền nhân, theo hướng dẫn của các nhân viên phòng An ninh P3V, đi từng người vào trong dẫy nhà của phòng thanh lọc. Khoảng khắc trôi qua chóng vánh, bốn người họ quay ra rồi đi thẳng mà không nói, không trả lời bất kỳ một câu hỏi nào của những thuyền nhân đang ngồi đang đứng ở gần đấy. Họ đậu hay rớt thanh lọc? Những người được gọi tên kế tiếp, cả nam lẫn nữ cũng vậy, họ vào lấy tờ kết quả xong đi thẳng một lèo ra tuốt bên ngoài luôn. Thấy vậy, tôi liền nói với anh Đinh Vinh:

– Anh cho phép tôi nghỉ việc buổi sáng nay nha, tôi muốn đi ra phía bên ngoài để xem coi những người vừa rồi đậu rớt ra sao?

Đi ra khỏi khu vực thanh lọc, một đám đông làm thành một hàng rào người ở ngay đoạn khuất bức tường tole của zone 3 chắn ngay trước mặt tôi. Tôi mỉm cười với những người đứng gần nhất. Thấy tôi đi từ bên trong ra nên có người hiểu lầm khi tiếng ai đó vẳng tới:

– Sao rồi huynh ơi? Ê! Chả cười kìa! Vậy là chả đậu rồi. Đậu phải không, sao không nói gì hết vậy?.

Nghe vậy, tôi lắc đầu, định cho họ biết là tôi đi ra ngoài đây để xem kết quả xổ thanh lọc thì tiếng một người nào đó trong đám đông nói khá lớn:

– Chả này lắc đầu luôn. Mẹ bà! Nẫy giờ chưa có người nào đậu hết á.

Tôi nhập ngay vào đám người náo nhiệt, ồn ào này. Quá đông người họ đứng chen chúc tại đây để chờ tin từ thân nhân hoặc vì hiếu kỳ đi xem… đã bít kín cả con đường dẫn vào khu vực thanh lọc. Vài người khá lớn tuổi choàng tay vào vai tôi, an ủi:

– Thôi đừng buồn, đừng buồn…  nha chú em.

Họ đã tưởng tôi là một trong số 300 thuyền nhân nhận kết quả của sáng hôm nay. Chợt một ý nghĩ thoáng qua trong trí làm tôi giật mình. Tại sao tôi lại lắc đầu khi nghe họ hỏi tôi câu đậu thanh lọc? Tôi đã vô tình vừa làm một điều gở, làm một chuyện xui xẻo cho mình sáng nay rồi. Ý nghĩ thoáng qua  này làm tôi cảm thấy buồn, lo sợ vẩn vơ trong lòng.

Vòng người lại kích động, đổ dồn lại khi thấy có thêm các người khác từ bên trong đang đi ra. Nhìn mặt tôi, một người đàn ông đứng gần đó tiến đến hỏi nhỏ:

– Giấy báo rớt thanh lọc của cậu đâu rồi? Làm ơn cho tui xem nó chút coi.

Một người phụ nữ khác cũng bước đến lắc đầu và mỉm cười vẻ thông cảm, chia buồn với tôi. Tôi liền nói cho hai người họ biết về mình xong nhập chung với đám đông để xem những người vừa đi ra tới. Không biết có ai trong số họ đậu thanh lọc không nhưng tất cả những người này khi ra tới nơi đều lắc đầu, mặt họ buồn so không nói một lời. Một người đứng gần tôi nói giọng miền Nam:

– Trời ơi! Ba mươi sáu người xổ rồi mà không có mạng nào đậu hết. Rớt ráo trọi!

Chợt có tiếng còi hụ vọng lại từ bên trong. Mọi người nhìn nhau tuy không nói ra nhưng ai cũng biết đó là tiếng còi của chiếc xe van cứu thương. Vậy là vừa có chuyện gì không hay xẩy ra ở bên trong đó rồi. Đám đông vội dãn rộng tấp vào hai bên lề để chừa ra một khoảng trống giữa đường cho chiếc xe cứu thương đang chầm chậm chạy đến. Xe lướt từ từ qua đám đông người vây quanh trong ánh mắt hiếu kỳ. Nhìn qua ô cửa kiếng, ai cũng thấy hai nhân viên thiện nguyện của nhà thương đang lúi húi săn sóc một người nằm trên băng ca trong xe. Chiếc xe van cứu thương đó chạy ra tới ngã ba đầu đường liền quẹo trái và thẳng về hướng Galang 2.

Chiếc xe cứu thương đi rồi thì nhanh chóng, đám đông dồn trở lại khu vực cũ và dõi mắt vào bên phía trong chờ thêm có người sẽ ra tiếp. Nhưng chờ cả mười lăm phút trôi qua mà vẫn chưa thấy bóng ai. Trời bây giờ đã thật nóng, ánh sáng làm chói loà hai mắt người đứng ở ngoài nắng. Có người đã phải bung cây dù ra để che nắng, nhiều người đứng chen chúc nhau trong bóng mát của hàng cây ven đường. Dù vậy, tiếng trò chuyện vẫn lao xao như ở trong một cái chợ:

– Chưa thấy ai đi ra nữa. Chắc có chuyện gì trong đó rồi?.

Đám đông đứng chờ vậy cho đến khi chiếc xe cứu thương quay trở lại vào khu vực thanh lọc mà vẫn chưa thấy ai ra tiếp. Tại sao vậy? Hay là thấy có người phải đưa đi cấp cứu nên các sĩ quan phòng An ninh P3V đã cho ngưng việc công bố kết quả? Sẽ xổ thanh lọc tiếp tục trong ngày hôm nay hay dời qua ngày khác? Rồi đã hơn nửa giờ đồng hồ chờ đợi mà vẫn chưa thấy ai đi ra, tôi định quay trở vào phòng Dịch thuật thì có những tiếng nói khá lớn:

– Xổ tiếp rồi nè. Có mấy người đi ra kia kìa.

Tôi vội vàng chen vào dòng người đang dồn cục trở lại và cố nhìn về phía con đường bên trong. Lần lượt vài  thuyền nhân đang đi ra trên con đường vắng. Họ đến gần, miệng nở nụ cười rạng rỡ. Tiếng ai đó cạnh bên tôi la lớn:

– Mấy người này đậu rồi, bà con ơi. Đậu rồi. Trời ơi! Họ đậu thanh lọc rồi.

Những thuyền nhân đó đến gần nhóm người đang đứng chờ xem, hai người đàn ông miệng cười thật tươi, đưa ngón tay trỏ lên trời còn chị phụ nữ thì nước mắt ràn rụa.

– Cái bà này! Đậu thanh lọc tại sao bà lại khóc? Kỳ vậy, phải mừng chứ!.

Tiếng người nào đó trong đám đông hỏi và rồi ngay sau đó một giọng đàn ông khác trả lời:

– Đàn bà là vậy đó cha. Khổ cũng khóc mà vui quá, họ cũng khóc… Nước mắt nước mũi tùm lum, có khi thấy mà chán.

Lần lượt hai mươi thuyền nhân đi ra đều cầm vé đậu hết. Mặt người nào người nấy rạng rỡ khác hẳn với những người bất hạnh trước đó. Thân nhân của họ xúm lại gần bên, chia xẻ niềm vui chung bằng nụ cười và bằng cả… những giọt nước mắt. Đậu thanh lọc nhưng ai nấy khóc ngon lành, tự nhiên bất kể những cặp mắt của đám đông vây quanh. Giọt nước mắt lăn trên bờ má của họ khác gì giọt nước mắt của những người vừa cầm tờ giấy rớt thanh lọc vẫn đang ngồi hoặc đứng thất thần, vô hồn ở nơi này hay nơi kia bên vệ đường, dưới các bóng cây.

Sau đợt xổ hai mươi thuyền nhân đậu thanh lọc này thì những đợt ra tiếp sau đó cứ kẻ rớt người đậu ra chung với nhau. Bây giờ thì không cần ai phải cất tiếng hỏi nữa vì chỉ cần nhìn khuôn mặt từng người cầm giấy trên tay thì cũng biết kết quả thanh lọc của người đó rồi. Những người sau cùng còn lại đi ra là đám trật tự viên thiện nguyện thuộc ban Đại diện trại cùng với chiếc xe van cứu thương, xe chở đám phòng An ninh P3V và police Indonesia.

Đám người đứng xem đã giải tán thưa bớt hẳn. Tôi đi dần ra phía ngoài đường, gặp một nhóm bốn người đứng dưới một lùm cây gần vệ đường đang chuyền tay nhau xem tờ giấy kết quả thanh lọc của một thuyền nhân vừa bị Cao Ủy LHQ đánh rớt. Ghé mắt vào tờ giấy, tôi đọc ké vội các hàng Anh ngữ: This applicant’s statement of the facts does not substantiate a well founded fear of persecution in the meaning of the 1951 Convention, because he was able to conduct a tolerable life in Vietnam. So, he can not be considered as refugee according to the 1951 Convention. Tờ giấy được người vừa xem trả về cho chủ nhân của nó kèm theo lời nói:

– Mẹ bà nó! Tờ giấy nào cũng phán câu có thể sinh sống bình thường tại Việt Nam. Lính Cộng Hoà mà sao sống yên ổn với bọn Việt Cộng được hả trời! Thanh lọc như vậy là chết cha con người ta rồi.

Thuyền nhân vừa nhận tờ giấy rớt thanh lọc đó lộ vẻ buồn rầu trên khuôn mặt khắc khổ gầy gò, đen sạm. Ông ta đứng dựa lưng vào thân cây, không nói lên lời khi một người trong nhóm khẽ hỏi ông:

– Định nhờ ai viết kháng cáo đây anh? Thời hạn Cao Ủy LHQ quy định chỉ có mười lăm ngày đó.

Người đàn ông vẫn im lặng chưa trả lời câu hỏi. Vẻ mệt mỏi, thất vọng hằn trên khuôn mặt, khoé mắt. Ông ta từ từ gấp tờ giấy và đút nó vào trong túi áo, thở dài rồi nói chậm rãi:

– Tôi buồn quá các anh ơi. Với tôi, hôm nay nó như ngày 30 tháng 4 năm 1975 vậy. Một lần nữa người Mỹ lại phản bội, bỏ rơi đồng minh VNCH mình. Thôi mình đi về đã, việc kháng cáo sẽ tính sau.

Tôi gật đầu, tỏ ý chia tay với ông ta cùng những người đứng chung quanh trước khi bỏ đi. Nhưng đi được vài bước chân thì tự dưng tôi quay lại nhìn. Ông ta lê từng bước chân chầm chậm nặng nhọc như người có cố tật. Không đúng! Hình như trong đôi giầy cũ của ông nơi bàn chân phải chỉ còn một nửa. Ông là người tàn tật? Không! Một thương phế binh của chế độ VNCH .

Phạm Thắng Vũ

Hết Quyển 1